Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

CÁN BỘ TRƯỚC HẾT "PHẢI LÀM MỰC THƯỚC CHO NGƯỜI TA BẮT CHƯỚC"

 

Cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng phải nêu gương về đạo đức cách mạng, tu dưỡng đạo đức cách mạng để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.


CÁN BỘ PHẢI LUÔN NÊU GƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG


Thấu hiểu sâu sắc rằng: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" và “nói chung các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, cho nên ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã yêu cầu người cách mạng phải rèn luyện và nêu gương đạo đức theo các chuẩn mực: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”.


Điều đó có nghĩa là, để có thể cổ vũ, tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng tham gia cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải:


1) Có đạo đức cách mạng và thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, vì “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Hơn nữa, “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”, do đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng. Cụ thể, mỗi người “tự mình phải” hằng ngày khiêm tốn học hỏi, nỗ lực trau dồi tri thức chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ và đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để “khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”; “đối với người” phải luôn chân thành yêu thương, luôn giúp đỡ đồng chí, đồng bào, khoan dung, độ lượng để quy tụ và  đoàn kết mọi người trong từng tổ chức, tạo sự thống nhất trong tư tưởng và hành động; khi “làm việc phải” tận tâm, tận lực theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”, gương mẫu đi đầu “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.


2) Thực hiện nêu gương bằng hành động, thống nhất giữa nói và làm, vì: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”. Để xứng đáng với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương bằng hành động cụ thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, không được nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm. Hơn nữa, cũng theo Người, “lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”, cho nên sự nêu gương, thống nhất giữa nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường của mỗi cán bộ, đảng viên là nguyên tắc trước hết cần pahir nghiêm túc thực hiện.


Nêu gương và noi gương có mối quan hệ chặt chẽ, bởi noi theo, làm theo những tấm gương tốt để cả xã hội cùng đổi mới và phát triển tốt đẹp là góp phần làm cho ý nghĩa những gương điển hình ấy lớn lao hơn, sức lan tỏa rộng lớn hơn. Hồ Chí Minh từng nói, biển cả là do “từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được”, do đó, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ góp phần làm đẹp hơn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được hình thành và bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước mà còn trở thành những hạt giống tốt, là những điển hình mực thước trong rèn luyện đạo đức cách mạng để mọi người cùng phấn đấu, học tập. Mang giá trị và ý nghĩa lớn lao, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, sự lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” của những tấm gương điển hình tiên tiến nảy sinh trong thực tiễn sẽ lan tỏa, góp phần truyền tải giá trị tinh thần cao quý trong cộng đồng.


HỒ CHÍ MINH - MỘT MẪU MỰC VỀ NÊU GƯƠNG


Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện và nêu gương về đạo đức cách mạng mà Người còn là một mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng. Ở Người, thống nhất giữa nói đi đôi với làm không chỉ là nguyên tắc đạo đức, là lẽ sống mà còn là biểu hiện sinh động của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng, đạo đức và tác phong. Ở bất kỳ thời điểm nào, Hồ Chí Minh cũng luôn nhất quán thực hành đạo đức, tu dưỡng đạo đức, kiên quyết phê bình, đấu tranh phòng và chống bệnh nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm. Tất cả những việc Người nói, những việc Người làm đều không ngoài một “sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.


Hồ Chí Minh luôn nêu gương sáng về đạo đức, nhất quán giữa nói và làm, nhất là tự mình gương mẫu làm làm trước. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nguy cơ “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” vẫn đang đe dọa nền độc lập dân tộc vừa giành được. Trong tình thế cấp bách đó, Người đã kêu gọi toàn dân thực hiện “Sẻ cơm nhường áo”: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Đồng thời, khi “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nêu gương và thực hành trước và nhấn mạnh rằng, “đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”.


Là người đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong quan hệ và ứng xử, Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực, dùng quyền lực để hưởng đặc quyền mà luôn chấp hành quy định, pháp luật của một công dân. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946), tại Hà Nội, 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đáp lại tình cảm tin yêu đó, Người viết thư cảm tạ và đề nghị đồng bào để mình được thực hiện quyền công dân: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa. Tôi xin thành thực cảm tạ đồng bào nam, phụ, lão ấu khu vực ngoại thành Hà Nội”.


Cuộc sống đời thường của Người trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như khi đã là một nguyên thủ quốc gia cũng vẫn giản dị, tiết kiệm như là lẽ sống của Người. Khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng, Người chuyển về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, nhưng đã khước từ ngôi nhà sang trọng của Toàn quyền Ðông Dương trước đây mà chỉ ở ngôi nhà của người thợ điện. Trong mỗi chuyến đi thăm và làm việc tại các địa phương, nhất là các chuyến đi trong ngày, Người thường mang theo cơm nắm với muối vừng, vì không muốn địa phương phải chăm lo cho mình… Vì thế, đến với vị lãnh tụ luôn sống cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đến với khung cảnh thiên nhiên trong lành của Phủ Chủ tịch, từ các đồng chí lãnh đạo cao cấp đến những người dân lao động bình thường, từ chính khách đến em nhỏ mồ côi đều cảm thấy tự tin và ấm lòng. Trước một Hồ Chí Minh hiền hậu như một nhà hiền triết phương Đông, trong một khung cảnh thiên nhiên đầy hoa thơm và cá lội… phần tốt trong mỗi con người dường như được nhân lên, cái ác sẽ không còn chỗ để chung sống nữa.


Là một lãnh tụ xa lạ với quyền lực, Hồ Chí Minh coi việc mình làm Chủ tịch nước là do nhân dân ủy thác cho, là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng từng viết: Hồ Chí Minh là kiểu người lãnh đạo hiếm thấy. Ngay từ những ngày đầu tiên Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Người đã thẳng thắn nói: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân”; đồng thời, “luôn luôn từ chối nắm quyền lực” và Hồ Chí Minh thường “nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cách mạng là bắt đầu giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng cho những người yêu nước, cho thanh niên, quần chúng nhân dân, chủ yếu là cho đảng viên và cán bộ. Suốt đời, Bác quan tâm việc đó. Hồ Chí Minh không chỉ là người giáo dục đạo đức cách mạng mà còn là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn Đảng, toàn dân ta”.


Hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, trước khi đi xa về cỗi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh không hối hận điều gì, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Chúng ta học được từ tấm gương của Hồ Chí Minh - một vĩ nhân giản dị cho mình và cũng giản dị cho đời trong cốt cách đời thường. Việc riêng của Người cũng là việc chung của dân tộc, nên chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của mình, Người căn dặn “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Trên mộ, nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”. Sự nêu gương của Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa nói và làm của người đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Bao trùm lên tất cả ở Hồ Chí Minh là sự quên mình vì mọi người, chính là sự ham muốn duy nhất, ham muốn tột bậc của Người là làm sao mang lại thật nhiều hạnh phúc cho dân, cho nước. Cuộc sống hoàn toàn không chút bợn riêng tư, đã tạo nên ở Người một cái gì vô cùng trong sáng”.


Cuộc đời Hồ Chí Minh và đức độ của Người là hiện thân của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với phẩm chất cao quý của người cộng sản trong thời đại mới, mà biểu hiện rực rỡ nhất là tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh không chỉ yêu Tổ quốc và nhân dân mình, Người còn luôn mơ ước, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, hoà bình và hạnh phúc cho tất cả những người cùng khổ. Là Người trân trọng truyền thống của dân tộc mình, song Hồ Chí Minh không bao giờ để cho chủ nghĩa dân tộc ràng buộc mình, hoặc trái lại biến dần thành chủ nghĩa dân tộc. Không chỉ dừng lại ở điều đó, dường như chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa chủng tộc, bài ngoại hay biệt lập đều xa lạ với Hồ Chí Minh, xa lạ với lý tưởng cao đẹp của Người: “Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối liên hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế”. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, luôn thống nhất giữa nói và làm, mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”.


HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ NÊU GƯƠNG


Trong những năm qua, để phát huy hơn nữa vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, địa phương, đơn vị, toàn Đảng đã triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4), Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Nghị quyết 26), với Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (Quy định 101), Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” (Quy định 55) và Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” (Quy định 08)… Có thể nói, việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định này là một giải pháp quan trọng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phòng, chống và ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần rèn luyện nhân cách của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng, củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền.


Được xây dựng trên nguyên lý có xây, có chống và xây trước, chống sau, kết hợp giữa nói và làm mà điểm cốt lõi là cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, theo tinh thần của các Chỉ thị, Nghị quyết và Quy định nêu trên, cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu đi đầu và nêu gương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết hợp sự gương mẫu đi đầu trong rèn luyện đạo đức cách mạng và nâng cao bản lĩnh chính trị của mỗi người, nhất quán giữa nói và làm, nói trước và gương mẫu làm trước trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường tại mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị hay nơi địa bàn cư trú. Việc nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các ngành, các cấp, lãnh đạo cấp cao phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, liên tục theo 8 nội dung “phải gương mẫu đi đầu thực hiện” và 8 nội dung “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống” của Quy định 08.


Cụ thể, “đối với tự mình”, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu; phải nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú; phải là tấm gương tự phê bình và phê bình, gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú để cấp dưới noi theo; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”. Quá trình thực hiện nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên dựa trên cơ sở các nội dung quy định, nội dung đăng ký thực hiện gắn với học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện nêu gương bắt đầu từ việc xây dựng nội dung, kế hoạch và cam kết thực hiện; thể hiện ở tác phong, tinh thần, thái độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thể hiện trong quan hệ với cán bộ, đảng viên ở cơ quan, địa phương, đơn vị, với nhân dân nơi địa bàn cư trú.


 “Đối với người phải” được thể hiện bằng hành động nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và quan hệ với nhân dân. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu, nói trước, làm trước của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo quản lý và người đứng đầu phải thể hiện toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ để xây dựng địa phương, cơ quan, đơn vị đoàn kết, thống nhất. Trong đó, phải thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng sự của mình, tạo điều kiện để mỗi người phát huy sáng kiến, sáng tạo trong công tác, góp phần vào thành tích chung của địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, cán bộ, đảng viên phải nêu gương tự phê bình và phê bình một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không nể nang, không thêm bớt trên tinh thần trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự. Theo lời Người thì, trong công việc cũng như khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên “phải có tính đồng chí thương yêu lẫn nhau” và chú trọng “tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh” để thuyết phục, cảm hóa, tránh dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Điều quan trọng của sự nêu gương chính là tự mình soi, tự mình sửa và luôn “phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình”, giúp đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm và ngày càng tiến bộ.


“Làm việc phải” chính là nội dung nêu gương thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên. Trong đó, làm việc phải có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, kiên quyết chống thói nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm; thường xuyên, nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, v.v... để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc được giao. Qua đó, góp phần phòng, chống, đấu tranh để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống các hiện tượng chạy quy hoạch, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy thi đua, các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực để mưu lợi ích cá nhân và nhóm lợi ích nhằm “vinh thân phì gia”…


Việc triển khai thực hiện sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng đã tạo sự chuyến biến quan trọng từ nhận thức đến hành động trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của các cấp chính quyền…


Tuy nhiên, kết quả đạt được trong việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, về cán bộ và các Quy định nêu trên nói chung, nhất là sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu nói riêng có nơi, có lúc vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tính tự giác gương mẫu đi đầu, vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức có quyền chưa thật rõ nét, còn hình thức, chung chung, chưa tạo sự tâm phục, khẩu phục trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.


Thực tế là, đã có không ít cán bộ, đảng viên trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn chỉ dừng lại ở việc hô hào, khẩu hiệu, hình thức, nói suông trong chương trình, kế hoạch mà không thực hành trong thực tiễn. Ở họ, chỉ là “nói một đàng, làm một nẻo”, “diễn gương”, “là cơ hội chính trị” chứ không phải “nêu gương”, không “tiền phong gương mẫu”; thậm chí không ít người đã suy thoái ở các mức độ khác nhau và vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật. Thông qua việc nghiêm túc tiến hành kiểm điểm, kiểm tra, giám sát, điều tra, xét hỏi được thực hiện rộng rãi, những tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước đã bị xử lý kỷ luật, không có ngoại lệ, không có vùng cấm (dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu) đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặc biệt có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”. Thực tế, cấp có thẩm quyền đã kỷ luật một tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, đã có trên 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật Đảng và xử lý hình sự.


Trước tình hình trên, trong nhóm các giải pháp quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ, Đảng đặc biệt chú trọng vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, nhất là các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Cụ thể là, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cần phải:


Một là, thấu triệt sâu sắc hơn những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về nêu gương và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tinh thần nêu gương thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện theo 3 chuẩn mực đạo đức cách mạng và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải”; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên.


Hai là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v..., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân.


Ba là, tiếp tục phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, xây dựng những chuyên đề cụ thể về nêu gương thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nêu gương về tự phê bình và phê bình; nêu gương trong đảm nhận việc khó… với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.


Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta” trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: cậy quyền, ỷ thế, lạm dùng quyền trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là nâng cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng trở thành việc làm thiết thực hằng ngày, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.


Năm là, chú trọng và đổi mới công tác tuyên truyền, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, lựa chọn và xây dựng các gương cán bộ, đảng viên điển hình trong rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân với tinh thần phụng sự và liêm chính. Nhân rộng những gương điển hình của cá nhân, tập thể, cấp ủy đó để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, để những bông hoa đẹp sẽ góp phần làm cho vườn hoa đẹp, rừng hoa đẹp ngày một ngát hương hơn./.

ST


 KHÔNG ĐƯỢC PHÉP NHÂN DANH “ĐẠI DIỆN NHÂN DÂN” CHO NHỮNG HÀNH VI PHẠM PHÁP


Lợi dụng việc Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thời gian gần đây, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước được sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực phản động, thù địch đã ra sức chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, những đối tượng này thường xuyên sử dụng cái gọi là “đại diện nhân dân”, trong khi thực tế họ không có quyền đó, để xuyên tạc, lôi kéo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, thúc đẩy tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


1. Vấn đề lợi dụng quyền tự do dân chủ, lợi dụng việc Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ ra là: “Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước”… Đây là việc làm vô cùng nguy hiểm, vì với sự trợ giúp của mạng xã hội, những luận điệu xuyên tạc được lan truyền nhanh. Đáng chú ý là những đối tượng cầm đầu các nhóm, tổ chức trái phép như: Hội Anh em dân chủ, Green Trees... gần đây luôn tự nhân danh quyền đại diện cho nhân dân để vi phạm pháp luật có tính hệ thống. Tuy nhiên, điển hình hơn cả cho việc cố tình hiểu sai, lợi dụng cái gọi là “quyền đại diện cho nhân dân” để có hành vi phạm pháp phải kể đến nhóm tự xưng là “Đồng thuận” do ông Lê Đình Kình (xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) cầm đầu.


Lần giở lại sự việc mất an ninh trật tự trên địa bàn xã Đồng Tâm từ tháng 4-2017 đến nay có thể thấy, nhóm “Đồng thuận” thường xuyên nêu cụm từ “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi” trong mọi hành vi chống đối, gây bất bình trong dư luận. Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến công tác sử dụng đất tại xã Đồng Tâm cơ bản đã được chính quyền giải quyết. Đó là 14 cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai trong quá trình công tác đã bị xử lý hình sự. Ngoài ra, Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19-7-2017 của Thanh tra thành phố Hà Nội “Thông báo kết luận thanh tra toàn diện về việc quản lý, sử dụng và quá trình xử lý từ trước đến nay đối với diện tích đất khu sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức” đã khẳng định không có cái gọi là “59ha đất đồng Sênh” như nhóm “Đồng thuận” rêu rao, mà khu vực này hoàn toàn nằm trong phạm vi sân bay Miếu Môn từ hàng chục năm nay. Sau đó, ngày 25-4-2019, Thanh tra Chính phủ ban hành Thông báo số 611/TB-TTCP về “Kết quả rà soát, kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19-7-2017 của Thanh tra thành phố Hà Nội” xác nhận kết quả Thanh tra thành phố Hà Nội đã công bố là chính xác và đúng thẩm quyền...


Từ một vụ việc đã có kết luận, được đông đảo nhân dân địa phương thừa nhận, vậy nhưng nhóm “Đồng thuận” gồm khoảng 20 người trong mọi hành vi sai trái từ năm 2017 đến nay đều cố tình “lôi kéo” hơn 9.000 người dân Đồng Tâm vào vụ việc qua những phát ngôn có tính chất đánh đồng của cái gọi là “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi”. Rất tiếc, qua mạng xã hội, từ một nhóm nhỏ vi phạm pháp luật đã bị các thế lực xấu lợi dụng, kích động đưa xã Đồng Tâm trở thành “điểm nóng” như đã biết... Trong khi đó, nhiều người dân chân chính nơi đây thông qua các cơ quan báo chí, trong đó có Báo Hànộimới, cho biết, họ rất bất bình trước các phát ngôn của ông Lê Đình Kình và những cá nhân liên quan. Đó là chưa kể từ khi vụ việc mất an ninh trật tự xảy ra, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Đồng Tâm bị tụt hậu, bởi từ một xã có điều kiện kinh tế khá của huyện Mỹ Đức thì nay vẫn chưa đạt chuẩn nông thôn mới do nhiều công trình hạ tầng xã hội bị một số người ngăn cản không thể triển khai...


Xin nhắc lại rằng, nhóm “Đồng thuận” đến nay vẫn rêu rao rằng họ tin vào Đảng, tin vào Bác Hồ và đang vin vào cái cớ “đấu tranh chống tham nhũng” để vi phạm pháp luật mà cố tình không hiểu rằng, xuyên suốt trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân nào... Nhóm khoảng 20 người không thể đại diện cho 9.000 dân. Vậy nên cần phải suy nghĩ tỉnh táo, thấu đáo về cái gọi là “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi” của nhóm “Đồng thuận”.


2. Điều 15, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Hệ thống pháp luật của nước ta cũng bảo đảm cho người dân được thực hiện các quyền đó trong phạm vi pháp luật cho phép.


Liên quan đến vụ việc tại xã Đồng Tâm, hơn 2 năm qua, chính quyền từ thành phố đến cơ sở đã kiên trì tuyên truyền, thuyết phục nhân dân hiểu đúng bản chất sự việc. Đến nay, đại bộ phận nhân dân Đồng Tâm đã hiểu và thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, cho đến những ngày đầu tháng 11-2019, nhóm “Đồng thuận” vẫn lên mạng xã hội rêu rao “nhân dân Đồng Tâm chúng tôi kiên quyết phản đối”, trong khi thực chất họ cố tình ngăn cản 14 hộ dân đang chuẩn bị bàn giao mặt bằng đất quốc phòng, chấp hành kết luận của Thanh tra Chính phủ và Thanh tra thành phố Hà Nội.


Trước đó, tại cuộc họp báo thông tin, trao đổi làm rõ về Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 tổ chức ngày 27-8-2019, Thanh tra Chính phủ khẳng định: Trong 14 hộ dân đang sử dụng đất quốc phòng khu vực sân bay Miếu Môn chỉ có 5 hộ có giấy do Ủy ban hành chính xã, Hợp tác xã Nông nghiệp Đồng Tâm cho, cho mượn đất để ở và sản xuất từ trước năm 1980 mà không có hộ ông Lê Đình Kình. Theo quy định của pháp luật, ông Kình là người không có quyền và lợi ích hợp pháp tại khu vực đất sân bay Miếu Môn, không phải là đối tượng thanh tra, nên không có quyền khiếu nại kết luận thanh tra. Ông Kình có hai quyền là quyền phản ánh theo Luật Tiếp công dân và quyền tố cáo theo Luật Tố cáo mà không có các quyền khác.


Sự thật đã “hai năm rõ mười”, vậy tại sao một nhóm người không có quyền khiếu nại, không phải là người được người dân xã Đồng Tâm ủy quyền lại có đơn khiếu nại kết luận thanh tra? Từng là cán bộ chủ chốt tại địa phương, nắm chi tiết nguồn gốc đất đai, tại sao khi Bộ Quốc phòng cắm mốc giới ông Kình lại không có kiến nghị mà nay lại có đơn khiếu nại? Liệu có phải có đối tượng đang lợi dụng cơ hội này vì những mục đích không trong sáng? Những thắc mắc này được Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung khẳng định tại cuộc họp báo ngày 27-8-2019 rằng: Có việc cơ hội, lợi dụng khiếu kiện, tố cáo để xem chính quyền thành phố có bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ hoa màu hay không... Vậy là đã rõ về cái gọi là “người dân Đồng Tâm chúng tôi” của nhóm “Đồng thuận” thực chất chỉ là một nhóm người cố tình bóp méo sự thật hòng mục đích tư lợi, phá hoại sự bình yên của địa phương. 


Đại bộ phận người dân xã Đồng Tâm từ trước đến nay với sự hiểu biết và yêu quê hương mình đã và đang nhìn nhận một cách đúng đắn, tạo điều kiện bàn giao mặt bằng cho quân đội. Nhiều người cho rằng, nếu ông Lê Đình Kình và nhóm “Đồng thuận” không thay đổi để “quay đầu lại là bờ” thì cơ quan chức năng cần phải mạnh tay xử lý nghiêm, không để tiếp tục có những hành vi gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.


... Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định, từ “tự diễn biến” đến “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn. Việc hiểu không đúng, lợi dụng tinh thần quyền đại diện cho nhân dân bất hợp pháp để trục lợi, vi phạm pháp luật rất đáng lên án và cần phải xử lý nghiêm. Với người dân, trước bất kỳ một thông tin gì, đặc biệt là chỉ nghe, xem qua mạng xã hội thì cần bình tĩnh, suy xét thấu đáo, không để bị kích động, lợi dụng. Đây chính là việc thể hiện lòng yêu nước chân chính./.    

ST


CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN KHÔNG THỂ LỖI THỜI!

 

Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng, trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời. Bởi vậy, chúng ta không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trên nền tảng của học thuyết lỗi thời đó. Câu hỏi đặt ra là, chủ nghĩa Mác-Lênin có thật là đã lỗi thời không khi xem xét dưới mọi bình diện, từ ý nghĩa khoa học, mục tiêu xã hội đến ý nghĩa thực tiễn? Nếu nó là lỗi thời thì nguyên nhân và cơ sở nào quy định, ngược lại nếu không lỗi thời thì tại sao và do đâu?


Những người cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời thường dựa chủ yếu vào 4 lý do sau đây: Thứ nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Thứ hai, CNXH hiện thực được xây dựng theo học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin ở Liên Xô, các nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Hiện thực sụp đổ có nghĩa là lý thuyết sai lầm. Thứ ba, điều kiện kinh tế và xã hội ở các nước tư bản phát triển được cải thiện rất nhiều so với ở các nước đi theo con đường XHCN, chứng tỏ CNTB là ưu việt. Và thứ tư, một loạt sai lầm, khuyết điểm mà các nước đi theo con đường XHCN, trong đó có nước ta đã và đang mắc phải, chứng tỏ lý luận về CNXH là sai lầm và lỗi thời.


Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi về các lý do đó.


Về lý do thứ nhất, đúng là học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen ra đời từ giữa thế kỷ XIX, trong điều kiện những mâu thuẫn của CNTB đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó cùng với sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có phê phán toàn bộ những giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là kinh tế - chính trị cổ điển Anh, triết học cổ điển Đức và CNXH không tưởng Pháp. Những học thuyết về giá trị lao động của Ađam Xmít và Đavít Ricácđô, phương pháp biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phơbách, những tư tưởng tiến bộ về xã hội của các nhà tư tưởng Pháp như Sanh Simông, Phuriê cũng đóng góp những cơ sở nhận thức quan trọng vào quá trình hình thành học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen. Cũng cần phải nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới CNCS qua một giai đoạn quá độ là CNXH.


V.I.Lênin là người tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi CNTB đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. V.I.Lênin có nhiều đóng góp vào phát triển các tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen. Đặc biệt, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản riêng biệt; xây dựng học thuyết về một chính đảng mác xít kiểu mới; tổ chức cuộc cách mạng XHCN thắng lợi và vận dụng học thuyết của Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga và Liên bang Xô viết.


Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh thắng những đế quốc to, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khoa họcvề những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng XHCN và con đường xây dựng, phát triển đi tới CNCS. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phê phán CNTB, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán CNTB đương thời, từ phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và từ cả thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột của CNTB, C.Mác, Ph.Ăngghen dự báo về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế CNTB.


Cần nói rằng, những gì CNTB hiện đại đang thể hiện vẫn không đi ra ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, càng minh chứng cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, một mặt tăng thêm tiềm lực cho CNTB. Mặt khác, nó càng thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa của lực lượng sản xuất, dẫn đến những thay đổi chóng mặt về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối của cải xã hội. Quá trình toàn cầu hóa xuất phát trước tiên từ nền kinh tế TBCN, nói cho cùng cũng như cái “áo” trong khung khổ từng quốc gia đã quá chật hẹp, buộc phải nới ra trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức bóc lột của CNTB theo đó cũng mở rộng mạnh mẽ ra ngoài chính quốc. Sự bóc lột ấy, về bản chất, chẳng khác gì hành vi xâm lược thuộc địa của các đế quốc - TBCN trước đây, chỉ có điều nó được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những lề luật văn minh, sạch sẽ hơn.


Càng giàu mạnh, các thế lực tư bản càng hung hăng, tìm mọi cách để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên, của cải của thế giới, quy phục các quốc gia nghèo khó, yếu thế nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Cuộc chiến tranh Irắc đã đẩy một quốc gia hòa bình vào cuộc chiến đẫm máu, huynh đệ tương tàn suốt hơn một thập niên, đến nay vẫn chưa thấy lối ra. Lý do để phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền, độc lập cách xa nước Mỹ hàng vạn cây số là tàng trữ “vũ khí giết người hàng loạt”, nhưng từ sau chiến dịch Bão táp sa mạcđến giờ người ta đã đào bới, xới lộn cả nước Irắc mà không tìm thấy cái gì là “vũ khí giết người hàng loạt”. Nhưng thực tế thì chính nước Mỹ đang tàng trữ lượng vũ khí hạt nhân đủ phá hủy nhiều lần cuộc sống của nhân loại trên toàn cầu. Đất nước Libia hòa bình cũng trở thành hỗn loạn sau khi Mỹ và các đồng minh phương Tây can thiệp lật đổ chính quyền dân cử Mohamet Cadaphi. Cho dù Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh đã xin lỗi nhưng điều ấy có nghĩa gì khi đất nước Irắc và Libia đã tan hoang, hàng vạn người dân lành đã chết, hàng triệu người dân đang sống trong những điều kiện tồi tệ nhất(1). Ngay với nước Mỹ, hàng chục nghìn thanh niên đã bỏ xác ở Irắc, ở Trung Đông một cách vô nghĩa. Chắc chắn trong số những thanh niên Mỹ đã chết vô ích ấy không và không thể có con cái các nhà tư bản, các ông chủ ngân hàng. Vậy, lý do cuộc chiến Irắc là gì nếu không phải là dầu mỏ và lợi ích của những ông chủ, các nhà tư bản Mỹ? Một loạt cuộc cách mạng màu do bàn tay Mỹ và các nước phương Tây phát động ở Libia, Siry, Ai Cập... đều có chung một hình thái bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở Irắc.


Mặt khác, nếu nhìn nhận từ góc độ nhân vănthì CNXH là ước vọng ngàn đời của tất cả những người dân lao động, của những con người có lương tâm cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển CNXH từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, CNXH là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn.


Với tính chất là một học thuyết khoa học, những người khai sinh ra chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ muốn và chưa có bất cứ một mệnh đề phán đoán nào để quy các luận điểm trong học thuyết của mình về cách mạng xã hội hay về xã hội XHCN tương lai thành những tín điều siêu hình, cứng nhắc. Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã trả lời hàng loạt vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa xã hội khoa học như: thế nào là giai cấp công nhân và đảng cộng sản; quan hệ giữa giai cấp công nhân với đảng cộng sản; hiểu thế nào là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mối quan hệ ra sao giữa giai cấp công nhân, dân tộc và quốc tế; các giải pháp cần thiết để tiến hành cách mạng XHCN,... Chính Ph.Ăngghen là người rất khách quan, khoa học khi luận giải rất tường minh CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, đồng thời yêu cầu những người cộng sản rằng, “...chủ nghĩa xã hội trở thành khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”.


Trong rất nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn để thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận, nhất là lý luận về con đường hiện thực hóa CNXH, CNCS. Trong Lời đề tựa cho lần xuất bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vào năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng: “...chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”(2). Quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển cũng luôn luôn được V.I.Lênin quán triệt vận dụng trong nhiều nhận thức thực tiễn giải quyết mối quan hệ gắn bó giữa lý luận với thực tiễn. Chính sách Kinh tế mới chính là một dẫn chứng thực tế sáng rõ về quan điểm đó. Chính V.I.Lênin đã có một định nghĩa đầy tính thực tiễn về CNXH mà lâu nay đôi khi những người hậu thế đã bỏ quên hoặc bảo thủ với những định kiến mà không nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc. Người nói: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài: Chính quyền xô-viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. etc. + + = ∑= chủ nghĩa xã hội”(3). Nhận định của V.I.Lênin từ gần 100 năm trước vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận đối với chúng ta hiện nay, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa.


Vậy thì tại sao có thể nói rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời. Xin thưa rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hoặc giả, họ đã cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để bảo vệ cho CNTB và quyền lợi của một nhóm người tư bản hoặc được hưởng lợi không chính đáng từ guồng máy của CNTB. Nếu có lỗi thời chăng, thì chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH mà thôi. Tuyệt nhiên không thể là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin!


Về lý do thứ hai, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu phải chăng như một bằng chứng hiển nhiên của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng CNXH? Phải chăng có một lôgic thực tế là CNXH hiện thực sụp đổ do lý thuyết về CNXH sai lầm?


Trước hết, cần phải nói rằng mô hình CNXH hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh to lớn mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng CNXH, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước XHCN do Liên Xô dẫn đầu. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thế lực tư bản, đế quốc phải, một mặt thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của CNTB thực dân, đế quốc. Một mặt, tạo thành sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. CNXH đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kitsingiơ, Brêginxki thời kỳ những năm 60, 70 thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ.


Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn như những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm do những người cộng sản ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN, đã do cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” để xây dựng, phát triển chế độ XHCN.


Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể không hơn, không kém. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.


Từ tất cả thực tế ấy, không thể nói rằng mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ trước có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về CNXH là sai lầm và lỗi thời! Ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng CNTB đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính CNTB đang đứng trước những thánh thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của CNTB đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự khục khặc từ chính trong lòng của nó khi CNTB ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước XHCN. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực TBCN. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, đe dọa không chỉ an ninh mà tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ TBCN. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016  làm 12 người chết, gần năm chục người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của châu Âu. Nó còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của CNTB trong cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông.


Về lý do thứ ba, sự hơn hẳn về điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước đi theo con đường XHCN hiện nay, phải chăng đã minh chứng cho tính ưu việt của CNTB? Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế là các nước TBCN phát triển đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng đó mới chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gì.


Trước hết, cần phải nhìn cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có. CNTB đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của CNTB, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(4), đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của Terry Eagleton - một học giả người Anh. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha... sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu. Trong cuốn sách Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời Victoria(Late Victorian Holocausts), học giả người Anh đã viết rằng, hàng chục triệu người Ấn Độ, châu Phi, Trung Quốc, Braxin, Triều Tiên, Nga và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán và dịch bệnh vào cuối thế kỷ XIX dưới chế độ thực dân xâm lược. Và ngay ở chính các nước tư bản giàu có hiện nay, có ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp. Hàng chục triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm y tế chỉ có cách chờ tử thần khi mắc bệnh. Ở bang Caliphoócnia, quá nửa nam giới người da đen có ít nhất một lần trong đời phải đi tù...


Làm sao, là người Việt Nam mà ai đó có thể quên được nỗi thống khổ của nhân dân ta trong đêm trường nô lệ hơn 80 năm dưới ách đô hộ của CNTB thực dân Pháp? Bao nhiêu người dân Việt Nam đã chết trong các xưởng máy, hầm lò, trên các cung đường, các bến tàu. Những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Yên Bái, Xô viết Nghệ - Tĩnh... bị dìm trong bể máu. Hơn hai triệu người chết đói năm 1945. Thực dân Pháp bóc lột người dân thuộc địa Việt Nam đến tận xương tủy, vơ vét hết vàng, than, sắt, đồng... mang về làm giàu cho chính quốc. Gần 20 năm, đế quốc Mỹ thay chân đế quốc Pháp thiết lập ách thống trị, dày xéo đất nước ta. Những nhà tù địa ngục trần gian ở Côn Đảo, Phú Quốc..., những vụ tàn sát ở Thái Bình (Bình Định) năm 1966, Bình Hòa (Quảng Ngãi) năm 1966, Mỹ Lai (Quảng Ngãi) năm 1968..., vụ B52 ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phải chăng đó không phải là tội ác thấu trời của chế độ tư bản Mỹ? Ngỡ tưởng, không phải nhìn đâu xa, chính những trang lịch sử khắc nghiệt và đau thương ấy đã đủ để cho các thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa tư bản! Vậy mà lạ lùng thay, vẫn có người bước ra khỏi biên giới đã hết lời khen hay, khen đẹp cho các nước tư bản, cho các thành phố hào hoa Tây Âu. Họ có biết đâu hoặc cố tình không biết rằng, những thành phố đó đã trải qua mấy trăm năm xây dựng bằng sức lao động và của cải của bao thế hệ người lao động và cả của cải bóc lột từ các thuộc địa mang về.


Việc xây dựng chế độ XHCN là công việc rất khó, mang tính khoa học, có tính quy luật, đòi hỏi thời gian, nguồn lực, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và các điều kiện không thể thiếu khác. Theo như C.Mác, CNXH chỉ có thể thành công ở một loạt nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Nó như là tất yếu thay đổi quan hệ sản xuất xã hội khi lực lượng sản xuất dưới chế độ TBCN đã phát triển, xã hội hóa cao độ, không thể tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ quan hệ sản xuất TBCN. Đối với Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, tất cả đều có điểm xuất phát là các nước tư bản có trình độ phát triển thấp hoặc trung bình. Thời gian xây dựng chế độ XHCN hầu như còn rất ngắn. Liên bang Xô Viết (Liên Xô) được thành lập và bắt tay xây dựng CNXH năm 1921, khi vừa ra khỏi cuộc nội chiến. Mới chỉ có chưa đầy 20 năm hòa bình xây dựng, Liên Xô đã phải trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với sự tàn phá vô cùng nặng về sức người và sức của. Hơn 20 triệu người chết, hàng loạt thành phố, làng mạc từ biên giới với Ban Lan cho đến phía Tây Mátxcơva bị san phẳng. Từ sau năm 1945, Liên Xô chỉ có hơn 30 năm xây dựng trong hòa bình, đồng thời phải đối mặt với cuộc chạy đua vũ trang do Mỹ và phe đế quốc khởi xướng. Tương tự như vậy, các nước XHCN ở Đông Âu cũng chỉ có xấp xỉ 30 năm xây dựng. Nhưng những thành tựu mà các nước này đạt được là vô cùng to lớn, thậm chí có lĩnh vực vượt qua cả Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Ngoài việc thiết lập cuộc sống công bằng, cải thiện nhanh chóng về nhà ở, giáo dục, văn hóa cho nhân dân, Liên Xô còn đi đầu thế giới về khoa học công nghệ vũ trụ. Vào thời hoàng kim, CHDC Đức là quốc gia bảo đảm điều kiện sống cho trẻ em tốt nhất thế giới. Một yếu tố không thể không nhắc tới, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã trở thành đối thủ chính trị không đội chung trời của CNTB ở các nước phương Tây. Người dân các nước phương Tây và các dân tộc thuộc địa nhìn vào các nước XHCN như tấm gương, niềm hy vọng cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, đòi dân chủ, dân sinh. Các thế lực TBCN nhìn vào đó như mục tiêu phá hoại phải loại bỏ bằng được. Cho đến hôm nay, khi Chiến tranh lạnhđã lùi xa hơn 25 năm, nhưng hầu như cách ứng xử trước đây vẫn còn nguyên trong những trừng phạt kinh tế mà các nước tư bản phương Tây nhằm vào nước Nga.


Đối với Việt Nam, chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước thống nhất theo con đường XHCN sau cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Ngay sau đó, chúng ta lại phải đối mặt với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Trên thực tế, đất nước chỉ ra khỏi cuộc chiến từ năm 1989. Chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước từ con số không khi tất cả những gì có được sau mấy năm hòa bình xây dựng ngắn ngủi đã bị tàn phá hoàn toàn. Hơn thế nữa, hậu quả chiến tranh vô cùng nặng nề. Hàng vạn thương, bệnh binh, người già, trẻ em không nơi nương tựa. Đồng ruộng đầy bom, đạn, mìn còn lại. Những gì chúng ta có được hôm nay sau 30 năm xây dựng là đáng trân trọng, đáng tự hào, mặc dù chưa phải đã được như mong đợi. Đương nhiên là không thể so sánh với các nước tư bản đã có mấy trăm năm phát triển mà không cần quan tâm đến sự thống khổ, hy sinh của lớp lớp người lao động thuộc địa và ở chính quốc. Tuy nhiên, công việc xây dựng một xã hội mới chưa từng có tiền lệ, không bao giờ là dễ dàng, có tính quy luật của nó, không thể xong trong thời gian ngày một, ngày hai, không thể đốt cháy giai đoạn.


Như vậy, rõ ràng là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để so sánh, đánh giá tính ưu việt của chế độ TBCN so với chế độ XHCN. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng, lịch sử mới thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, mới thấy hết được những thành công và đóng góp to lớn của CNXH cho sự phát triển của nhân loại và tiến bộ xã hội.


Về lý do thứ tư, phải chăng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin?


Trước hết, chúng ta không hề giấu giếm những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi... Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”(5). Đảng cũng nghiêm khắc thừa nhận rõ rằng, tình trạng trên có những nguyên nhân khách quan nhưng “trực tiếp và quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan”. Đó là những hạn chế trong đánh giá, dự báo tình hình, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền, v.v..


Việc có những sai lầm, khuyết điểm, khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng đất nước là khó tránh khỏi. Xây dựng CNXH là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Cái khó khăn lớn nhất của chúng ta có lẽ trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở lối nghĩ, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe XHCN như trước đây. Nhiều thế lực đang dòm ngó, chống phá. Trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mớiđạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5% năm trong suốt 30 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80USD đã tăng lên mức trên 2.100USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.


Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mới mạnh mẽ về chính sách kinh tế - xã hội. Từ một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn dựa trên sở hữu công cộng, chúng ta đã chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu, rồi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ một Nhà nước xây dựng theo mô hình nền chuyên chính vô sản, chúng ta đã chuyển sang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước khối XHCN là chủ yếu, chúng ta đã mở cửa hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tổng số 193 thành viên Liên Hợp quốc, trong đó có 2 đối tác toàn diện đặc biệt, 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, hai đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực.


Từ thực tế ấy, không thể có lý gì để nói rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về CNXH và xây dựng CNXH, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước.


Tóm lại, sự sai lầm của những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ngay trong chính những cơ sở, lý do để họ phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin. Ở đây, hoặc là có sự hiểu nhầm về tính chất của học thuyết - chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc là biết nhưng vẫn cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin với định kiến và mục đích chính trị là thay đổi nền tảng tư tưởng, đường lối, mục tiêu xây dựng CNXH bằng một lý thuyết khác, bằng một mô hình xã hội khác. Mục đích ấy đơn thuần để phục vụ cho lợi ích của một nhóm người nào đó, hoàn toàn không phải vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân, không phải vì lợi ích chung của dân tộc.


Việc nghiên cứu, chỉ ra những sai lầm, xuyên tạc đối với chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đơn thuần là để bảo vệ sự trong sáng, tính khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó còn là sự cảnh báo, là lý do để những người cộng sản cảnh giác với nhận thức của mình về chủ nghĩa Mác - Lênin, để tìm hiểu rõ hơn, quán triệt sâu sắc, thường xuyên hơn quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc đề ra đường lối, hoạch định chính sách xây dựng, phát triển đất nước./.

ST


LÒNG THAM TIỀN BẠC VÀ NHỮNG HỒI CHUÔNG CẢNH TỈNH

 

Thời gian qua, lòng tham tiền bạc đã khiến không ít cán bộ, đảng viên trực tiếp tham gia hoặc tiếp tay cho những hành vi xà xẻo đất công, cắt xén kinh phí thực hiện các dự án. Thực tế, nhiều đối tượng đã bị xử lý kỷ luật, truy tố trước pháp luật là hồi chuông cảnh tỉnh với một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất.


1. Đảng ta đã chỉ đích danh những lĩnh vực, công việc có nguy cơ tham nhũng, tiêu cực cao là: Đất đai, xây dựng cơ bản, ngân hàng, tài chính, kiểm tra, kiểm toán, thuế, hải quan... Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” nhận định: “...tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”. 


Nhận định này hoàn toàn là chính xác khi nhìn vào các con số thống kê từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XII tới nay: Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức Đảng và 35.000 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị kỷ luật do cố ý làm trái, tham nhũng. Đáng suy nghĩ, trong số này có hơn 70 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự; mà không ít trong số đó do “mờ mắt” bởi tiền bạc dẫn đến vi phạm.


Mới nhất là ngày 22-10 vừa qua, cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng đã quyết định khởi tố bị can đối với Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Khoản 3, Điều 360 Bộ luật Hình sự. Đây là việc mở rộng điều tra vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc), Bùi Văn Nga và đồng phạm về tội "Vi phạm các quy định về quản lý đất đai" và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", liên quan đến chuyển nhượng nhiều lô đất quốc phòng thời ông Nguyễn Văn Hiến giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân (giai đoạn 2004-2015)…


Trước đó, các ông Trần Văn Minh, Văn Hữu Chiến (nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng) và một số quan chức cấp sở, ngành của địa phương này cũng bị khởi tố do liên quan đến nhiều vụ bán “đất vàng” cho Phan Văn Anh Vũ. Tại thành phố Hồ Chí Minh, hai nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố là Nguyễn Hữu Tín, Nguyễn Thành Tài và nhiều quan chức, cựu quan chức cấp sở, ngành cũng vướng vòng lao lý về hành vi “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí” quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015.


Không chỉ có tình trạng “ăn đất”, ở các địa phương, tình trạng “rút ruột” công trình cũng là nỗi nhức nhối trong dư luận xã hội nhiều năm qua. Cụ thể là nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng sau ngày khánh thành không lâu đã xuống cấp nghiêm trọng, hư hỏng do bị “rút ruột” và nghi ngờ bị “rút ruột”. Việc 3 thành viên Đoàn thanh tra của Bộ Xây dựng bị bắt, khởi tố về tội “Nhận hối lộ” khi đang trong quá trình thanh tra công vụ liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng ở tỉnh Vĩnh Phúc phần nào hé lộ “tảng băng chìm” trong lĩnh vực này. Chính những cán bộ, đảng viên nói trên đã bị “lóa mắt” bởi đồng tiền, từ đó sa sút về tư tưởng chính trị, đạo đức và tha hóa về lối sống. Họ đã làm giảm sút lòng tin, uy tín của Ðảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Họ là những "con sâu làm rầu nồi canh".


2. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng, sinh ra các căn bệnh rất nguy hiểm, trong đó có bệnh tham lam. Thực tế cho thấy, việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai thời gian qua chính là lỗ hổng lớn nhất trong quy trình quản lý ở các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Chi phí tiền thuê đất hằng năm hiện chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nên tình trạng giữ đất, để đất lãng phí ở các tổng công ty, tập đoàn kinh tế còn phổ biến. Ngoài ra, khi Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa thì tình trạng định giá tài sản cố định, đặc biệt là đất đai ở mức thấp diễn ra không ít. Sau đó, chỉ bằng một số thủ thuật chuyển quyền sử dụng lòng vòng, những khu “đất vàng” bỗng dưng trở thành tài sản cá nhân, trong khi khoản thu về ngân sách rất èo uột. Điều đó cho thấy, lỗ hổng cần được khỏa lấp bằng hành lang pháp lý đủ mạnh, có sự giám sát từ xã hội.


Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, việc chỉ định thầu; “quân xanh, quân đỏ” trong đấu thầu; triển khai rầm rộ các dự án theo hình thức “xây dựng - chuyển giao” qua hình thức đổi đất lấy hạ tầng trong khi hành lang pháp lý chưa đầy đủ đã dẫn đến nhiều “cái bắt tay dưới gầm bàn”. Đây là nguồn cơn để tệ nạn vòi vĩnh, chủ nghĩa cơ hội, tham nhũng trỗi dậy. Do đó, để ngăn ngừa lòng tham và cũng là bảo vệ cán bộ, đảng viên trước những ma lực của đồng tiền, việc đầu tiên cần làm là phải có hệ thống pháp lý về quản lý sử dụng tài sản công hiệu quả. Cụ thể là cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Xác lập được chủ quản lý hoặc chủ sử dụng đối với từng tài sản, nghĩa là phải có người chịu trách nhiệm chính với mỗi tài sản; có nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tham mưu cho lãnh đạo, cơ quan quản lý; phát triển hệ thống quản lý dựa trên công nghệ thông tin hiện đại kết hợp với việc thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Cuối cùng là cần xử lý nghiêm, công khai những trường hợp tham nhũng.


Trước thềm đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, vấn đề dư luận đặc biệt quan tâm là lựa chọn những cán bộ có tâm trong sáng, đủ đức, đủ tài vào các vị trí lãnh đạo. Để làm được điều đó, cấp ủy các cấp cần nghiêm chỉnh thực hiện Quy định số 205-QĐ/TƯ ngày 23-9-2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Theo đó, kiên quyết không đưa vào bộ máy những cán bộ, đảng viên có tham vọng quyền lực, dính dáng đến tiêu cực, tham nhũng. Nói như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng chống tham nhũng, được tổ chức ngày 26-7-2019 thì “Đại hội Đảng là dịp để lựa chọn, sàng lọc, củng cố đội ngũ cán bộ. Không sợ thiếu cán bộ, bởi không thiếu cán bộ tâm huyết với Đảng, trách nhiệm với dân, với đất nước. Không sợ mất uy tín; chỉ không làm, không xử lý cán bộ vi phạm mới tự đánh mất uy tín của mình”... Tiễu trừ tham vọng quyền lực trong cán bộ, đảng viên là công việc quan trọng hàng đầu đối với một đảng cách mạng - cầm quyền như Đảng ta. 


Việc phòng ngừa, ngăn chặn cho được những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, có lòng tham tiền bạc, dẫn đến xà xẻo dự án, vòi vĩnh… thu lợi bất chính góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày một hiệu quả, xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn./.

ST


KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ DÂN CHỦ VÀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM

 

Trong thời gian qua, trước những khó khăn về kinh tế-xã hội chưa được giải quyết và những diễn biến phức tạp trong khu vực… lợi dụng tình hình này, những kẻ cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xuyên tạc tình hình, hòng bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội Việt Nam…


Họ viết và tán phát trên mạng rằng: "Đàn áp về nhân quyền ở Việt Nam ngày càng gia tăng"; "các quyền của người dân, trong đó có dân chủ, quyền lập hội, biểu tình… không được thực hiện, trái lại ngày càng bị bóp nghẹt...". Vậy dân chủ và quyền con người là gì? Những quyền này đã và đang được bảo đảm ở Việt Nam như thế nào?


Theo quan niệm chung, dân chủ là chế độ chính trị trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình bầu ra... Đó là các cơ quan quyền lực và chính quyền các cấp.


Về hình thức, hoặc mô hình dân chủ gồm có các dạng-dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp. Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của chế độ dân chủ là thiết lập và duy trì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số”, đồng thời thừa nhận quyền tự do về chính trị và quyền bình đẳng về giới tính, về dân tộc, về vị thế chính trị-xã hội của mọi công dân. Trong đó gồm cả quyền được bảo lưu của cá nhân.


Có thể nói, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản mở đầu từ thế kỷ 16, với các cuộc cách mạng điển hình như: Hà Lan năm 1581 (mở đầu); Anh năm 1689; Mỹ năm 1766; Pháp năm 1789 đã mở ra một nền dân chủ tư sản, trong đó bao gồm đầy đủ các nhân tố của dân chủ. Cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chế độ dân chủ mới. Đó là dân chủ XHCN, nền dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo hướng đến lợi ích và sự bình đẳng cho mọi người. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, do tác động của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc ra đời, trong đó có Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam. Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội XHCN. Có thể xem các nền dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ XHCN, dân chủ nhân dân là 3 chế độ-3mô hình dân chủ trên thế giới. Mỗi một chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng tựu trung đều có những yếu tố sau: 1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả các thành viên xã hội); 2) Bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo nhà nước; 3) Quyền lực của nhà nước được chia ra làm 3 nhánh: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có một chức năng riêng; 4) Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; 5) Các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.


Thực tế cho thấy, chế độ dân chủ trên thế giới có nhiều mô hình. Chế độ dân chủ ở Hoa Kỳ có đặc trưng là luôn có hai đảng chính trị thay nhau lãnh đạo cầm quyền; công dân, trong các cuộc bầu cử bị chia thành hai loại “đại cử tri” và cử tri thường. Đặc trưng nền dân chủ của Việt Nam là tất cả mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; chế độ dân chủ của Việt Nam dựa trên hệ thống chính trị các cấp-đó là chế độ sinh hoạt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; là tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể xã hội luôn luôn được tôn trọng. Ở đây tiếng nói, nguyện vọng của người dân được bảo đảm thông qua các đại diện của mình.


Một trong những đặc trưng của nền dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". (Điều 4, Hiến pháp 2013).


Ngay từ khi cách mạng thành công (tháng 8-1945) cho đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến dân chủ ở cấp cơ sở. Còn nhớ, sau sự kiện nông dân ở tỉnh Thái Bình tụ tập đông người đi khiếu kiện gây ách tắc giao thông (năm 1997); một số nơi, nông dân còn tấn công, đập phá trụ sở cơ quan công quyền. Sau khi khảo sát, nghiên cứu, khi ấy, Tổng Bí thư Đỗ Mười cho rằng: Tình trạng gây mất trật tự nói trên bắt nguồn từ sự vi phạm quyền dân chủ của người dân. Theo đó. Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ đạo ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: Bảo đảm để mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước…; có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ... của chính quyền, cơ quan, đơn vị;  có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn; cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở trực tiếp và thông qua, gồm: Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan,…


Sau Chỉ thị 30, Chính phủ đã luật hóa bằng nghị định của Chính phủ. Dựa trên chỉ thị và nghị định về dân chủ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng trăm văn bản nhằm bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở, bao gồm cả quyền dân chủ của cán bộ, công chức, của cán bộ, nhân viên ở các doanh nghiệp… Cho đến nay, chế độ dân chủ ở Việt Nam đã và đang được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, từ cơ sở xã phường, cơ quan, cho đến Quốc hội. Tất cả những vấn đề từ đời sống thường nhật cho đến vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ đều được người dân quan tâm và có quyền tham gia. Chẳng hạn, hiện nay vấn đề nguồn nước sạch, thực phẩm an toàn, bảo vệ quyền trẻ em... từng là những chủ đề “nóng” trên diễn đàn Quốc hội. Gần đây, vấn đề Biển Đông là chủ đề được Quốc hội Việt Nam đặc biệt quan tâm.


Ngày nay, nói đến chế độ dân chủ và quyền con người (QCN) thì không thể không nói đến quyền sử dụng internet và mạng xã hội. Việt Nam chính thức nối mạng internet từ năm 1997. Từ năm 2010, đường truyền internet ở Việt Nam được chuyển từ dây cáp đồng sang cáp quang. Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có 64 triệu người dùng internet, chiếm 67% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.


Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay, Việt Nam đã có 858 cơ quan báo chí in; 105 cơ quan báo điện tử; 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh, truyền hình. Hiện nay, không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam có đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn báo chí lớn. Hiện ở Việt Nam có tới 75 kênh truyền hình nước ngoài “online”, trong đó có các kênh nổi tiếng, như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg... Hiện có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận thông tin từ các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times,...


Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu đều có chương trình tiếp xúc cử tri. Những cuộc tiếp xúc cử tri được các đài phát thanh, truyền hình đăng tải rộng rãi. Nội dung các cuộc tiếp xúc cử tri ngày nay không chỉ là những vấn đề sinh kế, điều kiện sinh hoạt của người dân, tham gia vào các dự thảo luật, mà cử tri còn đặc biệt quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nước, các chủ trương trong chính sách đối ngoại... 


QCN là các nhu cầu về vật chất và tinh thần-từ nhu cầu về dân sự, chính trị, đến kinh tế-xã hội và văn hóa được luật hóa và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ. Xét về lịch sử, QCN chỉ đến với dân tộc Việt Nam khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Các Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 đã quy định về QCN. Nội dung những quy định này hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về QCN. Hiến pháp 2013 đã dành cả một chương để quy định về QCN. Trong đó, Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; QCN, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.


Kiểm soát quyền lực của nhân dân không chỉ là nguyên tắc của chế độ ở Việt Nam mà còn là động lực của sự phát triển. Trong xã hội ở Việt Nam ngày nay, nguyên thủ cũng có trách nhiệm trả lời những vấn đề người dân quan tâm. Trong buổi tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình, Hà Nội sáng 15-10, trả lời ý kiến của cử tri quan tâm về vấn đề chủ quyền biển đảo ở Biển Đông, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: "Chúng ta phải giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, nhưng không nhân nhượng vấn đề lãnh thổ, độc lập, chủ quyền”.


Những ý kiến xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về dân chủ và QCN có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nhận thức không đầy đủ về dân chủ và QCN… Ở nhiều quốc gia phương Tây, dân chủ thường gắn với các hoạt động chống chính phủ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)… Đó là các cuộc tụ tập đông người, phá hủy các công trình công cộng, xúc phạm cá nhân, quan chức từ cấp thấp cho đến tổng thống. Quyền tự do báo chí cũng có nội dung tương tự… Trách nhiệm của người đưa tin, của cơ quan quản lý báo chí thường rất nhẹ. Vì vậy dùng tiêu chí dân chủ, nhân quyền của phương Tây để xem xét, đánh giá chế độ dân chủ và QCN của Việt Nam là một sai lầm về chính trị và thiếu sót về phương pháp luận.


Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý xã hội, Việt Nam còn có những khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Ở địa phương này, địa phương khác vẫn còn có hiện tượng lợi ích của người dân chưa được tôn trọng, bảo đảm, nhất là trong vấn đề đất đai. Đây là vấn đề lớn mà các cấp ủy và chính quyền cần đặc biệt quan tâm.


Tuy nhiên, cần nhận thức đúng, về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ và QCN vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ… vì vậy mỗi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ và QCN theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật./.

ST


A DUA - CĂN BỆNH CẦN CHỮA TRỊ, KHÔNG ĐỂ BỊ LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ

 

Ngạn ngữ có câu: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” để nhắc nhau phải thận trọng trong phát ngôn. Nhưng trong thời đại bùng nổ thông tin, nhất là trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tình trạng phát ngôn bừa bãi diễn ra khá phức tạp


Không chỉ đơn giản là nói cho sướng miệng, đáng ngại nhất là tình trạng phát ngôn bừa bãi, tung tin thất thiệt, bóp méo sự thật, vu khống, đặt điều nhằm ý đồ xấu, hoặc xuất phát bởi động cơ cá nhân, sự ích kỷ trong lối sống... Tình trạng trên càng trở nên nguy hiểm khi không ít người mắc bệnh a dua, hùa theo những phát ngôn bừa bãi ấy. Căn bệnh này sẽ càng trở nên nguy hiểm khi các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động, mua chuộc, lôi kéo tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.


A DUA - CĂN BỆNH TRẦM KHA TRONG CỘNG ĐỒNG


Theo Đại từ điển tiếng Việt, thói a dua được hiểu là hùa theo, bắt chước... (tất nhiên chỉ hùa theo cái xấu, cái tiêu cực, sai trái thì mới được gọi là a dua). Ở đây chúng ta cần phân định cho rõ việc ủng hộ, giúp đỡ cái mới, cái tốt, cái tích cực với a dua hùa theo những cái xấu, cái tiêu cực. Bệnh a dua đã có từ rất lâu. Trong xã hội hiện đại, trước sự nhiễu loạn của truyền thông, nhất là mạng xã hội (MXH) thì căn bệnh a dua ngày càng trở nên trầm trọng. Rõ nhất là tình trạng trong khi đại đa số người dân luôn tích cực lao động, học tập, tìm tòi, sáng tạo để vượt khó vươn lên trong cuộc sống thì có một bộ phận không chịu động não mà a dua, học đòi, chạy theo những lối suy nghĩ, mốt làm ăn, phong cách sống mà họ cho đó là “thời thượng”. Đặc biệt trong giới trẻ hiện nay, thói a dua là thói bắt chước, đua đòi theo những giọng điệu, những trào lưu, những phong cách sống lai căng, quái dị, ngày càng rõ nét.


Người mắc bệnh a dua là những người không nói ra, không viết ra từ nhận thức, quan điểm, chính kiến của cá nhân mình mà theo đuôi, phụ họa theo cách nhìn nhận, quan điểm của người khác. Mặc dù quan điểm, nhận thức của mỗi người có đúng, có sai, nhưng nhiều người a dua mà không cần suy xét đến tính đúng sai, đạo lý và pháp lý mà nhìn nhận mọi chuyện cho ngọn ngành, thấu đáo và nhân văn. Những người như thế chẳng khác nào họ đang nhắm mắt chạy theo, hùa theo kẻ xấu một cách mù quáng. Cụ thể là hùa theo, phụ họa theo những suy nghĩ, phát ngôn, hành động của đám đông. Bởi thế, người mắc bệnh a dua sẽ đánh mất mình một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất. Hay nói cách khác, khi đã mắc bệnh a dua, con người tức khắc đánh mất lòng tự trọng, ý thức tự tôn của mình. Thực chất a dua xét cho cùng là bệnh của kẻ yếu hèn, của kẻ xu nịnh "gió chiều nào che chiều ấy". Dễ nhận thấy bệnh a dua chỉ xuất hiện ở những kẻ yếu cả về phẩm chất và trình độ, năng lực. Chính sự hèn yếu đã đẩy kẻ mắc bệnh a dua đến chỗ thiếu tự tin, thiếu bản lĩnh và lệ thuộc vào người khác, bị người khác thao túng, nhưng không tự biết mà cứ lao vào tung hô xem những người đó nói gì cũng là lẽ phải. Cứ như thế, từng bước kẻ mắc bệnh a dua sẽ mất khả năng nhìn nhận, suy xét các vấn đề, nhất nhất "ăn theo nói leo" , bất luận lời nói, hành động của họ đúng-sai.


Trong cuộc sống, bệnh a dua xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi ngõ ngách từ cách ăn mặc, đi đứng, phát ngôn. Những người mắc bệnh a dua không phân biệt được đúng-sai, hay-dở, cứ thấy người ta sao thì mình theo vậy. Chính sự theo đuôi mù quáng của những kẻ mắc bệnh a dua đã làm cho cái xấu, cái sai nhỏ bị loang rộng, đẩy lên và hậu quả thật khôn lường. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi thói a dua được lợi dụng một cách tinh vi, rất có thể sẽ trở thành phương pháp tập hợp, lôi kéo lực lượng rất nguy hiểm.


LỢI DỤNG CĂN BỆNH A DUA ĐỂ CHỐNG PHÁ


Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra, đó là căn bệnh a dua với biểu hiện cụ thể là: “Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”. Đúng như nhận định của Ban Chấp hành Trung ương, những năm qua, trên MXH xuất hiện nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, thổi phồng mà không ít đảng viên và một bộ phận nhân dân đã đọc, đã nghe nhưng không phân biệt được đúng-sai, hay-dở mà nhiều người đã có biểu hiện dao động, mất lòng tin, dẫn tới hùa theo và xa hơn là “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa", suy thoái về tư tưởng chính trị.


Nhận thấy rõ khả năng có thể lợi dụng thói a dua để khai thác, tổng hợp thông tin từ đó xuyên tạc, bóp méo, thổi phồng nhằm đánh lừa dư luận; kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng, nên những phần tử phản động, thù địch triệt để lợi dụng căn bệnh này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Những thông tin chưa được kiểm chứng, những thông tin sai trái từ phát biểu bừa bãi của một số nhân vật và những người a dua, hùa theo trên MXH được các thế lực thù địch tổng hợp, nhào nặn nhằm tạo ra thông tin mà nghe qua người ta dễ lầm tưởng là có cơ sở khách quan, sau đó họ từng bước cài vào những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thổi phồng, bóp méo nhằm đánh lừa dư luận, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Họ triệt để khai thác thế mạnh của internet và MXH để lan truyền những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật thu lượm từ những người phát ngôn bừa bãi, từ những kẻ a dua, “ăn theo nói leo” làm cho đúng sai, thật giả lẫn lộn, khiến dư luận hoang mang. Những người hay phát biểu bừa bãi, những kẻ hay a dua hùa theo những phát ngôn bừa bãi trở thành đối tượng để các thế lực thù địch dụ dỗ, mua chuộc, kích động, lôi kéo và khống chế, nhằm phục vụ mưu đồ thâm độc của chúng.


Âm mưu lợi dụng những người phát ngôn bừa bãi, những kẻ a dua “ăn theo nói leo” để chống phá cách mạng Việt Nam của các phần tử phản động, thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp. Chúng tranh thủ hà hơi tiếp sức, kích động và sử dụng những đối tượng có tư tưởng xét lại chống Đảng, những phần tử cơ hội chính trị ngay trong nội bộ ta để chống phá. Trong đó, chúng tập trung vào lôi kéo, tập hợp số cán bộ đã nghỉ hưu vào các câu lạc bộ, diễn đàn, hội đoàn. Đặc biệt, chúng tranh thủ lôi kéo, kích động một bộ phận cán bộ, đảng viên mất phương hướng, cơ hội chính trị, yếu kém bản lĩnh để móc nối câu kết giữa bọn phản động ở nước ngoài với những phần tử bất mãn trong nước. Chẳng hạn trong vụ gây rối ở Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung, từ những phát ngôn sai trái của linh mục Nguyễn Đình Thục, tổ chức phản động Việt Tân, mà điển hình là tên phản động Hoàng Đức Bình (một đối tượng nguy hiểm mang nặng dã tâm cùng mưu đồ chống phá, gây bạo loạn hòng lật đồ Nhà nước Việt Nam) đã kích động căn bệnh a dua trong giáo dân để hô hào, hùa theo, xuyên tạc, bóp méo về diễn biến vụ việc, kích động giáo dân gây sức ép với chính quyền và cơ quan chức năng địa phương. Tất nhiên Hoàng Đức Bình đã bị bắt và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành động của mình. Nhưng qua vụ việc này, phần nào cho thấy tính chất nguy hiểm của căn bệnh a dua, đặc biệt là khi căn bệnh này bị những phần tử phản động, thù địch lợi dụng.


TRỊ BỆNH ĐỂ NGĂN CHẶN LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ


Không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng căn bệnh a dua để chống phá, trước hết chúng ta cần tìm cách chữa trị căn bệnh này. Công việc cần thiết trước nhất cần nói đến đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, giúp mọi người tham gia vào không gian mạng nhận diện đúng bản chất và tính phức tạp, nhiễu loạn của các thông tin trên MXH. Mặt khác, cần tuyên truyền để mọi người dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng căn bệnh a dua để truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua tuyên truyền, giáo dục nâng cao sức đề kháng và khả năng “miễn dịch” cho mỗi người vẫn là giải pháp quan trọng, căn cơ để chúng ta từng bước khắc phục căn bệnh a dua và âm mưu lợi dụng căn bệnh này để chống phá của các thế lực thù địch.


Truyền thông xã hội nói chung, MXH nói riêng giống như “cái chợ” và khi tham gia vào “cái chợ” ấy ta phải chấp nhận ở đó tất thảy mọi thông tin: Tốt có, xấu có; đúng có, sai có; thuận chiều có và trái chiều có... Để không biến mình thành kẻ a dua, theo đuôi, không đánh mất mình khi vào “chợ thông tin” này, điều quan trọng hơn là chúng ta phải luôn giữ thế chủ động thông tin. Trước mỗi sự kiện, vấn đề, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, thông qua các phương tiện truyền thông chính thống, các cơ quan chức năng cần cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết đến người dân. Thực tiễn cho thấy chủ động dẫn dắt, định hướng thông tin trên không gian mạng là phương cách hữu hiệu để phòng ngừa những phát biểu bừa bãi và thói a dua vào hùa nhằm mục đích xấu. Đi cùng với đó, mỗi chúng ta phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, đâu là thông tin không có cơ sở; đâu là thông tin hữu ích, thông tin xấu độc...


Trong thế giới phẳng, mỗi người chúng ta cần hết sức cẩn trọng trong mỗi phát ngôn, mỗi bài viết khi tung lên các phương tiện truyền thông xã hội. Trước mỗi phát ngôn, mỗi hành vi, sự việc nghe được, bắt gặp trong đời sống, mỗi người chúng ta trước khi bày tỏ thái độ, quan điểm cần có sự suy xét, nhìn nhận và lý giải cho thấu đáo, để ứng xử nhân văn và không đánh mất mình. Mặt khác, mỗi người bằng các công cụ có sẵn hoàn toàn có thể điều tiết được các mối quan hệ của mình trên MXH để sàng lọc, chia sẻ, bình luận trong chừng mực nhất định. Khi mọi người tỉnh táo, sáng suốt trong sàng lọc thông tin, nhận diện và ứng xử phù hợp trước những thông tin xấu độc thì các thế lực thù địch không dễ bề lợi dụng để chống phá. Đây cũng chính là phương cách để mỗi người chúng ta góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái trên không gian mạng./.

ST




ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC HỘI HỮU NGHỊ VIỆT NAM - LÀO LẦN THỨ V SẼ DIỄN RA NGÀY 9/10

 

Ngày 9/10, tại Hà Nội, Hội hữu nghị Việt Nam - Lào (Hội) sẽ tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, nhiệm kỳ 2023-2028.


Theo Ban tổ chức, Đại hội sẽ tổng kết công tác nhiệm kỳ 2014-2023, đề ra phương hướng công tác nhiệm kỳ 2023-2028 và các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào.


Đại hội cũng tiến hành hiệp thương bầu Ban lãnh đạo Hội hữu nghị Việt Nam - Lào nhiệm kỳ 2023-2028.


Tại Đại hội sẽ diễn ra lễ trao huân, huy chương của Nhà nước Lào tặng các lãnh đạo và thành viên Hội hữu nghị Việt Nam - Lào; trao Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam tặng các lãnh đạo và thành viên Hội hữu nghị Lào - Việt Nam vì có những đóng góp to lớn trong xây dựng, củng cố và phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam và Lào.


Dự kiến có khoảng 250 đại biểu và khách mời tham dự Đại hội. Trong đó phía Việt Nam có đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các ban, bộ ngành hữu quan; đại diện Hội hữu nghị Việt Nam - Lào các tỉnh, thành phố, đại diện các tổ chức trực thuộc Hội; các nguyên Đại sứ Việt Nam tại Lào...


Về phía Lào, Đoàn đại biểu Hội hữu nghị Lào - Việt Nam do Viện sĩ, Giáo sư, Tiến sĩ Boviengkham Vongdara, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bộ trưởng Bộ Công nghệ và Truyền thông, Chủ tịch Hội hữu nghị Lào - Việt Nam dẫn đầu sẽ tham dự Đại hội. Ngoài ra còn có Đại sứ, phu nhân và cán bộ Đại sứ quán Lào tại Việt Nam; đại diện lưu học sinh Lào tại Việt Nam./. 

ST


ĐOÁN GIÀ, ĐOÁN NON

 

Vừa qua, một bài viết có tiêu đề “Hội nghị Trung ương 8 của Đảng CSVN và những bất ngờ…” đã được cái gọi là Tiếng dân News đăng tải. Như bản chất vốn có, Tiếng dân News tiếp tục lan truyền nhiều luận điệu vô căn cứ, sai trái, xuyên tạc, thể hiện cái nhìn hằn học đối với Đảng và chế độ.


Công tác nhân sự của Đảng và Nhà nước ta từ lâu đã trở thành đề tài để giới “dân chủ” khai thác, xuyên tạc. Cùng với việc đưa ra những nhận định, đánh giá phi lý, vô căn cứ về công tác nhân sự, giới “dân chủ” cũng vô cùng nhiệt tình tung ra các thông tin có tính chất đồn đoán nhân sự để “dắt mũi” dư luận. Trong bài viết mới được đăng tải, một lần nữa chủ đề này được Tiếng dân News “nhai lại”. Hàng loạt luận điệu xấu, độc được đưa ra như: “Từ việc chọn nhân sự tùy hứng, phe nhóm, chạy chọt, không khoa học và không công tâm, dẫn đến hệ quả khủng hoảng nhân sự... Vì vậy, có khả năng hội nghị này sẽ bầu bổ sung Ủy viên Bộ Chính trị và bầu thêm Ủy viên Trung ương từ nguồn 20 ủy viên dự khuyết”, “Kết thúc Hội nghị Trung ương 8 khóa 13, các đồng chí sẽ nghỉ ngơi ít ngày để diễn kịch tiếp tại quốc hội”, “Đảng lựa chọn đội ngũ của đảng quá xuất sắc, để hôm nay dân tình nhìn thấy rõ bộ mặt nhân sự tinh tú chủ chốt từ địa phương đến cung đình, đều là một lũ tham lam vô độ, ăn cướp trắng trợn, gây tội ác trời không dung, đất không tha, qua các đại án Việt Á, chuyến bay giải cứu, vụ AIC…". 


Theo quy định tại Điều lệ Đảng, Ban Chấp hành Trung ương họp thường lệ 6 tháng 1 lần và họp bất thường khi cần. Nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của đại hội; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng Đảng; chuẩn bị đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng nhiệm kỳ tiếp theo, đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có). Chính bởi vậy, thời điểm để tổ chức hội nghị cũng không phải là điều khó đoán. Tuy nhiên, các đối tượng “dân chủ” lại cố tình tỏ ra “thạo tin”, mỗi khi chuẩn bị đến hội nghị Trung ương lại ngoi lên để đoán già, đoán non.       


Thực tế, trước, trong và sau mỗi kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giới “dân chủ” đều tiến hành các “chiến dịch truyền thông bẩn” để hướng lái dư luận. Với việc đưa tin theo kiểu “tin bên lề”, “một nguồn tin thân thiết”, “theo tin riêng mà chúng tôi có được”, “nguồn tin từ một cán bộ giấu tên”…, các hội, nhóm “dân chủ” đã lồng ghép vô số thông tin độc hại liên quan đến các mặt công tác của Đảng. Mặc dù những thông tin được chúng đưa ra chỉ mang tính chất đồn đoán, nhưng không ít người đã bị lừa dối, “dắt mũi”, coi đây là những thông tin “đắt giá” để lan truyền cho nhiều người khác.


Liên quan đến việc tổ chức Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, các đối tượng xấu đang tập trung “làm nóng” dư luận bằng các thông tin liên quan đến công tác nhân sự. Lợi dụng việc Đảng, Nhà nước đẩy mạnh xử lý cán bộ sai phạm, chúng đã đánh võng, bẻ lái thông tin để phục vụ các mưu đồ chính trị đen tối. Thời gian qua, Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Với việc xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn, Đảng ta đều luôn quan tâm, chú trọng đến công tác này. Cùng với việc chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, Đảng ta cũng tập trung xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm. Với tinh thần quyết liệt không khoan nhượng, từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, đã có 31 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 2 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng; 4 bí thư, nguyên bí thư tỉnh ủy; 5 thứ trưởng, nguyên thứ trưởng bị xử lý hình sự. 


Ngoài ra, Đảng cũng đã thi hành kỷ luật 91 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 17 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng. Đồng thời, với trách nhiệm liên đới trong công tác chỉ đạo, điều hành, một số lãnh đạo đã xin từ chức. Xử lý cán bộ là điều chua xót và đau đớn. Tuy nhiên, đứng trên phương diện lợi ích của quốc gia, dân tộc thì đây là điều đáng mừng. Rõ ràng, bất cứ ai sai phạm đều bị xử lý nghiêm, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Điều này cho thấy sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Và hơn hết, việc kiên quyết đấu tranh với sai phạm, quyền lực nhà nước sẽ được kiểm soát chặt chẽ, không có chỗ cho những kẻ lợi dụng quyền lực để “vinh thân phì gia”. Các “nhà dân chủ” cố tình đào khoét việc xử lý cán bộ để hướng lái dư luận chẳng qua chỉ là chiêu trò tiểu nhân để chống phá chính quyền.


Đảng ta không phủ nhận trong công tác cán bộ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, yếu kém. Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thẳng thắn chỉ ra thực trạng một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Rõ ràng, không bao giờ có chuyện Đảng ta cố tình bao che, thỏa hiệp cho cán bộ sai phạm hoặc làm việc tùy hứng, phe nhóm, chạy chọt như giọng điệu được các “nhà dân chủ” rêu rao. Mặt khác, 1 trong 5 đột phá mà Đảng ta đang thực hiện trong công tác cán bộ hiện nay là kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ, thay thế kịp thời, chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền. Do đó, khi cán bộ không đáp ứng yêu cầu thì bị sàng lọc, thay thế ra khỏi vị trí hiện tại cũng là điều dễ hiểu. Đặc biệt, với vị trí là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, sự sàng lọc càng phải được tiến hành chặt chẽ và kỹ lưỡng. Việc “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trong công tác cán bộ là điều hoàn toàn bình thường./.

ST


PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC, CỤC BỘ, LỢI ÍCH NHÓM TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT

 

Chính phủ nhấn mạnh việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo đột phá trong thời gian tới. Trong đó, sẽ tăng cường kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực; phòng, chống các hành vi tham nhũng, tiêu cực, cục bộ, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật.


Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 165/NQ-CP ngày 6/10/2023 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 9 năm 2023.


Theo đó, việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo đột phá trong thời gian tới, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ cần quyết liệt thực hiện bảo đảm các yêu cầu sau:


Thứ nhất, nghiên cứu, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng; đánh giá, tổng kết kỹ việc thi hành pháp luật; xác định rõ các quy định còn phù hợp để kế thừa; các quy định không còn phù hợp với thực tiễn, yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển trong điều kiện hiện nay; nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, bảo đảm phù hợp với đặc điểm về chính trị và điều kiện thực tế của Việt Nam, bảo đảm tính khả thi của các chính sách mới.


Thứ hai, hoàn thiện các quy định bảo đảm đơn giản hóa các hồ sơ, quy trình, thủ tục hành chính; cắt giảm tối đa khâu trung gian; quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm; công khai, minh bạch quá trình thực hiện.


Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước giữa cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương gắn với phân bổ nguồn lực; tăng cường kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực; phòng, chống các hành vi tham nhũng, tiêu cực, cục bộ, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật;


Thứ ba, tiếp tục tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn; đẩy mạnh công tác truyền thông về chính sách nhằm tạo sự đồng thuận của xã hội, người dân và đối tượng chịu tác động trực tiếp của dự án luật;


Thứ tư, các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải trực tiếp phụ trách, lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, thể chế; có các giải pháp cụ thể để tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế; thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng, thời hạn trình văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có các giải pháp đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật tại các Nghị quyết của Chính phủ về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 7, tháng 8 năm 2023.


Trước đó, để chuẩn bị cho Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật này, các Bộ: Công an, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chủ động lập hồ sơ Đề nghị xây dựng Luật vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sửa đổi); Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo và báo cáo về tình hình xử lý các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết đã có hiệu lực thi hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội./. 

ST


 PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI


Ngày 7/10, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục ngày làm việc thứ 6, thảo luận tại Hội trường về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23 ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Các vị Ủy viên Trung ương Đảng đã tập trung phân tích những kết quả đạt được thời gian vừa qua, thống nhất việc ban hành Nghị quyết mới cũng như đề xuất các giải pháp thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ này trong thời gian tới.


Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc


Tại Phiên thảo luận, các vị Ủy viên Trung ương Đảng khẳng định việc tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là yếu tố rất quan trọng trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Qua 20 năm thực hiện Nghị quyết 23, nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn.


Nhiều chủ trương, chính sách mới được Đảng, Nhà nước ban hành và thực hiện có hiệu quả, không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được phát huy trên mọi lĩnh vực.


Cơ bản nhất trí với những văn bản dự thảo, tổng kết Tờ trình và dự thảo Nghị quyết, một số ý kiến đề nghị Trung ương cần đặc biệt quan tâm tới công tác dân tộc trong thời gian tới.


Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, còn một số vấn đề tồn tại như nghèo đói, phân hóa giàu nghèo, đất đai, nước sinh hoạt, di cư trái phép. Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Hoạt động kích động bạo loạn chia rẽ đang tác động đến mối quan hệ giữa các dân tộc. Nếu không chủ động tháo gỡ, không được tập trung giải quyết thỏa đáng thì đây sẽ là kẽ hở để các thế lực phản động, lôi kéo, kích động làm ảnh hưởng, thậm chí là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


"Theo tôi, cần đặt nhiệm vụ đoàn kết các dân tộc Việt Nam ở vị trí đặc biệt trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; cần nhấn mạnh các chủ trương, giải pháp để tăng cường sự đoàn kết, cố kết cộng đồng, sự chia sẻ, gắn bó keo sơn máu thịt giữa các dân tộc anh em và nâng cao đời sống thực chất cho đồng bào các dân tộc," bà Nguyễn Thị Thu Hà đề nghị.


Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự giao thoa, đan xen giữa các giai tầng trong xã hội.


Vì vậy, để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các vị Ủy viên Trung ương Đảng đề nghị cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan liên quan thúc đẩy nghiên cứu lý luận và thực tiễn, làm rõ hơn nội hàm, nhất là về liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức.


Bà Nguyễn Đình Khang, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho rằng vấn đề về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong bối cảnh mới đã xuất hiện những nội dung mới, rất cần được nghiên cứu, quan tâm và đề ra giải pháp cụ thể. Đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề xuất sớm tổng kết, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045.


“Trong tác phẩm một số vấn đề lý luận thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định vấn đề giữ vững bản chất của Đảng là một Đảng Cộng sản, Đảng Cách mạng chân chính, hoạt động vì sự nghiệp của giai cấp công nhân của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân là vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng. Chúng tôi đề nghị cần có sự nghiên cứu để có thể cụ thể hóa nội hàm và tiêu chí kiên trì giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Chúng tôi - tổ chức công đoàn cũng xác định đây là một vấn đề rất lớn để bảo vệ và xây dựng Đảng," ông Nguyễn Đình Khang nói.


Đóng góp ý kiến thảo luận, ông Lương Quốc Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho biết về cơ bản, nông thôn không còn hoàn toàn thuần nông như trước mà đã có sự pha trộn giữa các giai tầng dẫn đến sự phân tầng về mức độ thu nhập, sinh kế và cơ hội phát triển. Do đó, cần thiết phải có nghiên cứu, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận về giai cấp nông dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.


"Tôi đề nghị bổ sung nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và cụ thể hóa sự lãnh đạo của Đảng về nội dung và giải pháp xây dựng, củng cố liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức," ông Lương Quốc Đoàn nêu ý kiến.


Cụ thể hóa nội dung dự thảo Nghị quyết


Các vị Ủy viên Trung ương Đảng cũng khẳng định thời gian qua, công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Trung ương, Quốc hội, Chính phủ rất quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thể hiện qua việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị, luật và Chiến lược hành động, đạt được nhiều kết quả rất tích cực.


Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế như việc cụ thể hóa tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số lĩnh vực, địa bàn còn thấp. Nhiều nguồn lực chưa được phát huy hiệu quả. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân có lúc, có nơi chưa gắn bó chặt chẽ.


Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội, chưa phát huy hết vai trò tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đại diện quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.


Nhằm đạt hiệu quả cao hơn nữa việc thực hiện nhiệm vụ này, các vị Ủy viên Trung ương Đảng đề nghị cần tiếp tục có những giải pháp cụ thể, khả thi và sát với thực tiễn.


Theo Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến, trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật phải đồng bộ để tạo cơ sở pháp lý thực thi quy chế dân chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân.


"Ở đây vấn đề ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản luật mà tạo được sự đồng bộ, thống nhất thì không có chuyện hồi tố. Đặc biệt, trong những lĩnh vực như giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư, vấn đề thu thuế để tạo sự công bằng các văn bản luật hiện nay thì cũng có những vấn đề chưa thống nhất," bà Nguyễn Thị Tuyến nêu ý kiến cụ thể.


Bà Hà Thị Nga, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đề nghị Trung ương tiếp tục quan tâm thực hiện tốt các chính sách xã hội, giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích trong xã hội để góp phần củng cố niềm tin, sự đồng thuận của người dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với Đảng, Nhà nước. Cùng với đó, nâng cao hiệu quả và sức lan tỏa của ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư.


"Chúng tôi cho rằng đây cũng là cách làm của rất riêng của đất nước ta, nhận được sự đồng thuận và thật sự đang trở thành ngày hội lớn của nhân dân trên tất cả các địa bàn dân cư. Vì vậy, chúng tôi cũng rất mong ngày hội đại đoàn kết sẽ tiếp tục được quan tâm, nâng lên một tầm cao mới," bà Hà Thị Nga bày tỏ.


Nêu ý kiến đối với vùng dân tộc thiểu số, ông Y Thanh Hà Niê Kđăm, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho rằng, một số quy định về chính sách của Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số trong các luật còn mang tính định hướng chung chung; được thể hiện bằng các cụm từ như là “ưu tiên, khuyến khích, tạo điều kiện” nhưng lại không có các quy định cụ thể cho các luật hoặc các văn bản dưới luật. Một số quy định chưa sát với thực tiễn cuộc sống.


“Tôi đề nghị các chủ trương, chính sách của Đảng cần được thể chế hóa một cách đầy đủ, kịp thời, phù hợp thực tiễn, tránh việc nội dung ban hành nhưng khó triển khai hoặc triển khai không được. Thứ hai là lấy mục tiêu vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân lên trên hết, trước hết. Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là các chính sách liên quan mật thiết đời sống của nhân dân, trong đó đặc biệt quan tâm đến người có công với cách mạng, nhóm yếu thế và đồng bào các dân tộc thiểu số", ông Y Thanh Hà Niê Kđăm nêu kiến nghị.


Cơ bản nhất trí với 7 chủ trương, giải pháp được nêu trong dự thảo Nghị quyết, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang nhận xét các chủ trương, giải pháp được nêu trong dự thảo chính là sự cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang đề xuất dự thảo bổ sung thêm nội dung: củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực để xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.


Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều thay đổi, việc ban hành Nghị quyết về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ góp phần khắc phục những hạn chế, phát huy sức mạnh để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./. 

ST