Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

SỰ NHẤT QUÁN VÀ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC TRONG ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH "HÒA BÌNH TỰ VỆ" CỦA VIỆT NAM

 


Cho dù các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị liên tục công kích, song sự thật vẫn là sự thật, Việt Nam luôn khẳng định sự nhất quán đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” và thực hiện một cách nghiêm túc, có trách nhiệm. Đây là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, phù hợp với thực tiễn đất nước cũng như bối cảnh quốc tế. Đồng thời, thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta; khẳng định sự nhất quán và tầm nhìn chiến lược nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Đây là những yếu tố hết sức quan trọng để bảo đảm hòa bình thực sự không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với các quốc gia khác trên thế giới.

Đối với Việt Nam, “hòa bình” là sự bình an, ổn định và phát triển, không để xảy ra xung đột giữa các quốc gia, không có chiến tranh, khủng bố, cướp bóc; con người được sống một cuộc sống an ninh, an toàn, yên bình và hạnh phúc. Hơn nữa, “hòa bình” còn là khát vọng, là giá trị thiêng liêng, là mục tiêu của cả dân tộc Việt Nam. Là quốc gia đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát, khi Tổ quốc bị xâm lăng, hòa bình bị hủy hoại, hơn ai hết, người Việt Nam thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển, nhưng phải gắn với bảo vệ hòa bình, và hòa bình được coi là một giá trị thiêng liêng của đất nước”(1). Vì vậy, Việt Nam luôn mong muốn thế giới, khu vực, mọi quốc gia, dân tộc đều được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đường lối quốc phòng - an ninh mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhất quán. “Hòa bình” ở đây là không “mơ hồ, ảo tưởng”, “phi thực tế” như giọng điệu lạc lõng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã rêu rao. “Hòa bình” không chỉ là thông điệp, mà còn là cam kết của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam gửi đến các quốc gia trên thế giới, với phương châm “chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”(2), đồng thời, “giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”(3) và “không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(4). Điều đó càng thể hiện sự yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo và thiện chí của Việt Nam. Đường lối đó không chỉ góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước, mà còn đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

“Tự vệ” trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là “kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”(5), “nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh”(6). Mục tiêu xuyên suốt của đường lối quốc phòng - an ninh Việt Nam là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Việt Nam cam kết và đã thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng, hợp tác phát triển chung của khu vực và thế giới bằng những hành động cụ thể, thiết thực với phương châm “thêm bạn, bớt thù”. Điều đó cho thấy, sự thật hoàn toàn trái ngược với luận điệu rêu rao, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Trong thời gian qua, Việt Nam chủ trương “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(8), theo đó hiện đại hóa vũ khí, trang bị, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng để bảo vệ Tổ quốc đúng như tinh thần của đường lối quốc phòng “bốn không” của Việt Nam, không nhằm dụng ý răn đe sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực chống lại nước khác. Mặt khác, Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh không đơn thuần là mua sắm, sản xuất, hiện đại hóa vũ khí trang bị, mà còn nâng cao sức mạnh quốc phòng - an ninh trên nhiều phương diện; xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khả năng tác chiến và trình độ, năng lực của lực lượng vũ trang cách mạng. Trước các cuộc xung đột, đối đầu diễn ra trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam luôn lên án, phản đối các hành động gây hấn, tạo cớ, xung đột, chạy đua vũ trang, với quan điểm không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, không để các đối tượng nước ngoài khiêu khích, kích động, thỏa hiệp xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác phát động chiến tranh; kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, dù Việt Nam chủ trương không đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước trong quan hệ quốc tế, nhưng Việt Nam sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược, phá hoại an ninh quốc gia với phương châm “nếu đất nước có chiến tranh, chúng ta buộc lòng phải cầm súng thì cũng là vì hòa bình”(9).

Như vậy có thể khẳng định, “hòa bình và tự vệ” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đường lối quốc phòng - an ninh; cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề an ninh khu vực và thế giới, gắn với thực tiễn cùng những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt về quốc phòng - an ninh, đặc biệt là trong bối cảnh sự tranh giành ảnh hưởng, cạnh tranh chiến lược ngày càng sâu sắc, các hoạt động tập hợp lực lượng giữa các nước lớn theo xu hướng phân cực và tối đa hóa quyền lực tiếp tục được đẩy mạnh, nhiều quốc gia đã bị cuốn vào vòng xoáy, nhất là các nước vừa và nhỏ đang chịu tác động của lực “kéo - đẩy” ngày càng mạnh từ cuộc cạnh tranh này. Do vậy, để giữ vững độc lập, tự chủ, vừa giữ được mối quan hệ, vừa tránh bị cuốn vào “cuộc chơi” giữa các nước lớn, đòi hỏi sự xử lý hài hòa, cân bằng mối quan hệ nước lớn trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều đó càng cho thấy tầm nhìn chiến lược và sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Đề cập đến vấn đề này, nhiều học giả, chuyên gia nước ngoài đã đánh giá cao về đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Tiến sĩ Olli Pekka Suorsa thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam, Singapore (RSIS) nhận định: Chính sách “bốn không” của Việt Nam tăng thêm sự minh bạch và giúp xây dựng lòng tin trong khu vực và quốc tế. Còn theo Tiến sĩ Collin Koh Swee Lean, Việt Nam mong muốn thể hiện chính sách quốc phòng hòa bình, không chỉ giúp khẳng định lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam, mà còn cho thấy Việt Nam là một đối tác có tinh thần xây dựng đối với an ninh khu vực và quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam gia tăng hợp tác quốc phòng với các nước(10).

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn đường lối quốc phòng - an ninh đã đề ra. Việt Nam đã và đang thực hiện những hành động thiết thực và cụ thể để xây dựng môi trường hòa bình không chỉ cho đất nước Việt Nam, mà còn đối với khu vực và thế giới. Đường lối quốc phòng - an ninh mà Việt Nam đang thực hiện là nhằm bảo vệ đất nước, giữ nước “từ sớm, từ xa”, “từ khi nước chưa nguy”, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược, vì hòa bình, an ninh, an toàn và phát triển. Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh cũng chính là yếu tố để tự vệ, không ngoài mục đích giữ gìn hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, bình đẳng, cùng có lợi; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Minh chứng rõ nét nhất là việc Việt Nam đã cử sĩ quan liên lạc công tác ở Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi... Đối với Việt Nam, hòa bình, ổn định và phát triển không tách rời hòa bình của khu vực và thế giới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”(11). Trước sự đối đầu giữa các nước, nhất là các nước lớn, Việt Nam không đứng về bên nào, Việt Nam đứng về lẽ phải và chính nghĩa, Việt Nam tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đối với Việt Nam, việc sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong giải quyết những bất đồng, Việt Nam luôn thực hiện hiệu quả đấu tranh hòa bình, trong đó sử dụng tổng hợp các biện pháp, như đấu tranh chính trị, đấu tranh pháp lý, đấu tranh bằng phương tiện truyền thông và dư luận xã hội trong nước cũng như quốc tế, đấu tranh bằng biện pháp hòa bình ngoài thực địa... Song song với các biện pháp đấu tranh hòa bình, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn chủ động đề ra kế sách bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; chủ động nhận diện, ngăn ngừa, triệt tiêu những nhân tố bất lợi, tiềm ẩn nguy cơ trở thành xung đột. Cùng với đó, các lực lượng vũ trang luôn đề cao cảnh giác, không để bị bất ngờ, thụ động; nhanh chóng, kịp thời phát hiện mọi âm mưu của nước ngoài đe dọa sử dụng vũ lực và sử dụng vũ lực xâm phạm chủ quyền, an ninh đất nước. Nếu điều đó xảy ra thì Việt Nam sẽ sử dụng quyền tự vệ chính đáng của mình bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc yêu chuộng hòa bình kết hợp sức mạnh của thời đại để đánh bại mọi âm mưu, quy mô, hình thái chiến tranh từ kẻ thù, bảo vệ vững chắc chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Chính nhờ đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” mà Việt Nam, một mặt, tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế; mặt khác, vẫn kiên định không tham gia liên minh quân sự hay liên kết với quốc gia này chống quốc gia khác. Hiện tại, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước, cùng 13 nước đối tác toàn diện; là nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn(12), góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác, như châu Phi, Mỹ La-tinh... Có thể nói, đây là điều chưa từng có tiền lệ với Việt Nam; là cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

          V3.

Nhận diện và đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc hoạt động GGHB LHQ của Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Hoạt động GGHB LHQ của quân đội là trụ cột của đối ngoại quốc phòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối đối ngoại của chúng ta là kế thừa truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc, được đúc kết trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, kết hợp với vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, Nhà nước, công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đặc biệt là những thành công của QĐND Việt Nam khi tham gia lực lượng GGHB LHQ, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, điều đó lại đang cản trở âm mưu của các thế lực phản động, cơ hội chính trị, khiến chúng điên cuồng tìm cách chống phá cách mạng nước ta. Vì, mục đích sâu xa trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động đối với nước ta vẫn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, lái nước ta đi theo con đường lệ thuộc.

Hiện nay, việc tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối đối ngoại quốc phòng và hoạt động GGHB LHQ của QĐND Việt Nam cũng là mục tiêu để các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước tập trung chống phá. Âm mưu của chúng là nhằm hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, tạo dư luận xấu với bè bạn quốc tế. Họ đã lợi dụng các tổ chức quốc tế để gây áp lực, cô lập, ngăn cản Việt Nam tham gia vào các diễn đàn thế giới, nhất là khi Đại Hội đồng LHQ họp để bỏ phiếu thông qua một nghị quyết nào đó, khi mà Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ và sự độc lập, tự chủ của mình thông qua lá phiếu thì họ lại cho rằng Việt Nam không đứng về số đông mà lại chọn phe,v.v. Các tổ chức phản động sử dụng các trang mạng xã hội để phát tán tài liệu, đăng tải các bài viết có nội dung kích động lòng thù hằn dân tộc, đăng tải những vấn đề chưa được giải quyết kịp thời trong quan hệ quốc phòng cũng như quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực, núp dưới cái bóng của những “Nhà dân chủ, người yêu nước chân chính…” để xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Có những ý kiến cho rằng: tham gia lực lượng GGHB LHQ chỉ là để đánh bóng, gây tốn kém ngân sách nhà nước, rủi ro cho những người lính trực tiếp đi làm nhiệm vụ, v.v. Với thái độ cực đoan và những luận điểm xuyên tạc, các thế lực phản động đã vu khống trắng trợn là Đảng, Nhà nước, không lo việc bảo vệ chủ quyền mà lại đưa Quân đội ra nước ngoài để tham gia hoạt động GGHB là việc làm không cần thiết vì không đem lại lợi ích gì cho đất nước. Có ý kiến rất thâm độc, đã xuyên tạc rằng: Nước ta đưa Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược, chiếm đóng nước khác.

Chúng ta khẳng định rằng, tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia vào nỗ lực của nhân loại, hoàn toàn chính nghĩa trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới, việc triển khai các lực lượng GGHB là thực thi theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ, đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của LHQ, các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp cho hoạt động GGHB. Việt Nam chúng ta đã có các Nghị quyết của Đảng, quy định của Hiến pháp và Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghi quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Kỳ họp thứ Mười, ngày 13 tháng 11 năm 2020 đó là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện truyền thống yêu chuộng hòa bình, trách nhiệm với thế giới.

Trên phương diện quốc phòng - an ninh, khi chúng ta tham gia lực lượng GGHB LHQ chính là trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giúp chúng ta hiểu thêm về tác chiến trong thời đại chiến tranh công nghệ cao. Hoạt động GGHB cũng sẽ góp phần tích cực vào quá trình hiện đại hóa vũ khí, trang bị và nâng cao khả năng tác chiến của Quân đội ta; đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biển đảo và các lợi ích khác của dân tộc. Khi Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ thì những nguyên tắc cơ bản trong chiến lược quốc phòng chúng ta vẫn luôn đảm bảo. Chính sách quốc phòng của nước ta đã khẳng định rõ: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(3); đây là nguyên tắc bất biến trong chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đưa Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ là đang tham gia vào liên minh quân sự để xâm lược, chiếm đóng nước khác là cách nhìn hoàn toàn sai trai, thiển cận và bịa đặt.

Nói về nguồn tài chính bảo đảm cho hoạt động GGHB LHQ, nếu ai đó cho rằng khi tham gia GGHB gây tốn kém cho ngân sách nhà nước là cố tình xuyên tạc sự thật hoặc là thiếu hiểu biết về cơ chế tài chính trong hoạt động GGHB LHQ. Bởi vì, khi chúng ta tham gia lực lượng GGHB sẽ được LHQ chi trả nguồn ngân sách cho Chính phủ Việt Nam, khoản tiền bồi hoàn của LHQ và nguồn hỗ trợ hợp pháp của quốc tế hàng năm cho chúng ta đã góp phần đáng kể để đầu tư cho hoạt động GGHB LHQ, nên không hề tạo ra gánh nặng đối với ngân sách nhà nước.

Ý kiến cho rằng: tham gia hoạt động GGHB mang đến nhiều rủi ro cho những người trực tiệp làm nhiệm vụ, đó là tiếng nói không có lương tri. Vì, hoạt động GGHB có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, nhằm giúp đỡ những nước bị tàn phá do xung đột để tạo ra các điều kiện trong quá trình giải quyết và thiết lập nền hòa bình, với mục tiêu chính là bảo vệ quyền con người. 

Tham gia lực lượng GGHB LHQ là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong thực hiện đường lối đối ngoại, nhất là về đối ngoại quốc phòng. Những kết quả tốt đẹp trong hoạt động GGHB LHQ của QĐND Việt Nam thời gian qua tiếp tục củng cố hình ảnh về một Việt Nam có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cần phải quyết liệt đấu tranh, phản bác. Bởi vì, nó gây ra tâm lý quan ngại trong dư luận và cách nhìn nhận của cộng đồng quốc tế đối với chủ trương, đường lối, uy tín của Đảng, Nhà nước và QĐND Việt Nam. Từ đó, chúng tạo ra dư luận nhằm “lái” đường lối đối ngoại quốc phòng của nước ta ngả theo nước này hoặc nước kia, làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác giữa nước ta với các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới. Mặc dù những luận điệu xuyên tạc, vu khống rất phi lý, không có căn cứ, song các thế lực thù địch cứ thực hiện liên tục “Mưa dầm thấm lâu” để tác động tới tư tưởng, tâm lý của một bộ phận xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là “Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế”.

Đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ đường lối đối ngoại quốc phòng và hoạt động GGHB LHQ của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và quyết liệt trên mặt trận lý luận và thực tiễn. Dẫu biết rằng có khó khăn, phức tạp nhưng với quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được bảo vệ vững chắc. Hoạt động GGHB LHQ sẽ góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

          V3.

không được phép can thiệp, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đất nước và nhân dân Việt Nam

 


Ðến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 388 tổ chức phi chính phủ nước ngoài đăng ký giấy phép và hoạt động thường xuyên. Tính riêng trong năm 2022, các tổ chức này đã viện trợ cho Việt Nam hơn 223,7 triệu USD cũng như tham gia hỗ trợ nhiều dự án liên quan đến văn hóa, giáo dục, thực thi các hiệp định thương mại quốc tế và công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó, nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài cũng thường xuyên phối hợp với các cơ quan đối tác, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức của Việt Nam để xây dựng những chương trình thiết thực, có ý nghĩa nhân văn. Những đóng góp này càng trở nên đáng quý hơn trong bối cảnh nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) từ các quốc gia phát triển giảm mạnh vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ðồng nghĩa các NGO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Việt Nam hoàn thành các định hướng phát triển kinh tế-xã hội, nhất là với những thành tựu mà các bên đã đạt được về chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, nhóm yếu thế và dân tộc thiểu số, nâng cao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái.

Dẫu vậy trong bức tranh chứa nhiều điểm sáng ấy xuất hiện những điều đáng lo ngại, đó là việc một số tổ chức phi chính phủ đang lợi dụng việc tổ chức, thực hiện, tham gia, tài trợ các dự án phi lợi nhuận để cổ súy các hoạt động không phù hợp với lợi ích quốc gia, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Nổi lên trong thời gian qua là hiện tượng nhân danh hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp, giáo dục, y tế, nhất là liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số, người lao động, đất đai, môi trường... một số NGO tìm cách can thiệp các công việc nội bộ của Việt Nam, đưa ra những thông tin, đánh giá thiếu khách quan nhằm mục đích gây hoang mang dư luận, dấy lên những nghi kị, mất đoàn kết dân tộc, có tính chất chia rẽ vùng miền, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Ðảng và Nhà nước.

Hiện tượng nêu trên đang có xu hướng diễn biến phức tạp khi một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài lợi dụng hoạt động tài trợ nhằm lôi kéo các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ ngoài công lập tham gia vào các dự án có nguy cơ xâm phạm an ninh và trật tự, an toàn xã hội của đất nước. Thông qua phương thức đặt hàng nghiên cứu, họ hướng lái một số cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tiến hành nghiên cứu và công bố hàng loạt báo cáo, khảo sát chứa nhiều nội dung tiêu cực, phiến diện, bôi đen tình hình đất nước và con người Việt Nam.

Trên danh nghĩa bảo trợ các nhóm mục tiêu (phụ nữ, trẻ em gái, người dân tộc thiểu số, nhóm dễ bị tổn thương), một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài khuyến khích thành lập các câu lạc bộ, hội, nhóm với những tên gọi như "nhóm cộng đồng nòng cốt", "nhóm đồng đẳng viên", "nhóm tự quản", "nhóm công nhân nòng cốt", đồng thời lôi kéo một số tổ chức xã hội Việt Nam không đủ điều kiện theo quy định pháp luật, tự ứng cử vào Nhóm tư vấn trong nước (DAG) Việt Nam. Từ đây, họ vận động những nhóm đối tượng này đưa ra các yêu sách vô lý vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) với Liên minh châu Âu.

Thời gian qua các hội nhóm thiếu thiện chí này tổ chức nhiều tọa đàm, khóa học, buổi tập huấn lồng ghép nội dung xuyên tạc Hiệp định EVFTA, Bộ luật Lao động 2019, phủ nhận vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở trong việc giải quyết quyền lợi chính đáng, khó khăn, khúc mắc giữa người lao động với doanh nghiệp.

Song song đó, các tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí tiếp tục đẩy mạnh nhiều hoạt động có dấu hiệu vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong bối cảnh Việt Nam tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Họ đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng "ở Việt Nam có dân tộc bản địa", từ đó đòi hỏi "quyền dân tộc tự quyết", "đòi thành lập khu tự trị". Thậm chí, website của một trung tâm tư vấn quản lý và phát triển văn hóa cộng đồng còn công khai đưa ra nhận định gây chia rẽ rằng: "Với sở hữu toàn dân về đất đai, và Nhà nước thống nhất quản lý, thì về mặt kỹ thuật, không có vùng đất nào thuộc sở hữu tư nhân. Do đó, các khu vực rộng lớn, màu mỡ, giàu tài nguyên vốn do người dân tộc thiểu số và bản địa sử dụng có thể bị chuyển sang phục vụ mục đích phát triển".

Phát ngôn thiếu trách nhiệm, các đối tượng cố tình phủ nhận một sự thật là do bối cảnh và điều kiện lịch sử để lại, 54 dân tộc cư trú xen kẽ trên đất nước Việt Nam từ lâu đời, không có dân tộc nào sinh sống hoàn toàn tách biệt riêng về mặt địa lý. Thêm vào đó, dân tộc Kinh và 53 dân tộc anh em luôn có sự đoàn kết, gắn bó mật thiết trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Không chỉ vậy, tinh thần đại đoàn kết dân tộc luôn được Ðảng và Nhà nước Việt Nam xác định là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, có ý nghĩa quyết định với thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tuy vậy một số hội, nhóm chống phá vẫn vin vào việc bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, cố tình đánh đồng việc bảo lưu các hủ tục lạc hậu với việc thực hành văn hóa truyền thống. Trên cơ sở đó, họ lập luận Nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ, hỗ trợ vật chất hoặc khung pháp lý để cá nhân thực hành quyền văn hóa, bất kể đó là hủ tục tổ chức đám tang tốn kém, kéo dài, mất vệ sinh; tục tảo hôn; tục bắt vợ... gây bức xúc trong cộng đồng.

Thậm chí, dù được hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam và nhận được sự giúp đỡ tận tình từ các cơ quan chức năng cùng đối tác nhưng đại diện của một vài tổ chức phi chính phủ vẫn có những nhận xét, đánh giá sai lệch về tình hình chính trị-xã hội Việt Nam. Ðáng chú ý, thành viên hội đồng quản trị tại một trung tâm quốc tế về luật phi lợi nhuận đang hoạt động chính thức tại Việt Nam đã đưa ra nhận định vu cáo rằng: "Việt Nam bắt đầu sử dụng luật thuế và bộ luật hình sự để bỏ tù các nhà lãnh đạo xã hội dân sự với tội danh trốn thuế, tuyên truyền chống nhà nước và lợi dụng các quyền tự do dân chủ (...). Các nhà chức trách sử dụng luật hiện hành để thực hiện việc đàn áp của họ, nhưng cũng thực hiện các bước để thắt chặt khuôn khổ pháp lý, trong đó có các tổ chức phi chính phủ hoạt động". Song chính người này phải thừa nhận "cho đến nay, chưa có tổ chức nước ngoài nào bị đình chỉ hoặc đóng cửa".

Cần khẳng định rằng trong nhiều năm qua, để phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, Ðảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, từng bước hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký và quản lý hoạt động của loại hình hoạt động này.

Biểu hiện cụ thể nhất chính là việc gia tăng thời hạn đăng ký văn phòng đại diện của tổ chức phi chính phủ nước ngoài lên đến 5 năm; giảm thời gian trong quá trình xử lý và cấp Giấy đăng ký, gia hạn Giấy đăng ký, sửa đổi bổ sung, cấp lại Giấy đăng ký hoạt động (quy định cụ thể tại Chương III Ðiều kiện, trình tự, thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy đăng ký, Nghị định số 58/2022/NÐ-CP về Ðăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam). Chính phủ Việt Nam cũng cung cấp 7 mẫu đơn, báo cáo để thuận tiện cho công việc hành chính của các NGO nước ngoài tại Việt Nam.

Chính phủ cùng Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) và các cơ quan đối tác tại Việt Nam cũng đã có nhiều hỗ trợ với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ.

Ðó là lý do khiến nhiều tổ chức như Medical and Scientific Aid for Vietnam, Laos and Cambodia tiếp tục sứ mệnh của mình dù chiến tranh đã kết thúc nhiều năm (MSAVLC - tổ chức Viện trợ khoa học và y tế cho Việt Nam, Lào, Campuchia được thành lập từ năm 1965 chuyên khám, chữa bệnh cho nạn nhân thường dân trong chiến tranh). Ngoài ra, có thể kể đến những cái tên như Làng trẻ em SOS, tổ chức Vietnam, les Enfants de la Dioxine tại Việt Nam (VNED - Vì trẻ em chất độc da cam/dioxin Việt Nam), Orbis International (NGO nước ngoài chuyên hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc và phẫu thuật về mắt cho trẻ em), v.v.

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam luôn trân trọng mọi nguồn lực hỗ trợ ở trong và ngoài nước phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ðồng thời Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận những kiến nghị khách quan, chính xác của đại diện các tổ chức phi chính phủ nhằm tìm ra những giải pháp tốt nhất giúp các tổ chức này hoạt động có hiệu quả trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, Việt Nam không chấp nhận các phát ngôn, chương trình hành động của những tổ chức phi chính phủ đi ngược lại mục đích, cam kết ban đầu, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của đất nước, của nhân dân Việt Nam./.

          V3.

CHỦ NGHĨA CƠ HỘI PHÁ VỠ KHỐI ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG

 


Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa của những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc; luôn hy sinh cái cơ bản để đạt tới lợi ích cục bộ, trước mắt và sẵn sàng thỏa hiệp chính trị. Và những người cơ hội chủ nghĩa là những người không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co, do dự, thiếu kiên định, dao động, lừng chừng về chính trị. Với những người này, thì họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”. Vốn bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa cơ hội, những người sa vào chủ nghĩa cơ hội, những người cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng, dứt khoát, tìm cách thoả hiệp quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau, do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng; là lời nói không đi đôi với việc làm, “cái thói nói cách mạng suông mà không ngượng miệng”.

Thực tế là, trong Đảng vẫn còn đó không ít những thủ đoạn, biểu hiện của những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những người mang danh mácxít song lại sẵn sàng hy sinh lợi ích lâu dài, bền vững của giai cấp vô sản để mưu lợi cho sự “hào nhoáng bề ngoài và chốc lát của mình”, sẵn sàng thoả hiệp với mọi cái xấu để đạt được lợi ích cá nhân, tìm cách thích nghi với mọi phía và mong được các phái chấp nhận, dung nạp, tạo thành bè phái và cánh hẩu. Thực tế cũng cho thấy là, nơi nào có quyền lực, có nhiều lợi ích thì chủ nghĩa cơ hội càng dễ phát sinh; đồng thời ở nơi đó, cũng không thể thiếu những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những kẻ “lập lờ”, “ẩn mình” dưới những lời nói hay nhưng trong việc làm thì vô nguyên tắc, chỉ chăm chăm lo lợi ích của chính mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Vì thế, để bảo vệ Đảng, V.I.Lênin kiên quyết đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái đó và phê phán kịch liệt sách lược cơ hội chủ nghĩa của những người kém tính Đảng, kém ý thức tổ chức, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, những người làm chia rẽ sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại sức mạnh khối đoàn kết của Đảng.

Chủ nghĩa cơ hội gồm khuynh hướng cơ hội tả khuynh, hữu khuynh, chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa biệt phái. Nhìn bề ngoài, chúng có vẻ đối lập nhau, song đều giống nhau là những trào lưu tư tưởng, chính trị đối lập, thù địch với chủ nghĩa Mác, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bởi rằng, về mặt lý luận và thực tiễn, những người theo chủ nghĩa cơ hội luôn bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và chống lại giai cấp vô sản, bằng cách và tìm cách sửa chữa chủ nghĩa Mác, lấy từ chủ nghĩa Mác những điều mà giai cấp tư sản có thể chấp nhận được, nhưng vứt bỏ nguyên lý cách mạng, linh hồn của chủ nghĩa Mác. Do vậy, V.I.Lênin khẳng định, Đảng phải đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và coi đó là quy luật phát triển của Đảng; đồng thời, nhấn mạnh rằng: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ được quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu nổi được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ cũng tìm con đường trung dung, quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau và "tìm cách “thoả thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại, v.v. và v.v..”[1].

V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã tiến hành đấu tranh triệt để trong nội bộ phong trào công nhân và ngay trong hàng ngũ của Đảng để chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chủ nghĩa giáo điều tả khuynh và chủ nghĩa bè phái, vì “bọn này dĩ nhiên là kẻ thù chính của chủ nghĩa bônsêvích trong nội bộ phong trào công nhân. Nó lại còn là kẻ thù chính trên phạm vi quốc tế nữa”[2]. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với bọn Tờrốtkit trên tinh thần: “Cuộc đấu tranh ấy phải được tiến hành thẳng tay, và nhất định phải đẩy, như chúng ta đã đẩy, cuộc đấu tranh ấy tới chỗ làm cho tất cả các thủ lĩnh bất trị của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xã hội - sôvanh phải hoàn toàn bị nhục nhã và bị tống cổ ra khỏi các công đoàn”[3]. Có một thực tế không thể phủ nhận là, chủ nghĩa cơ hội hiện luôn song hành cùng với phong trào cộng sản, vì thế, V.I.Lênin nhấn mạnh không chỉ Đảng Bônsêvích Nga mà nếu các Đảng Cộng sản khác mà lơ là, mất cảnh giác và không chủ động, thường xuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không chỉ nguy hiểm, cực kỳ nguy hiểm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của phong trào cộng sản, đến vai trò lãnh đạo của mỗi Đảng Cộng sản và vận mệnh của mỗi quốc gia, dân tộc.

Một trong những nghĩa vụ thiêng liêng của những người mácxít chính là bảo vệ lý luận của chủ nghĩa Mác. Vì thế, theo V.I.Lênin, mỗi Đảng cộng sản, mỗi người cộng sản phải chủ động đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa cơ hội để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, mỗi Đảng phải có phương pháp đấu tranh phù hợp, đúng mức trên cơ sở đi sâu nghiên cứu thực tiễn, hiểu rõ sự tình với điều kiện, hoàn cảnh của nước mình.

Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát triển, theo V.I.Lênin, phải thường xuyên liên tục, không được lơi là cuộc đấu tranh chống những kẻ cơ hội chính trị - những kẻ cái gì cũng cho là đúng, cũng tán thưởng, không có quan điểm chính trị rõ ràng, luôn ngả nghiêng, dao động, không kiên định nguyên tắc dẫn đến gây bè cánh trong Đảng; những kẻ sẵn sàng quỳ gối, uốn lưỡi cho vừa lòng và phù hợp với quan điểm của cấp trên và quần chúng, hòng tăng phiếu ủng hộ trong các dịp bầu cử, nhất là luôn “hy sinh lợi ích căn bản của quần chúng cho lợi ích tạm thời của một số hết sức ít công nhân, nói cách khác tức là sự liên minh giữa một bộ phận công nhân với giai cấp tư sản để chống lại quần chúng vô sản”[4]. Đồng thời, phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống những phần tử cơ hội chính trị - những kẻ luôn biểu hiện, thể hiện bản thân rất vững vàng về lập trường chính trị, luôn phát biểu và tỏ ra thông suốt lý luận chủ nghĩa Mác, nhưng thực tế thì không phải vậy: chúng không vì lý tưởng cách mạng mà vì động cơ quyền lực, không vì Đảng, vì dân mà hy sinh phấn đấu mà vì lợi ích cá nhân mình; những kẻ “tìm mọi cách” chui vào Đảng, xâm nhập vào bộ máy quyền lực, tìm mọi cách để giành được vị thế/quyền lực, để từ vị trí đó và dùng quyền lực đó thực hiện mục đích của cá nhân, rồi kết bè, kéo cánh cùng những phần tử cơ hội cũ, tạo thành một thế lực đáng kể trong Đảng, làm giảm sức mạnh, uy tín và thanh danh của Đảng; những kẻ không nhận thức đúng con đường đi lên của sự nghiệp cách mạng vô sản, sợ khó khăn trong việc kiến thiết xã hội chủ nghĩa, để những khó khăn đó làm cho khiếp đảm và tỏ ra tuyệt vọng hay hoang mang hèn nhát, người đó không phải là một người xã hội chủ nghĩa[5]. Hơn nữa, phải kiên quyết đưa ra khỏi Đảng “những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược, và những người mensêvích, tuy “bề ngoài” đã được phủ một lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là mensêvích”[6], làm cho Đảng thực sự là đội ngũ đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ năng lực và sức mạnh lãnh đạo tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao.

          V3.

Đậu mùa khỉ có đường lây gần giống HIV

 

Các chuyên gia cho rằng đậu mùa khỉ có cách lây gần giống HIV, song virus tự thải trừ khỏi cơ thể nếu miễn dịch tốt, từ đó giảm nguy cơ lây lan trong cộng đồng.

Xử lý khi bị ong đốt

 

Chị Trần Hằng (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) hỏi: Thời gian gần đây có nhiều người phải nhập viện do bị ong đốt. Bác sĩ cho hỏi cách xử lý ban đầu khi bị ong đốt như thế nào?

Đại tướng của nhân dân

 

Tôi chưa một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng tôi - thế hệ những người con sinh ra khi đất nước đã sạch bóng quân thù biết đến Đại tướng qua từng trang sử, qua lời kể của cha ông từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; qua những thước phim tư liệu trên ti vi hay các trang mạng xã hội, diễn đàn internet.

Khen thưởng cán bộ, chiến sĩ “nhặt được của rơi, trả người đánh mất”

 

Sáng 2-10, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) thành phố Đà Nẵng đã trao Giấy khen tặng 3 cá nhân vì đã có hành động “nhặt được của rơi trả người đánh mất”, góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Vượt khó, sáng tạo trong bảo đảm hậu cần

 

Hằng năm, Trường Quân sự Quân khu 4 tiếp nhận, đào tạo gần 50 đối tượng với hơn 3.000 học viên là bộ đội, dân quân tự vệ, cán bộ địa phương và cán bộ Quân đội nhân dân Lào. Quân số đông và thường xuyên biến động do học viên ra-vào trường liên tục nên công tác bảo đảm hậu cần gặp không ít khó khăn. Song, với giải pháp đồng bộ, hiệu quả, những năm qua, nhà trường luôn bảo đảm tốt công tác hậu cần, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm.

Nét đẹp của người lính giữ rừng Cà Mau

 

“Dáng người nhỏ, nhưng tinh thần, trách nhiệm đối với công việc thì không hề nhỏ…”. Đó là lời nhận xét của đồng đội khi nói về Thiếu tá QNCN Nguyễn Vũ Khoa, Trưởng ban quản lý rừng, Phòng Tham mưu, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau.

Câu chuyện kỷ luật: Rình... thủ trưởng!

 

Hớt hải dắt xe vào cổng cơ quan, Đại úy Chính liếc ngay vào khu vực đỗ xe ô tô, rồi thở phào: “Xe của thủ trưởng chưa có, tức là thủ trưởng chưa đến, yên tâm rồi!”.

Mạnh dạn giao việc - "bí quyết" bảo đảm tốt kỹ thuật thông tin quân sự

 

Những năm qua, với nhiều sản phẩm được ứng dụng vào hệ thống thông tin quân sự cùng các công trình, sáng kiến liên tiếp đoạt giải thưởng tuổi trẻ sáng tạo cấp binh chủng và toàn quân, Phòng Kỹ thuật vô tuyến điện (VTĐ) (Trung tâm Kỹ thuật thông tin công nghệ cao, Binh chủng Thông tin liên lạc) là điển hình của đơn vị với 9 năm liên tục (từ năm 2014 đến 2022) đạt danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”.

Tạo điều kiện để sĩ quan trẻ cống hiến, trưởng thành

 

Mới đây, Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh tổ chức tọa đàm với chủ đề “Sĩ quan trẻ - Khát vọng, bản lĩnh, cống hiến”. Thông qua tọa đàm giúp cấp ủy, chỉ huy các cấp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, mục tiêu, lý tưởng, động cơ phấn đấu, cống hiến cũng như khẳng định vai trò của sĩ quan trẻ trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2023

THẾ GIỚI VẤN ĐỀ-SỰ KIỆN: ÔNG PUTIN "VIỆC TẠO RA THẾ GIỚI ĐA CỰC LÀ TẤT YẾU VÀ CẦN THIẾT"!

     Phát biểu tại Olympic quốc tế về an ninh tài chính, Tổng thống Vladimir Putin nhấn mạnh việc tạo ra một thế giới đa cực, trung thực và công bằng là điều tất yếu.

"Quá trình xây dựng một trật tự thế giới đa cực - dân chủ hơn, trung thực hơn, công bằng hơn cho đại đa số nhân loại là điều tất yếu và cần thiết về mặt lịch sử. Các yếu tố này cũng sẽ được áp dụng để tạo ra nền tảng kinh tế vững chắc", Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại Olympic quốc tế lần thứ ba về an ninh tài chính tại Sirius gần Sochi hôm 4/10 vừa qua.

Ông Putin lưu ý thế giới đang dần thoát khỏi chế độ độc tài của mô hình kinh tế mà toàn bộ khu vực trên thế giới đều bị đẩy vào tình trạng vay nợ.

"Thế giới đang dần thoát khỏi chế độ độc tài của một mô hình kinh tế tài chính như vậy, mục đích của mô hình này là đẩy các khu vực vào cảnh nợ nần, lệ thuộc về kinh tế, tước đi nguồn lực phát triển của toàn bộ khu vực trên thế giới”, ông Putin nói, nhấn mạnh "có rất ít quốc gia mong muốn một trật tự thế giới như vậy".

Ngoài ra, ông Putin cho rằng sự tin tưởng lẫn nhau và tôn trọng lợi ích của nhau là vô cùng quan trọng trong hợp tác kinh tế quốc tế.

Trong bài phát biểu, Tổng thống Nga đồng thời chỉ trích những người "cưỡng đoạt tài sản" của người khác. "Không có bên thứ ba nào được quyền lạm dụng và can thiệp vào các vấn đề thanh toán, bao gồm việc chặn giao dịch, đóng băng tài khoản, chiếm đoạt tiền hoặc tài sản của người khác. Và thật không may, điều này lại xảy ra trong thế giới hiện đại", ông chủ Điện Kremlin nói./.
Yêu nước ST.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG, TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

 


Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới, cần nắm vững và thực hiện tốt những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ.

Quán triệt, học tập Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và toàn dân nhận thức rõ về nguyên tắc, tính tất yếu, yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới.

Trong chiến lược phát triển đất nước, cần tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”. “Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc,… trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”.

Hai là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đủ năng lực lãnh đạo toàn diện, có sức chiến đấu cao.

Đây là nhân tố giữ vai trò quyết định trực tiếp đến lãnh đạo xây dựng quân đội vững mạnh, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng khi dự và chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đảng bộ Quân đội phải thật sự là một đảng bộ mẫu mực, thật sự trong sạch, vững mạnh, có tính chiến đấu cao, đoàn kết chặt chẽ để lãnh đạo toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc và của quân đội, mãi mãi xứng danh là “Bộ đội Cụ Hồ”, mãi mãi xứng danh là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Phải chăm lo xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội theo hướng tổng hợp, phù hợp với yêu cầu mới.

Tiến hành công tác đảng, công tác chính trị là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, là “linh hồn, mạch sống” của quân đội cách mạng do Đảng lãnh đạo, bảo đảm cho quân đội giữ vững bản chất cách mạng, tính nhân dân và dân tộc. Do vậy, công tác này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, vừa toàn diện, vừa trọng điểm theo phương châm “ở đâu có bộ đội và nhân dân, ở đâu có sự chống phá của kẻ thù, ở đâu có hoạt động quân sự, quốc phòng…, ở đó có hoạt động công tác đảng, công tác chính trị”. Phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, bảo đảm đồng bộ các mặt tư tưởng, tổ chức, cán bộ, chính sách, dân vận và tuyên truyền… Trong điều kiện mới, công tác đảng, công tác chính trị vừa chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, vừa đặc biệt chú trọng xây dựng yếu tố tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh…, bảo đảm cho quân đội “hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Bốn là, chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với lực lượng vũ trang, chính sách hậu phương quân đội.

Cần khảo sát đời sống thực tế của từng nhóm cán bộ, chiến sĩ, nhất là cán bộ, chiến sĩ làm việc trong lĩnh vực, địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh để có chính sách cho phù hợp. Cần rà soát, bổ sung bảo đảm hệ thống chính sách hậu phương quân đội. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, theo đó, việc tuyển dụng người vào làm việc trong quân đội phải bảo đảm về lý lịch chính trị, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn, đồng thời có chính sách về thu nhập phù hợp với sự phát triển chung của xã hội và tính đặc thù của chuyên môn khi phục vụ trong quân đội.

Năm là, tăng cường mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, kiên quyết vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch./.

TBQL 17

NHỮNG BÀI HỌC TỪ THỰC TIỄN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng xác định sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng. Trên cơ sở đó, Đảng đã sớm đề ra chủ trương tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Tại Đại hội I của Đảng (tháng 3-1935), trong Nghị quyết về “Đội tự vệ” - bước đi ban đầu trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng - Đảng xác định: “Công nông cách mạng Tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương, quân ủy của Đảng Cộng sản”. Khi mới thành lập (ngày 22-12-1944), thực hiện theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã thể hiện rõ sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh hệ thống chỉ huy có chi bộ đảng, bên cạnh người chỉ huy có chính trị viên. Từ khi thành lập đến nay, quân đội luôn được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đó được thực hiện theo nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, thống nhất về mọi mặt”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với quân đội. Tuy cách diễn đạt mỗi thời kỳ lịch sử có khác nhau, nhưng bản chất cốt lõi đều là một, đó là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất thực hiện quyền lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo đó thể hiện ở những vấn đề bao trùm có tính toàn diện: xác định đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng tổ chức, biên chế, bảo đảm vũ khí, trang bị, hiện đại hóa quân đội; phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự; tổ chức nuôi dưỡng bộ đội; tiến hành công tác đảng, công tác chính trị,…

Đảng đã quy định cụ thể về hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, tổ chức quần chúng các cấp trong quân đội, để luôn giữ vững được vai trò lãnh đạo đối với quân đội, không ngừng xây dựng và phát huy bản chất, truyền thống “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” của quân đội. Trong quá trình ra đời và phát triển, quân đội đã làm tốt vai trò là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân khởi nghĩa đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, lập nên những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Sau ngày thống nhất đất nước, do hậu quả chiến tranh và những yếu tố tác động khác nhau, đã có giai đoạn, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, kéo dài; đời sống cán bộ, chiến sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, Việt Nam lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu đất nước (biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc). Dù thách thức đặt ra nặng nề, nhưng quân đội vẫn một lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vượt mọi khó khăn, chiến đấu kiên cường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, với chủ trương xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đội quân cách mạng ấy đã và đang thể hiện rõ là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy, nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tham gia phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Nhân tố quyết định để quân đội làm nên những thành tích mới ấy cũng xuất phát từ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Nhìn rộng ra, cách mạng thế giới đã để lại nhiều bài học đắt giá, nếu đảng cộng sản buông lỏng lãnh đạo đối với quân đội, thì cách mạng đứng trước nguy cơ thất bại. Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự tan rã, mất phương hướng của quân đội các nước này ở cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc buông lỏng và tiến tới thủ tiêu nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội (trước đó, trong một thời gian dài, quân đội Liên Xô bỏ hệ thống tổ chức đảng từ toàn quân đến cơ sở). Đó chính là sai lầm trầm trọng mà Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải trong lãnh đạo quân đội. Điều đó càng đặt ra yêu cầu trong việc quán triệt, thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội.

Trong tiến trình đổi mới từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Đảng đều xác định chủ trương giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đề ra những chủ trương, giải pháp lãnh đạo xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Ngày 20-7-2005, Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW, “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”Sự vững mạnh về chính trị của quân đội, sự phát triển về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội sau 16 năm thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW đã chứng minh tính đúng đắn của việc xác lập lại chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội trong 5 năm tới, trong đó tiếp tục khẳng định phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Trong giai đoạn phát triển mới, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đại hội chủ trương: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”./.

TBQL 17

ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TÁCH SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

 

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nguyên tắc, vấn đề có tính quy luật, nhân tố quyết định sự ra đời, trưởng thành, chiến thắng của quân đội. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm cách thực hiện âm mưu tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thực tiễn đó đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả chủ trương của Nghị quyết Đại hội XIII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới.

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nguyên tắc, vấn đề có tính quy luật, nhân tố quyết định sự ra đời, trưởng thành, chiến thắng của quân đội.

Mỗi khi Việt Nam diễn ra những sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội Đảng, chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, sửa đổi Hiến pháp, ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và quân đội…, bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau, không ít cá nhân, tổ chức thù địch lại hợp xướng “bài ca muôn thuở” - đồng loạt tung ra những luận điệu cũ rích đòi Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013, đòi “phi chính trị hóa” quân đội... Các thế lực thù địch xảo biện và xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tổ chức, lãnh đạo quân đội là do nhu cầu lịch sử của công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng hiện nay Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng và thống nhất đất nước hơn 45 năm, Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” và không cần sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, hiện nay, quyền lãnh đạo đất nước cần phải chia sẻ cho các lực lượng khác bằng cách thực hiện đa đảng hoặc trao cho cái gọi là “lực lượng dân chủ cấp tiến”; rằng, quân đội phải “trung lập”, quân đội phải “đứng ngoài chính trị”.

Bản chất của luận điệu này là muốn tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Chúng muốn làm biến chất một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, từ đó dễ bề làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Không chỉ những phần tử chống đối lưu vong, mà hiện nay, một số phần tử cơ hội, bất mãn ở trong nước cũng ráo riết chống phá. Trên các trang mạng xã hội, chúng thường xuyên vu khống, xuyên tạc bản chất, vai trò, chức năng của quân đội, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội./.

TBQL 17

NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỞI XƯỚNG, LÃNH ĐẠO

 


Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trên mọi mặt là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, mà trước hết là do đường lối lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng. Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, chúng ta không chỉ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và duy trì được tốc độ tăng trưởng nền kinh tế tương đối cao trong suốt 35 năm, với mức trung bình khoảng 7% mỗi năm, “kinh tế phát triển…, tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường”. Hầu hết các xã ở nông thôn đều có kết cấu hạ tầng tốt, có điện lưới quốc gia… Chúng ta hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 73,7 tuổi (năm 2020). Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704 (năm 2019), thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Đặc biệt, gần đây nhất, những kết quả đạt được trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, đã thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Những thành tựu đổi mới đó đã chứng tỏ rằng,“phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”. Con đường đi lên CNXH ở nước ta từng bước được hoàn thiện và hiện thực hóa. Những thành tựu đó không phải là một sự may mắn, ngẫu nhiên, mà là “sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”. Thành quả đó một lần nữa khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại” và “đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo”. Đó là sự thật không thể đảo ngược, là câu trả lời hết sức thuyết phục cho những ai còn nghi ngờ, thậm chí “sám hối” về con đường đi lên CNXH và phủ nhận đường lối đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo, là minh chứng sinh động, phản bác đanh thép, bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch.

Cho đến nay, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta vẫn đang tiếp tục diễn ra ngày càng cam go, phức tạp. Nhằm ngăn chặn những tư tưởng, nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, những phần tử bảo thủ, thoái hóa, biến chất; kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đòi hỏi chúng ta trước hết cần phải kiên định mục tiêu CNXH, giữ vững thành quả cách mạng, củng cố, tăng cường và phát huy sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong nhân dân. Đồng thời, cần nghiên cứu thấu đáo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, về giai cấp và đấu tranh giai cấp, củng cố lập trường giai cấp; trên cơ sở đó, soi rọi vào thực tiễn để đưa ra những hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp, tránh rơi vào sai lầm, cực đoan hoặc xem nhẹ, bỏ trống trận địa đấu tranh dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác, rơi vào âm mưu “diễn biến hòa bình” của các lực lượng thù địch. Cuộc đấu tranh này còn diễn ra lâu dài và gian khổ, song dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng, mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta sẽ sớm trở thành hiện thực, đáp ứng được lòng mong mỏi, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân./.

TBQL 17

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC

 

Hiện nay, “các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, do đó, cuộc đấu tranh này ngày càng cam go, quyết liệt hơn. Các thế lực thù địch không chỉ sử dụng internet, mạng xã hội, móc nối với các cá nhân, tổ chức trong nước, mà còn sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn mới, rất tinh vi nhằm kích động, lôi kéo sự tham gia của các phần tử chống đối, trong đó có cả một số cán bộ nguyên là lãnh đạo cao cấp đã nghỉ hưu, từ đó hướng lái dư luận xã hội theo ý đồ của chúng, gây hoang mang và làm giảm niềm tin của nhân dân đối với những chủ trương, đường lối của Đảng. Để tạo cơ sở cho công tác đấu tranh, đồng thời tránh sự chủ quan, xơ cứng, giáo điều, trì trệ và lạc hậu về lý luận, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại”.  Đây là một yêu cầu cấp bách của công tác lý luận hiện nay./.

TBQL 17

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN

 


Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Vì thế, “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Tuy nhiên, đối với bất cứ một đảng cầm quyền nào, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nguy cơ tham nhũng, quan liêu, thoái hóa... luôn hiện hữu. Do vậy, để giữ vững bản chất, uy tín và năng lực lãnh đạo, Đảng “phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị”. Cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần nêu gương, nâng cao trách nhiệm, kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa... Đây chính là “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hại, nếu không chống sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Cùng với việc chống giặc “nội xâm”, để bảo đảm “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tập trung xây dựng “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”. Đây chính là cơ sở để giữ vững niềm tin và tạo sự ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền. Bởi vậy, từ thực tế “tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một ;bộ phận cán bộ, đảng viên”; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được coi là “nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”./.

TBQL 17