Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

Củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong tình hình mới

 TCCS - “Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(1) là chủ trương lớn của Đảng. Trong tình hình mới, để tạo sức mạnh, động lực đưa đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại Khu dân cư xóm Cầu, xã Bắc Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN

1- Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, “mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu(2). Nhìn lại chặng đường lịch sử của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua, có thể khẳng định, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân luôn là mối quan hệ gắn bó mật thiết, là yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh to lớn, làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Nhân dân ta đã một lòng theo Đảng, trải qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Mục tiêu lý tưởng của Đảng là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội (CNXH) và hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ, đảng viên của Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người “đày tớ” trung thành của nhân dân. Mục tiêu phấn đấu của người vào Đảng không phải là để thăng quan, tiến chức, mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(3).

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, luôn “đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên hết, trước hết”(4); luôn coi trọng việc lắng nghe, nắm bắt tình hình và giải quyết nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó, niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố, tăng cường; vị thế, uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng lên ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Mối quan hệ tốt đẹp, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân chính là tiền đề, điều kiện và là nguồn sức mạnh, động lực để cách mạng nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(5). Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước; đồng thời, ngày càng củng cố, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta thẳng thắn thừa nhận vẫn còn mắc một số hạn chế, khuyết điểm. Một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân và chưa giải quyết kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật. “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân”(6). Bên cạnh đó, một bộ phận người dân, do nhận thức còn hạn chế, bị kẻ xấu xúi giục, lôi kéo, kích động nói xấu, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng chiêu bài “dân chủ” hòng chống phá Đảng, chính quyền... Những hạn chế, khuyết điểm đó không chỉ làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, vị thế, uy tín của Đảng, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, gây tổn hại đến mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

2- Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa đến độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động... Trước tình hình đó, việc tiếp tục củng cố, tăng cường hơn nữa mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Để tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong tình hình mới, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một làtiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để bảo đảm Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vị thế của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn về mọi mặt chính là quy luật tồn tại và phát triển của một đảng cách mạng chân chính. Đảng phải luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xem đó là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ; do đó, phải tăng cường xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Trong tình hình hiện nay, phải tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; theo đó, phải kết hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác##- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tăng cường giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng(7). Tập trung xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm “chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu”. Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; luôn gương mẫu trong thực hiện nguyên tắc, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích của quốc gia - dân tộc và của nhân dân.

Hai làphát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đây là giải pháp rất quan trọng, vừa góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, vừa phát huy trí tuệ, sức mạnh của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát huy ý chí, sức mạnh của toàn dân tộc, sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”. Trong mọi công việc, toàn Đảng, tổ chức đảng, đảng viên phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, luôn đặt nhân dân ở trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Cán bộ, đảng viên phải “gần dân”, “sát dân”, “trọng dân”, luôn hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chỉ như vậy, mới có thể củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Pa Thơm (Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên) thăm hỏi đồng bào ở bản Púng Bon, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên_Ảnh: TTXVN

Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(8). Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, để tạo sự lan tỏa trong xã hội. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, kiên quyết chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức; xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức, cá nhân lợi dụng “dân chủ” nhằm gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân, đến mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, thường xuyên quan tâm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Đây là giải pháp quan trọng, trực tiếp góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; bởi lẽ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là sứ mệnh của Đảng, là mục tiêu và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Sinh thời, Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn căn dặn Đảng ta rằng, chăm lo đời sống của nhân dân chính là làm cho nhân dân được thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi trong một xã hội tiến bộ và công bằng, với hành lang pháp lý đầy đủ và ngày càng hoàn thiện, để nhân dân thực sự là người chủ trong xã hội mới. Vì vậy, “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân(9).

Trong thời gian tới, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp xóa đói, giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại. Bảo đảm cung cấp và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi đối tượng, nhất là đối với người nghèo, người yếu thế trong xã hội; quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số. Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, góp phần không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Bốn làtăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(10). Đảng ta là một khối thống nhất, bao gồm hàng triệu đảng viên; chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động, vị thế, uy tín của Đảng trước nhân dân. Thực tế cho thấy, khi nào cán bộ, đảng viên tốt thì Đảng mạnh, cách mạng thắng lợi, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố, tăng cường; trái lại, khi nào trong Đảng có nhiều cán bộ, đảng viên yếu kém thì năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng giảm sút, cách mạng gặp khó khăn, niềm tin của nhân dân đối với Đảng bị suy giảm. Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, nhấn mạnh: Đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu, đồng thời mỗi đảng viên phải tự ý thức học tập, rèn luyện nhân cách, đạo đức, phong cách, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng và lời thề khi vào Đảng; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, quan tâm phát triển đảng viên trong đoàn viên thanh niên và công đoàn, hội viên ưu tú, quần chúng tiêu biểu, nhất là ở địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, khu vực kinh tế ngoài nhà nước, vùng dân tộc thiểu số. Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; qua đó, nâng cao nhận thức chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, hết lòng, hết sức phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách chặt chẽ, thiết thực, hiệu quả, để làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự có bước chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động, quyết tâm “tự soi, tự sửa” mình theo tấm gương của Bác. Tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hoạt động thực tiễn; chú trọng rèn luyện phương pháp công tác, phong cách làm việc “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(11). Đồng thời, thường xuyên thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình, để mỗi cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng, giúp nhau cùng tiến bộ và củng cố đoàn kết nội bộ. Tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu thường xuyên làm tốt công tác quản lý, nắm chắc tình hình tư tưởng, thái độ làm việc, các mối quan hệ xã hội, lối sống, hoàn cảnh gia đình và tài sản... của cán bộ, đảng viên trong phạm vi mình quản lý để chủ động ngăn ngừa hành vi tiêu cực, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xử lý nghiêm minh theo pháp luật cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, không còn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng, đánh mất niềm tin yêu của nhân dân.

Năm là, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Trải qua hơn 93 năm xây dựng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn là phương châm hành động, nhiệm vụ trọng yếu và là bài học kinh nghiệm mang lại sức mạnh to lớn cho Đảng, là cội nguồn cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Song, cũng vì thế, mối quan hệ này luôn bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng; xuyên tạc cương lĩnh chính trị, quan điểm, đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, kích động “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” ở Việt Nam, mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo hòng làm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”..., làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; mặt khác, chúng tìm mọi cách mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo một bộ phận nhân dân, do nhẹ dạ, thiếu hiểu biết, hoặc non kém về chính trị, lệch lạc về tư tưởng... thực hiện hành vi chống phá Đảng, chính quyền.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi Đảng ta ra đời đến nay, đã khẳng định rằng, lịch sử dân tộc và nhân dân ta đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đi trên con đường vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân; và mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân mãi mãi là mối quan hệ thống nhất, vững bền. Vì vậy, chúng ta cần đặc biệt cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ, phá hoại mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị hiện nay. Theo đó, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò, sự cần thiết phải chăm lo củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị hòng chia rẽ, phá hoại mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, cũng như những nguy cơ đe dọa, làm tổn hại đến mối quan hệ này; từ đó, đề cao tinh thần cảnh giác, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần quan trọng trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, vị thế, uy tín của Đảng; đồng thời, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, tạo tiền đề, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục giành được những thắng lợi mới./.

-------------------

Mãi khắc sâu lời Bác Hồ dạy

 

Cách đây 60 năm, ngày 15-6-1957, Bác Hồ đã về thăm Hà Tĩnh. Trong ngày lịch sử ấy, Bác Hồ đã dành phần lớn thời gian để nói chuyện với cán bộ và nhân dân địa phương. Bác đã biểu dương những đóng góp to lớn của nhân dân Hà Tĩnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp; khen ngợi các bà mẹ đã hết lòng giúp đỡ thương binh, bệnh binh. Bác biểu dương thành tích trong công tác thủy nông, về tổ đổi công, về ngày công phục vụ tiền tuyến, đóng góp lương thực của nhân dân cho kháng chiến…

Cũng tại buổi gặp mặt, Bác đã thẳng thắn phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ. Những lời căn dặn của Bác rất đời thường nhưng vô cùng sâu sắc và ý nghĩa: “Cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối. Phải đoàn kết giữa lương và giáo, giữa quân và dân, giữa miền Bắc và miền Nam”; "phải ra sức đắp đê chống lụt, chống hạn, phòng hạn kịp thời”; “phải sẵn sàng đóng thuế, trả nợ một cách sòng phẳng”; “phải chú ý hoa màu, cố gắng sản xuất mọi mặt”; “đề cao ý thức bảo vệ tài sản chung của Nhà nước, giữ gìn an ninh, trật tự ở nông thôn”; “đề cao kỷ luật lao động trong sản xuất, trong công tác”....

Đặc biệt, sau cuộc gặp đại biểu nhân dân, Bác đến nói chuyện với hơn 2.000 cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, bộ đội và nhân dân địa phương. Trong cuộc nói chuyện, Người đã chỉ rõ những nhiệm vụ trước mắt, đồng thời nghiêm khắc chỉ ra: “Có hiện tượng trong và ngoài Đảng, cán bộ cũ và cán bộ mới, đoàn kết kém”. Bác phân tích: “Các cô, các chú biết đoàn kết là sức mạnh của mình. Nhờ đoàn kết mà cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi; nhờ đoàn kết mà chúng ta vượt qua nhiều khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Chúng ta kém đoàn kết làm lực lượng ta kém sút một phần. Vì vậy, khuyết điểm ấy phải cố gắng sửa cho kỳ được”.

Bác nêu khuyết điểm: “Ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm kém” và giải thích rõ: “Nếu kém ý thức tổ chức là làm cho lực lượng Đảng ta yếu đi một phần..., muốn mọi chính sách của Đảng thực hiện được thì phải có kỷ luật... Nếu sợ khó, không thích làm, hoặc chọn việc dễ, là không có tinh thần trách nhiệm, làm giảm bớt lực lượng của Đảng”. Người cũng chỉ rõ thực trạng và giải pháp: “Cấp trên và cấp dưới, trong Đảng và ngoài Đảng, quan hệ chưa mật thiết...”, “dân chủ phải thực hiện từ trên xuống dưới"; "tự phê bình phải thật thà, phê bình phải thành khẩn”...

Sau khi nghiêm khắc phê bình, Bác nhấn mạnh: “Đảng ta không phải là Đảng làm quan mà Đảng phải lo đời sống cho dân". Trong tình hình chiến tranh, Bác căn dặn: “Phải nâng cao chí khí chiến đấu, cảnh giác; mở rộng tự phê bình và phê bình, nâng cao tinh thần kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí”... Đặc biệt, khi kết thúc buổi nói chuyện, Bác đã căn dặn: “Phải đoàn kết. Đó là cái gốc”.

Thực tiễn sống động, lý luận sáng soi trong tác phẩm của Tổng Bí thư

 TCCS - Tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện sự kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, là những bài học cụ thể, thiết thực cho cán bộ, đảng viên, cho các tổ chức đảng “tự soi”, “tự sửa” để tiến bộ, là nguồn động viên, cổ vũ và quy tụ nhân dân vì mục tiêu phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương_Ảnh: TTXVN

Sức mạnh của một phương pháp đúng

Thứ nhất, trên mặt trận phòng, chống tham nhũng, các nhà lãnh đạo đất nước đều chỉ đạo xây dựng và sử dụng hiệu quả công cụ pháp luật.

V.I. Lê-nin sau khi chỉ đạo giải quyết rốt ráo nhiều vụ bao che tham nhũng, tiêu cực đã đi đến kết luận: “Cuối cùng, nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được. Trong trường hợp này, thậm chí cũng không thể nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại một kết quả gì cả. Một đạo luật chỉ có thể đưa đến một kết quả xấu hơn, nếu trên thực tiễn nó được đem áp dụng trong điều kiện nạn hối lộ còn được dung thứ và đang thịnh hành”(1). Theo V.I. Lê-nin, việc giữ gìn kỷ cương phép nước, thái độ công minh, chính trực của người lãnh đạo đối với cán bộ, đảng viên trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ có thể làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh hơn, tuyệt nhiên không có ảnh hưởng gì đến uy tín của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết xử lý nghiêm khắc tệ tham nhũng, tiêu cực đúng pháp luật. Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Người yêu cầu “phải thẳng tay trừng trị những trị kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(2). Trong hơn 24 năm (1945 - 1969), Người trực tiếp chỉ đạo soạn thảo 2 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959) và 613 Sắc lệnh, trong đó có 243 Sắc lệnh quy định về tổ chức Nhà nước và pháp luật. Ngày 27-11-1945, Người ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Trong “Quốc lệnh” do Người ban hành ngày 26-1-1946 có 10 điều khen thưởng và 10 điều hình phạt; trong 10 điều hình phạt có Điều 8, “Trộm cắp của công sẽ bị xử tử”(3)...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã và đang chỉ đạo xử lý tham nhũng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm kinh điển trên nền tảng pháp luật. Tổng Bí thư yêu cầu, “đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành nghiêm túc, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước nhanh và bền vững(4). Yêu cầu của Tổng Bí thư vừa là đường lối chiến lược của Đảng, vừa là nhiệm vụ cấp bách. Tám tính chất (đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định) là yêu cầu nội tại của hệ thống pháp luật nếu muốn phát huy đầy đủ tác dụng của pháp luật trong đời sống xã hội. Đồng thời, yêu cầu của Tổng Bí thư cũng nhằm khắc phục những khiếm khuyết kéo dài của hệ thống pháp luật hiện tại; đặt đúng tầm vóc vai trò của công cụ pháp luật trong xây dựng nền kinh tế - xã hội, phát triển đất nước và là công cụ quan trọng để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Có thể thấy, các nhà lãnh đạo giỏi ở các thời kỳ khác nhau, các thế hệ khác nhau, trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau đều có chung tư duy, đó là quản lý, điều hành hoạt động một xã hội phải bằng pháp luật, và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cần sử dụng hiệu quả công cụ pháp luật.

Thứ hai, phòng, chống tham nhũng phải được thực hiện bài bản và toàn diện.

Một là, chuẩn bị cơ sở chính trị - pháp lý. Về phương diện Nhà nước, hệ thống pháp luật nói chung và Bộ luật Hình sự nói riêng đã được hoàn thiện một bước. Về phương diện Đảng, một loạt các quy định phục vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được ban hành và đi vào cuộc sống(5).

Hai là, nắm chắc và chuẩn bị tinh thần cho các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước. Các cơ quan nội chính phải thật sự là những “thanh bảo kiếm sắc bén” và “lá chắn vững chắc”; phải nắm vững, nắm chắc và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

Ba là, tuyên truyền, phổ biến, phát động để toàn dân hưởng ứng, tích cực tham gia công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. “Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng”(6).

Bốn là, quyết định điểm tựa, mũi tiến công chắc thắng, bắt đầu từ trên xuống, từ trong Đảng ra, nâng lên niềm tin của nhân dân, của toàn xã hội.

Năm là, phải chống cả tham nhũng lớn và cả tham nhũng vặt, kiên quyết chống, chống triệt để.

Nói một cách tổng quát, phương pháp chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư mang đầy đủ tính khoa học, thực tiễn, thân dân, đã và đang đem lại hiệu quả to lớn nhiều mặt.

Nghiêm trị “tham nhũng vặt” và chữa “bệnh sợ trách nhiệm” 

Đọc 8 bài của Tổng Bí thư viết từ năm 1973 đến năm 1990, chúng ta có nhiều cảm nhận: Trước hết là tầm nhìn, 50 năm trước người thanh niên làm việc tại Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) - cơ quan lý luận chính trị của Đảng đã sớm nhận ra “căn bệnh” nặng, tham ô, lãnh phí, tiêu cực, bản chất của nó, nguồn gốc phát sinh và các “bài thuốc” chữa trị để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hai là, vẫn còn nguyên sức hấp dẫn của các bài viết về nội dung và phương pháp thể hiện. Nội dung đúng như thực tiễn, thẳng thắn, rõ ràng (có tên tuổi, có địa chỉ và thời điểm xảy ra khuyết điểm); phương pháp phê bình tinh tế. Ba là, tệ “tham nhũng vặt” và “bệnh sợ trách nhiệm” xuất hiện khá sớm và còn tồn tại dai dẳng đến bây giờ, nghĩa là các vấn đề còn nguyên tính thời sự.

Về “tham nhũng vặt”: Như một thứ “ghẻ ruồi” rất khó chịu đã và đang xảy ra ở nhiều cơ quan hành chính nhà nước các cấp, nhất là ở xã, phường, thị trấn suốt một thời gian dài, lâu dần bị coi như một “thông lệ” bất thành văn. “Tham nhũng vặt” làm giảm lòng tin, sự tín nhiệm của nhân dân đối với những người cán bộ tại các cơ quan hành chính nhà nước. Nếu tham nhũng lớn đã và đang phá hoại từ thượng tầng kiến trúc, thì “tham nhũng vặt” đang đào bới, công phá từ nền móng. Nếu ví bộ máy nhà nước như tòa nhà, mà tòa nhà bị đào phá, sụt lún từ nền móng, thì hỏi còn đứng vững được không? Bởi vậy, đã là tham nhũng thì phải chống triệt để. Sự chỉ đạo của Tổng Bí thư là vô cùng chính xác, đúng đắn và kịp thời: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc (“tham nhũng vặt”), kiên quyết loại khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước (nhất là trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng) những cán bộ hư hỏng, tham nhũng”(7).

Về “bệnh sợ trách nhiệm”, Tổng Bí thư nhấn mạnh một số biểu hiện của bệnh sợ trách nhiệm, như làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn; rụt rè, do dự trong khi giải quyết công việc, không có chính kiến, không dám quyết đoán với những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình, mà việc lớn, việc nhỏ gì cũng đưa ra tập thể bàn, chờ “ý kiến tập thể” cho “đỡ phiền”(8);... Nguồn gốc chủ yếu của bệnh sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Nguy hại hơn, “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao”(9). Vì vậy, “khắc phục bệnh sợ trách nhiệm trước hết là phải chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tinh thần cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm cho mỗi người đều có tinh thần xả thân vì sự nghiệp cách mạng,...”(10).

Có thể thấy, Tổng Bí thư đã “bắt mạch” rất đúng “căn bệnh” và đề ra giải pháp hoàn toàn đúng đắn, chính xác cho thời gian ấy, nhưng cũng hoàn toàn khả thi cho ngay bây giờ. Vì thế, có thể nói, đó thực sự là một giải pháp mang tầm chiến lược.

Tám bài học kinh nghiệm quý báu                                                         

Công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bất cứ ở đâu, vào thời gian nào cũng gay go, phức tạp và quyết liệt, nhất là từ khi bước vào công cuộc đổi mới, đặc biệt là hơn 10 năm qua (2012 - 2023). Song, với những kết quả đạt được, trong tác phẩm của mình, Tổng Bí thư đã tổng kết, đúc rút thành nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó có 8 bài học sống động và quý báu.

Thứ nhất, phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để từ đó có quyết tâm chính trị cao, biện pháp đúng đắn, hành động quyết liệt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung của Đảng. Chúng ta đều biết, nhận thức là một quá trình và có vai trò chỉ đạo hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Tổng Bí thư chỉ ra rằng, có nhiều ý kiến e ngại, chống tham nhũng, tiêu cực mạnh sẽ ảnh hưởng đến sự năng động, dám nghĩ, dám làm! Thực tế, hoàn toàn ngược lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết quả, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã thúc đẩy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân được nâng lên một trình độ cao.

Thứ hai, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “chống giặc nội xâm”, tức là chống thói hư, tật xấu, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ ăn bớt, ăn cắp, ăn chặn của công dưới nhiều hình thức; lấy tiền tài, của cải, vật chất do người khác “biếu xén”, “cho, tặng”, hối lộ... với động cơ không trong sáng, và chỉ những người có chức, có quyền mới bị nhiễm thói hư, tật xấu này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, “giặc nội xâm” là “kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”(11). Tiền nhân cũng có câu, “Giặc nhà khó đánh”; vì vậy, phải kiên quyết, kiên trì, bền gan và dũng khí hơn nữa trong cuộc chiến đấu vẫn đang tiếp diễn.

Thứ ba, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là “then chốt của then chốt”, là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân”. Thực tế thời gian qua cho thấy, đằng sau những vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài đều có sự tiếp tay của một số cán bộ, công chức bằng cách làm ngơ, dung túng, bao che, đồng phạm, thậm chí là chủ mưu. Bài học này cho thấy, phải đặc biệt quan tâm, chú trọng công tác cán bộ; gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xúc tiến hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả. Qua đó, sàng lọc, tinh lọc đội ngũ cán bộ theo yêu cầu công việc và tiêu chuẩn cán bộ các cấp, các loại.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh trực tiếp lắng nghe, đối thoại, giải đáp sâu sát, cặn kẽ các ý kiến của công dân_Nguồn: baoquangninh.com.vn

Thứ tư, phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, kịp thời xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, đột phá. Đây là bài học về chỉ đạo hoạt động. Theo đó, phát hiện sớm, xử lý ngay, từng bước không cho tham nhũng, tiêu cực tiếp tục phát sinh; và tiếp tục phát hiện, xử lý đích đáng, nghiêm khắc theo pháp luật các vụ việc, các vụ án tham nhũng, tiêu cực để làm gương, cảnh tỉnh, răn đe.

Thứ năm, phải kiểm soát cho được việc thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền lực luôn luôn có nguy cơ bị “tha hóa”; tham nhũng, tiêu cực là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; do đó, phải tăng cường và nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực. Đây là bài học, đồng thời cũng là một trong những nội hàm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm.

Thứ sáu, chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cựcKinh nghiệm thời gian qua cho thấy, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải thực sự là trung tâm chỉ đạo, điều hành, phối hợp hoạt động, là chỗ dựa vững chắc để các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực thi nhiệm vụ được giao. Kinh nghiệm này thể hiện rất sáng rõ ở Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà các Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương cần nắm vững trong hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại địa phương mình. Đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải có bản lĩnh vững vàng, có dũng khí đấu tranh; phải trung thực, liêm, chính, “chí công vô tư”, thực sự là “thanh bảo kiếm” sắc bén của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ bảy, phải gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Bài học huy động sức mạnh tổng hợp vừa là nhiệm vụ, vừa là đường lối cách mạng của Đảng ta theo đúng nguyên lý: “Sự nghiệp cách mạng là của quần chúng”. Quần chúng có cả “trăm tai, nghìn mắt” để góp phần phát hiện tham nhũng, tiêu cực, giúp cho Đảng, Nhà nước xem xét, xử lý. Đây cũng là một công việc lớn, “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(12), như Bác Hồ đã dạy.

Thứ tám, các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải phù hợp với bối cảnh, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và truyền thống văn hóa dân tộc; tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài; kế thừa kinh nghiệm của các nhiệm kỳ trước. Bài học tổng thể này gồm nhiều bài học cụ thể, trực tiếp nhất là phải bảo đảm yêu cầu phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ lớn, quan trọng mà Đại hội XIII của Đảng khẳng định, “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(13). Nền kinh tế đó phải phù hợp với truyền thống dân tộc, nghĩa là “phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội” và xây dựng “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn...”(14). Như vậy, muốn phát triển tốt nền kinh tế - xã hội thì phải phòng, chống được tham nhũng, tiêu cực; và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vững chắc.

Năm nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới

Thực tiễn cho thấy, các hành vi tham nhũng, tiêu cực không chỉ xảy ra ở một tổ chức, một lĩnh vực, một ngành, một cấp hay một địa phương, không chỉ là những hành vi đơn lẻ, riêng biệt, mà còn có sự móc nối, liên kết ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, diễn ra ở nhiều địa bàn, liên quan đến nhiều cán bộ cấp cao ở cả Trung ương và địa phương. Tham nhũng, tiêu cực đang diễn biến rất phức tạp; nhiệm vụ phòng, chống còn rất nhiều khó khăn. Dù đã đạt được những thành quả quan trọng, nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan, mà phải kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao nhằm ngăn chặn, đẩy lùi với kết quả lớn hơn nữa. Tổng Bí thư đã vạch ra 5 nhiệm vụ lớn, trọng tâm, bao quát cho giai đoạn mới.

Thứ nhất, phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao gồm xây dựng, chỉnh đốn tổ chức Đảng và xây dựng, chỉnh đốn cán bộ, đảng viên. Trong nhiệm vụ này, vai trò của cán bộ, đảng viên được nhấn đậm với ý nghĩa thực tiễn, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là “then chốt của then chốt”, là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân””(15). Biện pháp thực hiện nhiệm vụ này được xác định rõ ràng, cụ thể tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, đó là, “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên” và “Đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên... Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng; kịp thời chấn chỉnh đối với đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ...; đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước; đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín thấp”. Trong đó, người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng, đã được quy định tại Điều 70 Luật Phòng, chống tham nhũng: “Gương mẫu, liêm khiết, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh” và “Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách”. Do đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng để từng bước có được đội ngũ đảng viên có sức chiến đấu hùng mạnh, quyết liệt là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, đặc biệt là trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục bất cập, bịt kín “khoảng trống”, “kẽ hở”, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện thể chế “không thể” tham nhũng, tiêu cực. Trong nhiệm vụ này có vấn đề khá lớn và có độ phức tạp cao, nhưng bằng mọi nỗ lực phải giải quyết sớm, đó là hiện tượng “tham nhũng chính sách, pháp luật” trong xây dựng thể chế. Hành vi tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng chính sách, pháp luật diễn ra hết sức tinh vi, “kín đáo”, để lại những hậu quả lớn cho Nhà nước và xã hội. Đó là những hoạt động móc nối các hành vi kế tiếp, quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm nhiều cá nhân và “nhóm chủ thể” có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhằm biến hóa lợi ích riêng tư thành những “quy tắc pháp lý” của những chính sách, của những đạo luật... Đây cũng là điều khác biệt giữa tham nhũng, tiêu cực chính sách, pháp luật với tham nhũng, tiêu cực đơn lẻ từng vụ việc, từng vụ án cụ thể. Do đó, phải sớm nghiên cứu sửa đổi nội dung chủ thể sáng kiến chính sách, pháp luật và quy trình xây dựng luật, pháp lệnh trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, qua đó cảnh tỉnh, răn đe để không ai dám tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Ở nhiệm vụ này, một lần nữa Tổng Bí thư yêu cầu các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phải mài sắc ý chí chiến đấu để thực thi tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Khi phát hiện sai phạm thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sự tác động không trong sáng của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Đó chính là học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xử lý tội tham ô, hối lộ, phải “thiết diện, vô tư”, “phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(16).

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới và tăng cường giám sát việc thực thi quyền lực. Trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay thì việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là vấn đề then chốt, nhưng còn là vấn đề phải đầu tư nhiều thời gian và công sức mới đạt hiệu quả như mong đợi. Điều 33 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: “Người có nghĩa vụ kê khai phải kê khai trung thực về tài sản, thu nhập, giải trình trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm”. Nhưng nếu chỉ dựa vào lòng trung thực mà kiểm tra, giám sát, xử lý thiếu nghiêm khắc thì làm sao đạt được mục đích của việc kê khai! Bởi vậy, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Cùng với “nhốt” quyền lực vào “lồng” cơ chế,... phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật”(17).

Thứ năm, tiếp tục kiện toàn bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, triển khai hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước. Trong nhiệm vụ này, rất đáng lưu ý việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước. Các thuật ngữ “chống lưng”, “sân sau”, “nhóm lợi ích”, “luật ngầm” xuất hiện khá nhiều trong những năm gần đây. Nội hàm của các thuật ngữ này chỉ ra sự móc nối giữa một bộ phận quan chức nhà nước có chức, có quyền, có nhiều “mối quan hệ” với doanh nghiệp “sân sau”, người nhà, người thân của mình, để họ tiếp cận được các dự án kinh tế, các gói thầu, các ưu đãi lợi ích. Các hoạt động này ngày càng diễn ra theo chiều hướng phức tạp, tinh vi hơn. Những nguồn lợi ích bất chính quá lớn đã làm không ít cán bộ tha hóa, biến chất, tiếp tục tạo dựng nhiều “sân sau” để trục lợi... Tác hại nhiều mặt, vô cùng lớn, không thể lường hết, trong đó có vấn đề quản lý kinh tế - xã hội sẽ trở nên phức tạp, rối ren, sự phá hoại khó lường của các thế lực xấu. Bởi vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước lúc này là nhiệm vụ lớn, đầy khó khăn, phức tạp. Do đó, Tổng Bí thư đã và đang chỉ đạo phải thực thi nhiệm vụ khẩn trương, quyết liệt. Có thể thấy, đây là nhiệm vụ nặng nề, khó khăn nhiều mặt, nhưng nhất thiết phải kiên trì, kiên quyết xử lý./.

 

Khắc ghi lời dạy của Bác Hồ

“Đoàn kết, cảnh giác 
Liêm chính, kiệm cần
Hoàn thành nhiệm vụ
Khắc phục khó khăn 
Dũng cảm trước địch 
Vì nước quên thân
Trung thành với Đảng
Tận tụy với dân” 

Đó là lời căn dặn của Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ BĐBP tại buổi lễ thành lập lực lượng (tháng 3-1959).

 

Làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận

“Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” - là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Dân vận”, ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật số 120, ngày 15-10-1949.

Giữa lúc công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta ở vào thời điểm vô cùng cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả dân tộc. Nhận thức sâu sắc và đánh giá cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Dân vận”. Đây là “cẩm nang” kịp thời chỉ dẫn một cách đầy đủ và sâu sắc cả về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, tính hiệu quả… của công tác dân vận đối với cán bộ, đảng viên; tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể.

Thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác, mọi cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vì nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, từ đó luôn chủ trương phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, để xây dựng nên khối đại đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Ngành Dân vận và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận đã luôn chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác Dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân”ngày càng vững chắc.

Cán bộ làm công tác Dân vận luôn tích cực học tập, nghiên cứu nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc; âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch để tuyên truyền, vận động cho quần chúng nhân dân thông suốt, hiểu được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyết tâm cùng với toàn Đảng, toàn quân nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách giành được những thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến, thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh; luôn được dân mến, dân tin, dân giúp đỡ. Mối quan hệ quân - dân trở thành mối quan hệ mẫu mực được ví như máu thịt, như cá với nước, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tích cực hưởng ứng và làm tốt các công tác dân vận, tham gia xoá đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào, mô hình: “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… đã, đang được triển khai quyết liệt với tình cảm, trách nhiệm cáo của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước manh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

KỶ NIỆM 69 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ (10/10/1954 - 10/10/2023): LỜI BÁC DẶN NĂM XƯA CÒN NHỚ

 

15 giờ chiều ngày 10/10/1954, hàng vạn quân dân Hà Nội trang nghiêm dự lễ chào cờ do Uỷ ban Quân chính tổ chức tại sân vận động Cột cờ. Sau lễ chào cờ, Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Vương Thừa Vũ trân trọng đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng.

Mùa thu lịch sử 1945, lần đầu tiên Hà Nội đón Bác trong buổi lễ Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình và 9 năm sau cũng vào mùa thu lịch sử 1954, Hà Nội lại vinh dự được đón Bác về Thủ đô sau ngày giải phóng. Trước khi trở về Hà Nội, Bác đã đi thăm, thắp hương tưởng niệm các Vua Hùng trên núi Hy Cương (núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ), Bác đã gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ Đại đoàn 308, là đại đoàn vinh dự được Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ trao cho nhiệm vụ vẻ vang, tiến về tiếp quản Thủ đô.

Trời thu lạnh, Bác trong bộ quần áo phin nâu, với sắc thái hồng hào khoẻ mạnh. Bác hỏi “Các chú có mệt không?” rồi chỉ lên núi, phía Đền Thượng, thân mật hỏi:

- Các chú có biết đây là nơi nào không?

- Thưa Bác, đây là Đền Hùng.

- Đúng, Đền thờ vua Hùng - tổ tiên chúng ta.

Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa các vua Hùng dựng nước, nay Bác cháu ta là những người giành lại đất nước. Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô, tám chín năm nay do quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, là được nhận một vinh dự rất lớn.

Bác nói về âm mưu của địch và cuộc đấu tranh hiện nay của nhân dân Hà Nội cũng như ở các vùng địch đang chuẩn bị rút. Bác ân cần căn dặn: Khi vào tiếp quản Thủ đô, các chú phải hết sức đề phòng những âm mưu mà kẻ thù của hoà bình sẽ dùng để phá hoại hàng ngũ của chúng ta.

Kết thúc buổi nói chuyện, Bác nhấn mạnh: Chính phủ đã đề ra mười điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác khi vào thành phố mới giải phóng. Bác mong bộ đội nghiêm chỉnh chấp hành, phải làm gương mẫu đúng đắn. Được không?

Anh em đứng lên hứa với Bác sẽ hoàn thành nhiệm vụ và chúc Bác khoẻ, sống lâu, Bác cười hiền hậu đáp lại: Được, muốn Bác vui khoẻ sống lâu, các chú hãy làm đúng những lời Bác căn dặn. Tất cả mọi người vỗ tay tiễn Bác.

Sáng 10/10, Hà Nội long trọng đón chào các đoàn quân tiến vào Thủ đô. Một trận mưa hoa đổ xuống những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô vừa bước chân qua ranh giới thành phố. Trận mưa hoa không ngớt kéo dài suốt đường hành quân của trung đoàn, Hà Nội đã chào đón những người con giải phóng của mình bằng những tiếng hò reo, lời ca và những tràng vỗ tay.

Trong không khí vui mừng của ngày lễ lịch sử, đồng chí Vương Thừa Vũ - Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Thành phố Hà Nội đã vinh dự đọc lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô, Người dặn dò nhân dân hãy “đồng tâm nhất trí góp sức với Chính phủ, thì chúng ta nhất định vượt mọi khó khăn và đạt được mục đích chung: làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn vinh”.

Thư vừa dứt thì tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” lại đồng thanh vang vọng trong sân vận động, qua loa truyền thanh lan qua các đường phố, mang lại trong lòng mỗi người dân Thủ đô một luồng gió mới, một không khí mới, thanh thản, vui tươi, tin tưởng, ấm áp tình người để ngày mai bắt tay vào xây dựng lại Thủ đô to đẹp, xứng đáng là vị trí trung tâm chính trị và văn hoá của cả nước. Hà Nội trái tim của cả nước - Thành phố vì hòa bình.

 

 

Nhớ lời Bác căn dặn: “Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”

        Ngày 5-4-1948, Bác Hồ viết 12 điều răn yêu cầu mọi người phải nhớ và thực hành khi tiếp xúc với dân. Để cổ động, Bác viết bài thơ: 

    Mười hai điều trên

    Ai chả làm được 

    Hễ người yêu nước

    Nhất quyết không quên

    Tập thành thói quen 

    Muôn người như một

    Quân tốt, dân tốt

    Muôn sự đều nên

    Gốc có vững, cây mới bền

    Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 

Cách đây 10 năm, Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai và thông tin độc hại”.

Kiên cường, bền bỉ trong “cuộc chiến” giữ vững vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vấn đề cần quan tâm hiện nay là phải nhận thức đúng đắn, thực hiện đồng bộ việc nâng cao hiệu quả, tăng cường tính chiến đấu và bảo đảm tính thuyết phục trong “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất chế độ chính trị-xã hội ưu việt mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Tung hỏa mù... "chuyện thâm cung bí sử"

 

Chiều chủ nhật, tại quán trà đá vỉa hè Thủ đô có 4 người tuổi trung niên xì xào bàn tán:- Mấy hôm nay, facebook của các đối tượng “lề trái” liên tục đăng tin “hot” về một số cán bộ cấp cao phe nhóm, đấu đá nhau để tranh chức quyền các ông ạ!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRẬN CHIẾN HUYỀN THOẠI 1 CHỌI 20 TẠI ĐỒI KHÔNG TÊN, QUẢNG TRỊ!

         Trận chiến ở Đồi Không Tên là trận đánh diễn ra từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 28/2/1967 trên một ngọn đồi dưới chân núi Cù Đinh (làng Chanh, xã Tân Kim, Cam Lộ, Quảng Trị) giữa 1 tiểu đội gồm 10 chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn pháo binh 84 QGP do Trung sĩ Bùi Ngọc Đủ chỉ huy có nhiệm vụ vận chuyển, xây dựng và bảo vệ kho chứa hơn 3.000 quả đạn pháo H6, H12, ĐKB dùng cho chiến dịch tấn công vào điểm cao 241 Quán Ngang, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở thị xã Đông Hà, Quảng Trị đầu năm 1967 và 200 lính Thủy quân lục chiến - lực lượng tinh nhuệ nhất của quân đội Mỹ được máy bay và pháo kích hỗ trợ.

Ngày 28/2/1967, sau khi nhận được tin thám báo, quân đội Mỹ bất ngờ dùng trực thăng đổ 200 lính thủy quân lục chiến lên khu vực Đồi Không Tên nhằm phá hủy kho đạn dược mà theo Mỹ đánh giá là cực lớn của quân Giải phóng. Một trận đánh không cân sức đã diễn ra quanh con suối La La ngay dưới chân đồi Không Tên, 10 tay súng QGP được trang bị vũ khí hạng nhẹ gồm 6 khẩu AK47, 4 khẩu súng trường CKC và lựu đạn quần nhau quyết liệt từng mét đất gần 1 ngày trời với một lực lượng địch vượt trội hơn mình 20 lần, được pháo binh, không quân (2 trực thăng, 4 cường kích mặt đất) yểm trợ. 

Vừa bị tấn công bất ngờ và hiểu rằng mình đang bị vây chặt, tất cả mọi ưu thế về quân số, hỏa lực, bố trí binh lực,... đều thuộc về quân địch, còn phía các chiến sĩ QGP chỉ có một ý chí quyết tâm, thông thạo địa hình. Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ chia quân thành 3 tổ, mỗi tổ 3 người phụ trách các hướng khác nhau kiên nhẫn chờ địch đến thật gần mới đồng loạt nổ súng vừa tạo ra hiệu suất tác xạ rất cao vừa gây nên nổi khiếp đảm khủng khiếp cho đối phương. 

Sau những đợt tấn công đầu tiên thất bại, quân Mỹ có lẽ cho rằng quân Giải phóng khá đông trên đồi nên gọi pháo binh và không quân cường kích chi viện, dồn dập pháo kích, không kích lên các vị trí nghi ngờ có vị trí đối phương ẩn nấp. Pháo kích xong thì biệt kích Mỹ lại lần lượt tấn công lên ngọn đồi và cứ sau mỗi đợt tấn công của địch, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ lại hao mòn dần, các chiến sĩ lần lượt hi sinh. Nhiều chiến sĩ bị thương nặng nhưng không hề rên la, không để đồng đội băng bó mà vẫn chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Các chiến sĩ không có một phút nào được nghỉ ngơi, tất cả họ đều không ăn, không uống suốt gần 1 ngày trời quần nhau quyết liệt cùng địch trên ngọn đồi Không Tên. Đến cuối buổi chiều hai bên đã gần như kiệt sức.

Kế hoạch tấn công chớp nhoáng bằng lực lượng biệt kích tinh nhuệ của Mỹ vào kho vũ khí QGP hoàn toàn thất bại, tổn thất 131/200 tay súng bị thương vong. Quân Mỹ buộc phải rút quân lúc 5 giờ ngày 28/2/1967. 

Không hề có chi viện, chỉ lợi dụng địa hình địa vật, tận dụng các ụ đất, đá, con suối để ẩn nấp, bố trí hỏa lực một cách thông minh, các chiến sĩ QGP đã đẩy lui 15 đợt tấn công của hơn 200 lính thủy quân lục chiến Mỹ được pháo binh và không quân chi viện, bảo vệ thành công kho đạn. Trong 10 chiến sĩ chiến đấu trên ngọn đồi Không Tên, 2 chiến sĩ bị thương nặng, 7 chiến sĩ anh dũng đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ./.
Yêu nước ST.

Phê phán quan điểm: “Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại sẽ thay thế cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”

 


 

Xã hội loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều có sự thay đổi sâu sắc về bản chất của trình độ sản xuất, do các phát minh đột phá của khoa học và công nghệ. Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, dựa trên những thành tựu khoa học và công nghệ đột phá trên nhiều lĩnh vực, tác động toàn diện tới tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh của Việt Nam.