Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

NẮM VỮNG CƠ SỞ LỊCH SỬ VÀ PHÁP LÝ, KIÊN QUYẾT BẢO VỆ TÍNH CHÍNH DANH CỦA ĐẢNG

 Sự lãnh đạo và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam phản ánh ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam. Thực hiện quyền lãnh đạo đối với Nhà nước, xã hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân là mệnh lệnh của lịch sử, là phẩm chất, văn hóa của Đảng; đồng thời, cũng là trách nhiệm của Đảng. Dù các thế lực phản động, thù địch có cố tình xuyên tạc ra sao thì các nội dung trên là sự thực không thể phủ nhận.

Dân tộc Việt Nam chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng - một sự thật lịch sử không thể phủ nhận
Để giải phóng mình khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, tại sao dân tộc Việt Nam không chọn một tổ chức chính trị nào khác, mà chọn Đảng Cộng sản Việt Nam? Phải chăng đó chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận người yêu nước Việt Nam như điều mà các thế lực thù địch vẫn đang xuyên tạc?! Những người hiểu biết cơ sở lịch sử và pháp lý sẽ đáp trả rằng: Không! Dứt khoát không phải như vậy. Sự lựa chọn đó là của dân tộc Việt Nam, một sự lựa chọn tất yếu khách quan mang tính quy luật lịch sử.
Sự thực là, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã xuất hiện những ngọn cờ cứu nước, cứu dân, những đảng phái khác nhau, song những ngọn cờ ấy, những đảng phái ấy không đủ sức đảm đương sứ mệnh giải phóng dân tộc.
Tháng 9-1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau khi hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược, chúng đặt nền cai trị hà khắc ở Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nước Việt Nam mất độc lập, nhân dân Việt Nam trở thành nô lệ.
Vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, một bộ phận phong kiến Việt Nam đã đứng lên giương cao ngọn cờ chống thực dân Pháp, ròng rã gần 40 năm (1858 - 1896), vẫn không chống được chủ nghĩa thực dân - một kẻ thù mới của dân tộc, có trình độ phát triển về phương thức sản xuất hơn hẳn. Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, tiếp đến là Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài đến cuối thế kỷ XIX thì lụi tắt. Đầu năm 1896, những tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương chấm dứt, cũng là tín hiệu kết thúc sứ mệnh lịch sử của giai cấp phong kiến Việt Nam trong thời đại mới.
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX diễn ra sôi nổi, song có hạn chế lớn trong xác định mục tiêu, kẻ thù và phương thức đấu tranh. Tiêu biểu như: Phan Bội Châu xác định chống đế quốc nhằm giành độc lập và thiết lập nền quân chủ lập hiến ở Việt Nam (dựa vào Nhật để chống Pháp, dẫn đến không thành công); Phan Châu Trinh tập trung chống phong kiến (dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, coi đó như là điều kiện tiên quyết để giành độc lập, cũng đi đến thất bại)...
Trong công cuộc giải phóng dân tộc, những thập niên đầu thế kỷ XX, đã có nhiều đảng phái đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội từng nỗ lực trên vũ đài chính trị, như Nghĩa hưng (1907); Lập hiến (1923); Việt Nam nghĩa đoàn; Đảng Thanh niên; Đảng An Nam độc lập (1927), Việt Nam Quốc dân Đảng (1927)...; kể cả một số đảng của những kẻ tay sai cho đế quốc, như Đại Việt quốc gia xã hội Đảng, Đại Việt quốc dân Đảng trong những năm 40 của thế kỷ trước; hay các đảng phản động, như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... cũng cố thực hiện mưu đồ chính trị. Thế nhưng, sự thực là, các đảng phái đó không được dân tộc Việt Nam lựa chọn giữ quyền lãnh đạo.
Tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp đã diễn ra quyết liệt, liên tục, trên các vùng lãnh thổ Việt Nam, hướng tới mục tiêu đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, các phong trào cứu nước lần lượt thất bại. Thực tế thất bại của các phong trào đó cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ đứng trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối, thiếu lý luận cách mạng tiên tiến dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Lịch sử đặt cho dân tộc Việt Nam một câu hỏi mang tầm thời đại: Giải phóng dân tộc bằng con đường nào mới giành thắng lợi? Lực lượng nào đủ khả năng hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện đường lối cứu nước, cứu dân? Câu hỏi đó vẫn chưa có lời giải trong suốt mấy thập niên đấu tranh. Đây chính là nhu cầu lịch sử và tất yếu phải có sự ra đời của lực lượng tiên phong.
Sự thực là, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lời giải đúng cho công cuộc giải phóng dân tộc - bước ngoặt vĩ đại, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Trước yêu cầu lịch sử, với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, lòng yêu nước vô hạn và thương dân sâu sắc, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh) đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình lịch sử ấy bắt đầu từ ngày 5-6-1911. Trên con đường vạn dặm, “Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi/Những đất tự do, những trời nô lệ/Những con đường cách mạng đang tìm đi”(1). So sánh các cuộc cách mạng, Người chỉ rõ, kết cục của các cuộc cách mạng tư sản là “cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(2). Điều đó có nghĩa là, cách mạng Việt Nam khi đó quyết không chọn con đường cách mạng tư sản, không thể đặt nhiệm vụ ấy cho giai cấp tư sản.
Bằng tư duy mới, coi trọng khảo cứu thực tiễn, đối sánh, cùng với sự nhạy bén đặc biệt về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã tìm và chọn được con đường giải phóng dân tộc triệt để nhất - con đường cách mạng vô sản, theo Cách mạng Tháng Mười Nga, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc khẳng định dứt khoát: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Nghiên cứu lý luận, đối chiếu với thực tiễn chính trị - xã hội, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Tuân theo tính quy luật, để làm cách mạng vô sản thì điều kiện tiên quyết phải tổ chức ra Đảng Cộng sản.
Nhận thức được chân lý của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã nỗ lực xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức, về đội ngũ cán bộ ban đầu đã dẫn tới sự ra đời các tổ chức tiền thân của đảng cộng sản. Những năm 1929 - 1930, phong trào dân tộc theo xu hướng cộng sản thể hiện rõ sự thắng thế so với các xu thế khác, các tổ chức cộng sản cũng phát triển mạnh mẽ. Nhu cầu cần có một đảng cộng sản duy nhất để tập trung sự lãnh đạo trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động hợp nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng, tiếp đến là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 - bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời vạch ngay một Cương lĩnh đúng, đưa cách mạng Việt Nam đi theo xu thế thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước ở Việt Nam, đảm nhận sứ mệnh mà các lực lượng trước đó không giải quyết được. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(5).
Đảng ra đời với đường lối đúng, đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, được toàn dân tin theo và ủng hộ. Đây là bước đầu quyết định, chứng tỏ cách mạng Việt Nam đã có một lực lượng lãnh đạo đủ uy tín, năng lực đưa cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến tạo đất nước, đáp ứng khát vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế của lịch sử.
Lịch sử khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ uy tín và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi
Sự thực là, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ uy tín, năng lực lãnh đạo thắng lợi trong đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).
Vừa mới ra đời, trong điều kiện chủ yếu phải hoạt động bí mật, trong 15 năm (1930 - 1945), tổ chức đảng bị thực dân đế quốc khủng bố, hệ thống tổ chức của Đảng hai lần phải xây dựng lại. Trong 15 năm ấy, Đảng chịu nhiều tổn thất, 4 đồng chí Tổng Bí thư của Đảng đã hy sinh, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn kiên trung vì lợi ích dân tộc, không nhụt chí trước kẻ thù. Đường lối chiến lược vạch ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên và bổ sung ở Luận cương (tháng 10-1930) đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc. Đi theo ngọn cờ của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với sự kiện này, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(6). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm thay đổi vận mệnh dân tộc, thay đổi thân phận của người dân Việt Nam, từ người nô lệ trở thành người làm chủ nước nhà.
Bình luận về ý nghĩa lịch sử và tác động của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến những bước tiến của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX, nhà sử học người Pháp Charles Fourniau khẳng định: Cách mạng Tháng Tám “đã đem đến chiều sâu lịch sử của nó vào cuộc đấu tranh mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi từ 1945 đến 1975”(7).
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dù có những tổ chức ra sức công kích, tranh giành quyền lãnh đạo, nhưng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Giai đoạn 1945 - 1954: Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, không bao lâu sau, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược Việt Nam, đánh dấu bằng việc chúng nổ súng ở Nam Bộ. Lúc này, ở Việt Nam, vừa có hoạt động của trên 30 vạn quân ngoại quốc (Nhật, Tưởng, Anh, Pháp), vừa có các đảng phái phản động, nhất là Việt Quốc, Việt Cách. Trước bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Đảng vừa ra hoạt động công khai, nắm chính quyền cách mạng lại phải đối phó với vô vàn khó khăn, buộc phải rút vào hoạt động bí mật, nhưng vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với cách mạng. Trước 3 thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm), cách mạng Việt Nam rơi vào tình thế như “nghìn cân treo sợi tóc”. Được nhân dân tin tưởng, Đảng đã khéo vận dụng nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo trong những năm 1945 - 1946, vững tâm thế bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ (1945 - 1954) đã bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam. “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”(
😎
.
Tại Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong 31 đồng chí hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng ta, trước ngày khởi nghĩa đã được đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày”(9). Chỉ tính trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và 9 năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt. Chỉ riêng trong cấp Trung ương, đã có 14 đồng chí bị thực dân Pháp bắn, chém, hoặc giết trong nhà tù. Bản lĩnh của Đảng sáng chói. Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Đúng là: Sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cộng sản, của các anh hùng, liệt sĩ chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do.
Giai đoạn 1954 - 1975: Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành “con đê” ngăn chặn “làn sóng đỏ” (tức sự phát triển của chủ nghĩa xã hội) sang Đông Nam Á, đế quốc Mỹ đã xâm lược miền Nam, chia cắt đất nước Việt Nam. Những năm 1965 - 1968 và 1972, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Việt Nam đã tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, đồng tâm hiệp lực, hướng về mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đây là một điểm sáng tạo độc đáo của đường lối cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
Sự thực là, sau 21 năm kháng chiến kiên cường, bất khuất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước. Chiến công ấy là “một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(10). Dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sự thật cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất khởi xướng, lãnh đạo đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng tầm vị thế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong hơn 10 năm 1975 - 1986, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã tìm tòi con đường thích hợp đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới; đồng thời, từng bước tháo gỡ khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, tạo một bước ngoặt mới của cách mạng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Nêu cao trách nhiệm trước dân tộc, Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã xác định 4 nội dung trọng tâm cần đổi mới: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”(11). Gần 40 năm đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, song với bản lĩnh chính trị vững vàng và quyết tâm đổi mới, kiên định mục tiêu mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã chọn, Đảng đã giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa cách mạng vượt qua cơn chấn động của thời cuộc, nhất là khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng và đi vào đổ vỡ. Thông qua đổi mới, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việt Nam “tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”(12).
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đang đi vào chiều sâu, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt về sự lãnh đạo của Đảng, mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng. Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ấy thể hiện ở chỗ: Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu năm 1989 GDP mới đạt 6,3 tỷ USD(13); năm 2000 là 40 tỷ USD(14), thì đến năm 2022 đạt 409 tỷ USD(15). Gần 40 năm đổi mới cũng là một chặng đường từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức. Đại hội XIII của Đảng khẳng định sự thật: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(16).
Qua gần 40 năm đổi mới, trong một thời gian không dài, trong những điều kiện rất khó khăn, phức tạp, những thành tựu ấy đã minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đó cũng là cơ sở để khơi dậy khát vọng của nhân dân Việt Nam về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.
Nhiều học giả, chính trị gia, chuyên gia quốc tế đã có đánh giá tốt về thành tựu công cuộc đổi mới của Việt Nam. Đồng chí Tề Kiến Quốc, Đại sứ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam khẳng định: “Với những thành tựu nổi bật, công cuộc đổi mới đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt đất nước..., có ảnh hưởng vượt tầm quốc gia, gây ấn tượng cho cả thế giới”(17). PGS, TS V.I. An-tô-sơ-chen-cô, Phó Giám đốc Trung tâm Việt Nam học thuộc Đại học quốc gia Mát-xcơ-va, Liên bang Nga, nhận xét: “Mười lăm năm trong tiến trình hàng nghìn năm lịch sử của Việt Nam là một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, nhưng nhân dân Việt Nam đã làm được những việc phi thường. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã chứng tỏ với thế giới rằng Việt Nam không phải chỉ là một dân tộc kiên cường bất khuất, giỏi chống giặc ngoại xâm mà còn có đủ tài trí để xây dựng và phát triển đất nước”(18). GS, TS Cho Jae Hyun, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được đường lối chính trị đúng - một đường lối thể hiện sự kiên định về chiến lược; sự sắc sảo, mềm dẻo về sách lược; sự phong phú, sáng tạo và linh hoạt về phương pháp cách mạng... Việc Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hóa và thị trường thực sự là một bước đổi mới tư duy. Điều này cũng cho thấy rằng, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng được Việt Nam vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của mình... Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là một chiến lược rất đúng đắn”(19).
Tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam còn được đấu tranh bảo vệ bằng cơ sở pháp lý. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng đã trở thành yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được khẳng định trong tiến trình xây dựng Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay.
Hiến pháp đầu tiên của đất nước Việt Nam hiện đại (năm 1946) ghi rõ: Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng. Lời nói đầu Hiến pháp năm 1959 khẳng định: Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới; Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang. Hiến pháp năm 1980 hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đến Hiến pháp năm 2013, Khoản 1, Điều 4 khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Khoản 2, Điều 4 bổ sung nội dung mới, thể hiện rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân: Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Cả hai chiều quan hệ: Đảng với nhân dân và nhân dân với Đảng được xác định một cách biện chứng, bản chất là giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng cầm quyền và cơ sở xã hội của nó.
Từ lịch sử đến hiện tại, vai trò lãnh đạo và trọng trách của Đảng đã được khẳng định trong Hiến pháp - luật cơ bản của Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, ghi nhận địa vị pháp lý của đảng cầm quyền và được pháp luật bảo vệ. Đây là cơ sở pháp lý tối thượng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và quyền lực thực sự của nhân dân Việt Nam; là kết quả vận động tất yếu khách quan của lịch sử. Những cơ sở lịch sử và pháp lý đó góp phần cung cấp luận cứ chủ yếu, cần được nắm vững và sử dụng hiệu quả trong đấu tranh bảo vệ tính chính danh, chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới./.
st

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG CÂU NÓI THƯỜNG GẶP Ở NHỮNG KẺ CHỐNG CỘNG!

Cẩm nang diệt rận chủ:
1. Không cần đánh Pháp thì cũng độc lập?!
Chẳng khác nào bị ăn cướp rồi ngồi chờ ăn cướp trả lại. Và tất cả các cuộc kháng chiến chống xâm lăng của Việt Nam và các nước khác trên thế giới là sai lầm?!
Algeria nhờ tấm gương Việt Nam mà vùng lên đánh Pháp mới giành được độc lập. Việt Nam cũng đã qua 100 năm chờ Pháp trả độc lập mà chúng có chịu trả không? Đánh cho tơi bời chúng mới cút nhưng vẫn để lại cái vĩ tuyến 17 oan nghiệt. Còn đặc biệt người thổ dân da đỏ đã chờ 500 năm rồi, người anglo saxon đã trả độc lập cho họ đâu?
Và tại sao người Mỹ không ngồi đó chờ thực dân Anh ban bố độc lập mà phải đánh lại mẫu quốc?
Nếu có trách thì phải trách Pháp, Mỹ và tay sai người Việt chứ không thể trách người kháng chiến, đó là trách ngược! Cuộc kháng chiến có thể đã không xảy ra nếu Mỹ không ủng hộ Pháp quay lại Việt Nam.
Không bao giờ có chuyện tự nhiên độc lập được trao trả. Con đường chính trị Việt Nam đã thử đó là chịu độc lập trong khối liên hiệp Pháp, nhưng Pháp chỉ muốn một chính quyền bù nhìn như Bảo Đại tức là mọi thứ vẫn như cũ và Pháp đã nổ súng tấn công trước nên cuộc kháng chiến mới chính thức nổ ra.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem kẻ xâm lược là văn minh và đạo đức.
2. Mỹ không xâm lược Việt Nam?!
Hành động gọi là xâm lược không chỉ gói gọn ở trường hợp xâm chiếm lãnh thổ nước khác rồi sáp nhập vào của mình, mà còn là trường hợp trực tiếp can thiệp chính trị quân sự vào một quốc gia, cướp đoạt chủ quyền phục vụ cho lợi ích đế quốc của mình.
Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ thuộc vào trường hợp thứ hai.
Mỹ quyết định can thiệp trực tiếp khi Pháp thua và biết rằng nếu tổng tuyển cử xảy ra, 80% dân sẽ bầu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mỹ đã cướp đoạt chủ quyền Việt Nam bằng cách dùng cơ quan tình báo CIA xây dựng chính quyền cho Diệm, một người không có công lao kháng Pháp và không có một lực lượng chính trị hậu thuẫn ở Việt Nam, để tự xây dựng chính quyền.
CIA tiến hành chiến tranh tâm lý phá hoại miền Bắc và lừa gạt lôi kéo người Công giáo miền Bắc vào Nam để hy vọng xây dựng một hậu thuẫn chính trị cho Diệm.
Khi Diệm trở nên bất kham, Mỹ bật đèn xanh cho tướng tá ngụy giết Diệm. Rõ ràng ông chủ thực sự của chính quyền ngụy là Mỹ chứ không phải tổng thống ngụy.
Khi nhắm thấy quân ngụy không thể thắng trong một cuộc đối đầu quân sự với MTDTGPMN, Mỹ đã trực tiếp đem quân vào. Cuộc xâm lược quân sự bắt đầu.
Quân đội Mỹ phải trực tiếp nhảy vào vì quân đội ngụy phần lớn là những người bị ép buộc nên không có tinh thần chiến đấu. Và sau khi tất cả các chiêu trò được tung ra đều thất bại, Mỹ phải đưa ra chiến lược cuối cùng là "Việt Nam hóa chiến tranh, thay màu da trên xác chết". Cái tên của chiến lược này đã chứng minh hùng hồn cuộc chiến trước đó là cuộc chiến Mỹ-Việt và Mỹ đã xâm lược Việt Nam.
Nếu cuộc chiến của Mỹ không phải là xâm lược thì nhà Thanh đã không xâm lược Việt Nam khi đem quân vào miền Bắc giúp Lê Chiêu Thống khôi phục nhà Lê. Nhà Lê so với chính quyền Diệm còn có chính danh hơn vì nguyên thủy nó không phải là do nhà Thanh dựng lên như Mỹ dựng lên VNCH.
Điểm ngụy biện ở đây là: Xem quân Mỹ và CIA là chuyên làm từ thiện!!!
3. Cuộc chiến tranh đó là một cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn?!
Như vừa nói ở trên, nếu đó là "nội chiến" thì không thể nào có cái chiến lược gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh". Quân đội miền Bắc và quân giải phóng miền Nam chỉ đánh Mỹ là chính trong hầu hết thời gian cuộc chiến. Đối với quân ngụy thì hù cho chạy là chính. Quân ngụy trừ số đã bị tẩy não quá nặng thì không có ý chí chém giết với người Việt Nam. Nếu không có Mỹ ở Việt Nam gây chia rẽ thì rõ ràng người Việt Nam không có lý do để có một cuộc chiến tương tàn.
Nội chiến là chiến tranh nội bộ. Tự điển dịch là "chiến tranh giữa các giai cấp hoặc lực lượng xã hội đối kháng trong một nước". Trừ khi nước Mỹ là một phần của Việt Nam và người Mỹ là người Việt Nam, cuộc chiến đó không thể nào có thể gọi là một cuộc nội chiến.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem Mỹ là người Việt Nam, xem người Bắc Việt Nam là người... nước ngoài 😆.
4. "Miền Bắc xâm lược, cưỡng chiếm miền Nam"?!
Nếu nói miền này xâm lược, cưỡng chiếm miền kia trong cùng một nước thì hóa ra một nước có thể tự xâm lược chính mình sao? Như vậy sách giáo khoa lịch sử của thế giới và Việt Nam cần phải đổi lại hết dùng từ "xâm lược" cho tất cả các cuộc chiến giữa miền này với miền kia trong cùng một nước.
Như vậy nội chiến Mỹ là một cuộc chiến xâm lược. Miền Nam muốn tách ra vì không đồng ý với chủ trương của miền Bắc và miền Bắc đã "xâm lược", "cưỡng chiếm" miền Nam nước Mỹ.
Việc Vua Quang Trung đánh ra Bắc chiếm lại Bắc Hà do quân Thanh chiếm đóng theo lời cầu viện của Lê Chiêu Thống cũng là một cuộc chiến xâm lược, cưỡng chiếm Bắc Hà!
Hơn nữa miền Bắc, miền Nam chỉ là sự phân chia địa lý chứ không phải là dân miền Bắc đánh dân miền Nam vì chính quyền ngụy được xây dựng bằng thành phần nòng cốt là dân Công giáo miền Bắc di cư vào Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là do người miền Nam lãnh đạo và tham gia.
Lại còn miền Trung thì sao?! Âm mưu chia cắt vĩnh viễn VN làm đôi, gây ra sự phân biệt, thù hằn Bắc-Nam là ý chí của Mỹ chứ không phải của dân bất cứ một miền nào của Việt Nam.
Do đó đây là cuộc chiến tranh giành độc lập thống nhất giữa đại đa số bao gồm cả người Bắc-Trung-Nam với lý tưởng đó chống lại Mỹ và ngụy là một thiểu số cũng bao gồm cả người Bắc-Trung-Nam.
Nếu dùng chữ xâm lược thì phải sửa thêm là nửa miền Nam này xâm lược nửa miền Nam kia luôn vì phần lớn vùng nông thôn Việt Nam theo phía cộng sản.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem Việt Nam là 2 quốc gia và xem Mỹ là không có vai trò gì.
5. Mỹ vào Việt Nam là để giúp miền Nam, giúp Việt Nam?!
Mỹ giúp thực dân Pháp tái chiếm và bình định Việt Nam.
Pháp thua thì Mỹ trực tiếp nhảy vào cướp chủ quyền chia cắt Việt Nam.
Mỹ dựng lên chính quyền độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm và các chính quyền độc tài quân sự sau đó và Mỹ mới là chủ nắm đầu đằng sau.
Mỹ đã tàn phá gần như toàn bộ đất nước Việt Nam: ném bom bừa bãi, rải chất độc làm chết hàng triệu dân thường. Di chứng hậu quả của sự tàn bạo đó còn tồn tại cho đến ngày hôm nay và cả trăm năm sau.
Đào khoét sâu thêm chia rẽ dân tộc.
Những mục tiêu, việc làm như trên của Mỹ ở Việt Nam là phá chứ không phải giúp Việt Nam.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem chuyện Pháp và Mỹ giết người Việt Nam là việc nghĩa.
6. VNCH có dân chủ?!
Chính quyền VNCH là một chính quyền do Mỹ xây dựng. Diệm là do Mỹ tuyển và đưa lên qua cuộc trưng cầu dân ý gian lận phế truất Bảo Đại. Khi Mỹ không điều khiển được Diệm thì bật đèn xanh để tướng tá ngụy giết. Các tướng tá ngụy sợ Mỹ hơn sợ tổng thống của họ. Rõ ràng Mỹ là chủ ở đây chứ không phải dân.
Nguyện vọng của dân quê miền Nam theo Cộng sản không được xem xét mà chỉ bị đàn áp.
Nếu bạn xem chính quyền, quân đội Mỹ là dân Việt Nam, còn dân nông thôn Việt Nam theo Cộng sản là người nước ngoài thì VNCH đúng là có dân chủ.
Một đất nước do đế quốc nước ngoài nắm đầu thì không thể gọi là dân chủ.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem Mỹ là tay sai của ông Diệm, ông Thiệu.
7. Miền Bắc cũng nhận viện trợ và được Liên Xô và Trung Quốc giúp chả khác gì miền Nam được Mỹ và đồng minh giúp?!
Lại nên lưu ý về cách dùng miền Bắc, miền Nam để đại diện phe phái một cách không chính xác/dùng ngụy biện ở trên.
Miền Bắc và MTDTGPMN chỉ nhận viện trợ là để chống quân Mỹ vào Việt Nam xâm lược.
Ngụy được trả lương, chịu sự chỉ huy điều động của Mỹ và quân đội Mỹ trực tiếp nhảy vào đánh giết người Việt Nam ngoài chuyện viện trợ ra.
Giúp đỡ viện trợ, gửi cố vấn so với đem cả nửa triệu quân trực tiếp vào xâm lược nắm đầu một nửa nước, đánh giết tàn phá cả một đất nước là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem bạn bè giúp dân tộc sống còn và độc lập như kẻ thù, xem kẻ thù giết dân, chia rẽ đất nước và dân tộc là bạn bè...
8. Chiến tranh ý thức hệ?!
Việt Nam không có vấn đề với ý thức hệ dân chủ của Mỹ. Chính quyền Việt Nam được xây dựng năm 1945 là một chính quyền đa đảng. Việt Nam không có ý định chống lại ý thức hệ gì đó của Mỹ mà chỉ muốn độc lập.
Thứ tự câu chuyện:
- Chính quyền VNDCCH kêu gọi Mỹ ủng hộ độc lập cho Việt Nam, giúp Việt Nam chống Pháp quay lại, nguyện giao hảo và hợp tác toàn diện với Mỹ ngay từ năm 1945 và sau đó 1946.
- Mỹ đã phớt lờ và quay sang giúp Pháp tái chiếm Việt Nam.
- Mỹ không giúp Việt Nam lại giúp Pháp cho nên Việt Nam mới tự chống Pháp và sau đó nhờ đến Liên Xô và Tàu. Nên nhớ Cộng sản Tàu chưa lên nắm quyền vào những năm 1945-49.
- Mỹ lại viện cớ Việt Nam nhờ Liên Xô và Tàu giúp tức là chống lại ý thức hệ dân chủ của Mỹ!
Nếu ý thức hệ dân chủ của Mỹ có nghĩa là giúp đỡ thực dân Pháp cướp nước đô hộ Việt Nam một lần nữa thì Việt Nam chống lại là đúng!
Thực tế cuộc chiến là Mỹ đem quân xâm lược muốn chia cắt Việt Nam vĩnh viễn nên người Việt Nam phải chống lại. Đó là ý thức độc lập chống lại ý thức muốn nắm đầu nước khác bằng bạo lực của đế quốc.
Việt Nam nói chung không có nhu cầu chống Cộng. Cộng Sản quốc tế đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp thì tại sao người Việt phải chống Cộng? Và mâu thuẫn giữa chủ nghĩa này hay khác trong nội bộ Việt Nam thì nước ngoài cũng không được xen vào.
Không có nước nào có quyền đem quân vào Mỹ để chống chủ nghĩa gì ở bên trong nước Mỹ cả, như vậy Mỹ không có cái quyền đem quân vào Việt Nam để chống Cộng!
Nếu nói rằng vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được 80% dân chúng ủng hộ nên Mỹ phải nhảy vào chia Việt Nam làm hai để chống Cộng thì rất buồn cười và vô lý và càng không thể biện minh cho sự xâm lược của Mỹ.
Nếu bây giờ một đảng A của Mỹ nhắm chừng sẽ thua đảng B trong một cuộc bầu cử thì những người của đảng A có quyền lập ra một quốc gia mới tách rời ra khỏi nước Mỹ với sự giúp đỡ trực tiếp của một cơ quan tình báo nước ngoài không?
Chuyện như trên đã xảy ra ở VIệt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh không có đối thủ trong một cuộc tổng tuyển cử nên Mỹ đã đem Diệm từ Mỹ về để đưa lên làm tổng thống qua một vụ trưng cầu dân ý gian lận lật đổ Bảo Đại. Cơ quan tình báo CIA của Mỹ do đại tá Edward Landsdale đã xây dựng chính quyền ngụy bằng cách tiến hành một chiến dịch chiến tranh tâm lý Passage to Freedom lôi kéo người công giáo miền Bắc vào làm lực lượng hậu thuẫn cho Diệm.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem nước Việt Nam là lãnh thổ nước Pháp hay nước Mỹ chứ dứt khoát không phải của Việt Nam nên chỉ khi chúng cho độc lập thì mới được.
9. Miền Nam giàu miền Bắc nghèo suy ra miền Nam không cần miền Bắc giải phóng?!
Phần lớn miền Nam là chiến trường ác liệt thì làm sao giàu? Sài Gòn giàu nhưng chỉ là một thành phố của miền Nam chứ không phải là toàn bộ miền Nam. Vì Sài Gòn là đầu mối Mỹ đổ viện trợ dân sự, quân sự, tiền lương quân lính ăn chơi vào Sài Gòn nên mới giàu và kinh tế nằm trong tay người Tàu Chợ Lớn. Sự giàu có này đòi hỏi ngụy làm cai thầu chiến tranh cho Mỹ. Thôn quê miền Nam và cả miền Bắc phải bị tàn phá, hàng ngàn người phải chết vì bom đạn, chất độc mỗi ngày. Hậu quả của những sự tàn phá đó vẫn tiếp tục kéo dài hàng trăm năm. Giàu cái kiểu cả nước phải chịu khổ cho một thành phố giàu thì cần phải chấm dứt và Sài Gòn phải cần được giải phóng gấp!
Quyền lợi của một nhóm người nhỏ lợi dụng chiến tranh để trục lợi làm giàu không thể đặt trên quyền lợi của cả một dân tộc.
Miền Nam giàu như thế nào? Theo lời một phóng viên Úc thì "miền Nam được nhớ đến với một nền kinh tế dựa trên chơ đen, ma túy, đ-ĩ đ-iếm và trục lợi nhờ chiến tranh - South Vietnam is remembered as having an economy based on a black market, drugs, prostitution and war profiteering."
Còn theo lời Thượng nghị sĩ J. W. Fulbright vào năm 1966 thì "Hòn ngọc Viễn Đông" là một "động đ-ĩ của Mỹ".
Phải nói là cả Việt Nam giải phóng Sài Gòn khỏi tay Mỹ ngụy vì nếu chỉ có miền Bắc thì không thể có khả năng đó.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem bán nước là một nghề của "giới cao quý" được Tây nuôi dạy tử tế.
10. Chiến tranh mà?!
Khi có ai đó nhắc đến tội ác Mỹ ngụy thì có nhiều người lại ngụy biện bằng một câu ngắn: "Chiến tranh mà" để khỏa lấp đánh đồng tất cả. Chiến tranh không tự xảy ra nên không thể đổ lỗi cho chiến tranh mà phải truy cứu ai đã gây ra chiến tranh. Nếu đồng ý chiến tranh là tội ác thì phía gây ra chiến tranh đã gây ra tội ác.
Việt Nam không có nhu cầu gây chiến tranh với Mỹ và đã không tấn công nước Mỹ.
Người Việt Nam chỉ muốn bầu cử thống nhất đất nước.
Do đó Mỹ không có bất cứ quyền, lý do gì gây ra chiến tranh ở Việt Nam. Chuyện chính trị nội bộ Việt Nam phải do người Việt Nam giải quyết.
Nhưng Mỹ đã gây ra chiến tranh và tội ác theo sau.
Và chiến tranh có luật của chiến tranh, không thể giết thường dân vô tội vạ như Mỹ đã làm. Ném bom, bắn giết một cách bừa bãi, đặt thôn quê nào đó là vùng "tự do oanh kích FFZ", "giết tất cả những gì động đậy" thì đó là tội ác chống lại loài người.
Điểm ngụy biện ở đây là: xem quân Mỹ giết người vô tội là vô tội.
11. Đối xử sai lầm đối với ngụy quân ngụy quyền sau ngày giải phóng?!
Đối với những người chống Cộng đương nhiên 30 tháng 4 không phải là ngày "giải phóng" vì họ đã mất đi địa vị "lên voi". Nhiều triệu người đã phải hy sinh cả mạng sống để Việt Nam có hòa bình thống nhất, không còn chém giết nhưng họ lại buồn hận chỉ vì địa vị ăn trên ngồi trốc bị đá đổ! Buồn hận kiểu này có nên được thông cảm không?
Họ là vàng còn cả dân tộc là cỏ rác hay sao?
Họ đã vẽ ra viễn cảnh và tuyên truyền là sẽ bị trả thù ghê gớm nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Họ chỉ bị đi cải tạo nhưng cải tạo càng lâu thì càng có khả năng đi Mỹ. Có nhiều người còn nuối tiếc rằng mình không được cải tạo đủ lâu để được đi Mỹ, buồn cười vậy!
So sánh với nội chiến Mỹ rồi bảo rằng trường hợp "bên thắng cuộc" phải đối xử với "bên thua cuộc" như nội chiến Mỹ là một so sánh khập khiễng. Nội chiến Mỹ là... nội chiến, cuộc chiến ở Việt Nam không phải là nội chiến mà là cuộc chiến tranh chống sự can thiệp thô bạo và xâm lược của Mỹ.
Mặc dù vậy sau nội chiến Mỹ, kinh tế một thời giàu có của miền Nam Mỹ đã bị phá hủy. Thu nhập bình quân giảm xuống còn 40% so với miền Bắc Mỹ. Tình trạng đó tiếp diễn đến một thời gian dài sau thế kỷ 20.
Sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng, Mỹ đã nhốt trên 100 ngàn người Nhật cả già trẻ lớn bé vào trại tập trung chỉ vì nghi ngờ họ không trung thành với nước Mỹ.
Luật ở Mỹ cũng phạt nặng thậm chí tử hình ai dám giúp đỡ kẻ thù chống lại nước Mỹ. Nếu có thành phần làm tay sai cho nước khác xâm lược chia cắt nước Mỹ thì tôi bảo đảm sẽ chết và không còn dịp để chê Mỹ ác!
Trường hợp Việt Nam thì sau khi ra tù họ lại được định cư ở một nước giàu nhất, dân chủ tự do nhất thế giới, con cháu họ ngày nay toàn là công dân Mỹ như vậy còn muốn gì nữa? Còn buồn còn hận gì nữa?!
Loại người này là loại người cực kỳ tham lam ích kỷ làm như mình là bố của cả người Việt và Mỹ vậy. Người đâu tiền đâu mà cứ đổ vào cuộc chiến như thế để họ tiếp tục sướng?!
Điểm ngụy biện ở đây là: xem việc tha mạng sống cho quân đối địch là tội lỗi...
12. Nếu không giải phóng thì miền Nam cũng như Nam Hàn bây giờ?!
Để một nửa giàu và một nửa kia phải đói là lựa chọn tốt hơn Việt Nam bây giờ? Có cần thiết phải như vậy không? Đầu óc bạn có còn bình thường không?
Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm chiến tranh, 20 năm cấm vận nhưng bây giờ cũng đâu đến nỗi nào? Như vậy tại sao bây giờ lại mơ ước một nửa đói để cho một nửa kia được giàu?!
Nếu đã phải giả sử thì sao không nói rằng nếu Mỹ không chen vào chuyện của Việt Nam và bán đảo Triều Tiên thì cả hai nước đều đã độc lập và còn giàu mạnh hơn Nam Hàn bây giờ và không có thù hận chia rẽ!
Không thể trách Liên Xô hay Tàu vì hai nước đó đã để yên cho người dân bán đảo Triều Tiên và Việt Nam tự quyết. Mỹ muốn chống Cộng thì sang Tàu, sang Liên Xô mà chống. Cộng sản Liên Xô/Tàu đâu có xâm lược Việt Nam hay Triều Tiên?
Nếu Mỹ không trực tiếp can thiệp thì đã không có chiến tranh và đã thống nhất từ lâu. Nếu có chiến tranh chăng nữa thì cũng chóng vánh và không thể gây ra tàn phá thiệt hại chia rẽ hận thù lâu dài như khi Mỹ trực tiếp nhảy vào.
Trường hợp Tàu vì là nước lớn nên Mỹ không dám can thiệp sâu, do đó đã cơ bản thống nhất từ 1949 và vì vậy cho dù có áp dụng đường lối kinh tế sai lầm thì vẫn có thể sửa đổi và phát triển mạnh trong suốt hơn 30 năm nay.
Nam Hàn giàu có nhưng với cái giá là phải coi Bắc Hàn là kẻ thù không đội trời chung và nếu tiếp tục chọc sùng Bắc Hàn thì tất cả có thể quay về thời kỳ đồ đá! Tương lai dân tộc không biết đi về đâu khi vì tiền mà phải phục vụ cho ý chí của Mỹ. Có cần phải trả cái giá như thế để giàu không nhỉ?
Điểm ngụy biện ở đây là: xem sự nỗ lực vươn lên của dân Hàn quốc khắc kỷ là cỏ rác, chỉ có Mỹ là đáng kể.
Lời kết: Ngụy biện còn nhiều nhưng tạm thế. Biết rằng rất khó nhưng chúng ta hãy cùng hy vọng một ngày nào đó các xác sống chống Cộng sẽ được giải bùa mà quên đi thù hận để được nhẹ nhàng siêu thoát./.
Yêu nước ST.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP - VỊ TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN!

         Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại, người anh hùng dân tộc. Với người dân Việt Nam và cả thế giới, Đại tướng trở thành hình mẫu đẹp, vị tướng huyền thoại, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho thanh bần tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng thông minh, hiếu học ngay từ lúc còn nhỏ. Từ năm 1925 đến năm 1927, ông theo học ở Trường Quốc Học Huế, rồi tham gia hoạt động cách mạng. Từ đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp không ngừng theo đuổi con đường học vấn; hoạt động say sưa, tích cực trên mặt trận văn hóa, song song với việc tham gia vào các phong trào, hoạt động cách mạng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại là một Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân từng cầm quân chinh chiến đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, cùng dân tộc giành lại độc lập, thống nhất Tổ quốc. Sống giản dị, gần gũi; tài đức vẹn toàn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành tấm gương sáng, là niềm tự hào, kính mến trong trái tim của người dân Việt Nam. Sống giữa cuộc đời và sống trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được người Việt Nam gọi bằng những cái tên trìu mến: Anh Cả, Anh Văn, bác Giáp, tướng Giáp...

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng bốn lần viết thư cho bộ đội trước khi bắt tay vào nhiệm vụ mới. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Một vị Tổng Tư lệnh viết thư tâm tình với cán bộ và chiến sĩ như vậy là nét đẹp nói lên bản chất cách mạng của Bộ đội Cụ Hồ và cũng là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước”.
       Cuộc đời của Đại tướng luôn song hành với những chặng đường lịch sử của dân tộc trong thế kỷ XX. Nhưng với tinh thần khiêm tốn, trong cuốn hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Đại tướng không nhằm tự thuật về cuộc đời của mình mà chủ yếu tái hiện lại những sự kiện quan trọng, những biến cố có tính bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam hiện đại, từ những ngày khẩn trương chuẩn bị cho khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, đến những ngày gay go ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở những sự kiện lịch sử, Đại tướng đã có những bình luận đánh giá khái quát, sâu sắc, làm rõ những nỗ lực, to lớn của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám để giữ vững nền độc lập, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, khẳng định vị thế của nước Việt Nam mới. Đọc những trang hồi ký của Đại tướng cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng, tình cảm và trách nhiệm của một vị tướng tài ba, lỗi lạc một đời gắn bó với đất nước, con người Việt Nam./.


Môi trường ST.

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG!

     Phòng chống “bệnh quan liêu” trong đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay!
"Bệnh quan liêu" tồn tại ở không ít nơi, trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, phòng, chống 'bệnh quan liêu' là một nội dung cực kỳ quan trọng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

Xuất phát từ tầm quan trọng đó, ngày 25/10/2021 thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 về 19 Điều đảng viên (ĐV) không được làm với nhiều điểm mới, trong đó, Đảng ta đã bổ sung, làm rõ điểm mới quan trọng là chống “bệnh quan liêu”, xa rời quần chúng của đội ngũ cán bộ (CB), ĐV.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Nhiều lần Người đã chỉ rõ, chủ nghĩa cá nhân là “tư tưởng mẹ” đẻ ra nhiều tư tưởng xấu, trái với đạo đức cách mạng và đạo đức công dân. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra những biểu hiện cụ thể của “bệnh quan liêu”: Chỉ đạo xa rời thực tế, xa quần chúng; áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn, coi thường quần chúng;… “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan chủ”.

Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Bác nói: CBĐV đặc biệt là những người lãnh đạo nào mắc phải bệnh này thì “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan liêu, xa rời, không yêu thương nhân dân tất yếu dẫn đến căn bệnh vô cảm, có thái độ thờ ơ, tắc trách, thiếu trách nhiệm của CBĐV trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân, thấy việc có lợi cho dân không dám làm, việc có hại cho dân vẫn làm ngơ, không giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Nguy hại nhất của tệ quan liêu, bệnh vô cảm “đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí”; là “nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí”.

Để chống lại “bệnh quan liêu”, Bác căn dặn: Phải đồng tâm hiệp lực, phải kiên trì, quyết tâm chống đến cùng, phải làm có tổ chức, làm từ trên xuống dưới. Người chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, hoạt động theo tinh thần “chú trọng thực tế, nỗ lực làm việc, phụng sự nhân dân”. Bên cạnh đó, cần đề cao trách nhiệm nêu gương của CBĐV, nhất là người đứng đầu.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống “bệnh quan liêu”, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết: Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 - khóa VIII); Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã ký ban hành Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm CBĐV suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về chống “bệnh quan liêu”, xa dân, thời gian qua, trong cả nước đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của CBĐV tận tụy với nhân dân, nhiều cách làm hay để gần dân, hiểu dân, phát huy sức mạnh từ nhân dân. Tuy nhiên, “bệnh quan liêu”, xa dân, vô cảm vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp, gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Nguyên nhân của “bệnh quan liêu” thì có nhiều nhưng một trong những nguyên nhân rất quan trọng không thể không nhắc tới là nhận thức của một số CBĐV về vị trí, vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; chưa giải quyết thấu đáo quan hệ giữa CBĐV và quần chúng. Đáng nói là, một số CBĐV sa vào chủ nghĩa cá nhân dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tự cho mình quyền đứng trên nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định, công tác xây dựng Đảng về đạo đức vẫn còn có những hạn chế: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận CBĐV chưa thường xuyên, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức và trách nhiệm trước nhân dân;…

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, “bệnh quan liêu”, xa dân biểu hiện ở tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong những lĩnh vực “nhạy cảm” như đất đai, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư,... dẫn đến tình trạng đơn, thư khiếu nại, kiến nghị kéo dài ở một số địa phương. Hay như trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua, không ít người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, cấp huyện và thậm chí là ở cấp Trung ương quan liêu, lơ là, thiếu sâu sát trong thực hiện nhiệm vụ, không nắm chắc chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh; không nắm rõ tình hình dịch bệnh ở địa phương, vi phạm pháp luật;... làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Vì vậy, để khắc phục “bệnh quan liêu”, cấp ủy, tổ chức Đảng phải thường xuyên quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, bám sát thực tiễn cơ quan, đơn vị; đánh giá, nhận định đúng tình hình để xác định rõ những vấn đề cần tập trung lãnh đạo; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, nắm tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân.

Cùng với đó, CBĐV phải thực hiện nghiêm việc tự phê bình và phê bình; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là học tập và làm theo phong cách làm việc gần dân, vì dân của Bác;... Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu CBĐV, người đứng đầu thực sự gương mẫu, hết lòng vì dân thì ở đó được nhân dân tôn trọng, tin tưởng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố và tăng cường./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỒI ĐẮP TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO, CHỦ QUYỀN THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC CHO THẾ HỆ TRẺ!

         Triển lãm lưu động "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" giúp học sinh có thêm hiểu biết, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Ngày 6/10, tại Trường Trung học Phổ thông Y Jut, huyện Cư Kuin, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban Nhân dân huyện Cư Kuin khai mạc Triển lãm lưu động "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý."

Triển lãm trưng bày và giới thiệu hơn 100 tư liệu quan trọng do Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp, gồm 6 chủ đề: Bản đồ Việt Nam thời quân chủ (thế kỷ 16-19) khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa; Bản trích và Châu bản triều Nguyễn thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ 16-19) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ 16-20) ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; các hình ảnh, tư liệu về Hoàng Sa trước năm 1975; một số hình ảnh về Trường Sa hiện nay và các hoạt động của cán bộ, chiến sỹ Hải quân, nhân dân trên đảo Trường Sa.

Những tư liệu được trưng bày tại triển lãm đã góp phần giúp cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân và học sinh trên địa bàn hiểu biết sâu rộng về chủ quyền biển đảo Việt Nam; đồng thời, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước trong thế hệ trẻ hiện nay.

Em Nguyễn Hoàng Anh Khoa lớp 10A9, Trường Trung học Phổ thông Y Jut chia sẻ: Em là người có đam mê tìm hiểu lịch sử dân tộc, do đó đã từng tham gia cuộc thi viết về Hoàng Sa và Trường Sa.

Em cũng rất xúc động khi tham quan triển lãm lần này để cập nhật những kiến thức mới qua những hình ảnh, tư liệu là những bằng chứng, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Triển lãm sẽ góp phần giúp học sinh có thêm sự hiểu biết, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, cũng như trách nhiệm của mỗi bạn trẻ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Theo Ban tổ chức, thời gian qua Triển lãm lưu động "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" đã được tổ chức ở nhiều địa phương của tỉnh Đắk Lắk, như các huyện M’Đrắk, Ea Súp, Ea Kar…

Đây là những hoạt động thông tin, tuyên truyền quan trọng, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Các tư liệu, văn bản, bản đồ, hình ảnh, hiện vật đã khẳng định lập trường chính nghĩa của Việt Nam, nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của người dân, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Triển lãm diễn ra đến ngày 8/10./.

Yêu nước ST.

VIỆT NAM-THẾ GIỚI: VIỆT NAM ỦNG HỘ CÁC NỖ LỰC QUỐC TẾ CHỐNG PHỔ BIẾN, GIẢI TRỪ QUÂN BỊ TOÀN DIỆN;

         Ngày 6/10, tại Trụ sở Liên hợp quốc, New York, Hoa Kỳ, Uỷ ban Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Uỷ ban 1) tiến hành thảo luận về các vấn đề đang nổi lên hiện nay liên quan đến hoà bình, an ninh quốc tế và giải trừ quân bị, với sự tham gia của đông đảo các nước thành viên Liên hợp quốc và đại diện nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.

Phát biểu tại cuộc họp, nhiều nước bày tỏ quan ngại trước tình hình an ninh quốc tế đang diễn biến hết sức phức tạp, trong đó có căng thẳng địa chính trị, xung đột kéo dài, chi tiêu quân sự gia tăng, vũ khí hạt nhân được hiện đại hoá… Trong bối cảnh đó, các nước nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, kêu gọi tăng cường cơ chế giải trừ quân bị và chống phổ biến nhằm góp phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.

Chia sẻ quan điểm với các nước, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc cho rằng, lĩnh vực giải trừ quân bị hiện chưa đạt được tiến triển thực chất như kỳ vọng, vì vậy, cộng đồng quốc tế cần tăng cường nỗ lực để thúc đẩy giải trừ quân bị toàn diện và triệt để, trong đó ưu tiên cao nhất là giải trừ và chống phổ biến vũ khí hạt nhân. Đại sứ tái khẳng định, chính sách nhất quán của Việt Nam là ủng hộ các nỗ lực quốc tế chống phổ biến, giải trừ quân bị toàn diện và triệt để, nhất là vũ khí hạt nhân và vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Theo đó, cần thúc đẩy triển khai Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT) cân bằng trên cả ba trụ cột gồm giải trừ vũ khí hạt nhân, chống phổ biến vũ khí hạt nhân và quyền sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình.

Đồng thời, Đại diện Việt Nam cũng kêu gọi các nước còn lại sớm ký và phê chuẩn để Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) sớm có hiệu lực. Đại sứ tái khẳng định, sẽ cùng các nước ASEAN cam kết duy trì khu vực Đông Nam Á phi vũ khí hạt nhân và vũ khí huỷ diệt hàng loạt khác, đồng thời hoan nghênh các nước sở hữu vũ khí hạt nhân ký và phê chuẩn không kèm bảo lưu đối với Nghị định thư Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ).

Bên cạnh đó, Đại diện Việt Nam cho rằng, cần quan tâm cao và có cách tiếp cận cân bằng về vấn đề vũ khí thông thường. Đại sứ bày tỏ ủng hộ sử dụng hoà bình khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình cũng như bảo đảm quyền tiếp cận, khám phá và sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Về giải pháp cho tình hình hiện nay, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh, cần tăng cường xây dựng lòng tin và giảm căng thẳng hiệu quả, thông qua việc các quốc gia dù lớn hay nhỏ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Trong quá trình thương lượng đa phương các vấn đề liên quan đến hoà bình, an ninh và giải trừ quân bị, cần có sự cam kết chính trị mạnh mẽ, các biện pháp xây dựng lòng tin cũng như cần có sự minh bạch.

Nhân dịp này, Đại sứ Đặng Hoàng Giang tiếp tục khẳng định cam kết của Việt Nam đóng góp tích cực vào các công việc của Uỷ ban 1 để thúc đẩy hoà bình, an ninh và phát triển.

Ủy ban Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế (Ủy ban 1) trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, gồm đại diện của tất cả 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có chức năng xem xét, thảo luận về giải trừ quân bị, các mối đe doạ và thách thức đối với hoà bình và an ninh quốc tế, từ đó đề ra giải pháp phù hợp. Kỳ họp lần này của Ủy ban dự kiến kéo dài đến đầu tháng 11/2023. Ủy ban 1 dự kiến thảo luận 7 nhóm đề mục, trong đó có các vấn đề quan trọng như giải trừ và chống phổ biến vũ khí hạt nhân, cải tổ bộ máy giải trừ quân bị, tăng cường an ninh quốc tế, bảo đảm an ninh an toàn ngoài khoảng không vũ trụ./.

Ảnh 1: Đại sứ Đặng Hoàng Giang.
Yêu nước ST.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

 


Cách đây vừa tròn 78 năm, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta” (1).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã góp phần đánh bại tàn dư của chế độ phong kiến và chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít ở Việt Nam. Đồng thời, “giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân” (2). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ thắng lợi to lớn đó, đã cổ vũ nhân dân ta kiên cường đấu tranh giành độc lập dân tộc, đoàn kết, thống nhất đi theo con đường xã hội chủ nghĩa vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Tuy nhiên, với bản chất nham hiểm, trước mỗi dịp kỷ niệm thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các thế lực thù địch, phản động lại ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, đi ngược lại lịch sử.

Không khó để nhận ra mục đích phía sau những luận điệu sai trái, phiến diện nói trên là nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; phủ nhận thành quả, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám;… Từ đó, gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi, chia rẽ trong xã hội, nhất là trong giới trẻ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm suy giảm niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ ở một bộ phận nhân dân. Do vậy, trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện, nâng cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng để tăng cường đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công do nhiều nguyên nhân, đó là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta (một nước thuộc địa, nửa phong kiến gắn với tình thế cách mạng có nhiều thuận lợi); là phát huy cao độ tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại;… trong đó nguyên nhân quan trọng, tiên quyết là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo mục tiêu, ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc ta đã luôn đoàn kết, đồng lòng và trải qua 3 cuộc tập dượt, cũng là 3 cao trào cách mạng: 1930 - 1931, 1969 - 1939, 1939 - 1945. Đây là cơ sở quan trọng góp phần tạo lên thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Nói cách khác, những bài học kinh nghiệm, những thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã và đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bảo vệ vững chắc, phát huy mạnh mẽ, sáng tạo trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước. Đặc biệt, sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (3).

Những thành tựu to lớn đó là minh chứng sống động khẳng định tính đúng đắn của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được chính thức “hiện thực hóa” bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đồng thời, đó cũng là cơ sở thực tiễn để chúng ta đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, lý luận, đập tan các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được.

Phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong tình hình mới hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc” (4). Cùng với đó, cần chủ động, tích cực, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ ý nghĩa, thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan các quan điểm sai trái, thù địch về Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và vai trò lãnh đạo của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững sự ổn định và phát triển của đất nước./.

          V3.

Phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng

 


Bảo đảm an toàn, an ninh mạng được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong điều kiện, bối cảnh hiện nay. Công tác này phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với những cơ chế, chính sách phù hợp.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn các sự cố an ninh mạng của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đều do con người trực tiếp hoặc gián tiếp vi phạm, bỏ qua các chính sách bảo mật thông tin. Giáo sư Robert McClelland, Phó trưởng khoa Kinh doanh và Quản trị Đại học RMIT cho rằng, việc vượt qua thách thức bảo toàn an ninh thông tin đòi hỏi không chỉ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mà còn cần quản trị yếu tố con người. Ông cũng khẳng định yếu tố con người được xem là mắt xích yếu nhất trong việc tạo ra môi trường kỹ thuật số an toàn và bảo mật.

 

Tại Việt Nam, những năm qua, các cấp có thẩm quyền đã ban hành các chính sách về an toàn, an ninh mạng; các chiến lược, đề án về an ninh mạng đã được xây dựng. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là đối với hệ thống mạng thông tin quốc gia, hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia; đấu tranh có hiệu quả với vi phạm pháp luật về an toàn, an ninh mạng. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng đối với hệ thống mạng thông tin quốc gia; bảo vệ uy tín, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, như: Nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo về an toàn, an ninh mạng còn chưa cao. Hành lang pháp lý và hệ thống pháp luật về an toàn, an ninh mạng chưa hoàn thiện. Công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đặc biệt đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch xuyên biên giới. Hoạt động tấn công mạng gia tăng. Tình trạng thu thập trái phép, mua bán thông tin, dữ liệu cá nhân vẫn diễn biến phức tạp. Tội phạm sử dụng công nghệ cao tiếp tục có chiều hướng tăng...

Khảo sát gần đây cho thấy chỉ có 17% doanh nghiệp Việt Nam được xếp ở giai đoạn triển khai nâng cao và sẵn sàng giải quyết các rủi ro bảo mật; 23% doanh nghiệp chuẩn bị tốt về dữ liệu; 31% doanh nghiệp chuẩn bị tốt về thiết bị cho giải quyết các vấn đề bảo mật; 53% tổ chức, doanh nghiệp mới đang ở giai đoạn bắt đầu. Điều này cho thấy việc chuẩn bị và mức độ sẵn sàng cho giải quyết vấn đề an ninh mạng chưa cao. Đây là một trong các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng thời gian qua.

Theo các chuyên gia, nếu người dùng nhận thức đầy đủ và có kỹ năng bảo vệ an toàn thông tin cơ bản thì có thể tự phòng tránh được tới hơn 80% nguy cơ mất an toàn thông tin khi tham gia không gian mạng. Trên thực tế, nhận thức của nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng trong cộng đồng hiện nay còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa đủ để tự bảo vệ mình trước những mối đe dọa về an toàn thông tin. Nhiều người dùng chưa có các kỹ năng bảo vệ an toàn thông tin, phòng tránh lây nhiễm mã độc; sử dụng các phần mềm lậu, truy cập các trang web không uy tín, hoặc không sử dụng các phần mềm bảo vệ thiết bị.

Tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia ngày 25/8, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược; phải chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phải có sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, người dân; trong đó Ban Chỉ đạo, Văn phòng Ban Chỉ đạo, các Tiểu ban An toàn, An ninh mạng, các lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng là nòng cốt, là trực tiếp.

Để phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng, cần đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức về bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Thực hiện có hiệu quả Quyết định 1907/QĐ-TTg ngày 23/11/2020 về Đề án Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin giai đoạn 2021 - 2025. Tăng cường giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; cách thức nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái tiêu cực phát sinh trên không gian mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Nâng cao hiệu quả điều hành, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia. Tiếp tục bám sát các nhiệm vụ trọng tâm (an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng; đấu tranh xử lý thông tin xấu, độc). Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, để công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng chuyển biến mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn. Tham mưu cho cấp có thẩm quyền hoàn thiện các chính sách về an toàn, an ninh mạng, thực hiện các chiến lược, đề án về an ninh mạng.

Phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách và các lực lượng tham gia trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Nắm chắc tình hình có liên quan đến hoạt động bảo vệ an toàn, an ninh mạng; phòng, chống tấn công và bảo vệ hoạt động ổn định của hệ thống thông tin quan trọng; ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng nhằm gây phương hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động tấn công vô hiệu hóa mục tiêu trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Nâng cao trách nhiệm và các kỹ năng cần thiết về an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng. Tuyệt đối tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an toàn, an ninh mạng. Kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến bảo vệ an toàn, an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an toàn, an ninh mạng, hành vi xâm phạm an ninh mạng cho cơ quan có thẩm quyền, lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ an toàn, an ninh mạng; giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp bảo vệ an toàn, an ninh mạng.

Chú trọng hơn nữa việc đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện tốt Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng, giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Nghiên cứu, đề xuất thí điểm một số chế độ ưu đãi và chế độ đặc thù đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, nhân sự làm về an toàn thông tin mạng./.

          V3.

Nhận diện những biểu hiện và tính nguy hại của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác

 


 

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ những biểu hiện của một số cán bộ có “tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh”[1].

Trong đó, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác của cán bộ, đảng viên có những biểu hiện hết sức đa dạng, tinh vi, với nhiều hình thức khác nhau nhưng không có nghĩa là “bí ẩn” không nhận diện được. Có thể nêu một số biểu hiện chính như sau:

Một là, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc để đoạt được quyền lực

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”[2]. Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó nổi bật là biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể thành quyền lực cá nhân; đây là quyền lực bị tha hóa, khi quyền lực của nhân dân rơi vào tay những kẻ đam mê quyền lực; biến sức mạnh của tập thể thành quyền lực cá nhân.

Người đam mê quyền lực thường có biểu hiện theo kiểu dân túy, thông qua những tuyên bố gây sốc với những hành vi đánh bóng tên tuổi để “mị dân” - lấy lòng đám đông trong giải quyết mối quan hệ và những vấn đề nóng, dễ gây bức xúc trong xã hội, chạm vào “trái tim” của một bộ phận người dân với những lợi ích trước mắt họ, lại có truyền thông hậu thuẫn và tung hô xuất hiện dày đặc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí, họ tìm cách mua chuộc quần chúng, nhất là cấp dưới để tăng tín nhiệm, thuận lợi cho việc giới thiệu mình theo quy trình vào diện quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ... Họ luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, lấy lòng mọi người, từ đồng nghiệp đến những người có tiếng nói, uy tín trong cơ quan, đơn vị, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm. Họ sẵn sàng dùng tiền để lấy lòng mọi người nhằm tạo dựng mối quan hệ với lãnh đạo cấp trên…

Một số ít cán bộ chủ chốt khi được luân chuyển về bộ, ngành, địa phương khác, thay vì sâu sát cơ sở, bám nắm tình hình nội bộ, tình hình mọi mặt của bộ, ngành, địa phương để xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, nhất là trong nội bộ cấp ủy lại tranh thủ “gặp gỡ” các doanh nghiệp, sốt sắng xây dựng cánh hẩu, sân sau; cũng có trường hợp đi cơ sở và tranh thủ phát biểu, “động viên” tinh thần cấp dưới, với giọng “dân túy” để đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của một bộ phận người dân, doanh nghiệp nhằm vận động hành lang tranh thủ sự ủng hộ…; mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng ngày 26/3/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Cứ vào Đại hội, cứ chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm lại râm ran chuyện vận động, mời nhau ăn uống, cho tiền, tặng quà. Có cái gì luồn vào trong cái tình cảm ấy?”. Tổng Bí thư thẳng thắn chỉ rõ: Hiện nay, trong dư luận xã hội vẫn râm ran chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy luân chuyển... Từ đó, Tổng Bí thư cảnh báo, nếu có thì chúng ta phải sửa, phải rút kinh nghiệm; nếu không có thì chúng ta cũng phải trả lời rõ ràng, sòng phẳng, chỉ ra ai chạy, chạy ai?”[3].

Hai là, tìm mọi cách xây dựng “cánh hẩu” để củng cố quyền lực

Biểu hiện về cán bộ có đam mê quyền lực là luôn tìm mọi cách để củng cố quyền lực thông qua việc dùng ảnh hưởng và tác động để đưa người thân, người quen vào diện quy hoạch và sau đó là bổ nhiệm vào các chức vụ. Họ luôn tìm mọi cách, mọi cơ hội để đưa người thân, người quen, cánh hẩu được vào ê kíp để củng cố quyền lực của mình ngày thêm vững chắc. Khi có quyền lực, một mặt, họ sẽ tìm cách thao túng, phá “thủng” nguyên tắc tổ chức và quản lý để đặc quyền, đặc lợi. Mặt khác, tìm mọi cách để kiềm chế, triệt hạ những người thẳng thắn, những người “không theo dây” hay nhóm lợi ích tiêu cực do mình là chủ trò tiếp tục đưa những kẻ nịnh nọt, chạy chức, chạy quyền vào bộ máy nhà nước.

Theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, người được bổ nhiệm nắm giữ chức vụ không phải là vô hạn về không gian, thời gian mà có thời hạn, nhiệm kỳ. Hết nhiệm kỳ, cán bộ lãnh đạo phải được cấp có thẩm quyền gia hạn, bổ nhiệm lại (nếu còn tuổi, năng lực, đủ phẩm chất, tiêu chuẩn), hoặc không làm quản lý, lãnh đạo, sẽ làm chuyên môn thuần túy, hoặc nghỉ hưu. Đó là nguyên tắc công tác tổ chức cán bộ. Nhìn chung, cán bộ có đam mê quyền lực đều ý thức rất rõ về nhiệm kỳ. “Tư duy nhiệm kỳ” như một căn bệnh, tệ nạn trong xã hội xuất hiện với mức độ, hình thức, biểu hiện trong đánh giá, nhận xét, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ….

Ê kíp, “cánh hẩu” là tình trạng ở một số cơ quan, địa phương, đơn vị khi lãnh đạo có người “say mê quyền lực” chủ động nâng đỡ “đàn em”, con cháu “không trong sáng” thông qua việc đề bạt quá nhanh, quá nhiều, bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện theo kiểu “9C” (con cháu các cụ cả, chiếu cố các cháu). Do vậy, nhân dân gọi những người được đề bạt, bổ nhiệm sai là tầng lớp “5C4Đ” (con cháu các cụ cả, đừng được động đến). Đây không chỉ là tư tưởng dễ dãi, xuê xoa trong công tác cán bộ mà là hiện tượng kéo bè, kéo cánh, xây dựng ê kíp mới sẽ tạo ra “chân rết” là một nhóm lợi ích tiêu cực nhằm kéo dài bòn rút, đục khoét tài sản nhà nước và nhân dân.

Ba là, tìm mọi cách mua chức, đoạn quyền

Điểm chung của những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí là luôn thực hiện cái gọi là phương châm “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Vì vậy, họ luôn có nhiều mưu mô nhằm đoạt cho được quyền lực; sẵn sàng vung tiền, quà biếu, tặng bằng vật chất hối lộ cấp trên thoái hóa, biến chất và đi kèm với đó là những lời nịnh hót, xin xỏ, thậm chí mặc cả về chức vị của mình.

Những bài học chạy chức quyền, chạy luân chuyển cán bộ thời gian qua cho thấy rõ biểu hiện này khi mà nhiều cán bộ dù năng lực yếu kém, thiếu tiêu chuẩn, bằng cấp, nhưng nếu có tiền, vật chất hối lộ, và biết đưa hối lộ thì vẫn được sếp để mắt tới, được bố trí vào những vị trí có nhiều “màu mè”, lợi ích...

Bốn là, kén chọn vị trí công tác.

Những cán bộ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực khi đã được quy hoạch, bổ nhiệm lại “kén cá chọn canh”, chọn vị trí công tác mà họ cho là “ngon”; chọn việc dễ, tránh việc khó; chọn nơi gần, tránh nơi xa; chọn nơi có nhiều lợi ích, bổng lộc. Những con người này chỉ thích được phân công tại những nơi có nhiều “màu mỡ”, thích công tác bên chính quyền, doanh nghiệp lớn ở thành phố lớn, vùng đô thị…, không thích công tác ở khối Đảng, Mặt trận, đoàn thể bởi ở những nơi này không có “màu mỡ”, khó kiếm chác.

Có những trường hợp mặc dù đã được tổ chức Đảng phân công vị trí công tác mới, nhưng với những mánh khóe, thủ đoạn sẵn có là hối lộ, kẻ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực tư lợi, vun vén cá nhân vẫn “lội ngược dòng” vào “phút bù giờ” để về công tác tại những vị trí có nhiều màu mỡ, bổng lộc.

Vì tư tưởng cục bộ, bản vị, vì “lợi ích nhóm tiêu cực” một số cán bộ chủ chốt nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình, tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác ở địa phương nhằm mục đích đưa người nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm mọi cách để gây khó khăn hay cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra khuyết điểm chung là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt và cấp ủy.

          V3.