Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

ĐỊNH HƯỚNG LỚN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG

 Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề ra một trong những mục tiêu tổng quát trong phát triển là “nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”. Từ định hướng lớn của Đảng đến những mối quan tâm cụ thể, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được thể hiện sinh động và chứng minh trong thực tế đời sống xã hội. Những cách làm sáng tạo, hiệu quả từ Trung ương đến các tổ chức cơ sở đảng góp phần nâng cao uy tín, tính thuyết phục của Đảng đối với nhân dân, khẳng định vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trước hết bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách xây dựng và phát triển đất nước. Cấp ủy các cấp từ việc sâu sát, kịp thời tổng kết thực tiễn, dự báo từ sớm, từ xa các biến động và yêu cầu phát triển, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền ngay từ khi hoạch định đường lối, chủ trương phát triển trong từng lĩnh vực và của mỗi địa phương, đơn vị.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là yêu cầu tất yếu khách quan trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Qua khảo sát thực tế, yêu cầu này được cấp ủy các cấp triển khai ở mọi lĩnh vực hoạt động, tất cả các khâu, các bước, các mối quan hệ trong quá trình lãnh đạo toàn diện, với nhiều phương thức phong phú, sinh động. Trong đó, xây dựng cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chính sách, nghị quyết một cách đúng đắn và khoa học là cơ sở đầu tiên để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng.
Chủ động đưa cuộc sống vào nghị quyết
Trong chương trình công tác nhiệm kỳ Đại hội XIII, tại kỳ họp thứ năm, Trung ương đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, thảo luận và thống nhất cao ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai là đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững đất nước. Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai, Trung ương chỉ ra những tồn tại, hạn chế; trong một số trường hợp, chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của thực tiễn.
Quá trình dự thảo Nghị quyết 18-NQ/TW, Trung ương ghi nhận ý kiến đóng góp của 12 trường đại học và viện nghiên cứu trong và ngoài nước, 3 tổ chức quốc tế. Các đơn vị tham mưu đã có nhiều cuộc làm việc với Đảng đoàn, ban cán sự Đảng; tổ chức 9 tọa đàm, 12 hội thảo, 3 hội nghị ở 3 miền và ý kiến của cấp ủy, chính quyền các cấp. Hàng nghìn lượt ý kiến chỉ rõ thực trạng đất đai chưa được khai thác, sử dụng hiệu quả để trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội đất nước; chưa xử lý tốt các mối quan hệ lớn trong quản lý, sử dụng đất và những tồn tại, vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới của thực tiễn.
Theo PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương, những điểm mới được thể hiện xuyên suốt nội dung của Nghị quyết, từ quan điểm, mục tiêu đến nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện. Nghị quyết định hướng nâng cao vai trò của thị trường trong quản lý và sử dụng đất; nâng cao vai trò đại diện chủ sở hữu và năng lực quản lý của Nhà nước về đất đai; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai; bảo đảm hài hòa trong lợi ích giữa người dân, nhà đầu tư và Nhà nước, trong đó người dân là trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau.
Với ý nghĩa là công cụ thể hiện năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn quan tâm chủ trương đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành các chủ trương, nghị quyết và kiên trì thực hiện. Qua khảo sát thực tế, nhiều địa phương, đơn vị đã khắc phục hiện tượng ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo chỉ dựa trên những nhận định, phán đoán mang tính chủ quan, áp đặt từ “phòng họp” của một số cấp ủy, tổ chức đảng.
Trong 3 nhiệm kỳ gần đây, Tỉnh ủy Cao Bằng chọn những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá để ban hành các chương trình, đề án cụ thể. Các chương trình được ban hành theo hướng rõ mục tiêu, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tỉnh ủy Bến Tre yêu cầu việc ban hành và cụ thể hoá nghị quyết của từng cấp ủy theo hướng sát thực tiễn, xác định rõ nguồn lực thực hiện; chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, nhất là năng lực phân tích, ứng phó với các biến động của tình hình. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành quy định trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan chủ trì và người đứng đầu trong triển khai thực hiện nghị quyết, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên nếu có chỉ tiêu nghị quyết không đạt…
Thể hiện sinh động “ý Đảng, lòng dân”
Trong nội dung kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với các đảng bộ trực thuộc về triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, yêu cầu đầu tiên là việc cụ thể hóa nghị quyết, ban hành chương trình hành động, kế hoạch phù hợp thực tế địa phương, đơn vị. Có thực tế là một số cấp ủy chưa coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng từ khâu ban hành nghị quyết.
Trách nhiệm tập thể và người đứng đầu trong quy trình ban hành chủ trương, nghị quyết, khá mờ nhạt. Có tình trạng nghị quyết của cấp ủy cấp dưới “mô phỏng” nghị quyết của cấp ủy cấp trên, thêm phần thực tiễn địa phương, thành dàn trải, rườm rà, khiến việc học tập, quán triệt càng nhạt và khó. Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng của các nghị quyết, chỉ thị, kết luận; quy trình ban hành bảo đảm tính thực tiễn, cơ sở khoa học và dân chủ; là sản phẩm trí tuệ của Đảng, đồng thời thể hiện sinh động “ý Đảng, lòng dân”.
Những nhiệm kỳ gần đây, Tỉnh ủy Bắc Kạn chú trọng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong đổi mới việc ban hành các văn bản chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, giải pháp cụ thể, nhất là phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức, cá nhân, thời gian hoàn thành, coi trọng trách nhiệm kiểm tra, đánh giá, tổng kết ngay từ khi ban hành nghị quyết.
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phương Thị Thanh chia sẻ, Tỉnh ủy yêu cầu đội ngũ cấp ủy viên tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững nghiệp vụ; có khả năng phân tích thực tiễn, dự báo tình hình để nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nghị quyết. Chương trình, kế hoạch của các cấp ủy đảng đều hướng đến mục tiêu “có nội dung trọng tâm, có giải pháp thiết thực”.
Kế hoạch làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của Ban Thường vụ Tỉnh ủy giai đoạn 2022-2025 đề ra 3 nội dung cụ thể để lãnh đạo, chỉ đạo là cải cách hành chính; công tác giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng của người dân; kiểm tra, giám sát, giải quyết dứt điểm một số vụ việc nổi cộm, bức xúc, dư luận xã hội quan tâm. Mỗi nội dung đều có giải pháp chi tiết và phân công công việc cho các đơn vị. Những quyết sách là cơ sở của kết quả ấn tượng.
Tại huyện Bạch Thông, thực hiện phương châm cấp ủy đảng lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội không phải bằng khẩu hiệu suông, quan điểm hay định hướng chung chung mà từ thực tiễn để ban hành nghị quyết, kế hoạch. Ban Thường vụ Huyện ủy yêu cầu các ủy viên đều phải nắm vững các vấn đề phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và đi cơ sở thường xuyên; mỗi tháng họp với lãnh đạo xã được phân công phụ trách ít nhất một lần, nghe kỹ về tình hình phát triển kinh tế-xã hội, thu chi ngân sách, giải phóng mặt bằng và giải ngân vốn đầu tư công.
Thực hiện đề án xây dựng huyện nông thôn mới vào năm 2025, người đứng đầu cấp ủy từ huyện đến xã là Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới. Sơ kết giữa nhiệm kỳ 2020-2025, có 22/37 chỉ tiêu đã đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đề ra. Trong câu chuyện, Bí thư Huyện ủy Đỗ Thị Hiền say sưa nói về đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, cây trồng, vật nuôi của từng xã, thị trường, mùa vụ từng sản phẩm nông nghiệp của địa phương…, là kiến thức từ ruộng đồng, lý giải của các nhà khoa học, kinh nghiệm của người dân, nhiều cảm xúc và những suy luận thuyết phục.
Thay đổi nếp nghĩ, cách làm
Trong bảng xếp hạng Chỉ số sẵn sàng cho công nghệ thông tin (Vietnam ICT Index) năm 2019, tỉnh Bình Phước ở vị trí 56/63 tỉnh, thành phố, đã vươn lên vị trí thứ 9/63 năm 2022. Đây là kết quả việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 18/5/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi số đến năm 2025. Theo đồng chí Vũ Tiến Điền, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, quá trình xây dựng Nghị quyết số 04, Tỉnh ủy đánh giá kỹ thực tiễn; thảo luận, nhận ý kiến đóng góp của các cơ quan chuyên môn ở Trung ương, các nhà khoa học và người dân.
Trong câu chuyện với chúng tôi, nhiều cán bộ, đảng viên ở Bình Phước nhận xét Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 15/9/2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Tầm nhìn chiến lược phát triển tỉnh Bình Phước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” là nghị quyết chuyên đề đầu tiên về chiến lược phát triển, có cách tiếp cận và đặt vấn đề khoa học, thuyết phục.
Trên cơ sở những phân tích, đánh giá, định hướng của các chuyên gia, nhà khoa học, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 13 đã phác họa chặng đường dài, từ các mục tiêu đến các kịch bản và giai đoạn phát triển, định hướng quy hoạch không gian…; là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng các chương trình hành động cụ thể về chiến lược và đổi mới, ngân sách và phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, phát triển nguồn nhân lực và các khu vực kinh tế.
Nghị quyết khởi nguồn từ các báo cáo khoa học, nên các mục tiêu và công việc được đề xuất bài bản, mạch lạc, không có tư duy nhiệm kỳ. Sự phát triển của tỉnh được đặt trong bối cảnh phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, thúc đẩy sự chủ động chuyển từ trạng thái “dự trữ” tiềm năng thành “động lực” tăng trưởng và phát triển cho cả vùng.
Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2020-2025, Tỉnh ủy tập trung ban hành 58 chủ trương, chính sách trên tất cả các lĩnh vực giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, để lãnh đạo, chỉ đạo với tầm nhìn dài hạn, bao quát. Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vũ Tiến Điền chia sẻ: Trong 58 chủ trương, chính sách, có 46 kết luận, hình thức ngắn gọn (không quá 4 trang A4), không diễn giải dài dòng, nêu trực tiếp, cụ thể mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp. Tỉnh ủy quyết tâm tạo đột phá ngay từ khâu định hướng chủ trương, chính sách để cán bộ, đảng viên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tiếp thu và dễ vận dụng.
Khảo sát thực tế tại các địa phương, nhiều cán bộ cấp ủy nêu băn khoăn, việc dự báo tình hình, đánh giá tác động của chủ trương, chính sách trước khi ban hành còn hạn chế, cấp ủy các cấp chưa có cơ quan chuyên môn nào chuyên trách công việc này. Trong khi Đảng ta yêu cầu nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách, cần có cơ chế kiểm soát việc các tổ chức của hệ thống chính trị thể chế hóa, cụ thể hóa các nghị quyết, chủ trương của các cấp ủy đảng.
Mỗi nghị quyết cần có cơ quan theo dõi, giám sát việc thực hiện, quy định trách nhiệm xử lý những phát sinh trong quá trình thực hiện, xem xét trách nhiệm người đứng đầu khi chậm triển khai hoặc thực hiện không đạt yêu cầu.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trước hết là nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương, có đủ cơ sở chính trị và khoa học, phản ánh đúng quy luật vận động của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
Nhiệm vụ này đặt ra yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cấp ủy viên trau dồi năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược, rèn luyện phong cách, sâu sát thực tiễn, thực hành lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung”./.
St

KIÊN CƯỜNG, BỀN BỈ TRONG “CUỘC CHIẾN” GIỮ VỮNG VỊ THẾ, UY TÍN, THANH DANH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vấn đề cần quan tâm hiện nay là phải nhận thức đúng đắn, thực hiện đồng bộ việc nâng cao hiệu quả, tăng cường tính chiến đấu và bảo đảm tính thuyết phục trong “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất chế độ chính trị-xã hội ưu việt mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Kiên trì bồi đắp niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
Mục tiêu của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị-xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nếu xa rời nguyên tắc này thì việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch cũng không có tính mục đích.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần vào việc tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Mặt khác, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lập trường, tư tưởng, ý thức hệ, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hình thành tư duy lý luận chính trị cho những người xây dựng và hoạch định chính sách, cũng như những nhà nghiên cứu khoa học lý luận nói chung; góp phần vào việc bổ sung, phát triển những nguyên lý, lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận trong nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần hình thành, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới. Sự vững vàng về lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước các cấp trong hệ thống chính trị chính là hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.
Vận dụng phương pháp đấu tranh mác-xít trong “cuộc chiến” bảo vệ Đảng
Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta cần vận dụng phương pháp mà các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Ngay từ đầu năm 1842 đến tháng 3-1843, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tích cực đấu tranh, vạch trần bản chất vụ lợi, sự lừa gạt của luật pháp và nhà nước Phổ; thể hiện sự cảm thông sâu sắc với tình cảnh khổ cực của những người nông dân trồng nho xứ Môden. Những bài viết đăng trên Báo Sông Ranh thời gian này bước đầu hình thành tính phê phán, tính chiến đấu mạnh mẽ của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với những khuynh hướng duy tâm và lập trường chính trị thỏa hiệp, phản động của một số nhà triết học, nhà tư tưởng, nhất là những đại biểu của phái Hêghen trẻ.
Thông qua các tác phẩm: “Vấn đề Do Thái”, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen-Lời nói đầu”, “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Gia đình thần thánh”, “Tư bản”..., C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục làm rõ những hạn chế của cách mạng tư sản và phê phán những quan điểm phản động, phản cách mạng, chủ nghĩa vô chính phủ, trực tiếp phân tích và phê phán xã hội tư bản. Đặc biệt, “Chống Đuyrinh” là một tác phẩm kiểu mẫu đấu tranh chống kẻ thù của Chủ nghĩa Mác.
V.I.Lênin đã khẳng định rằng, toàn bộ giá trị của học thuyết Mác là ở chỗ, lý luận đó về bản chất là một lý luận có tính chất phê phán và cách mạng. V.I.Lênin đã phê phán toàn diện triết học duy tâm tư sản và chủ nghĩa xét lại trong triết học. Các tác phẩm của V.I.Lênin đã kết hợp một cách hữu cơ tinh thần cách mạng chiến đấu với tính khoa học sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức và sự nghiệp cải tạo thế giới bằng con đường cách mạng.
Ngày nay, những quan điểm sai trái, thù địch núp bóng ở nhiều vấn đề khác nhau và rất khó nhận diện. Tuy nhiên, kiên định với những nguyên lý căn bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và giữ vững nguyên tắc của Đảng thì chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện, nhận diện và có dũng khí đấu tranh với mọi quan điểm sai trái, thù địch.
Khẳng định sức sống không thể phủ nhận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết khoa học, vì chủ nghĩa ấy đã chỉ ra được những quy luật khách quan trong sự vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời lần đầu tiên, chủ nghĩa ấy đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học khi làm cho lý luận gắn với hoạt động thực tiễn của con người. Tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa ấy có cơ sở từ sự tiếp thu toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ thời cổ đại đến thời đại các ông, mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
C.Mác đã tiến hành tổng kết lịch sử, kế thừa có chọn lọc, có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn thời đại. Chủ nghĩa ấy được xây dựng trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, thông qua sự khái quát của C.Mác và Ph.Ăngghen nên nó là học thuyết chính xác. Cơ sở cho tính khoa học và tính cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin còn là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Cho nên học thuyết ấy còn mang tính thực tiễn.
Lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không phải là khoa học trừu tượng, tư biện mà là khoa học về cách mạng, khoa học của thực tiễn và vì thực tiễn hướng tới mục tiêu giải phóng con người khỏi sự chế ngự bởi “vương quốc tất yếu”, để bước tới “vương quốc tự do”. Xuyên suốt toàn bộ di sản lý luận đồ sộ, sâu sắc của C.Mác là một thế giới quan mới và phương pháp luận khoa học và cách mạng, đem lại cho nhân loại tiến bộ và nhất là cho giai cấp công nhân một công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới. Hạt nhân làm nên tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác chính là thế giới quan duy vật biện chứng-thế giới quan đã xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ thành một hệ thống chỉnh thể-chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác đã đưa ra hai phát minh khoa học vĩ đại là quan niệm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. Với quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quy luật phát triển của xã hội loài người được phát hiện. Ph.Ăngghen viết: “Trên hành tinh của chúng ta, Sáclơ Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ. Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của lịch sử loài người”(1). V.I.Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”(2) .
Với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết trở thành một chế độ chính trị-xã hội tồn tại đến ngày nay đã minh chứng hùng hồn cho giá trị và sức sống mãnh liệt, trường tồn và vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong sự phát triển của lịch sử nhân loại.
Thực tiễn là chân lý chứng minh sự lựa chọn đúng đắn của chúng ta
Thước đo quan trọng nhất thể hiện tính hiệu quả của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch chính là thành quả của sự nghiệp đổi mới, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân ta.
Thông qua các hình thức tuyên truyền, truyền thông đa dạng, phong phú trên các kênh, chúng ta cần làm cho thế giới biết đến Việt Nam ngày nay đã có vị thế mới trong cộng đồng quốc tế, quy mô nền kinh tế ngày càng lớn mạnh. Từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, chỉ với 14 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 250USD trong những năm đầu đổi mới, sau gần 4 thập niên, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và có quan hệ kinh tế-thương mại với hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.
Việt Nam đã tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới, là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ổn định nhất trong ASEAN. Việc ký kết và thực thi các FTA, nhất là các FTA thế hệ mới, chủ trì các hội nghị đa phương lớn của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) với 28 nước thành viên EU, đã đánh dấu bước tiến mới của Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước, trong đó có tất cả các nước lớn trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã thực sự chủ động, tích cực tham gia hội nhập quốc tế với một vị thế mới, bắt kịp với xu thế của thời đại.
Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021; Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025; Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017; Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận, hoàn thành tốt 3 trọng trách: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, góp phần nâng cao uy tín, vị thế trong khu vực và trên thế giới.
Mới đây, Việt Nam đề xuất và soạn thảo Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA), được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua. Điều này đã hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đang trở thành nước có quan điểm, cách tiếp cận mới, góp phần định hướng những giá trị chung cho nhân loại.
Hiện nay, các nhà đầu tư quốc tế luôn coi Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng, lợi thế cũng một phần bởi giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Bên cạnh đó, với sự định hướng đúng đắn, quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước và trên hết là một thể chế chính trị có vai trò định hướng, dẫn dắt và quản trị tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được những bước tiến mới mạnh mẽ trong tương lai.
Những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới đã chứng tỏ những người cách mạng chúng ta đang đi đúng hướng. Vì vậy, những quan điểm sai trái, thù địch cần phải được quét sạch trên con đường đi của chúng ta!./.
St

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

 Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng.

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm.
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ.
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng.
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.
St

ĐẠI ĐOÀN KẾT - CỘI NGUỒN SỨC MẠNH VIỆT NAM

 Qua 20 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt nhiều thành quả cách mạng to lớn.

Giá trị truyền thống quý báu
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, với những giá trị, triết lý đạo đức và nhân sinh: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”...
Tư tưởng “Chúng chí thành thành” (ý chí quần chúng làm nên bức thành kiên cố) đã quy tụ sức mạnh người dân, đứng chung chiến lũy đánh đuổi quân thù xâm lược, đứng vững trước thiên tai, cùng nhau dựng nước và giữ nước.
Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước”.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ đó đến nay, trải qua các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem đó là "việc gốc rễ" cho mỗi thắng lợi cách mạng, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.
Càng trong khó khăn, thử thách, sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam càng được khẳng định; được bạn bè thế giới ghi nhận, tán dương, bày tỏ sự cảm phục. Ví như, dù số đảng viên không lớn, với khoảng 5.000 đảng viên, trong khi Quân đội vừa mới thành lập, nhưng Đảng ta đã tập hợp quần chúng thành một khối thống nhất vững chắc, nhất tề đứng dậy giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc chiến tranh nhân dân đã đánh bại những thế lực ngoại xâm hùng mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giành độc lập, thống nhất non sông. Bước vào xây dựng xã hội mới, khi đất nước bị bao vây, cấm vận, khủng hoảng... nhưng nhân dân vẫn tin theo Đảng, cùng Đảng tìm tòi đổi mới, tìm cách tháo gỡ khó khăn. Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định cũng chính là kết quả của “ý Đảng, lòng dân”.
Rõ ràng, chỉ khi đứng trước gian khó mới kiểm nghiệm được giá trị to lớn của thực hành đoàn kết. Đó là nguồn sức mạnh nội sinh để dân tộc trường tồn, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.
Vun đắp sức mạnh nội sinh
Đảng ta khẳng định: Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải phản ánh được nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số dân chúng để có thể tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng cho cách mạng. Bởi thế, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về đại đoàn kết toàn dân tộc, về dân tộc, tôn giáo, về Mặt trận và các đoàn thể nhân dân...
Đặc biệt, ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, xác định mục tiêu: Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng; được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức; trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đạt được trên tất cả lĩnh vực là kết quả đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng với sự quyết tâm, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Ngày 18-11 hằng năm trở thành Ngày hội đại đoàn kết toàn dân, góp phần củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết; giáo dục truyền thống yêu nước, tăng cường đồng thuận xã hội; góp phần xây dựng, phát triển quê hương, đất nước.
Những kết quả đạt được là vô cùng to lớn, tuy nhiên, những hạn chế, bất cập dù được chỉ ra cách đây 20 năm trước trong Nghị quyết 23, thì đến nay vẫn có mặt chưa khắc phục triệt để. Đặc biệt, lòng tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và của một bộ phận nhân dân vào Đảng, vào chế độ chưa thật vững chắc, phần vì đời sống còn nhiều khó khăn, phần vì bất bình trước những bất công xã hội và tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí vẫn diễn ra khá nghiêm trọng; kỷ cương phép nước nhiều lúc, nhiều nơi không nghiêm; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; trật tự, an toàn xã hội còn phức tạp...
Sức mạnh liên minh công, nông, trí chưa được phát huy đúng mức; vai trò của công nhân và nông dân ít được khẳng định trong điều kiện xã hội tri thức, xã hội số; việc phát huy vai trò, đóng góp của kiều bào Việt Nam vào công cuộc đổi mới đất nước vẫn chưa có giải pháp đồng bộ, căn cơ... Đặc biệt, việc xuất hiện những “điểm nóng” ở Tây Nguyên (2001, 2004), Bình Thuận (2018), các vụ việc ở Tây Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nghệ An, hay mới nhất là vụ việc ở Đắk Lắk đều nhằm mưu đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong bối cảnh mới, nhất là sự phát triển của yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, thì việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải là một trong những ưu tiên hàng đầu. Để làm được điều đó, cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, trên cơ sở thực hiện tốt cả hai vai trò: Vai trò thành viên và vai trò lãnh đạo. Xác lập đúng hơn nữa vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị để bảo đảm cho MTTQ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đảng, Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách và quy định pháp luật để MTTQ Việt Nam độc lập về tổ chức, chủ động về hoạt động; cơ chế, chính sách bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng, hỗ trợ lẫn nhau trong mối quan hệ giữa Nhà nước và MTTQ Việt Nam.
Cùng với đó, toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội phải nhất quán vận hành phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, xem đó không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Hướng về cơ sở, tăng cường đối thoại với nhân dân nhằm giải quyết những vướng mắc giữa chính quyền và nhân dân, đồng thời tạo niềm tin, khuyến khích người dân tham gia góp ý xây dựng Ðảng, chính quyền./.
St

KIÊN TRÌ, CHỦ ĐỘNG ĐỔI MỚI PHONG CÁCH CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH

 Đảng ta luôn nắm vững và phát huy bài học kinh nghiệm là thường xuyên tự đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Trong bối cảnh hiện nay có nhiều thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, vị thế, vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng càng được khẳng định thông qua đổi mới phong cách chỉ đạo, điều hành của cấp ủy các cấp, trong các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. Nửa nhiệm kỳ vừa qua, thực tiễn tại các địa phương, đơn vị ghi nhận các giải pháp hướng tới thực hiện yêu cầu này đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, phát huy trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, tạo sức mạnh hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Rõ trách nhiệm, cụ thể giải pháp
Năm 2023, cùng với việc duy trì và nâng cao chất lượng giao ban định kỳ với các ban đảng, đảng ủy, cơ quan, đoàn thể ở Trung ương, lần đầu tiên đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì các hội nghị giao ban công tác với Ban Cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, ngành, với các đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương và đại diện một số hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Các cuộc giao ban này cũng sẽ được tổ chức định kỳ để đồng chí Thường trực Ban Bí thư trực tiếp nắm tình hình, chia sẻ các vấn đề, chỉ đạo công tác đối với các cơ quan, đơn vị, qua đó nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Với tính chất là cuộc giao ban, các đại biểu tham dự được đề nghị không đọc văn bản, không kể lể, không báo cáo thành tích và mỗi người được giới hạn thời gian trao đổi ngắn gọn các vấn đề nổi bật của ngành, địa phương, đơn vị, nói thẳng những tồn tại, hạn chế, khó khăn.
Tại Hội nghị giao ban với các đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy diễn ra ngày 28/7/2023, sau khi lãnh đạo các địa phương báo cáo tình hình thực hiện các mục tiêu của nhiệm kỳ, đồng chí Trương Thị Mai trao đổi sâu làm rõ hơn các vấn đề có khó khăn, vướng mắc, rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời đề nghị địa phương nêu biện pháp giải quyết hoặc đề xuất Trung ương tháo gỡ. Nội dung trao đổi yêu cầu các đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy phải nắm chắc tình hình thực tiễn, các vấn đề của địa phương, có quan điểm, chủ trương giải quyết rõ ràng và phương án, thời hạn thực hiện.
Báo cáo tình hình địa phương và rút kinh nghiệm về một số vấn đề ở cơ sở, nhất là vụ việc mất an ninh, trật tự xảy ra hôm 11/6/2023, đồng chí Nguyễn Đình Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk nhận định: Công tác nắm bắt tình hình của hệ thống chính trị ở cơ sở hạn chế. Năng lực giải quyết công việc của cán bộ xã, thôn, buôn chưa đáp ứng yêu cầu… Từ nay đến hết nhiệm kỳ, Đảng bộ tỉnh xác định bảo đảm an ninh chính trị, an toàn xã hội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; tăng cường công tác quản lý, giải quyết đồng bộ các vấn đề về đất đai, rừng, ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân. Kinh nghiệm của Đắk Lắk là bài học chung đối với các địa phương, nhất là những địa bàn chiến lược. Tham dự hội nghị này có đại diện Chính phủ, lãnh đạo các bộ, ngành để cùng trao đổi, tháo gỡ các vấn đề liên quan. Đây là sự đổi mới rõ nét trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Qua giao ban công tác, nhiều vấn đề được xem xét, giải đáp, xin ý kiến trực tiếp nhằm góp phần nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong phạm vi địa bàn, lĩnh vực phụ trách; siết chặt quan hệ phối hợp công tác giữa bộ, ngành, địa phương, giảm các thủ tục hành chính mang tính hình thức.
Việc Trung ương mở rộng đối tượng giao ban công tác, đặt yêu cầu cao về trách nhiệm báo cáo, giải trình trực tiếp của người đứng đầu đã tác động đổi mới tác phong công tác, tư duy chỉ đạo, điều hành ở cấp ủy, chính quyền các cấp. Mới đây, lần đầu tiên tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với 350 cán bộ, công chức là trưởng, phó phòng các Ban Đảng của Tỉnh ủy và các sở, ban, ngành của tỉnh. Tại Hội nghị, các đồng chí lãnh đạo tỉnh giải đáp các vấn đề đại biểu quan tâm, nêu câu hỏi, thông qua đó nắm bắt tình hình đội ngũ, tâm tư, nguyện vọng để có biện pháp, chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao.
Khảo sát tại nhiều địa phương, các cuộc giao ban của Thường trực Tỉnh ủy với Bí thư huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND huyện, thành phố có chuyển biến về chất lượng. Việc kiểm điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ đi vào chiều sâu, mổ xẻ trực tiếp các vấn đề tồn tại; qua trao đổi cởi mở, thẳng thắn đã thúc đẩy tinh thần chủ động, tích cực, dám nghĩ, dám làm của cán bộ các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ; là biểu hiện sinh động nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong thực tiễn.
Phát huy tinh thần năng động, tự chủ
Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Đảng ta đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao... Yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và hành động, trước hết từ các cấp ủy đảng. Khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố, ghi nhận tinh thần chủ động, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng phát triển bằng những mục tiêu cụ thể.
Nghị quyết số 03 về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2021-2025 của Tỉnh ủy Vĩnh Long đề ra mục tiêu chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Các địa phương trong tỉnh từng bước tiến hành việc chuyển đổi này, có nơi chậm, nơi nhanh do tư duy và năng lực lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền. Huyện Bình Tân là vùng chuyên canh cây khoai lang, trong đó khoảng 80% diện tích trồng khoai lang tím để xuất khẩu. Bà con nông dân trong huyện có đời sống khấm khá từ cây trồng chủ lực này.
Tuy nhiên, qua đại dịch Covid-19, việc xuất khẩu khoai theo đường tiểu ngạch bị ngưng trệ cho thấy sự bấp bênh trong sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng lớn tới đời sống nhân dân. Đồng chí Nguyễn Văn Tập, Chủ tịch UBND huyện chia sẻ: Cấp ủy, chính quyền kịp thời nắm bắt tình hình, quyết định cơ cấu lại vùng trồng theo hướng sản xuất gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp, khẩn trương áp dụng các biện pháp kỹ thuật để sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu chính ngạch. Trong thời gian ngắn, diện tích trồng khoai bị giảm mạnh do không bán được đã nhanh chóng được khôi phục; khoảng 220 ha có chứng nhận VietGAP; đẩy mạnh sản xuất theo hướng sinh thái; tiến hành gắn mã số vùng trồng… Cuối tháng 4/2023, lần đầu tiên huyện xuất khẩu chính ngạch 28 tấn khoai lang sang thị trường Trung Quốc, đánh dấu bước tiến trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế nông nghiệp ở địa phương.
Trong khi nhiều tỉnh, thành phố có mức tăng trưởng thấp do ảnh hưởng tiêu cực từ sự suy giảm của nền kinh tế thế giới và hậu quả của đại dịch Covid-19, Bình Định vẫn đạt mức tăng trưởng 8,57% vào năm 2022, cao nhất từ trước tới nay; 6 tháng đầu năm 2023 đạt 6,46%. Đồng chí Lê Văn Hồng, Bí thư Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh cho biết, Tỉnh ủy chỉ đạo hạ tầng phải "đi trước", từ cấp tỉnh đến các địa phương đã huy động mọi nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là hệ thống giao thông kết nối. Sự đột phá về hạ tầng cùng với các chính sách thu hút đầu tư thông thoáng đã tạo làn sóng đầu tư mạnh mẽ, tạo đà cho tỉnh bứt phá. Từ đầu năm đến nay, Bình Định thu hút 2 dự án FDI đăng ký đầu tư mới, với tổng vốn đầu tư là 114.816 USD và 65 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 14.249,1 tỷ đồng, vượt 8,3% kế hoạch năm.
Quá trình hiện thực hóa chủ trương, định hướng phát triển của Đảng gắn với thực tiễn sinh động ở mỗi địa phương thể hiện năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; khơi dậy và phát huy sự năng động, tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của những cán bộ lãnh đạo có năng lực, phẩm chất, thể hiện qua phong cách chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ.
Bảo đảm thực thi quyền lực có hiệu quả
Năng lực cầm quyền của Đảng cũng thể hiện ở năng lực kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong thực thi quyền lực nhà nước. Cùng với việc thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp, Đảng ta yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực, nhất là quyền lực của người đứng đầu, bảo đảm quyền lực được thực thi có hiệu quả. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Nhiều giải pháp đang được thực thi, hướng tới đạt được mục tiêu Đại hội XIII đề ra.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đang được thực hiện quyết liệt, toàn diện và đồng bộ; tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, nhất là ở những ngành, lĩnh vực, khu vực dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc, sự việc nổi cộm dư luận xã hội quan tâm. Trung ương quán triệt xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy là nhiệm vụ quan trọng. Trong đó thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, xác định rõ quyền và trách nhiệm của tập thể, của cá nhân người đứng đầu; tăng cường phân cấp, phân quyền theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời có cơ chế, chế tài cụ thể xác định, xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi có khuyết điểm, vi phạm.
Kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thể hiện sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương, ngày càng đi vào chiều sâu, với quyết tâm đấu tranh "không có vùng cấm, không có ngoại lệ". Cùng với việc thành lập các ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm tránh tình trạng "trên nóng, dưới lạnh" và nhấn mạnh quan điểm phòng ngừa bằng việc ngăn chặn những hành vi tiêu cực, Trung ương ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1/8/2022 chỉ ra những biểu hiện, hành vi tiêu cực để nhận diện. Trong đó, rõ nét nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị.
Những văn bản mới được Bộ Chính trị ban hành như Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; Quy định số 65-QĐ/TW về luân chuyển cán bộ; Quy định số 96-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị; Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ... đều hướng đến mục tiêu tăng cường quản lý cán bộ và kiểm soát quyền lực.
Theo Tiến sĩ Đỗ Văn Quân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, vẫn còn lỗ hổng lớn trong kiểm soát quyền lực của người đứng đầu, nhất là ở khía cạnh người đứng đầu với quyền lực của mình đề xuất, vận động, gợi ý, gây sức ép, hướng lái tập thể lãnh đạo theo ý đồ, tự ý quyết định hay áp đặt theo chủ ý của mình. Điều này làm tê liệt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, vô hiệu hóa nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc kiểm soát quyền lực cần gắn với phát huy vai trò của người đứng đầu. Cụ thể, trao quyền phù hợp với trách nhiệm để phát huy vai trò của người đứng đầu. Trao quyền cho người đứng đầu mà không tương thích với trách nhiệm (quyền lớn hơn trách nhiệm) dễ dẫn đến lạm quyền, lộng quyền, làm trái, bất chấp nguyên tắc, quy chế, quy trình, nhất là trong công tác cán bộ. Cần xây dựng được hệ tiêu chí, tiêu chuẩn có thể sàng lọc, lựa chọn được người có năng lực, tố chất, khả năng, ý chí, nhu cầu tự kiểm soát quyền lực của bản thân để bồi dưỡng đào tạo cán bộ từ xa, từ sớm. Cần xây dựng chương trình, kế hoạch và nội dung để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này tương xứng, ngang tầm với nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Bảo đảm sự thống nhất đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể chính trị-xã hội đối với người đứng đầu; tăng cường vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị-xã hội trong phát huy vai trò và kiểm soát quyền lực của người đứng đầu.
Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đối với khả năng thực hiện các mục tiêu, tầm nhìn và sứ mệnh của Đảng. Thể hiện quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; năng động, sáng tạo, có những đổi mới phù hợp để phát huy mọi nguồn lực, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối, kết hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển là những giải pháp hiệu quả để hiện thực hóa định hướng lớn của Đảng./.
St

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI!

     Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 là sự kiện quân sự quan trọng, đánh dấu bước ngoặt cơ bản, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phát triển mới; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý, trong đó nổi bật là nghệ thuật chỉ đạo chiến lược sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trải qua 4 năm lãnh đạo quân và dân ta kháng chiến, Đảng ta ngày càng dày dạn và trở thành một “Đảng kháng chiến” với nhãn quan chiến lược rất nhạy bén và sắc sảo. Đến năm 1950, Đảng khẳng định: Cuộc kháng chiến chống Pháp đang có những thuận lợi cho ta, bất lợi cho Pháp về tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường, ta ngày càng trưởng thành, Pháp càng đánh càng lâm vào thế bị động. Trên cơ sở đó, Đảng nhận định: Năm 1950 là năm bản lề giữa hai giai đoạn chiến lược (cầm cự, tổng phản công), năm quyết định để ta vượt qua giai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Đó là cơ sở để Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới và quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta giành thắng lợi. Thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Đảng chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, nêu rõ: “Công việc chuẩn bị cần chú trọng đến củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích... điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh”. Đây là sự chỉ đạo chiến lược quan trọng của Đảng nhằm chuẩn bị chu đáo về các mặt trước khi bước vào giai đoạn tiến hành chiến dịch như kế hoạch đề ra.  

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng trong Chiến dịch Biên giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát mặt trận Đông Khê, Chiến dịch Biên giới, ngày 16-9-1950. Ảnh tư liệu 
Điểm nổi bật về sự chỉ đạo chiến lược của Đảng không chỉ phản ánh ở cấp chiến lược mà còn thể hiện nghệ thuật chuyển hóa chiến lược tài tình. Lúc đầu, Tổng Quân ủy đề nghị mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc (cụ thể ở Lào Cai), vì coi đây là nơi địch yếu, sơ hở nhất và chuẩn bị chiến trường ở hướng Đông Bắc. Nhưng sau đó xét so sánh giữa hai mặt trận, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng mở chiến dịch sang Đông Bắc và chọn tiến công vào tuyến biên giới khu vực Cao Bằng-Lạng Sơn, trong đó tập trung tiến công phòng tuyến địch trên đường số 4, đoạn Cao Bằng-Thất Khê. Chọn Cao Bằng-Lạng Sơn mở chiến dịch sẽ trực tiếp làm phá sản kế hoạch Revers của Pháp, nhằm phong tỏa biên giới Việt-Trung, ngăn chặn sự chi viện của cách mạng Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam, bao vây, cô lập căn cứ địa Việt Bắc, tiêu diệt ta. Vì thế, Đảng ta đã sớm có tầm nhìn chiến lược, chuyển Đông Bắc thành hướng chiến lược, nếu ta giải phóng được vùng biên giới sẽ phá thế bao vây, cô lập của địch, mở thông đường giao lưu quốc tế, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tiến lên giành quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Vấn đề chỉ đạo chiến lược của Đảng còn thể hiện lãnh đạo, chỉ huy thống nhất. Để trực tiếp lãnh đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân thực hành chiến dịch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận Biên giới (25-7-1950) gồm 5 đồng chí, do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Bí thư. Bộ chỉ huy chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh được chỉ định làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tham mưu trưởng. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quyết định những vấn đề mang tính chiến lược của chiến dịch mà Người còn lên đường ra mặt trận trực tiếp cùng Bộ chỉ huy chỉ đạo chiến dịch. Trước khi bộ đội ta đánh Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch (16 đến 18-9-1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đài quan sát ở Nà Lạn, cách Đông Khê khoảng 11km về phía Đông, trực tiếp theo dõi trận đánh này. Nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các quyết định, chỉ thị của Trung ương Đảng lập tức đến với các lực lượng tham gia chiến dịch; đồng thời các vấn đề chỉ huy chiến lược cũng được thực hiện tập trung thống nhất trên toàn mặt trận.

Cùng với lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, đề ra phương châm tác chiến chiến lược và quán triệt vận dụng thành công cũng là nét nổi bật trong Chiến dịch Biên giới. Để bảo đảm cho bộ đội ta thực hiện phương châm “đánh điểm, diệt viện” (đánh điểm chỉ là biện pháp, diệt viện mới là mục đích của ta), cần thống nhất phương châm tác chiến chiến lược trên toàn Mặt trận Biên giới. Lúc đầu, ý định của ta đánh địch ở Cao Bằng trước, sau đó đánh Đông Khê, nhưng qua nghiên cứu thực tế chiến trường, để bảo đảm chắc thắng, Đảng ủy Mặt trận đề nghị Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đánh Đông Khê trước và được chấp thuận.

Phương án tác chiến chiến lược được xác định: Tập trung lực lượng tiêu diệt cứ điểm Đông Khê trước để mở màn; tiếp đó tập trung lực lượng lớn hơn đánh quân ứng chiến, chuyển lực lượng xuống đánh Thất Khê và cuối cùng tiến công vào thị xã Cao Bằng. Quán triệt sâu sắc phương châm tác chiến, bộ đội ta đã đánh nhiều trận, trong đó điển hình là trận Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch thắng lợi, trận Cốc Xá-điểm cao 477 (từ ngày 5 đến 8-10-1950), trận then chốt quyết định tiêu diệt hai binh đoàn Le Page và Charton. Tiếp đó, từ ngày 9 đến 14-10-1950, ta chuyển sang tiến công, buộc địch lần lượt phải rút khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lạng Giang, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu, kết thúc chiến dịch. 

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chiến dịch Biên giới thể hiện rất tài tình, sắc bén về nhận định tình hình và quyết định chính xác, chủ động chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kịp thời; tập trung lãnh đạo, chỉ huy thống nhất; xác định phương châm tác chiến chiến lược và quán triệt vận dụng thành công phương châm đó./.
Yêu nước ST.

CƠ HỘI THỂ HIỆN BẢN LĨNH, LÒNG NHIỆT HUYẾT VÀ ĐAM MÊ PHONG TRÀO

 Bản lĩnh, tài năng, trí tuệ nhưng không kém phần đảm đang, duyên dáng là cảm nhận của hầu hết khán giả dành cho các bóng hồng tham gia Hội thi cán bộ Hội Phụ nữ Cơ quan Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam diễn ra mới đây. Ở đó, thái độ nghiêm túc, sự hết mình trong thực hiện nhiệm vụ cùng tài năng của các thí sinh đã làm nên một hội thi đầy ấn tượng và giàu ý nghĩa.

Kết quả của hội thi thêm một lần nữa khẳng định sự quán triệt nghiêm túc hướng dẫn của cơ quan chuyên môn trong tổ chức thực hiện Hội thi cấp cơ sở và đã lựa chọn được những hạt nhân tiêu biểu xuất sắc tham gia Hội thi cán bộ phụ nữ giỏi cấp toàn quân năm 2023.
Tỏa sáng trên sân khấu
Theo dõi phần thi năng khiếu của thí sinh Nguyễn Thị Mỹ Linh đến từ Đoàn 871, khán giả trầm trồ thán phục bởi sự duyên dáng và khả năng “gọi” âm thanh tuyệt vời của chị qua màn độc tấu đàn t’rưng. Bước sang phần thi tuyên truyền, Mỹ Linh càng thuyết phục Ban giám khảo bằng chất giọng hào sảng, dứt khoát, mạnh mẽ cùng phong thái tự tin, bản lĩnh và kiến thức khá toàn diện thông qua chủ đề tuyên truyền “Phụ nữ Quân đội phát huy truyền thống QĐND Việt Nam anh hùng”, đạt kết quả xuất sắc và giành giải nhất hội thi.
"Cô nàng đa tài" là cái tên khán giả dành tặng thí sinh Nguyễn Thị Hằng đến từ Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội thông qua phần thi năng khiếu. Ở phần thi này, khán giả dường như được thưởng thức "bữa tiệc" về cả thị giác và thính giác bởi thí sinh đã có sự kết hợp vô cùng khéo léo, tinh tế giữa nhiều loại hình văn hóa-nghệ thuật như đàn, hát, trống, múa, viết thư pháp, biểu diễn áo dài... tạo nên một phần thi độc đáo và ấn tượng. Bước sang phần thi tuyên truyền, với chủ đề "Phụ nữ Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội bản lĩnh, trí tuệ, kỷ cương, nhân ái", với cách dẫn dắt vấn đề khúc triết cùng phần liên hệ từ chính thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, của cán bộ, hội viên phụ nữ Nhà hát, Nguyễn Thị Hằng đã ghi điểm xuất sắc cho cả hai phần thi.
Có thể nói, thông qua hai phần thi năng khiếu và tuyên truyền, 14 thí sinh đến từ 14 đơn vị thuộc Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam đã đưa Ban giám khảo cũng như khán giả đi hết từ bất ngờ này sang bất ngờ khác về tài năng cũng như khả năng làm chủ sân khấu ở nhiều loại hình nghệ thuật như hát, múa, diễn kịch, đánh trống, đánh đàn, viết thư pháp, cắm hoa nghệ thuật, thiết kế thời trang... cũng như sự đảm đang, khéo léo, tinh tế của người phụ nữ trong giữ lửa tổ ấm gia đình.
Bằng phương pháp tuyên truyền miệng kết hợp sân khấu hóa, nhiều vấn đề xã hội nổi cộm có tác động nhiều mặt đến đời sống gia đình cũng được các thí sinh nêu ra với cách xử lý tinh tế, thông minh. Điểm đáng ghi nhận, tất cả nội dung tuyên truyền đều gắn kết chặt chẽ, sâu sắc với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, với truyền thống phụ nữ Việt Nam, phụ nữ Quân đội, phụ nữ Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam theo tiêu chí “4 tốt”; tinh thần, trách nhiệm của bản thân đối với nhiệm vụ chính trị của đơn vị, với cộng đồng xã hội...
Trao truyền nhiều thông điệp ý nghĩa
Đã có không ít khoảnh khắc cả hội trường lặng đi vì xúc động bởi những thông điệp ý nghĩa, mang tính nhân văn sâu sắc. Từ những câu chuyện sinh động, gần gũi về Bác Hồ kính yêu, đến sự hy sinh thầm lặng của người lính thời bình; từ những tấm gương phụ nữ vượt khó, sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong bất luận hoàn cảnh nào; đến những việc làm thiện nguyện hướng về những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn nơi vùng sâu vùng xa... Tất cả đều được các thí sinh truyền tải đầy cảm xúc thông qua câu chuyện có thật mang tính thuyết phục cao. Ở phần thi tuyên truyền, hầu hết các thí sinh đã sử dụng thế mạnh đặc trưng của tuyên truyền miệng kết hợp với sân khấu hóa, màn hình trình chiếu góp phần nêu bật thông điệp, chủ đề tuyên truyền. Nhiều phần thi được dàn dựng công phu, đầu tư bối cảnh cũng như trang phục hoành tráng; thí sinh có chất giọng thể hiện truyền cảm cùng phong cách tự tin đã tạo ấn tượng sâu sắc đến người xem...
Hội thi đã khép lại nhưng dư âm có sức lan tỏa sâu rộng. Kết quả của hội thi là sự phản ánh thực tiễn hoạt động phong trào phụ nữ ở từng cơ quan, đơn vị trong tổng cục; sự quan tâm của cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị đối với hoạt động phong trào quần chúng; đồng thời là cơ sở đánh giá toàn diện trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ. Nhấn mạnh về thành công của Hội thi, Đại tá Ngô Thị Lệ, Phó cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó trưởng Ban tổ chức, Trưởng Ban giám khảo Hội thi khẳng định: Các thí sinh tham gia hội thi đã làm chủ được kiến thức, đa dạng cách thức truyền tải nội dung, tài năng trong thể hiện năng khiếu.
Qua hội thi, nhiều cán bộ hội có cơ hội thể hiện bản lĩnh, sự tự tin cùng nhiệt huyết và đam mê phong trào. Thành công của Hội thi đã tạo cơ hội cho đội ngũ cán bộ hội trong Cơ quan Tổng cục Chính trị được giao lưu, học hỏi, nâng cao nhận thức trách nhiệm và kỹ năng tổ chức hoạt động Hội, đồng thời đánh giá chất lượng công tác, năng lực, trình độ, sự tiến bộ, trưởng thành của đội ngũ cán bộ hội, là cơ sở để cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, cơ quan chức năng nghiệp vụ cấp trên và tổ chức Hội Phụ nữ tiếp tục đề ra các nội dung, biện pháp thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác phụ nữ, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của các Hội Phụ nữ trong Cơ quan Tổng cục Chính trị./.
St

NGƯỜI LÃNH ĐẠO CẦN BIẾT TRỌNG DANH DỰ, GIỮ LIÊM SỈ

 Để trở thành cán bộ lãnh đạo, mỗi người đều phải trải qua quá trình tích cực học tập, công tác, rèn luyện, thử thách, cống hiến và trưởng thành, hội tụ đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác.

Sự ghi nhận, tin tưởng, tôn vinh, hay ngưỡng mộ, kính trọng của tổ chức, tập thể và rộng hơn là của nhân dân, của xã hội đối với người lãnh đạo tạo nên danh dự của người đó. Đó là sự coi trọng, đánh giá cao phẩm chất, uy tín, năng lực cá nhân và quá trình công tác, thành tích cống hiến của họ, đó cũng chính là những giá trị tinh thần, xã hội, ý nghĩa cuộc sống vì sự đóng góp, cống hiến của họ.
Danh dự, uy tín của người lãnh đạo không thể đo đếm hay mua bán, đánh đổi bằng vật chất, tiền bạc, cũng không tự nhiên mà có, không ai có thể mang đến cho họ hoặc làm thay, làm hộ, mà phải do bản thân người lãnh đạo trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn, cống hiến nhiều năm. Danh dự của con người không liên quan tuổi tác, không phụ thuộc vào giới tính, học vấn, trình độ, địa vị, thành phần xuất thân. Là người bình thường, ai cũng đều có lương tâm, danh dự.
Tuy nhiên, mức độ lan tỏa và ảnh hưởng của danh dự ở mỗi người trong xã hội có khác nhau phụ thuộc vào phương thức truyền thông, sự lan tỏa giá trị, quan hệ xã hội, uy tín, địa vị công tác, hoặc địa vị xã hội của người đó. Người có trình độ học vấn, có vị trí càng cao, có ảnh hưởng đến nhiều người, càng phải biết trọng danh dự, giữ gìn tư cách, hình ảnh, giá trị cá nhân đã được thừa nhận.
“Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”. (Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 30/6/2022)./.
St

QUYỀN UY... “QUAN BÀ”

 Châm ngôn có câu “Phía sau thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ” với hàm ý ngợi ca sự tảo tần, chu toàn và những hy sinh thầm lặng của người vợ đã góp phần làm nên công danh sự nghiệp cho chồng. Thế nhưng, thực tế cũng cho thấy, phía sau sự thất bại, thất sủng trên chính trường của một số quan chức thời nay cũng một phần do vợ con dính líu đến chuyện làm ăn khuất tất, vi phạm pháp luật.

Trong mỗi con người ai cũng có một phần máu thịt của mẹ cha và chứa chan tình cảm thiêng liêng, sâu nặng với gia đình, vợ chồng, con cái. Một cán bộ, đảng viên có phẩm chất tốt trước hết phải là người sống hiếu thuận, nhân ái với các thành viên trong gia đình. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Có ứng xử, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình thì cán bộ, đảng viên mới có thể giải quyết đúng mực các mối quan hệ trong xã hội.
Tuy vậy, đối với mỗi cán bộ đảng viên rất cần nhận thức đúng đắn, phân minh rõ ràng giữa việc anh làm tròn bổn phận của người chồng (người cha, người con, người anh/em trong gia đình) với việc gánh vác trách nhiệm, nghĩa vụ việc chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị và nói rộng hơn là phụng sự việc dân, việc nước. Nếu cán bộ, đảng viên còn để việc công - tư lẫn lộn, để việc riêng chi phối việc chung, để mối quan hệ gia đình, dòng họ thân tộc can thiệp vào mối quan hệ xã hội (tổ chức, cơ quan, đơn vị) thì đó là mầm mống gây xáo trộn văn hóa tổ chức, làm lệch chuẩn đạo đức công vụ và nguy hại hơn, là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.
Bấy lâu nay, dư luận râm ran về những bóng dáng “quan bà” đứng sau “quan ông” để ám chỉ những bà vợ “núp bóng” quyền uy của chồng để thực hiện hành vi mờ ám, khuất tất, thậm chí vi phạm pháp luật. Nơi này, nơi khác người ta vẫn rỉ tai nhau rằng, muốn đạt được “chức cao, chỗ ngon, vị trí hái ra tiền” thì không chỉ phải đi cửa sau “lót tay” cho “quan ông”, mà còn phải thực hiện “chiến thuật công tâm” bằng cách tiếp cận các “quan bà” bằng những “lời ngon, lễ ngọt” để làm đẹp lòng các “mệnh phụ phu nhân”. Cũng không ngẫu nhiên mà dư luận gọi người vợ của một bộ phận quan chức bằng những cái tên như “bà bí thư”, “bà chủ tịch”, “bà giám đốc”... để ám chỉ “quyền lực mềm” của những người này có thể thao túng quyền lực của chồng một cách thái quá theo kiểu “lệnh ông không bằng cồng bà”. Thậm chí, nhiều bà vợ đứng sau lưng quan chức có thể làm “khuynh đảo” chốn quan trường, can thiệp vào việc chính sự, “bật đèn xanh” cho những kẻ chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ... khiến nhiều người không khỏi ngao ngán.
Châm ngôn có câu “Phía sau thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ” với hàm ý ngợi ca sự tảo tần, chu toàn và những hy sinh thầm lặng của người vợ đã góp phần làm nên công danh sự nghiệp cho chồng. Thế nhưng, thực tế cũng cho thấy, phía sau sự thất bại, thất sủng trên chính trường của một số quan chức thời nay cũng một phần do vợ con dính líu đến chuyện làm ăn khuất tất, vi phạm pháp luật. Nguyên nhân sâu xa một phần do tâm lý “lụy tình, quý vợ” thái quá, phần khác do bản năng “cá chuối đắm đuối vì con” nên một số quan chức để cho vợ con lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thao túng, trục lợi người khác mà vẫn dửng dưng. Tệ hại hơn, một số quan chức lại có biểu hiện đồng lõa, biết vợ con, người thân có những việc làm sai trái, hành vi tiêu cực nhưng không ngăn chặn kịp thời, cấm đoán nghiêm khắc. Cái sảy nảy cái ung. Nếu những sai phạm nhỏ của vợ con, người nhà, người thân của quan chức mà không được cảnh báo, chặn đứng từ đầu thì có thể tích tụ thành những “đống mối” có khả năng phá hủy, làm tiêu tan công danh sự nghiệp của chính họ.
Đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo các cấp phải thấm nhuần sâu sắc phương châm, nguyên tắc quản trị của người xưa truyền lại, đó là “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” và đừng quên lời khuyên răn “Thương em anh để trong lòng/ Việc quan anh cứ phép công anh làm”. Đạo làm quan là phải phụng công thủ pháp, chí công vô tư, dĩ công vi thượng thì mới có thể dẫn dắt được xã hội, điều khiển được người khác. Phải thấm lấy câu “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy” (nước có pháp luật của nước, nhà có quy định của nhà), “luật pháp bất vị thân” (luật pháp không thiên vị ai), chứ đừng để bản thân rơi vào hoàn cảnh “Đục từ đầu sông đục xuống”. Khi tư cách người chồng không ngay ngắn, khi phẩm chất người cha không lành mạnh thì không những không đủ khả năng “tề gia” đến nơi đến chốn, mà lại càng khó làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên đối với Tổ quốc và nhân dân./.
St

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

 Các thế lực thù địch đã đăng tải thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội hòng thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận, chống phá công tác nhân sự của Đảng.

Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) đang tiến hành thảo luận, bàn bạc, quyết nghị nhiều nội dung quan trọng, có liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước, như: phát triển kinh tế - xã hội, cải cách tiền lương, chính sách đại đoàn kết dân tộc, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV)... Trong đó, việc xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV) là công việc hoàn toàn bình thường, diễn ra theo kế hoạch, lịch trình trong các hội nghị, kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương đã được xây dựng trong cả nhiệm kỳ.
Tuy nhiên, với bản chất, âm mưu, dã tâm xấu, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, Instagram… để tung tin xuyên tạc, kích động, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nội bộ trong Đảng nhằm thu hút sự chú ý, gây hoang mang dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân. Chiêu trò, thủ đoạn chủ yếu của chúng là lợi dụng việc Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đã phát hiện, xử lý kỷ luật một số Ủy viên Trung ương suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực… từ đó, suy diễn, quy chụp rằng: đây là sự tranh giành, đấu đá, hạ bệ nhau giữa các phe cánh trong Đảng.
Lần này cũng vậy, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) khai mạc sáng 2/10 thì ngày 3/10, trang Facebook Việt Tân đăng nội dung: “Nội bộ của Đảng đang bắt đầu tranh giành quyền lực. Họ sẽ tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt hạ lẫn nhau”. Vẫn sử dụng lại “bình cũ” đó, nhưng chúng thay “rượu mới”. Chúng rêu rao rằng, “Đảng đã làm thay Nhà nước, làm thay Quốc hội”. Với mục đích không thay đổi là chống phá, xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, câu view, câu like, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội.
Trước hết, cần khẳng định rằng những luận điệu của các thế lực phản động đăng tải trên mạng xã hội là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Dù chúng có những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, không thể bôi nhọ các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước. Trò cũ diễn mãi cũng nhàm, mọi chiêu trò xuyên tạc của Việt Tân chỉ tốn công, vô ích bởi lẽ, tất cả nhân dân Việt Nam đều suy nghĩ và nhận thức rằng: Với những cán bộ, đảng viên liêm chính thì dù làm ở vị trí nào, giữ cương vị gì, họ cũng đều có một mục đích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Họ đều làm việc, cống hiến vì nước, vì dân, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác, không nên nhẹ dạ cả tin, kiên quyết đấu tranh đập tan mọi ý đồ xuyên tạc, vu khống của các đối tượng xấu. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần thường xuyên coi trọng định hướng tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức cống hiến để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
St