Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

ĐỌC GIÚP BẠN: LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC LÀ THIÊNG LIÊNG NHẤT!

     Kế thừa giá trị truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc” và theo quan điểm của Người thì độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là để mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người cho rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” và Người luôn khát khao: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Mặc dù lợi ích quốc gia là nền tảng hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại nhưng quan điểm và cách thức hiện thực hóa mục tiêu lợi ích quốc gia lại khác nhau tùy vào yếu tố lịch sử - văn hóa, điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế chính trị và nền tảng tư tưởng của từng nước. Đối với Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và cơ sở lý luận để hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì giữa lợi ích quốc gia với lợi ích giai cấp có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trên thực tế, chủ thể hoạch định chính sách đối ngoại chính là nhà nước trong khi đó nhà nước mang bản chất giai cấp. Do đó, việc xác định lợi ích quốc gia sẽ do giai cấp cầm quyền chi phối. Vì vậy, lợi ích quốc gia sẽ gắn với lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” và “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Như vậy, đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia gắn với lợi ích của Nhân dân và việc xác định lợi ích quốc gia sẽ do Nhân dân quyết định, trong đó liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi ích quốc gia - dân tộc quan trọng nhất, thiêng liêng nhất của Việt Nam chính là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Sinh thời, Người luôn khẳng định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, Bác đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” và trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Bác luôn đấu tranh cho các quyền dân tộc cơ bản ấy.

Kế thừa giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc” và theo quan điểm của Người thì độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là để mang lại sự tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người cho rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” và Người luôn khát khao: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta đã khẳng định rõ mục tiêu đối ngoại là vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia -dân tộc”. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay thì việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Vì vậy, quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các hoạt động đối ngoại là cơ sở quan trọng để bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Trước hết, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân. Việt Nam luôn dành ưu tiên cao nhất cho lợi ích quốc gia - dân tộc nhưng cũng kiên trì chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chủ nghĩa quốc tế vô sản là sự thống nhất của giai cấp công nhân toàn thế giới về: lợi ích, tư tưởng, mục tiêu, thống nhất về tổ chức và thống nhất trong hành động. Do đó, việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc luôn gắn với cuộc đấu tranh chung của giai cấp vô sản vì hòa bình, độc lập, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong hoạch định và thực thi đường lối, chính sách đối ngoại, Đảng ta luôn nhấn mạnh chủ trương: “Mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội”.

Thứ hai, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, cần nhất quán quan điểm độc lập, tự chủ gắn với đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Theo Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ nghĩa là tự mình điều khiển mọi công việc của mình, không có sự can thiệp ở ngoài nào. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “tự lực cánh sinh”, “lấy sức ta để giải phóng cho ta”. Nhưng độc lập, tự chủ và tự lực, tự cường không có nghĩa là biệt lập và chủ nghĩa biệt phái. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, hợp tác, liên kết, sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ, lợi ích của các dân tộc đan xen, chồng chéo, việc thực hiện đường lối độc lập, tự chủ chính là để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc chính đáng. Cùng với đó, công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn nhất là chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chúng ta cần phải biết đoàn kết quốc tế. Mục tiêu của đoàn kết quốc tế là để làm tăng thêm khả năng tự lực, tự cường, tạo sự chuyển biến về so sánh lực lượng có lợi cho đất nước; đồng thời, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

Thứ ba, thực hiện tốt phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” - lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi. Phương châm này bắt nguồn từ triết lý phương Đông và được cha ông ta vận dụng hiệu quả trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước dài lâu của dân tộc. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy cao độ trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngày nay, vận dụng phương châm này trong hoạt động đối ngoại thì cái bất biến chính là lợi ích quốc gia - dân tộc và cái vạn biến chính là sách lược bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Mục tiêu lợi ích quốc gia - dân tộc là không thay đổi nhưng trong mỗi tình huống thì sách lược ngoại giao phải linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế cách mạng Việt Nam và bối cảnh khu vực, quốc tế trong từng thời điểm. Có như vậy mới có thể đảm bảo tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trong bối cảnh hiện nay./.
Yêu nước ST.

Khắc ghi lời dạy của Bác Hồ:

 “Đoàn kết, cảnh giác 

Liêm chính, kiệm cần
Hoàn thành nhiệm vụ
Khắc phục khó khăn 
Dũng cảm trước địch 
Vì nước quên thân
Trung thành với Đảng
Tận tụy với dân” 

Đó là lời căn dặn của Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ BĐBP tại buổi lễ thành lập lực lượng (tháng 3-1959).

NGUYỄN HUỆ - QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ VÀ TẦM VÓC VĨ ĐẠI

  Nguyễn Huệ (1753 - 1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế và Bắc Bình Vương, là vị Hoàng đế thứ hai của vương triều Tây Sơn.

    Ông sinh năm Quý Dậu, tức năm 1753, trong triều đại Cảnh Hưng thứ 13 dưới triều vua Lê Hiển Tông của nhà Hậu Lê. Ông còn được gọi với những cái tên khác như Quang Bình, Văn Huệ, hay Hồ Thơm.
    `Trưởng thành, Nguyễn Huệ cùng với Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ theo học văn lẫn võ dưới sự hướng dẫn của thầy Trương Văn Hiến. Người thầy này đã nhận ra năng khiếu của Nguyễn Huệ và khuyên ba anh em cùng nhau khởi nghĩa, xây dựng lực lượng đấu tranh. Có nguồn tin cho rằng, môn võ Yến phi quyền ở Bình Định đã được Nguyễn Huệ sáng tạo ra.
Nguyễn Huệ được coi là một vị tướng xuất sắc trong lịch sử đất nước và là vị vua tài ba, đưa ra những cải cách kinh tế và xã hội đột phá.
Cùng với hai anh em của mình (gọi là Tây Sơn Tam Kiệt), Nguyễn Huệ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đánh bại hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn và nhà Hậu Lê. Cuộc khởi nghĩa này kết thúc cuộc nội chiến kéo dài hơn hai thế kỷ. Đồng thời, ông cũng dẫn dắt quân dân đánh bại hai lực lượng ngoại xâm là Xiêm La ở phía nam và Đại Thanh ở phía bắc.
Sau 20 năm chinh chiến và trị quốc, Nguyễn Huệ đột ngột qua đời khi mới 40 tuổi, để lại nhiều hoài bão chưa thực hiện. Sự ra đi của ông là mất mát lớn của vương triều Tây Sơn, vì người kế vị là Cảnh Thịnh không đủ khả năng lãnh đạo. Điều này dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ Tây Sơn và nhanh chóng bị quân Nguyễn của Nguyễn Phúc Ánh đánh bại.

 

Đại tướng của nhân dân

Tôi chưa một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng tôi - thế hệ những người con sinh ra khi đất nước đã sạch bóng quân thù biết đến Đại tướng qua từng trang sử, qua lời kể của cha ông từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; qua những thước phim tư liệu trên ti vi hay các trang mạng xã hội, diễn đàn internet.

Từ những điều được học, được nghe, được biết về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của ông đối với cách mạng, chúng tôi thực sự khâm phục, tự hào và biết ơn Đại tướng - Người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, người được nhân dân ta gọi với cái tên trìu mến: “Anh Văn”!

Trọn cả cuộc đời với hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng đã có nhiều công lao to lớn và cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta. Cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng nước ta, với những hy sinh, gian khổ mà đầy oanh liệt, tự hào. Trọn cuộc đời cách mạng, Đại tướng luôn nêu tấm gương sáng về tinh thần cách mạng tiến công, sáng tạo trong nghệ thuật quân sự, nghệ thuật cầm quân, quyết chiến và quyết thắng, đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn chiến tranh thâm độc của kẻ thù. Đại tướng đã đi vào lịch sử Việt Nam như một huyền thoại, một nhân cách vĩ đại.

Đại tướng của nhân dân

 

“Không có sự vĩ đại nào không bắt đầu từ tình yêu” và sự vĩ đại của Đại tướng cũng bắt đầu từ tình yêu thương đối với những người dân phải chịu cảnh lầm than, nô lệ; từ tình yêu lớn lao đối với Tổ quốc mình, để từ đó Đại tướng đã lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. 103 mùa xuân sống giữa cuộc đời là món quà lớn lao mà Đại tướng đã dành tặng cho cho dân tộc Việt Nam. Sự ra đi của Đại tướng đã để lại niềm tiếc thương vô hạn không chỉ đối với nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài mà còn cả đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Dù còn sống hay đã mất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi là người anh hùng của dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng để con cháu đời đời học tập và noi theo. Ông đã từng nói rằng: “Tôi sống thêm ngày nào là vì dân tộc ngày đó!”. Đại tướng đã ra đi nhưng lại thắp lên ngọn lửa yêu thương, tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc trong lòng mỗi người dân Việt Nam.  

Ngày này 10 năm về trước, cũng như nhiều người khác, tôi không có cơ hội được đến tiễn đưa Đại tướng trước khi người về với đất mẹ nhưng nhìn những dòng người nức nở khi linh cữu của Đại tướng đi qua trên các tuyến đường của Thành phố Hà Nội trước khi trở về với quê mẹ Quảng Bình, lòng tôi như thắt lại, cứ như thể một người thân trong gia đình mình vừa nằm xuống vậy! Dẫu biết rằng, Đại tướng tuổi đã cao, sức khỏe đã yếu. Dẫu biết rằng, sinh ly tử biệt là lẽ thường của cuộc đời. Sự tài năng, đức độ, cuộc đời giản dị, mộc mạc của Đại tướng là ngọn nguồn của mọi tình yêu thương mà mỗi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở xa quê đều hướng về.

Chúng tôi nguyện mãi khắc ghi lời dạy của Đại tướng: “Thế hệ cha anh đã xóa được nỗi nhục mất nước, thế hệ trẻ cần phải xóa đi nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu”. “Thắng thực dân Pháp, chúng ta có Điện Biên Phủ ở Tây Bắc, thắng đế quốc Mỹ, chúng ta có một Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội”. “Phải có một Điện Biên Phủ trong khoa học và công nghệ, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…”.

Hôm nay (4-10) đúng tròn 10 năm ngày ra đi của Đại tướng, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình dâng nén tâm nhang để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn sâu sắc đối với Đại tướng của nhân dân - Người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam!


 

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Các tuyến phố, những vị trí trang trọng ở Hà Nội những ngày này được trang hoàng rực rỡ cờ hoa chào đón kỷ niệm 69 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10-10-1954/10-10-2023).

Ngày 10-10-1954 đã trở thành thời khắc lịch sử tràn đầy cảm xúc cho lớp lớp người Hà Nội khi Thủ đô được hoàn toàn giải phóng. 69 năm trôi qua, những kỷ niệm thiêng liêng về Ngày Giải phóng Thủ đô vẫn còn mãi trong dòng chảy ký ức lịch sử.

Nhìn lại quá trình phát triển của Thủ đô từ mốc son rực rỡ này, càng thấy rõ điểm tựa để Hà Nội phát triển như hôm nay chính là tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường không bao giờ lùi bước trước khó khăn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Thủ đô Hà Nội và cả nước.

Với người dân Hà Nội, Ngày Giải phóng Thủ đô mang trong mình ý nghĩa đặc biệt hơn cả một ngày lễ. Không chỉ vì cờ, hoa, biểu ngữ hay các điểm văn hóa, văn nghệ diễn ra trên từng tuyến phố, mà bởi sự phấn khởi, rộn rã trong lòng mỗi người.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

 Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Khu vực Quảng trường Ba Đình lịch sử những ngày này được trang hoàng rực rỡ, chào mừng kỷ niệm Ngày Giải phóng Thủ đô.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Băng rôn treo dọc tuyến phố Hoàng Văn Thụ, trước Phủ Chủ tịch.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Trong ngày thu tháng 10, phố Phan Đình Phùng trở nên nhiều sắc màu hơn bởi các tấm băng rôn được treo dọc tuyến đường.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Tấm pano cỡ lớn “Nhiệt liệt chào mừng 69 năm Ngày Giải phóng Thủ đô” trước UBND quận Ba Đình.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

 Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Những tấm pano, băng rôn treo ở đường Lê Hồng Phong.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Màn hình led trước Trung tâm thương mại Tràng Tiền (quận Hoàn Kiếm) trình chiếu các đoạn video chào mừng kỷ niệm 69 năm Ngày Giải phóng Thủ đô 10-10.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
Ngày Giải phóng Thủ đô 10-10-1954 không chỉ ghi dấu chặng đường phát triển của Thủ đô Hà Nội, mà còn là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. 
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
Dọc tuyến phố Ngô Quyền (quận Hoàn Kiếm) được trang trí pano với hình Khuê Văn Các, cờ Đảng, cờ Tổ quốc. 
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Cầu vượt Liễu Giai - Nguyễn Chí Thanh rực rỡ chào mừng ngày 10-10.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Khu vực ngã 7 Ô Chợ Dừa được trang hoàng bởi những tấm pano kích thước lớn chào đón Ngày Giải phóng Thủ đô.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

 Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Tại cổng của các cơ quan là pano với khẩu hiệu chào mừng 69 năm Ngày Giải phóng Thủ đô.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Một tấm pano cỡ lớn được đặt ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
 Dọc theo tuyến đường Thanh Niên được trang trí cờ Tổ quốc, cờ Đảng.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
Màn hình led ở ngã tư Liễu Giai, Văn Cao, Đội Cấn trình chiếu các video chào mừng kỷ niệm 69 năm Ngày Giải phóng Thủ đô 10-10.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

 Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô

Không chỉ có những tuyến phố lớn được trang hoàng lộng lẫy mà khắp các con ngõ của Thủ đô cũng rực rỡ màu cờ đỏ sao vàng.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Ngày Giải phóng Thủ đô
Những ngày mùa thu lịch sử năm 1954, cả "rừng" người náo nức chào đón đoàn quân trở về tiếp quản ở Hà Nội. Cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột Cờ cổ kính, đánh dấu ngày Thủ đô được hoàn toàn giải phóng.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo can thiệp vào an ninh, chính trị trên địa bàn Tây Nguyên

 Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng; nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo cùng chung sống. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng mang tính cấp bách hiện nay.

1– Bao trùm trên diện tích khoảng 54.600km2, gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, Tây Nguyên là vùng tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, với khoảng 2,2 triệu người (chiếm 15,6% dân số cả nước năm 2019)(1). Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, Tây Nguyên ngày càng phát triển ổn định, bền vững; đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao; giá trị văn hóa các dân tộc được bảo tồn, kế thừa và phát huy; hệ thống giáo dục được quan tâm đầu tư, mạng lưới y tế được củng cố; chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt; thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, thế trận lòng dân được củng cố và tăng cường; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố; niềm tin của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng, Nhà nước được củng cố, tăng cường… Sự ổn định và phát triển của Tây Nguyên đã góp phần hết sức quan trọng trong sự phát triển chung của cả nước.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn ráo riết lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Ý đồ lâu dài, không thay đổi của các thế lực thù địch là phủ nhận những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, địa phương; phá hoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo trên địa bàn; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp; thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tiến tới “bạo loạn” và hướng đến thành lập cái gọi là “Nhà nước Đề-ga” trên địa bàn Tây Nguyên.
Các tổ chức phản động lưu vong dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền chống phá vào địa bàn; củng cố tổ chức, phục hồi hoạt động Fulro, “Tin lành Đề-ga”, lôi kéo, kích động người dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài. Đặc biệt, chúng liên tục sử dụng vỏ bọc để phát triển nhiều điểm nhóm, các tổ chức núp bóng danh xưng tôn giáo, như Giáo hội Tin lành đấng Cờ-rít Việt Nam, Hội thánh Tin lành đấng Cờ-rít Tây Nguyên, tà đạo(2) nhằm che giấu bản chất phản động, đánh lừa nhận thức của quần chúng.
Chúng tập trung tuyên truyền, móc nối, lôi kéo một số người dân tộc thiểu số ở trong và ngoài nước nhằm tạo dựng “ngọn cờ” tập hợp lực lượng; lợi dụng sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông xã hội, như Tiktok, Facebook, Instagram, Twitter, Wechat, Youtube,… để lập ra nhiều “diễn đàn” khác nhau, có diễn đàn công khai đối lập với đường lối của Đảng và Nhà nước; có diễn đàn ẩn dưới danh nghĩa bảo vệ quyền “tự do tôn giáo”, “dân chủ” cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; có diễn đàn chuyên đăng tải thông tin sai lệch ở Tây Nguyên để chống phá chính quyền.
Chúng thổi phồng những vấn đề dân tộc thiểu số nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ các thế lực bên ngoài. Triệt để lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm gây mất ổn định xã hội, tạo sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Lợi dụng các diễn đàn quốc tế, các thế lực thù địch vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, hạn chế quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo; vu cáo chính quyền “ức hiếp”, “xua đuổi” người dân tộc thiểu số khi họ vượt biên trái phép; vu khống chính quyền Việt Nam bắt giam, ngược đãi những người “bất đồng chính kiến”, các “chức sắc” và “tín đồ tôn giáo”, ngăn cấm “quyền tự do ngôn luận”, “trao đổi thông tin”,… Đặc biệt, vụ khủng bố chống chính quyền nhân dân xảy ra tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk (ngày 11-6-2023) cho thấy các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức hoạt động từ biểu tình gây rối sang hoạt động tàng trữ vũ khí quân dụng bất hợp pháp, xây dựng cơ sở ngầm, hành động manh động, tấn công bất ngờ, dã man.
2– Từ tình hình trên, để ổn định tình hình tư tưởng và đời sống nhân dân, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên để chống phá cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng. Chăm lo xây dựng, củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo. Chủ động, thường xuyên tiến hành các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả âm mưu, thủ đoạn móc nối, xâm nhập, lôi kéo chống phá, can thiệp, lật đổ của các thế lực thù địch, phản động; bảo đảm cho hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở luôn ổn định, vững mạnh; không để xảy ra các “điểm nóng”, biểu tình, bạo loạn.
Chủ động phát hiện, ngăn chặn các nhân tố gây nguy cơ mất ổn định, không để các thế lực thù địch lợi dụng, gây bức xúc trong nhân dân, kích động biểu tình phản đối Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28-9-2018, của Bộ Chính trị (khóa XII), “Về Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia”, Luật biên giới quốc gia và các nghị định, chỉ thị về tăng cường an ninh tuyến biên giới… Bộ đội biên phòng chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn và các tỉnh biên giới của Lào, Cam-pu-chia thực hiện các biện pháp phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành động xây dựng căn cứ, lực lượng, tổ chức huấn luyện ở khu vực biên giới, đưa người xâm nhập nội địa,… để chuẩn bị gây bạo loạn chính trị, bạo loạn ly khai, bạo loạn vũ trang của các thế lực thù địch, phản động.
Thường xuyên củng cố trận địa tư tưởng, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, tuyệt đối không để các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo. Đề cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu nêu gương trong thực hiện nhiệm vụ, thường xuyên “gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân”; củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo.
Hai là, xây dựng, củng cố tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Xây dựng, củng cố tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là cấp tỉnh và cấp cơ sở, ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, bảo đảm số lượng, chú trọng chất lượng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Phấn đấu xây dựng thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ; tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thường xuyên lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, tính chiến đấu của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, không dao động trong bất kỳ tình huống nào. Đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cấp ủy viên có trình độ, năng lực lãnh đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết; có uy tín, khả năng vận động, thuyết phục đồng bào. Thường xuyên chăm lo phát triển đảng, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, bảo đảm chất lượng.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Tiếp tục vận dụng, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Tập trung giải quyết các mặt bất cập, hạn chế, bức xúc của nhân dân về đất đai, việc làm, thu nhập và mâu thuẫn nội bộ… Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền, đoàn thể và công tác vận động quần chúng.
Ba là, xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh toàn diện; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành hoạt động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp. Củng cố, kiện toàn HĐND, UBND các cấp theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, xã, phường, thị trấn; quy định của Hiến pháp năm 2013,… phù hợp với đặc điểm, yêu cầu địa bàn Tây Nguyên. Ngoài các nguyên tắc, nội dung chung, cần nâng cao chất lượng công tác dân vận, gần dân, sát dân, tăng cường pháp chế, quản lý nhà nước về an ninh chính trị; nắm chắc tình hình, phát hiện, xử lý, ngăn chặn kịp thời, tại chỗ các vấn đề có nguy cơ dẫn đến bất ổn, “điểm nóng”,… để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.
Xây dựng quy chế phối hợp công tác chặt chẽ giữa UBND với các tổ chức chính trị – xã hội trong việc quản lý kinh tế – xã hội, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Định kỳ tiếp công dân theo lịch, kết hợp với các tổ chức đoàn thể nắm tình hình, phát hiện vấn đề phức tạp, kịp thời giải quyết theo thẩm quyền… Xây dựng mối quan hệ gắn bó, củng cố lòng tin của đồng bào đối với chính quyền, để bất cứ điều gì đồng bào cũng phản ánh với chính quyền, cán bộ; chính quyền, cán bộ nói thì đồng bào tin và làm theo. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm trong các cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các cấp.
Ủy ban nhân dân kịp thời cụ thể hóa nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cùng cấp thành chương trình, kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện, nhất là thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 152/NQ-CP, ngày 15-11-2022, của Chính phủ, “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6 tháng 10 năm 2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Tập trung giải quyết, tháo gỡ những vấn đề “nóng”, bất cập của địa phương, lĩnh vực. Tăng cường quản lý, điều hành thực hiện các chương trình, dự án kinh tế – xã hội, nhất là chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, dự án xây dựng “điện, đường, trường, trạm”, bảo đảm an sinh xã hội, đất sản xuất, đất ở, việc làm,… nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo.
Bốn là, củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trên địa bàn Tây Nguyên. Tiếp tục kiện toàn Mặt trận Tổ quốc các cấp; chú trọng cơ cấu dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quy tụ được những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư (già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, trưởng tộc, trưởng các dòng họ,…). Coi trọng xây dựng, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch phải là người thực sự tiêu biểu, trung tâm đoàn kết.
Quan tâm chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phát huy vai trò xung kích trong các phong trào hành động cách mạng, các cuộc vận động ở địa phương, không để tổ chức phản động xâm nhập, nắm, lôi kéo thanh niên. Đẩy mạnh công tác phát triển đoàn, ưu tiên thanh niên dân tộc thiểu số, không để địa phương, cơ sở “trắng” tổ chức đoàn, “trắng” đoàn viên. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng sinh hoạt đoàn thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, đặc thù địa bàn Tây Nguyên, gắn với hoạt động phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội. Phát huy vai trò của hội cựu chiến binh, tăng cường giáo dục, phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn. Động viên hội viên làm kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; tích cực tham gia công tác quân sự, quốc phòng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tệ nạn, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, làm nòng cốt trong phòng, chống biểu tình, bạo loạn trên địa bàn.
Phát huy vai trò của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội; tiếp tục quán triệt và thực hiện hiệu quả 5 chương trình công tác trọng tâm và 2 chương trình do Trung ương Hội phát động. Tuyên truyền bằng hình thức phù hợp, thiết thực, nâng cao nhận thức; phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; xóa bỏ quan niệm lạc hậu đối với phụ nữ. Vận động phụ nữ tham gia các lớp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, bổ túc văn hóa, bồi dưỡng nâng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Hội Nông dân, xây dựng chương trình hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo; tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, xóa bỏ tập quán lạc hậu cho hội viên. Tăng cường phát triển kinh tế hộ gia đình; nhân rộng mô hình các câu lạc bộ khuyến nông, làm vườn, trồng rừng, chăn nuôi, giúp nhau làm kinh tế… Tuyên truyền, vận động hội viên phát hiện, đấu tranh với các phần tử phản động, xuyên tạc, lôi kéo nông dân khiếu kiện, biểu tình, gây rối… Công đoàn, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục; phát huy vai trò của công đoàn trong quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo; quản lý không để đoàn viên tham gia biểu tình, đình công trái phép; tích cực tham gia phòng, chống bạo loạn chính trị, bạo loạn ly khai.
Năm là, nắm chắc địa bàn, xử lý hiệu quả hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Cơ quan quân sự phối hợp với công an, biên phòng và các đơn vị đứng chân trên địa bàn thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra, xác minh, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo xử lý hiệu quả hoạt động chống phá của các tổ chức phản động, tôn giáo chống đối chính trị, các thế lực thù địch; ngăn chặn các hoạt động truyền đạo trái phép, vượt biên, di cư tự do; giải quyết kịp thời tranh chấp về đất đai, ô nhiễm môi trường. Theo dõi, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn hoạt động kêu gọi biểu tình của các tổ chức phản động; tiến hành giáo dục, cảm hóa, đấu tranh với đối tượng hoạt động vượt biên, hoạt động Fulro, các loại tà đạo. Thực hiện nghiêm Luật phòng, chống khủng bố năm 2013; Nghị định số 07/2014/NĐ-CP, ngày 27-1-2014, của Chính phủ, “Quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ phối hợp của Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố các cấp”. Rà soát các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, kéo dài, nhất là vấn đề liên quan đến đất đai, xây dựng, bồi thường giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh, xử lý ngay từ khi mới manh nha, không để bùng phát thành điểm nóng. Đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo.
Nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Việc đề xuất giải pháp đúng, khả thi và chủ động tham gia thực hiện hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào bảo vệ địa bàn, tạo môi trường thuận lợi để phát triển Tây Nguyên nhanh và bền vững./.