Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng địa bàn vững mạnh.

 Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 (Quân khu 4) được giao thực hiện Dự án Khu Kinh tế - Quốc phòng Khe Sanh trên địa bàn 14 xã, 99 thôn, bản của các huyện: Cam Lộ, Hướng Hóa, Đakrông (tỉnh Quảng Trị). Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đoàn gặp không ít khó khăn, thách thức do địa bàn rộng, địa hình chủ yếu là rừng núi, giao thông chia cắt, khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, bất thường; dân cư trên địa bàn chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống (có gần 80% là người Vân Kiều, Pa Cô), trình độ dân trí không đồng đều, nhiều hủ tục còn tồn tại; kinh tế chậm phát triển (có 08 xã biên giới, 05 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn). Trước đặc điểm đó, cùng những bất cập về tổ chức, biên chế, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã bám sát chức năng, nhiệm vụ, tích cực phối hợp với địa phương triển khai nhiều giải pháp thực hiện mục tiêu của Dự án, hướng trọng tâm vào giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí,... xây dựng địa bàn ổn định về chính trị, kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Thủ trưởng Đoàn chủ trì lễ bàn giao công trình đường giao thông cho địa phương

Thực hiện Quyết định số 49/QĐ-TTg, ngày 24/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch xây dựng và phát triển các Khu Kinh tế - Quốc phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, Đoàn chủ động phối hợp với tỉnh Quảng Trị và các huyện vùng Dự án lập hợp phần quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế - xã hội và tích hợp vào quy hoạch của địa phương. Trong đó, xác lập rõ các khu vực: trình diễn mô hình trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất; chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân; khu vực đóng quân, thao trường huấn luyện,... kết nối liên hoàn với các khu dân cư, trung tâm hành chính của địa phương. Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, Đoàn sử dụng nguồn vốn thuộc Dự án, lồng ghép các nguồn vốn địa phương, khảo sát, thiết kế mặt bằng, xác định lộ trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, như: điện, đường, trường, trạm, hệ thống công trình giao thông, thủy lợi, v.v. Cùng với đó, khảo sát các địa bàn có nguy cơ sạt lở cao, tham mưu, phối hợp với địa phương huy động nguồn lực, nhất là công sức của bộ đội, nhân dân, sắp xếp cho 681 hộ gia đình cư trú ổn định tại chỗ và di dời đến nơi ở mới. Trong đó, tổ chức khai hoang đất, cải tạo đồng ruộng, xây dựng được 09 điểm dân cư tập trung, quy mô từ 10 - 34 hộ; bố trí xen ghép và ổn định tại chỗ 66 hộ/258 khẩu tại các xã Hướng Việt, Hướng Lập, Hướng Phùng; hỗ trợ di dời, tái định cư cho 35 hộ dân sinh sống tại các vị trí dễ bị sạt lở của xã Hướng Việt; tạo nên các làng thanh niên lập nghiệp, cụm làng, bản trên tuyến biên giới; đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, tạo vành đai bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, sau vụ sạt lở đất tháng 10/2020 làm nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh, bị thương, Đoàn phối hợp với địa phương khảo sát, nhanh chóng xây dựng mới Sở Chỉ huy, Công ty Xây dựng và 06 đội sản xuất, tạo thế bố trí mới. Giai đoạn 2018 - 2023, Đoàn xây dựng và bàn giao cho địa phương 02 công trình điện, gần 38km công trình đường giao thông, 13 công trình nước sinh hoạt, đập thủy lợi, 20 điểm trường, 03 nhà sinh hoạt cộng đồng, 02 công trình san lấp mặt bằng,... góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”.

Phối hợp giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sốngvăn hóa là yếu tố cốt lõi để xây dựng địa bàn ổn định về chính trị, vững mạnh về quốc phòng, an ninh. Với phương châm “bám dân, bám bản, làm cho dân tin, nói cho dân hiểu, trên tinh thần đoàn kết quân dân cá - nước”, Đoàn tích cực khảo sát nguyện vọng của dân, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu; lựa chọn cây trồng, con giống phù hợp; xây dựng các mô hình phát triển kinh tế và tổ chức làm trước, trình diễn, đối chứng. Trên cơ sở đó, tổ chức tham quan, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật; cấp phát cây, con giống, nhân rộng mô hình. Nhờ vậy, những năm qua, đã xây dựng và nhân rộng thành công nhiều mô hình, như: trồng cây ăn quả, cà phê, dong riềng, lúa nước; nuôi bò, lợn, dê sinh sản, v.v. Để đạt hiệu quả, Đoàn phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ thường xuyên bám cơ sở, hướng dẫn, cùng nhân dân tổ chức sản xuất, quản lý cây trồng, vật nuôi, làm thay đổi cách nghĩ, cách sản xuất của đồng bào. Đặc biệt, Đoàn kiên trì triển khai các mô hình “Chi bộ đội sản xuất, cơ quan, đơn vị giúp các hộ nghèo xây dựng mô hình chăn nuôi sản xuất, giảm nghèo” và “Đội sản xuất kết nghĩa thôn, bản hỗ trợ giúp dân giảm nghèo”, nhằm gắn kết trách nhiệm lâu dài của các cơ quan, đơn vị với nhân dân. Đây là các mô hình gốc để cán bộ, nhân viên cơ quan, đơn vị bám bản, bám địa bàn, nghiên cứu điều kiện tự nhiên, thu thập kinh nghiệm để xây dựng các mô hình kinh tế. Cán bộ của Đoàn đã nỗ lực nghiên cứu thị trường để xây dựng các mô hình sản xuất hàng hóa, như: nuôi dê giống địa phương, lợn Móng Cái ở xã Hướng Sơn, Hướng Việt; nuôi bò giống địa phương, bò Lai-sin ở xã Hướng Linh; trồng lúa nước ở xã Hướng Sơn, Hướng Lập; trồng dong riềng ở xã Hướng Phùng, v.v. Cùng với cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, hướng dẫn tổ chức sản xuất, để đảm bảo cho nhân dân có thu nhập ổn định, Đoàn liên kết, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm; đầu tư một số dây chuyền sản xuất, thu mua, chế biến. Đáng chú ý, do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khu vực khắc nghiệt, bão lũ, khô hạn nhiều, việc trồng lúa nước rất khó khăn, nhưng với quyết tâm bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ, Đoàn đã đầu tư kinh phí, áp dụng khoa học công nghệ và công sức để duy trì mô hình và diện tích trồng lúa nước trên địa bàn. Nhờ nỗ lực của Đoàn và cấp ủy, chính quyền địa phương, đến nay người dân đã bỏ thói quen phát rừng làm rẫy, trồng lúa trên núi, chăn thả gia súc tự nhiên, không chuồng trại, hiệu quả thấp, ô nhiễm môi trường, đời sống phụ thuộc thiên nhiên, chuyển sang thâm canh lúa nước 02 vụ/năm, biết trồng hoa màu, rau xanh, tạo nguồn thức ăn tại chỗ cho chăn nuôi tập trung. Đến nay, các mô hình đang phát triển tốt, đàn gia súc giống tăng trưởng lên hàng trăm con; năng suất trồng lúa nước đạt 4,6 - 5,8 tấn/ha. Nhân dân các địa phương phối hợp với Đoàn trồng, chăm sóc, bảo vệ hàng trăm hec-ta rừng vành đai biên giới, rừng phòng hộ, đầu nguồn, góp phần chống lũ quét, sạt lở, bảo vệ địa hình và an toàn dân cư trong mưa, lũ. Nhờ đó, cuộc sống của gần 2.000 hộ dân trong vùng Dự án đã thay đổi rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm xuống gần 58%.

Đoàn 337 tổ chức nhận nuôi học sinh theo chương trình nâng bước em tới trường

Thực hiện chức năng “đội quân công tác”, Đoàn tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, làm công tác dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đoàn chủ động phối hợp với các ban, ngành tỉnh Quảng Trị và địa phương vùng Dự án xây dựng kế hoạch, nội dung củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các xã trên địa bàn. Theo đó, các đơn vị của Đoàn đã tham mưu, giúp cấp ủy, chính quyền xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức bồi dưỡng, phát triển đảng viên ở các thôn, bản; tập huấn nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, đoàn thể, thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở, phương pháp vận động quần chúng, v.v. Từ năm 2018 đến nay, Đoàn giúp các địa phương mở 05 lớp bồi dưỡng đối tượng đảng, kết nạp 151 đảng viên. Chỉ đạo các đội sản xuất đẩy mạnh công tác dân vận; ký kết, phối hợp hoạt động với địa phương để bám dân, thực hiện 04 cùng1, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của đồng bào; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương về chính sách dân tộc, tôn giáo. Quá trình thực hiện, Đoàn coi trọng phát huy lòng nhiệt huyết, vai trò xung kích của đội ngũ trí thức trẻ tình nguyện, tổ chức các đội công tác bám thôn, bản, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, ngăn chặn hoạt động tà đạo, truyền đạo trái pháp luật; hướng dẫn cách ăn, ở, vệ sinh khoa học; góp phần xây dựng nếp sống mới, bảo tồn, phát triển giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của đồng bào; đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch. Đi liền với phát triển kinh tế, Đoàn chú trọng đưa văn hóa, y tế về thôn, bản, nâng cao đời sống tinh thần, sức khỏe cho nhân dân; duy trì hiệu quả hoạt động của Bệnh xá quân - dân y, đội quân y cơ động để khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho người dân, đối tượng chính sách, kết hợp tuyên truyền, vận động nhân dân phòng, chống dịch bệnh, tệ nạn, bệnh xã hội, vệ sinh môi trường, thực hiện kế hoạch hóa gia đình2. Qua đó, nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, các lực lượng trên địa bàn và cả người dân nước bạn Lào; góp phần tích cực vào công tác đối ngoại, xây dựng cộng đồng an toàn, biên giới hữu nghị, phát triển. Thời gian qua, Đoàn chỉ đạo các tổ chức thanh niên, phụ nữ, xây dựng, thực hiện tốt mô hình “5 cha 3 con”3, “Nâng bước em đến trường”, “Bữa cơm dinh dưỡng tại các điểm trường khó khăn” và quyên góp hỗ trợ tiền ăn, đồ dùng học tập, sách giáo khoa, phương tiện đến trường,… giúp đỡ 58 học sinh có hoàn cảnh khó khăn; ngày càng củng cố lòng tin của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ vào “Bộ đội Cụ Hồ”.

Xây dựng địa bàn vững mạnh về quốc phòng, an ninh là một nhiệm vụ trọng tâm của các đoàn kinh tế - quốc phòng, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dự án. Nhận thức rõ điều đó, Đoàn chú trọng kiện toàn tổ chức biên chế, duy trì nghiêm nền nếp huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đẩy mạnh xây dựng các cơ quan, đội sản xuất vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Đoàn đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Biên phòng, cơ quan quân sự các huyện, xã thường xuyên trao đổi thông tin, nắm tình hình địa bàn, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến; tham mưu cho địa phương kịp thời triển khai biện pháp đấu tranh ngăn ngừa, giải quyết dứt điểm các vụ việc, tình huống về quốc phòng, an ninh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ. Tích cực vận động nhân dân tham gia tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc; giữ gìn an ninh, trật tự thôn, bản; không tàng trữ, buôn bán, sử dụng chất ma túy, vũ khí, vật liệu nổ; không di cư tự do, vượt biên trái phép. Đồng thời, tham mưu, ký kết Quy chế Phối hợp bảo vệ địa bàn; tích cực giúp địa phương xây dựng lực lượng, thế trận khu vực phòng thủ, tham gia phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng. Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vật chất, trang bị đảm bảo cho phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Qua đó, phát huy tốt vai trò xung kích trong thực hiện “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, góp phần giữ gìn mối quan hệ đoàn kết gắn bó quân dân, xây dựng địa bàn vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tạo vành đai vững chắc trên tuyến biên giới của Tổ quốc.

Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng.

 Không gian mạng là “môi trường đặc biệt”, nơi kết nối, chia sẻ thông tin toàn cầu, mang lại lợi ích, mặt tích cực trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng cũng có nhiều mối nguy hại đan xen. Việc người dùng có thể tự do đăng tải, chia sẻ thông tin không giới hạn lên không gian mạng khiến nơi đây đã, đang trở thành mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, tuyên truyền chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cần được đẩy mạnh cả về lý luận và thực tiễn.

Thực chất chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh ở Việt Nam là nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Đó là tổng hợp các hoạt động nhằm lôi kéo, dẫn dắt tư tưởng, hành động của quần chúng nhân dân, nhất là lớp trẻ; làm cho họ chạy theo những ham muốn tầm thường, xa rời lý tưởng cách mạng và bị sai khiến; làm cho nội bộ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và một trong những thủ đoạn mà chúng thường sử dụng là lợi dụng không gian mạng để đăng tải các bài viết, hình ảnh, video,... mang nội dung xuyên tạc, kích động có chủ đích.

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, các bài viết tuyên truyền, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên không gian mạng rất nhiều. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, trong 06 tháng đầu năm 2023, mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết tiêu cực, xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng, thu hút hàng chục triệu lượt bình luận, chia sẻ với tỷ lệ bình luận tiêu cực rất cao. Khi tìm kiếm trên mạng những vấn đề nóng, nhạy cảm đang được xã hội quan tâm sẽ cho hàng triệu kết quả. Trong đó, trên 05 trang đầu tiên luôn có hàng chục bài viết tiêu cực từ các trang mạng VOA, BBC, RFA, RFI, Báo Tiếng dân, v.v. Các bài tiêu cực tồn tại rất nhiều trên các website, YouTube, Facebook, Instagram,… do được đăng tải từ nhiều tài khoản; đăng tải nhắc lại không hạn chế ở các thời điểm khác nhau; nội dung chống phá rất linh hoạt, tiếp cận từ nhiều góc độ, không cần tiêu đề rõ ràng, mang tính ám chỉ việc xấu, hoặc chỉ nêu những bất bình trong cuộc sống…; từ đó, đặt câu hỏi, khêu gợi tư tưởng tiêu cực cho người đọc, người nghe, nên tốc độ phát tán và tương tác rất cao.

Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống diễn biến hòa bình trên các loại hình thông tin, truyền thông, nhất là môi trường mạng; tạo nên phong trào sôi nổi, thu hút nhiều đối tượng tham gia và đạt hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh vẫn còn những tồn tại, bất cập: (1). Số lượng cơ quan truyền thông, báo, tạp chí có chuyên mục đấu tranh chuyên biệt chưa nhiều, chủ yếu nằm trong lực lượng vũ trang; (2). Lượng tương tác bình luận, chia sẻ đối với các bài này còn thấp, chỉ đạt từ 2% - 4%; (3). Chưa có nhiều ‘kênh” đăng tải, chủ yếu là các bài viết dạng văn bản trên web, Facebook, khá ít trên YouTube; các trang Fanpage của các đơn vị cũng chỉ thu hút tương tác chủ yếu đối với tài khoản của nhóm bạn có cùng sở thích, nặng tính nội bộ, giáo dục lẫn nhau,... nên hiệu quả còn hạn chế. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng, bài viết xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một làxây dựng đồng bộ lực lượng quản trị, viết bài và tổ chức đấu tranh thường xuyên, liên tục. Đấu tranh chống diễn biến hòa bình là hoạt động tổng hợp, diễn ra trên mọi lĩnh vực, nên cần tìm kiếm, xây dựng mạng lưới cộng tác viên đa dạng, nhất là đối với lĩnh vực có nhiều hoạt động chống phá. Đối tượng lựa chọn phải được đặt lên hàng đầu tiêu chuẩn về chính trị; đủ năng lực khai thác thông tin, viết bài đấu tranh trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là các nhà khoa học, nhà báo có năng lực tiếp cận, viết bài nhanh bất kỳ vấn đề gì mà ban chỉ đạo đặt ra. Tập trung xây dựng các ban chỉ đạo đấu tranh vững mạnh, có khả năng dự báo tình hình, năng lực tổ chức, chỉ huy; thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng các kỹ năng chỉ đạo, phối hợp đấu tranh, sử dụng mạng,… để chỉ huy, chỉ đạo toàn lực lượng thực thi nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, cần kịp thời chỉ đạo: vấn đề nào cần đấu tranh trực diện; vấn đề nào tái khẳng định, bảo vệ; cách ứng xử những vấn đề nhạy cảm. Xác định: thành phần, lực lượng đảm nhiệm; phân phối nhiệm vụ; phương pháp điều hành thống nhất theo các tuyến; quy định bảo mật thông tin; bảo vệ lực lượng đấu tranh. Đồng thời, cần tổ chức một trục đấu tranh thống nhất trong toàn quốc gắn với phân công cụ thể hoạt động riêng của từng đơn vị, không để ngắt quãng, trầm lắng.

Hai làquy chuẩn về kỹ thuật các bài viết đấu tranh chống diễn biến hòa bình khi đăng tải trên mạng. Chúng ta đều biết, internet là kho thông tin khổng lồ, cho phép tương tác, tìm kiếm, chia sẻ thông tin, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người sử dụng. Để xử lý lượng thông tin đó, các công ty dịch vụ mạng như Google, Bing, ALO, Assk.com, Yahoo,... xây dựng bộ quy tắc SEO ( Search Engine Optimization - tối ưu hóa các công cụ tìm kiếm) để tăng hiệu năng tìm kiếm, chia sẻ thông tin. Vì vậy, muốn tăng hiệu quả tìm kiếm, tương tác, các bài viết cần đạt chuẩn SEO. Trong đó, tiêu đề dùng chữ thường, không nên quá 70 ký tự; chapo dưới 150 ký tự; hình ảnh có chất lượng tốt, không vi phạm bản quyền, chứa logo đơn vị phát hành, chú thích ảnh phải phụ trợ chủ đề bài viết; nội dung phân đoạn rõ ràng, có tiêu đề phụ theo phân cấp, không dài quá 250 ký tự, liên quan tiêu đề bài viết, v.v. Đặc biệt, việc nghiên cứu, lựa chọn từ khóa phù hợp với thị hiếu người dùng rất quan trọng; mật độ từ khóa trong bài càng cao thì hiệu lực tìm kiếm càng tốt; từ khóa cần có mặt trong tiêu đề chính, chapo, tiêu đề phụ, trong nội dung bài và cả chú thích ảnh. Ngoài ra, cần tạo các đường liên kết để giải thích nội hàm từ ngữ, vấn đề được trình bày cô đọng; liên kết với các bài liên quan để người dùng dễ dàng truy cập.

Bên cạnh đó, khi xây dựng trang web, đăng tải bài viết nên dùng trang có tên miền ngắn gọn; ưu tiên tên miền quốc tế (cấp 1) có đuôi .com, .net, .info, .gov…; sau đó đến tên miền quốc gia (cấp 2) có đuôi .vn, .au, .uk…; hạn chế tên miền có đuôi .edu.vn, .gov.vn, .edu.uk (cấp 3). Thực tế, trang huongsenviet.com, nhanvanviet.com,… có tên miền quốc tế nên dễ dàng tìm kiếm; các trang blogspot.com có tên miền cấp 3 nên khó tìm kiếm nội dung. Các tài khoản Facebook dùng cho đấu tranh cần đầy đủ ảnh đại diện, danh tính và các thông tin theo yêu cầu của nhà mạng; nếu ẩn danh, thiếu thông tin sẽ khó kết bạn, tham gia nhóm; bị nghi ngờ là tài khoản rác,... sẽ hạn chế tương tác, rất khó tiếp cận công chúng.

Ba làxây dựng hệ thống bài viết, chương trình đấu tranh theo từng lớp sự kiện, không để ngắt quãng, trầm lắng. Cái khó của bài viết đấu tranh là lựa chọn chủ đề phù hợp, có luận cứ, luận chứng rõ ràng, không nói nước đôi, tránh “tuyên truyền hộ địch”,... nên số lượng bài thường hạn chế. Ngoài ra, có một số bài viết hay, sức thuyết phục cao, nhưng lại đăng ở báo, tạp chí có mức độ ảnh hưởng thấp, hạn chế sức mạnh đấu tranh và lan tỏa. Để khắc phục, nên chia làm 03 tuyến bài; tuyến 1 có chất lượng cao của các nhà khoa học; đó là các bài đấu tranh toàn diện, khoa học về vấn đề địch chống phá. Tập trung lý luận chuyên sâu, phản ánh và giải thích thực trạng; thống nhất quan điểm, cách hiểu vấn đề, sự việc; hướng người đọc tiếp cận vấn đề theo hướng tích cực; từ đó, củng cố lập trường, quan điểm, tư tưởng, phản bác, đấu tranh trực diện quan điểm sai. Tuyến 2 là các bài nhỏ, ngắn khoảng 800 – 1.000 từ, đấu tranh trực diện trên từng mặt hoạt động, vấn đề nhánh; tác nghiệp nhanh. Bài tuyến 3 là những nhận xét, hình ảnh, đoạn video ngắn, tập trung lan tỏa gương người tốt, hoạt động nhân văn, cách làm sáng tạo vì cộng đồng, có nội dung phản biện lại luận điểm của địch; loại này dễ làm, sản xuất nhanh trên thiết bị di động, nhất là có lực lượng tham gia đông, không cần chuyên môn sâu. Các bài tuyến 1, 2 cố gắng tuân thủ chuẩn SEO, bài tuyến 3 không cần chuẩn SEO, nhưng bảo đảm linh hoạt, nhanh nhất. Đồng thời, căn cứ sự kiện lịch sử, kế hoạch hoạt động của Đảng, Nhà nước trong năm, cơ quan quản lý, cơ quan báo chí cần dự báo sự chống phá, xây dựng kế hoạch đấu tranh, đặt bài, đăng tải phù hợp. Bài tuyến 1 chủ yếu do các nhà khoa học, nghiên cứu, lực lượng quản trị đấu tranh, các nhà báo lớn thực hiện; bài tuyến 2, 3 do các cơ quan, đơn vị huy động mọi lực lượng, tiềm năng có thể. Bên cạnh đó, cần phân cấp, phân quyền quản lý, hỗ trợ từng mức độ bài viết; cho phép tác giả tự do gửi bài đến mọi ban biên tập trang web; chỉ đạo phát triển các bài giá trị, vấn đề quan trọng đã phản ánh ở tuyến dưới lên trên; đăng tải trên các báo, tạp chí phù hợp, ngang tầm. Đặc biệt, sản xuất video đấu tranh hiện nay gặp khó khăn về chi phí, thời gian, nhân công; kịch bản hạn chế; khó tìm hình ảnh sống; phát biểu dễ va chạm,... nên cần có cơ chế tốt hơn cho loại hình đấu tranh này.

Bốn làtăng cường số lượng bài viết, mật độ đăng tải để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Chúng ta có nhiều bài viết sâu sắc, chất lượng cao, là sản phẩm trí tuệ của nhiều nhà báo, nhà khoa học, cộng tác viên có tâm với sự nghiệp cách mạng; nếu không lan tỏa đến đông đảo bạn đọc sẽ rất lãng phí. Do đó, các cơ quan báo chí, nhất là báo chí chủ lực cần duy trì tốt chuyên mục bình luận, phê phán để đăng tải các bài viết tuyến 1. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần phân công các báo, tạp chí có độ tương tác cao tái đăng tải bài tuyến 1 trong các chuyên mục phù hợp. Các đơn vị tham gia đấu tranh tự nâng cấp trang web thành tên miền cấp 1, 2 để đăng tải bài do cán bộ, nhân viên nội bộ tự viết; được phép đăng lại các bài tuyến 1, 2 của đơn vị bạn dưới dạng trích nguồn. Bài tuyến 3 nên đăng trên mạng xã hội Facebook, Instagram, Tiktok, Telegram, v.v. Sự tương tác, bình luận đối với các bài tuyến 3 sẽ rất lớn, lớn nhất trong 3 tuyến bài, gồm phản biện cả đồng thuận lẫn trái chiều. Quan điểm của cộng đồng mạng là cơ sở để chúng ta xác định thêm chủ đề đấu tranh, lựa chọn vấn đề cần nâng cấp lên các bài tuyến 1, 2. Bên cạnh đó, đặc thù chống phá của các thế lực thù địch là lặp lại cùng một vấn đề ở nhiều thời gian khác nhau nên cùng với những bài đấu tranh mới, cần cho phép tái đăng tải lại những bài cũ để làm dầy mật độ đấu tranh, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn một vấn đề không mới nhưng đang đặt ra ở thời điểm hiện tại.

Cùng với các giải pháp trên, cần có chế tài quản lý, xử lý nghiêm việc đăng tin sai sự thật, tung tin thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp kỹ thuật để theo dõi, thống kê, đánh giá tình hình, theo vết các tài khoản chứa nhiều thông tin xấu, độc; tổ chức ngăn chặn, giảm tốc độ truy cập; hoặc phối hợp bóc gỡ để làm sạch môi trường mạng, hỗ trợ thông tin trung thực, chính thống; định hướng tư tưởng quần chúng nhân dân vững tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Đại tướng Lương Cường chủ trì Lễ đón Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào.

 Sáng 26/9, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì Lễ đón Thượng tướng Thongloi Silivong, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào thăm chính thức Việt Nam.

Đại tướng Lương Cường đón Thượng tướng Thongloi Silivong
Đại tướng Lương Cường và Thượng tướng Thongloi Silivong duyệt Đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam. 

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thượng tướng Thongloi Silivong diễn ra trong bối cảnh mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam không ngừng mở rộng và phát triển trên các lĩnh vực.

Hợp tác quốc phòng được xác định là một trụ cột quan trọng của quan hệ Việt Nam-Lào, trong đó công tác Đảng, công tác chính trị là một trong những lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong hợp tác giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội nhân dân Lào, được triển khai toàn diện, có chiều sâu, thiết thực và hiệu quả, đóng góp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Hai đoàn chụp ảnh chung

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thượng tướng Thongloi Silivong nhằm duy trì tiếp xúc cấp cao, đóng góp vào việc củng cố hơn nữa sự tin cậy chính trị, quan hệ đoàn kết gắn bó giữa hai nước nói chung, quân đội hai nước nói riêng, đồng thời là cơ hội để quân đội hai nước trao đổi, thống nhất định hướng hợp tác công tác Đảng, công tác chính trị thời gian tới, nhất là trong năm 2024 nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024)  và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Lào (20/01/1949 - 20/01/2024).

Tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

 Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội là chủ trương chiến lược, nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, nhằm bảo đảm cho Quân đội đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung tâm - bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Vì vậy, toàn quân cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt chủ trương này, bằng nhiều giải pháp khoa học, đồng bộ.

Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhất là chủ trương củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đoàn kết, thống nhất, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đẩy mạnh điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu bằng nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ và đạt kết quả tương đối toàn diện.

Công tác xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị được đặc biệt coi trọng, tạo nhiều chuyển biến tích cực cả về nhận thức, tư tưởng và hành động; việc điều chỉnh tổ chức lực lượng đáp ứng yêu cầu “tinh, gọn, mạnh” được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ đạt hiệu quả thiết thực. Toàn quân duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, đối sách, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Cùng với đó, Quân đội thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ và phòng thủ dân sự, nhất là trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn1. Chất lượng huấn luyện, đào tạo, diễn tập, thực hiện chính quy, quản lý kỷ luật, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” có nhiều đổi mới và nâng cao; hội thi, hội thao trong nước, khu vực, quốc tế đạt nhiều thành tích xuất sắc. Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được đổi mới theo hướng “tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất, hiệu quả”, góp phần quan trọng huy động các nguồn lực bên ngoài vào đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội, tăng cường sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Các mặt công tác: hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, pháp chế, nghiên cứu khoa học,… có nhiều chuyển biến, tạo tiền đề vững chắc để Quân đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác phối hợp nắm tình hình địa bàn có mặt, có thời điểm chưa chặt chẽ; việc chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội tuy có nhiều chuyển biến nhưng có nơi chưa vững chắc; việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào huấn luyện, đào tạo, sẵn sàng chiến đấu còn bất cập, v.v.

Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan mô hình sản phẩm vũ khí, khí tài tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022. Ảnh: TTXVN

Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có biến chuyển nhanh, phức tạp và rất khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ ở từng khu vực; sự phát triển và ứng dụng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,... cùng các thách thức an ninh phi truyền thống đã, đang tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Tình hình đó đòi hỏi toàn quân cần tiếp tục tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

1. Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Đây vừa là yêu cầu, vừa là nội dung, nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Quân đội; điều kiện tiên quyết bảo đảm cho Quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; để từ đó, xác định rõ phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu, có quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, trước hết, toàn quân cần quán triệt nắm chắc những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội; tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, tư duy mới về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, các chiến lược quân sự, quốc phòng và đặc biệt là trong tác phẩm “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trên cơ sở đó, xác định các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là trong thực hiện chủ trương, phương hướng xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, v.v. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội”, xây dựng Đảng bộ Quân đội và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò hạt nhân trong lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ. Tập trung bồi dưỡng, rèn luyện xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, có uy tín và tinh thần gương mẫu cao; “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”.

Trong điều kiện hiện nay, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta một cách quyết liệt; trong đó, Quân đội là một trọng điểm của chúng, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị phải kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, trọng tâm là nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu với đổi mới nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thông tin, tuyên truyền về truyền thống, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội, về đối tượng, đối tác, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Xây dựng cho bộ đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tinh thần cảnh giác cách mạng cao, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đồng thời, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, ngăn chặn, xử lý vi phạm kỷ luật, pháp luật; tích cực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong từng cơ quan, đơn vị và toàn quân.

2. Tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trên cơ sở kết quả đạt được thời gian qua, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy (chính trị viên) các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện các mục tiêu, quan điểm của Đảng về xây dựng Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bám sát phương châm chỉ đạo của Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII); Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương, quyết liệt triển khai bảo đảm đúng tiến độ thời gian, tiến trình thực hiện Kế hoạch số 1228/KH-BQP, ngày 25/4/2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Trước mắt, những tháng còn lại của năm 2023 tập trung thực hiện tốt chủ đề “Năm điều chỉnh tổ chức lực lượng”, hoàn thành điều chỉnh lực lượng một khối lượng lớn tổ chức theo kế hoạch năm. Đến năm 2025, quyết tâm hoàn thành cơ bản xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”. Tiếp tục ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của một số cơ quan, đơn vị điều chỉnh tổ chức; xây dựng biểu tổ chức, biên chế thời bình, thời chiến của một số cơ quan, đơn vị; sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Báo cáo Bộ Chính trị Đề án danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Quản lý, điều chuyển, sử dụng quân số hợp lý, ưu tiên các trung đoàn, sư đoàn bộ binh đủ quân, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; tuyển quân, tuyển chọn, tuyển dụng, tuyển sinh, chiêu sinh đào tạo chặt chẽ, đúng quy định; giải quyết tốt chế độ, chính sách cho các đối tượng, nhất là đối với các đơn vị sáp nhập, giải thể, điều chuyển.

Tổng kết thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015; xây dựng hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015; xây dựng hồ sơ dự án Luật Công nghiệp Quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội khóa XV. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2025; xây dựng kế hoạch bảo đảm trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Điều chỉnh chỉ tiêu xây dựng, huy động và tiếp nhận lực lượng dự bị động viên đối với đơn vị giải thể, sáp nhập, tổ chức lại theo Kế hoạch số 1228/KH-BQP; tổ chức kiểm tra sẵn sàng động viên, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu.

3. Đẩy mạnh đổi mới công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục và đào tạo; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Toàn quân cần tiếp tục đột phá đổi mới công tác huấn luyện theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo”. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, các quan điểm, nguyên tắc, mối kết hợp trong huấn luyện; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu theo hướng hiện đại, huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có, nhất là vũ khí, khí tài mới, cải tiến. Tăng cường huấn luyện cơ động, huấn luyện đêm, huấn luyện cường độ cao trong mọi điều kiện, sát nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn, môi trường và phương án tác chiến; chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, kiểm tra, hội thi, hội thao trong nước, khu vực và quốc tế. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác bảo đảm huấn luyện, tập trung khảo sát, quy hoạch, xây dựng hệ thống trường bắn, thao trường huấn luyện giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Tăng cường tổ chức các cuộc diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng trên địa bàn và trong khu vực phòng thủ với nhiều quy mô, hình thức; chú trọng diễn tập đối kháng, diễn tập tác chiến điện tử, tác chiến không gian mạng, thông tin ở các cấp,... đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Toàn quân cần duy trì nghiêm túc, hiệu quả, nền nếp chế độ sẵn sàng chiến đấu; chủ động, nghiên cứu, dự báo, đánh giá chính xác tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những chủ trương, giải pháp, đối sách xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động bất ngờ; bảo vệ an toàn vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng, nhất là trên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm.

Các học viện, nhà trường Quân đội tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo. Tập trung đổi mới toàn diện từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, chương trình, nội dung, quy trình, phương pháp; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hoạt động ở các cấp học, bậc học, ngành học, tránh chồng chéo, không liên thông, gắn kết với hệ thống giáo dục quốc gia. Coi trọng công tác kiểm tra, phúc tra, khảo thí; hoàn thiện và triển khai chương trình chuẩn đầu ra các chuyên ngành đào tạo; gắn nhà trường với chiến trường và đơn vị. Đẩy mạnh xây dựng hệ thống nhà trường Quân đội theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.

Bên cạnh đó, toàn quân tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nâng cao chất lượng huấn luyện điều lệnh, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật; chú trọng định hướng tư tưởng bộ đội, bảo đảm an toàn cơ quan, đơn vị. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp giáo dục pháp luật, duy trì nghiêm, chặt chẽ các chế độ trong ngày, tuần theo điều lệnh; coi trọng công tác kiểm tra, phát hiện, phòng ngừa các vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh của Quân đội.

4. Chú trọng công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, phát triển công nghiệp quốc phòng. Các cơ quan, đơn vị, nhà trường cần tập trung bảo đảm đầy đủ, kịp thời công tác hậu cần cho các nhiệm vụ, ưu tiên nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập, đào tạo, hội thi, hội thao trong nước, khu vực, quốc tế và ứng phó sự cố thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn. Chú trọng xây dựng kế hoạch, phương án bảo đảm cấp chiến lược, chiến dịch, xây dựng thế trận hậu cần sẵn sàng phục vụ chiến tranh; chủ động khai thác các nguồn lực bảo đảm đầy đủ lượng vật chất dự trữ sẵn sàng chiến đấu. Xây dựng các đơn vị hậu cần toàn quân vững mạnh toàn diện, hoàn thiện, triển khai phương thức bảo đảm vật chất hậu cần gắn với cơ chế quản lý tài chính mới; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với phong trào thi đua “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”; tích cực tăng gia, sản xuất, phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm đời sống bộ đội. Cùng với công tác hậu cần, các cơ quan, đơn vị, nhà trường cần bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ, ưu tiên các đơn vị sáp nhập, mới thành lập; tiếp tục triển khai kế hoạch trung hạn 2021 - 2025, các chương trình, kế hoạch, dự án, đề án về công tác kỹ thuật. Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ sửa chữa, khai thác, sử dụng các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, công nghệ cao. Đẩy mạnh chương trình hợp tác quốc tế về kỹ thuật quân sự; thẩm định chặt chẽ các chương trình, dự án mua sắm, sản xuất, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật; thực hiện tốt Cuộc vận động 50, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và phòng, chống cháy nổ.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng trên cơ sở nghiên cứu, ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phấn đấu làm chủ thiết kế, công nghệ nền, công nghệ lõi, gia tăng nội địa hóa trong sản xuất quốc phòng. Kết hợp đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, chế thử, thử nghiệm, nghiệm thu các đề tài thuộc đề án sản phẩm quốc gia đang thực hiện với nghiên cứu, triển khai các chương trình, dự án, đề án mới. Đẩy mạnh các dự án đầu tư chương trình công nghiệp quốc phòng giai đoạn 2021 - 2025, nhất là đối với các công trình trọng điểm; tổ chức nghiên cứu, đưa vào sử dụng vũ khí chiến lược, vũ khí mới, hiện đại do ta chế tạo, sản xuất, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 09 THÁNG 10 NĂM 1945!

         “Chúng ta phải hết sức khôn khéo, đứng trước bất kỳ kẻ thù nào, người cách mạng cũng phải hiểu rõ chúng là ai; mạnh yếu chỗ nào, tranh thủ và cô lập ai?”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các vấn đề đối ngoại của chính phủ mới với Đoàn đại biểu công nhân Thành Hoàng Diệu ngày 09 tháng 10 năm 1945 tại Bắc Bộ phủ, do ông Trần Danh Tuyên dẫn đầu.

Lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta và trí tuệ, tư duy sắc bén của Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ Người phải kiên trì thực hiện quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong mọi suy nghĩ và hành động. Bài học ấy một lần nữa được phát huy, góp phần cô lập kẻ thù, đồng thời tận dụng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Hiểu rõ lời Bác dạy, vận dụng, phát triển quan điểm, tư tưởng của Người về bạn, thù, Đảng, Nhà nước ta đã khởi sướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ đất nước đạt được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hơn ba mươi năm đổi mới trên đất nước ta đã có vô số cái mới không ngừng nảy nở, vun trồng, phát triển trực tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: mới trong tư duy lý luận; mới trong chủ trương, đường lối của Đảng; mới trong lao động sản xuất; mới trong sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của quần chúng nhân dân;… Những cái mới được hòa quyện giữa truyền thống văn hóa dân tộc với giá trị thời đại để trở thành căn cứ chủ yếu của chính sách đối nội, đối ngoại cùng với kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm về “đối tác, đối tượng” là một trong những cái mới làm nên bước đột phá mở đầu cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi, góp phần khẳng định trí tuệ, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam – một đảng cộng sản chân chính, xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xác định rõ kẻ thù, đánh giá đúng ưu điểm, thế mạnh của địch để kìm chế, phát hiện khuyết điểm, sơ hở của địch để khoét sâu, đánh hiểm; phát huy sức mạnh của ta, kết hợp giữa đánh với đàm, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân. Tăng cường đối ngoại quân sự song phương và đa phương; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, kết nghĩa đúng với tinh thần “thêm bạn, bớt thù” để góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hoà bình vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Môi trường ST.

 GIỮ DANH DỰ CHO MÌNH LÀ GIỮ DANH DỰ CHO ĐẢNG, CHO TỔ QUỐC

Xét đến cùng thì danh dự không chỉ nói về phương diện cá nhân của từng con người cụ thể - nhất là người lãnh đạo, người đảng viên - mà đây còn là danh dự của dân tộc, của Tổ quốc, của nhân dân. Biết giữ danh dự cho mình thì biết giữ danh dự cho Đảng, cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Đó là chia sẻ của Giáo sư (GS) Hoàng Chí Bảo - nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương - với Báo PLVN xung quanh câu chuyện giữ gìn danh dự của người cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC) hiện nay.

Vấn đề thức tỉnh lương tâm trong mỗi con người

Thưa GS, gần đây, trong các bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh:“Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”. Thông điệp này của người đứng đầu Đảng ta muốn gửi gắm điều gì tới các cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và PCTN,TC hiện nay?

- Ngay từ những năm 60, Bác Hồ đã đưa ra một chỉ dẫn vô cùng sâu sắc: “Một Đảng, một dân tộc và mỗi con người xưa nay là vĩ đại nhưng không phải mãi mãi được như thế, nếu lòng dạ hôm nay không còn trong sáng nữa”. Lời nói ấy của Bác như một cảnh báo cho toàn Đảng, cho từng tổ chức, đến từng cán bộ, đảng viên phải luôn luôn thường trực một suy nghĩ là phải giữ gìn cho được danh dự, phẩm giá của mình; phải sống và làm việc sao cho không bị tổn thương, không bị hoen ố về danh dự.

Khi nói “danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”, chúng ta phải hiểu danh dự như một giá trị, một điểm nhấn quan trọng trong nhân cách; danh dự gắn liền với lương tâm, lòng tự trọng, tự bảo vệ liêm sỉ của mình.

Xét về mặt nào đó thì tham nhũng, bất minh, bất chính, thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên vô hình trung đã cung cấp cho thế lực chống đối những cơ hội, những chứng cứ để làm suy yếu chúng ta, gây bất ổn, thậm chí là xuyên tạc bản chất của chế độ và xúc phạm đến Đảng, vì thế phải kiên quyết chống lại.

Khoảng 5 - 10 năm trở lại đây, rất nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực đã bị xử lý, ngay cả Ủy viên Bộ Chính trị cũng bị kỷ luật, xử lý hình sự… Tất cả điều đó đã gây nên nỗi dằn vặt đau đớn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói, không ai muốn kỷ luật cả, đấy cũng là điều bất đắc dĩ; để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ thì buộc phải làm như vậy, đau đớn mấy cũng phải làm, nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe. Do đó, vấn đề danh dự lúc này trở thành một câu chuyện rất thời sự, một vấn đề bức xúc; đồng thời nó cũng phải trở thành nỗi dằn vặt, lo âu của Đảng, của nhân dân.

Danh dự phải làm sao trở thành một vấn đề thức tỉnh lương tâm trong mỗi con người, trong tổ chức bộ máy của từng đơn vị, địa phương, các cấp, các ngành. Và vì thế cần phải đẩy mạnh giáo dục về danh dự, liêm sỉ, giáo dục lòng tự trọng để làm sao sống đúng, sống tốt, sống đẹp; tránh xa những bất minh, bất chính, những cái hư hỏng có thể xảy ra.

Chống tham nhũng, tiêu cực bằng cả đạo đức và thể chế văn hóa

Theo GS, để hiện thực hóa điều này, từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải thực hành như thế nào?

- Tôi cho rằng, muốn đề cao danh dự, phẩm giá phải bắt đầu từ sự nêu gương, mà trước hết là của đội ngũ cán bộ có trọng trách, cấp chiến lược. PCTN,TC đương nhiên là phải sử dụng triệt để luật pháp, nhưng riêng luật pháp thôi không đủ. Muốn thức tỉnh về lương tâm, danh dự thì giáo dục đạo đức cách mạng được xem như một giải pháp bổ sung, hỗ trợ rất có hiệu quả cho chống tham nhũng, tiêu cực.

Tức là, chống tham nhũng không chỉ bằng luật pháp mà bằng các chuẩn mực đạo đức; sâu xa là bằng cả sức mạnh văn hóa: văn hóa trong lãnh đạo, trong quản lý, văn hóa trong công sở, văn hóa của từng cán bộ, đảng viên, kể cả nhân dân... Suy thoái về đạo đức chính là suy thoái trầm trọng về văn hóa. Những tệ nạn tham nhũng, tiêu cực luôn xa lạ với đạo đức, xa lạ với văn hóa và sẽ dẫn đến kết cục là phản phát triển, phản tiến bộ xã hội... Như vậy, chúng ta phải chống bằng cả thiết chế, thể chế văn hóa.

Danh dự nằm trong điều rất thiêng liêng của văn hóa, đạo lý làm người, lẽ sống ở đời. Danh dự của cán bộ, đảng viên nói riêng và danh dự của mỗi con người Việt Nam nói chung cũng sẽ góp phần làm sống động những giá trị, bản sắc của văn hóa Việt Nam, nhất là văn hóa đạo đức…

Nghĩa là, người cán bộ, đảng viên không chỉ giữ gìn danh dự cho mình mà còn phải chăm lo, gìn giữ danh dự cho Đảng, cho tổ chức của mình, thưa GS?

- Xét đến cùng thì danh dự không chỉ nói về phương diện cá nhân của từng con người cụ thể - nhất là người lãnh đạo, người đảng viên - mà đây còn là danh dự của dân tộc, của Tổ quốc, của nhân dân. Biết giữ danh dự cho mình thì biết giữ danh dự cho Đảng, cho Tổ quốc, cho nhân dân. Danh dự ở đây còn là danh dự của tổ chức, của cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, của từng địa phương. Giữ gìn danh dự là giữ gìn bộ mặt tinh thần của con người, những giá trị nhân cách để làm người và những giá trị văn hóa của cả dân tộc.

Từ xưa tới nay, ông cha ta rất trọng đạo lý, trọng danh dự. “Chết vinh còn hơn sống nhục”, “Chết trong tự do còn hơn sống trong nô lệ”… cũng là vì lẽ đó. Những cán bộ, đảng viên đang được giao trọng trách phải luôn luôn thường trực cho mình suy nghĩ đó để làm việc thật tốt. Như tôi đã nói, bao nhiêu vụ án vừa qua là bài học trả giá đau đớn về vấn đề bảo vệ mình trước mọi cám dỗ tầm thường. Càng những người có uy tín lớn, có ảnh hưởng lớn trong xã hội thì càng phải hết sức chú trọng vấn đề tự bảo vệ mình để làm gương cho mọi người. Nếu làm được như vậy thì xã hội sẽ luôn có nhân tố tích cực để thúc đẩy và sẽ có một môi trường lành mạnh để cổ vũ cho cái tốt, cái đúng, cái đẹp; ngăn chặn cái sai, cái xấu, cái hư hỏng.

Lời căn dặn của Tổng Bí thư nêu lên như một thông điệp “danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”, chính là bao hàm những ý đó.

Trân trọng cám ơn GS!.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGĂN CHẶN SỰ XÂM LĂNG VĂN HÓA ĐỂ GÓP PHẦN BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

     Cách đây 10 năm, Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai và thông tin độc hại”.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, chủ động bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, kiên quyết ngăn chặn, phòng, chống xâm lăng văn hóa cũng là một trong những giải pháp căn cơ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Âm mưu thâm độc, hệ lụy khôn lường

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Mở cửa, hội nhập, giao lưu và hợp tác nhằm tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, đồng thời phải bảo vệ, bảo toàn các giá trị tốt đẹp, cao quý của nền văn hóa Việt Nam.

Văn hóa là cội nguồn, là gốc rễ làm nên sức mạnh nội sinh của dân tộc. Với âm mưu thâm độc làm suy yếu sức mạnh nội sinh, thời gian qua, các thế lực thù địch tiến hành nhiều hoạt động xâm lăng văn hóa vào nước ta. Đây là thủ đoạn tinh vi nhằm triệt tiêu tận gốc những giá trị cốt lõi, nền tảng của dân tộc Việt Nam, từ đó truyền bá, tiêm nhiễm những sản phẩm văn hóa xấu độc, lai căng, làm chuyển biến nhận thức, thay đổi hành vi, lối sống của con người. Từ sự chuyển biến về văn hóa dần lan sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Sự xâm lăng văn hóa tuy âm thầm nhưng có thể phá hủy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Các thế lực thù địch tiến hành xâm lăng văn hóa hướng đến các tầng lớp nhân dân, trước hết là giới trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, dễ bị tác động bởi các yếu tố mới lạ, khác biệt.

Trong thời đại thông tin bùng nổ, các loại thông tin “bẩn” tràn lan cổ vũ, hô hào, kích động bạo lực, đồi trụy, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, phẩm chất tốt đẹp của con người. Các kênh xâm lăng văn hóa rất đa dạng, thông qua phát thanh, truyền hình, phim ảnh, xuất bản, quảng cáo... nhằm chiếm thị trường văn hóa của Việt Nam. Bên cạnh các sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập, văn hóa ngoại lai cũng đang tràn vào nước ta một cách ồ ạt, khó kiểm soát.

Trong hoạt động giải trí, nhiều người bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài như chụp ảnh quái đản, hút bóng cười, nuôi thú độc, hát cùng dao kéo... Lĩnh vực điện ảnh, truyền hình có tình trạng phim nước ngoài chiếm thời lượng phát sóng lớn, nhạc ngoại tràn lan ảnh hưởng đến thị hiếu của công chúng, sách dịch lậu trôi nổi trên thị trường trái với thuần phong mỹ tục dân tộc, dễ làm cho công chúng, nhất là người trẻ ngộ nhận, mất phương hướng thẩm mỹ tích cực, thậm chí bị tiêm nhiễm những “virus văn hóa” độc hại mà không hay biết.

Đề cập đến hậu quả của các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai xâm nhập vào nước ta, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” đã cảnh báo: “Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”.

Không thờ ơ với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc từ gốc rễ

Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai và thông tin độc hại”.

Điều đó thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng về vấn đề văn hóa là phải kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Đại hội XIII nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo cốt lõi và xuyên suốt là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam”; đồng thời “bảo vệ nền văn hóa, lợi ích quốc gia-dân tộc; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin xấu độc, các văn hóa phẩm ngoại lai, độc hại, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Để giữ gìn, bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, đồng thời đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động văn hóa-nghệ thuật để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau.

Một là, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa.

Bảo đảm các hoạt động văn hóa phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trên lĩnh vực văn hóa. Các cấp, các ngành, địa phương cần quan tâm chỉ đạo, giám sát nội dung tư tưởng chính trị trong các hoạt động văn hóa, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động văn hóa hòng làm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam.

Cùng với đó, cần quản lý chặt chẽ lĩnh vực hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; chủ động ngăn chặn, thanh lọc, không để các loại ấn phẩm, văn hóa phẩm độc hại từ nước ngoài, thông tin xấu độc, xuyên tạc thẩm lậu vào Việt Nam.

Hai là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của văn hóa và mối nguy “xâm lăng văn hóa”.

Đã có lúc lĩnh vực văn hóa chỉ được nhận thức đơn giản, phiến diện là bề nổi, là “cờ đèn kèn trống”, mà không phải là nhu cầu thiết yếu của con người và là sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững. Do vậy, cần đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức đúng đắn về lĩnh vực văn hóa, coi đó vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội trong chiến lược phát triển đất nước. Đó là cơ sở để các cấp, các ngành, các địa phương chú trọng quan tâm chăm lo phát triển lĩnh vực văn hóa một cách thiết thực, hiệu quả.

Thông qua hệ thống giáo dục quốc gia, các kênh thông tin để tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi công dân đối với mối nguy xâm lăng văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, từ đó nêu cao cảnh giác, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, hành vi phản cảm, trái thuần phong mỹ tục, đi ngược lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Ba là, huy động sức mạnh của hệ thống chính trị để bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc.

UNESCO đã cảnh báo cho cả thế giới, hễ ở đâu phát triển kinh tế mà không quan tâm tới yếu tố văn hóa thì ở đó phát triển không bền vững và những hệ lụy đặt ra cho xã hội lớn hơn nhiều so với kinh tế. Mặc dù được cảnh báo từ lâu nhưng để vượt qua điều này không hề dễ dàng, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc rất dễ bị tổn thương.

Muốn giữ được gốc gác cội nguồn dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam, ngoài trách nhiệm của ngành văn hóa và những người làm công tác văn hóa, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và cả cộng đồng, xã hội. Vì văn hóa gắn liền với mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi địa phương và gắn liền với các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, do đó cả hệ thống chính trị phải cùng nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia giữ gìn, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Bốn là, tăng cường sức mạnh nội sinh, tạo “sức đề kháng” để phòng, chống xâm lăng văn hóa.

“Sức đề kháng” văn hóa là thứ vaccine để phòng, chống các loại “virus văn hóa” xấu độc. Sức đề kháng mạnh sẽ là tấm khiên chắn vững vàng trước các luồng văn hóa “đen”, thông tin “bẩn” xâm nhập vào nước ta. Ngược lại, sức đề kháng yếu kém sẽ là điều kiện thuận lợi cho các loại “virus văn hóa” độc hại lây lan phát triển, làm băng hoại các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Một trong những giải pháp căn cơ trong phòng, chống xâm lăng văn hóa hiện nay là chúng ta phải quan tâm xây dựng nền công nghiệp văn hóa, coi đây là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong quá trình hội nhập quốc tế. Việc chú trọng xây dựng công nghiệp văn hóa không những góp phần mang lại nhiều sản phẩm văn hóa tốt đẹp, lành mạnh để phục vụ, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trong nước, mà thông qua xuất khẩu những sản phẩm văn hóa đặc trưng của dân tộc ra thế giới, chúng ta còn thu được nhiều lợi ích kinh tế to lớn. Hơn thế, việc mở rộng thị trường xuất khẩu văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh về văn hóa ra nước ngoài còn góp phần khẳng định, nâng cao vị thế quốc gia, hình ảnh dân tộc trên trường quốc tế.

Theo khuyến cáo của UNESCO, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư dù có mang lại nhiều tiện ích văn minh cho cuộc sống con người và cộng đồng, song cũng dễ làm tâm hồn con người trở nên xơ cứng, văn hóa các dân tộc trở nên đơn điệu, nghèo nàn, thậm chí có nguy cơ lụi bại trước sự xâm lăng ngấm ngầm của nền công nghiệp văn hóa nghe nhìn phương Tây đang “tung hoành” hầu như khắp nơi mọi chốn trên thế giới.

Do đó, điều cốt tử để bảo tồn được bản sắc dân tộc là phải vừa chú trọng giữ gìn, vừa bồi đắp, nâng tầm bản lĩnh văn hóa, trí tuệ dân tộc để có đủ khả năng nhận diện, lọc bỏ những “virus văn hóa” lai căng độc hại đang hằng ngày, hằng giờ tác động, thẩm thấu vào xã hội. Nói cách khác, để văn hóa dân tộc Việt Nam trường tồn và phát triển thì vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là đừng để bị cuốn theo những làn sóng văn hóa nước ngoài mà thực chất là bị cuốn vào dòng xoáy xâm lăng văn hóa hết sức tinh vi, nguy hại bởi các thế lực thù địch và những tư tưởng sô vanh, bá quyền về văn hóa.

Với tư cách là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam phải là lực lượng tiên phong, xung kích, mũi nhọn trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh lực văn hóa, chủ động ngăn chặn các hiện tượng xâm lăng văn hóa từ sớm, từ xa, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không gian văn hóa, non sông gấm vóc của tổ tiên để lại, để dân tộc Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam mãi trường tồn.

Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc. Trong ảnh: Người dân tộc Mông vẫn gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống trong đời sống hằng ngày./.
Yêu nước ST.

 THOÁI THÁC, NÉ TRÁNH KHÔNG THỰC THI CÔNG VỤ: KHÔNG THỂ ĐỔ LỖI CHO THỂ CHẾ, CƠ CHẾ

Chỉ ra nguyên nhân của tình trạng “đóng băng” trong thực thi nhiệm vụ tại một số ngành, lĩnh vực, nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách. Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, không phải cứ có vấn đề lại sửa, mà cần nhìn vào khâu tổ chức thực hiện, cách tổ chức giám sát.

Nguyên nhân chủ quan vẫn là chính

Trong vòng một năm trở lại đây, đang có tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên cả nước. Điều đáng nói, tình trạng này không mới, bởi trước đây vẫn có xảy ra nhưng ở mức độ nhỏ và thường được khắc phục nhanh chóng sau đó. Tuy nhiên, thời gian gần đây, thực trạng này diễn ra ở mức báo động và đến nay chưa được khắc phục triệt để, gây ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tại cuộc họp trực tuyến của Bộ Y tế với các bệnh viện, sở y tế các tỉnh, thành về thực trạng thiếu thuốc, vật tư y tế, diễn ra tháng 6/2022, đại diện Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Y tế) cho biết, theo thống kê, có tới 28/34 sở y tế báo cáo hiện có tình trạng thiếu thuốc tại địa phương, 12/21 bệnh viện tuyến trung ương báo cáo có tình trạng thiếu thuốc tại đơn vị. Ngoài ra, có 26/34 sở y tế và 15/21 bệnh viện tuyến trung ương báo cáo hiện có tình trạng thiếu vật tư tiêu hao, hóa chất, chủ yếu là hóa chất dùng cho xét nghiệm…

Cũng trong tháng 6/2022, tại cuộc họp của Thường trực Chính phủ về cung ứng thuốc, vật tư y tế và các giải pháp bảo đảm nguồn nhân lực cho ngành Y tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ rõ, việc xảy ra tình trạng thiếu thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế, một phần do chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng… thì nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Đó là việc tổ chức đấu thầu tập trung chậm được triển khai; chưa tích cực đàm phán giá thuốc sát với tình hình thực tế thị trường; chậm gia hạn đăng ký thuốc; công tác kiểm tra, thúc đẩy việc mua sắm thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế chưa tích cực, quyết liệt; một số cán bộ, ngành, địa phương thiếu mạnh mẽ, sợ trách nhiệm, không dám làm…

Người đứng đầu Chính phủ đã nhắc lại câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ai không làm thì đứng sang một bên cho người khác làm”, bởi lẽ đây là lúc thể hiện vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên.

Nghịch lý “có tiền mà không tiêu được”

Câu chuyện cán bộ né tránh, không dám làm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến giải ngân vốn đầu tư công. Tình trạng cả chục ngàn tỉ “nằm kho” vì cán bộ lo… trách nhiệm đã làm chậm tốc độ phục hồi của nền kinh tế. Nhiều đại biểu Quốc hội phải thốt lên: “Chậm giải ngân vốn đầu tư công thể hiện một nghịch lý: có tiền mà không tiêu được”.

Báo cáo tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại cuộc họp của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái với 17 bộ, ngành, cơ quan trung ương về giải ngân vốn đầu tư công diễn ra vào tháng 4/2023 ghi nhận: trong quý I/2023, tổng số giải ngân của 17 bộ, ngành, cơ quan trung ương chỉ đạt 0,04% kế hoạch, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước (10,35%). Đáng chú ý, có 13 bộ, cơ quan trung ương chưa giải ngân (tỷ lệ giải ngân 0%); 4 bộ, cơ quan trung ương đã giải ngân nhưng đều dưới 2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

Trước đó, trong Phiên họp thứ 7 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (diễn ra năm 2022), Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đánh giá, giải ngân đầu tư công chậm là vấn đề nhức nhối, dù đã bàn bạc và thảo luận nhiều năm nhưng chưa đẩy nhanh được. Nhiều ý kiến chỉ ra nguyên nhân xuất phát từ thể chế, đồng thời đề nghị sửa đổi hoặc kiến nghị có cơ chế thí điểm. Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chỉ rõ: không phải cứ có vấn đề lại sửa, không phải cái gì cũng xin thí điểm, mà cần nhìn vào khâu tổ chức thực hiện, cách tổ chức giám sát.

Trong phiên họp tổ tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV (ngày 25/5/2022), Chủ tịch Quốc hội đặt vấn đề: Thể chế không vướng, trong mua sắm thì đã ban hành cơ chế đặc thù, đặc cách, đặc biệt... vậy tại sao tiền vẫn không tiêu được? Riêng chương trình “Sóng và máy tính cho em”, tiền đã có sẵn trong Quỹ Viễn thông công ích nhưng không tiêu được.

Tại Gia Lai, khi việc học trực tiếp đã trở lại bình thường từ lâu, nhưng khoảng 14.000 học sinh ở tỉnh này vẫn chưa nhận được máy tính hỗ trợ cho việc học trực tuyến theo chương trình “Sóng và máy tính cho em”, dù kinh phí đã được cấp từ lúc dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp.

Cụ thể, từ đầu tháng 3/2022, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã tiếp nhận hơn 36,3 tỷ đồng từ Chương trình “Sóng và máy tính cho em” để mua máy tính bảng cho các học sinh nghèo trong tỉnh. Tuy nhiên, vì chưa có sự thống nhất giữa Sở Tài chính và Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc đánh giá tính hợp lý của chứng thư thẩm định giá, hóa đơn mua bán thiết bị hàng hóa… mà “quả bóng trách nhiệm” cứ đẩy qua đẩy lại giữa các cơ quan chức năng, dẫn đến việc tiền không thể giải ngân, còn học sinh thì đợi chờ mòn mỏi cũng không có máy tính để học.

Không phải vì chúng ta thiếu cơ chế, chính sách, khiến cán bộ, đảng viên không yên tâm làm việc; ngay trong nhiệm kỳ Đại hội XII và nhiệm kỳ Đại hội XIII, Đảng ta đã ban hành hàng loạt các quy định, chỉ thị. Đặc biệt, ngày 22/9/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Gần đây, ngày 19/4/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện 280/CĐ-TTg về chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết, thực tế một số địa phương vẫn thực hiện tốt đầu tư công, tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp. Điều này minh chứng rằng, cùng cơ chế, nhiều nơi vẫn năng động, sáng tạo, dám làm và làm tốt. Do đó, không thể đổ lỗi rằng thể chế, cơ chế gây khó khăn để không thực thi công vụ.

 NHIỀU HOẠT ĐỘNG CHÀO MỪNG NHÂN KỶ NIỆM 93 NĂM THÀNH LẬP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

Chương trình biểu dương Chủ tịch Hội Phụ nữ cơ sở giỏi toàn quốc lần thứ III năm 2023 với chủ đề “Những bông hoa tháng 10” dự kiến tổ chức từ ngày 17-19/10/2023 tại Hà Nội.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chiều qua tổ chức cuộc họp báo nhân kỷ niệm 93 năm thành lập Hội và Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10.

Thông tin về những hoạt động nổi bật, trọng tâm của Hội, đồng chí Nguyễn Thị Kim Dung, Trưởng Ban Tuyên giáo, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho biết, Chương trình biểu dương Chủ tịch Hội Phụ nữ cơ sở giỏi toàn quốc lần thứ III năm 2023 với chủ đề “Những bông hoa tháng 10” dự kiến tổ chức từ ngày 17-19/10/2023 tại Hà Nội.

Chương trình nhằm biểu dương, ghi nhận đội ngũ Chủ tịch Hội cơ sở các xã, phường, thị trấn có thành tích xuất sắc trong công tác Hội và phong trào phụ nữ tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đây cũng là dịp để đội ngũ Chủ tịch Hội cơ sở được giao lưu, chia sẻ, học tập kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp, kỹ năng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác Hội; tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, nhân rộng các mô hình hoạt động tiêu biểu, cách làm hay của tổ chức Hội cơ sở; khơi dậy, lan tỏa, tạo động lực và phát huy sức mạnh đoàn kết thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Điểm nhấn của chương trình là sự kiện “Những bông hoa tháng 10” được tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô (Hà Nội), sẽ được truyền hình trực tiếp vào sáng ngày 19/10/2023 trên kênh VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam.

Trong khuôn khổ chương trình, đại diện Lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sẽ trao bằng khen cho 293 điển hình Chủ tịch Hội cơ sở giỏi; giao lưu chia sẻ với ba đại biểu là chủ tịch Hội cơ sở điển hình đại diện cho 293 đại biểu được biểu dương.

Ngoài ra, còn có một số hoạt động như: Lễ báo công và viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiếp kiến Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Cũng trong dịp này, Lễ trao giải thưởng vòng chung kết toàn quốc Cuộc thi Phụ nữ khởi nghiệp năm 2023 dự kiến được tổ chức vào ngày 14/10/2023 tại Hà Nội. Chương trình nhằm vinh danh 33 Dự án khởi nghiệp tiêu biểu (trong đó có hai dự án của phụ nữ khuyết tật; sáu dự án của phụ nữ dân tộc thiểu số; 11 dự án của các mô hình kinh tế tập thể do phụ nữ tham gia quản lý và tạo việc làm cho lao động nữ).

Các dự án khởi nghiệp được vinh danh đều thể hiện sự đam mê, nhiệt huyết, khát khao, tinh thần đổi mới sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt các dự án khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh của phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số, người khuyết tật… đã và đang phát huy nội lực và vai trò của mình góp phần vào tăng trưởng, phát triển kinh tế của địa phương và đất nước.

Đồng thời, trong tháng 10, cũng diễn ra các sự kiện nổi bật khác như: Hội thảo khoa học về “Cuộc đời và sự nghiệp đồng chí Nguyễn Thị Thập; Gặp mặt, khen thưởng, giao lưu với đại biểu nữ tu, nữ giáo dân là đại biểu dự Đại hội VIII của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam; Ngày hội Mottainai 2023 "Trao yêu thương, nhận hạnh phúc" mùa thứ 10 - năm 2023.

Tại buổi họp báo, Phó Chủ tịch hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Tôn Ngọc Hạnh đã trao Bằng khen của Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tặng xạ thủ Trịnh Thu Vinh.

 CÁN BỘ TRƯỚC HẾT "PHẢI LÀM MỰC THƯỚC CHO NGƯỜI TA BẮT CHƯỚC"

Cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng phải nêu gương về đạo đức cách mạng, tu dưỡng đạo đức cách mạng để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

CÁN BỘ PHẢI LUÔN NÊU GƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Thấu hiểu sâu sắc rằng: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" và “nói chung các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, cho nên ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã yêu cầu người cách mạng phải rèn luyện và nêu gương đạo đức theo các chuẩn mực: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”.

Điều đó có nghĩa là, để có thể cổ vũ, tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng tham gia cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải:

1) Có đạo đức cách mạng và thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, vì “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Hơn nữa, “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”, do đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng. Cụ thể, mỗi người “tự mình phải” hằng ngày khiêm tốn học hỏi, nỗ lực trau dồi tri thức chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ và đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để “khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”; “đối với người” phải luôn chân thành yêu thương, luôn giúp đỡ đồng chí, đồng bào, khoan dung, độ lượng để quy tụ và đoàn kết mọi người trong từng tổ chức, tạo sự thống nhất trong tư tưởng và hành động; khi “làm việc phải” tận tâm, tận lực theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”, gương mẫu đi đầu “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

2) Thực hiện nêu gương bằng hành động, thống nhất giữa nói và làm, vì: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”. Để xứng đáng với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương bằng hành động cụ thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, không được nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm. Hơn nữa, cũng theo Người, “lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”, cho nên sự nêu gương, thống nhất giữa nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường của mỗi cán bộ, đảng viên là nguyên tắc trước hết cần phải nghiêm túc thực hiện.

Nêu gương và noi gương có mối quan hệ chặt chẽ, bởi noi theo, làm theo những tấm gương tốt để cả xã hội cùng đổi mới và phát triển tốt đẹp là góp phần làm cho ý nghĩa những gương điển hình ấy lớn lao hơn, sức lan tỏa rộng lớn hơn. Hồ Chí Minh từng nói, biển cả là do “từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được”, do đó, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ góp phần làm đẹp hơn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được hình thành và bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước mà còn trở thành những hạt giống tốt, là những điển hình mực thước trong rèn luyện đạo đức cách mạng để mọi người cùng phấn đấu, học tập. Mang giá trị và ý nghĩa lớn lao, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, sự lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” của những tấm gương điển hình tiên tiến nảy sinh trong thực tiễn sẽ lan tỏa, góp phần truyền tải giá trị tinh thần cao quý trong cộng đồng.

HỒ CHÍ MINH - MỘT MẪU MỰC VỀ NÊU GƯƠNG

Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện và nêu gương về đạo đức cách mạng mà Người còn là một mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng. Ở Người, thống nhất giữa nói đi đôi với làm không chỉ là nguyên tắc đạo đức, là lẽ sống mà còn là biểu hiện sinh động của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng, đạo đức và tác phong. Ở bất kỳ thời điểm nào, Hồ Chí Minh cũng luôn nhất quán thực hành đạo đức, tu dưỡng đạo đức, kiên quyết phê bình, đấu tranh phòng và chống bệnh nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm. Tất cả những việc Người nói, những việc Người làm đều không ngoài một “sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Hồ Chí Minh luôn nêu gương sáng về đạo đức, nhất quán giữa nói và làm, nhất là tự mình gương mẫu làm làm trước. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nguy cơ “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” vẫn đang đe dọa nền độc lập dân tộc vừa giành được. Trong tình thế cấp bách đó, Người đã kêu gọi toàn dân thực hiện “Sẻ cơm nhường áo”: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Đồng thời, khi “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nêu gương và thực hành trước và nhấn mạnh rằng, “đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”.

Là người đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong quan hệ và ứng xử, Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực, dùng quyền lực để hưởng đặc quyền mà luôn chấp hành quy định, pháp luật của một công dân. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946), tại Hà Nội, 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đáp lại tình cảm tin yêu đó, Người viết thư cảm tạ và đề nghị đồng bào để mình được thực hiện quyền công dân: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa. Tôi xin thành thực cảm tạ đồng bào nam, phụ, lão ấu khu vực ngoại thành Hà Nội”.

Cuộc sống đời thường của Người trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như khi đã là một nguyên thủ quốc gia cũng vẫn giản dị, tiết kiệm như là lẽ sống của Người. Khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng, Người chuyển về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, nhưng đã khước từ ngôi nhà sang trọng của Toàn quyền Ðông Dương trước đây mà chỉ ở ngôi nhà của người thợ điện. Trong mỗi chuyến đi thăm và làm việc tại các địa phương, nhất là các chuyến đi trong ngày, Người thường mang theo cơm nắm với muối vừng, vì không muốn địa phương phải chăm lo cho mình… Vì thế, đến với vị lãnh tụ luôn sống cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đến với khung cảnh thiên nhiên trong lành của Phủ Chủ tịch, từ các đồng chí lãnh đạo cao cấp đến những người dân lao động bình thường, từ chính khách đến em nhỏ mồ côi đều cảm thấy tự tin và ấm lòng. Trước một Hồ Chí Minh hiền hậu như một nhà hiền triết phương Đông, trong một khung cảnh thiên nhiên đầy hoa thơm và cá lội… phần tốt trong mỗi con người dường như được nhân lên, cái ác sẽ không còn chỗ để chung sống nữa.

Là một lãnh tụ xa lạ với quyền lực, Hồ Chí Minh coi việc mình làm Chủ tịch nước là do nhân dân ủy thác cho, là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng từng viết: Hồ Chí Minh là kiểu người lãnh đạo hiếm thấy. Ngay từ những ngày đầu tiên Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Người đã thẳng thắn nói: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân”; đồng thời, “luôn luôn từ chối nắm quyền lực” và Hồ Chí Minh thường “nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cách mạng là bắt đầu giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng cho những người yêu nước, cho thanh niên, quần chúng nhân dân, chủ yếu là cho đảng viên và cán bộ. Suốt đời, Bác quan tâm việc đó. Hồ Chí Minh không chỉ là người giáo dục đạo đức cách mạng mà còn là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn Đảng, toàn dân ta”.

Hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, trước khi đi xa về cỗi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh không hối hận điều gì, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Chúng ta học được từ tấm gương của Hồ Chí Minh - một vĩ nhân giản dị cho mình và cũng giản dị cho đời trong cốt cách đời thường. Việc riêng của Người cũng là việc chung của dân tộc, nên chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của mình, Người căn dặn “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Trên mộ, nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”. Sự nêu gương của Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa nói và làm của người đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Bao trùm lên tất cả ở Hồ Chí Minh là sự quên mình vì mọi người, chính là sự ham muốn duy nhất, ham muốn tột bậc của Người là làm sao mang lại thật nhiều hạnh phúc cho dân, cho nước. Cuộc sống hoàn toàn không chút bợn riêng tư, đã tạo nên ở Người một cái gì vô cùng trong sáng”.

Cuộc đời Hồ Chí Minh và đức độ của Người là hiện thân của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với phẩm chất cao quý của người cộng sản trong thời đại mới, mà biểu hiện rực rỡ nhất là tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh không chỉ yêu Tổ quốc và nhân dân mình, Người còn luôn mơ ước, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, hoà bình và hạnh phúc cho tất cả những người cùng khổ. Là Người trân trọng truyền thống của dân tộc mình, song Hồ Chí Minh không bao giờ để cho chủ nghĩa dân tộc ràng buộc mình, hoặc trái lại biến dần thành chủ nghĩa dân tộc. Không chỉ dừng lại ở điều đó, dường như chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa chủng tộc, bài ngoại hay biệt lập đều xa lạ với Hồ Chí Minh, xa lạ với lý tưởng cao đẹp của Người: “Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối liên hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế”. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, luôn thống nhất giữa nói và làm, mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”.

HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ NÊU GƯƠNG

Trong những năm qua, để phát huy hơn nữa vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, địa phương, đơn vị, toàn Đảng đã triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4), Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Nghị quyết 26), với Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (Quy định 101), Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” (Quy định 55) và Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” (Quy định 08)… Có thể nói, việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định này là một giải pháp quan trọng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phòng, chống và ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần rèn luyện nhân cách của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng, củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền.

Được xây dựng trên nguyên lý có xây, có chống và xây trước, chống sau, kết hợp giữa nói và làm mà điểm cốt lõi là cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, theo tinh thần của các Chỉ thị, Nghị quyết và Quy định nêu trên, cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu đi đầu và nêu gương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết hợp sự gương mẫu đi đầu trong rèn luyện đạo đức cách mạng và nâng cao bản lĩnh chính trị của mỗi người, nhất quán giữa nói và làm, nói trước và gương mẫu làm trước trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường tại mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị hay nơi địa bàn cư trú. Việc nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các ngành, các cấp, lãnh đạo cấp cao phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, liên tục theo 8 nội dung “phải gương mẫu đi đầu thực hiện” và 8 nội dung “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống” của Quy định 08.

Cụ thể, “đối với tự mình”, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu; phải nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú; phải là tấm gương tự phê bình và phê bình, gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú để cấp dưới noi theo; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”. Quá trình thực hiện nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên dựa trên cơ sở các nội dung quy định, nội dung đăng ký thực hiện gắn với học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện nêu gương bắt đầu từ việc xây dựng nội dung, kế hoạch và cam kết thực hiện; thể hiện ở tác phong, tinh thần, thái độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thể hiện trong quan hệ với cán bộ, đảng viên ở cơ quan, địa phương, đơn vị, với nhân dân nơi địa bàn cư trú.

 “Đối với người phải” được thể hiện bằng hành động nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và quan hệ với nhân dân. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu, nói trước, làm trước của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo quản lý và người đứng đầu phải thể hiện toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ để xây dựng địa phương, cơ quan, đơn vị đoàn kết, thống nhất. Trong đó, phải thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng sự của mình, tạo điều kiện để mỗi người phát huy sáng kiến, sáng tạo trong công tác, góp phần vào thành tích chung của địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, cán bộ, đảng viên phải nêu gương tự phê bình và phê bình một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không nể nang, không thêm bớt trên tinh thần trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự. Theo lời Người thì, trong công việc cũng như khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên “phải có tính đồng chí thương yêu lẫn nhau” và chú trọng “tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh” để thuyết phục, cảm hóa, tránh dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Điều quan trọng của sự nêu gương chính là tự mình soi, tự mình sửa và luôn “phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình”, giúp đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm và ngày càng tiến bộ.

“Làm việc phải” chính là nội dung nêu gương thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên. Trong đó, làm việc phải có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, kiên quyết chống thói nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm; thường xuyên, nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, v.v... để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc được giao. Qua đó, góp phần phòng, chống, đấu tranh để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống các hiện tượng chạy quy hoạch, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy thi đua, các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực để mưu lợi ích cá nhân và nhóm lợi ích nhằm “vinh thân phì gia”…

Việc triển khai thực hiện sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng đã tạo sự chuyến biến quan trọng từ nhận thức đến hành động trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của các cấp chính quyền…

Tuy nhiên, kết quả đạt được trong việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, về cán bộ và các Quy định nêu trên nói chung, nhất là sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu nói riêng có nơi, có lúc vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tính tự giác gương mẫu đi đầu, vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức có quyền chưa thật rõ nét, còn hình thức, chung chung, chưa tạo sự tâm phục, khẩu phục trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Thực tế là, đã có không ít cán bộ, đảng viên trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn chỉ dừng lại ở việc hô hào, khẩu hiệu, hình thức, nói suông trong chương trình, kế hoạch mà không thực hành trong thực tiễn. Ở họ, chỉ là “nói một đàng, làm một nẻo”, “diễn gương”, “là cơ hội chính trị” chứ không phải “nêu gương”, không “tiền phong gương mẫu”; thậm chí không ít người đã suy thoái ở các mức độ khác nhau và vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật. Thông qua việc nghiêm túc tiến hành kiểm điểm, kiểm tra, giám sát, điều tra, xét hỏi được thực hiện rộng rãi, những tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước đã bị xử lý kỷ luật, không có ngoại lệ, không có vùng cấm (dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu) đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặc biệt có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”. Thực tế, cấp có thẩm quyền đã kỷ luật một tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, đã có trên 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật Đảng và xử lý hình sự.

Trước tình hình trên, trong nhóm các giải pháp quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ, Đảng đặc biệt chú trọng vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, nhất là các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Cụ thể là, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cần phải:

Một là, thấu triệt sâu sắc hơn những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về nêu gương và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tinh thần nêu gương thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện theo 3 chuẩn mực đạo đức cách mạng và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải”; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên.

Hai là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v..., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, xây dựng những chuyên đề cụ thể về nêu gương thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nêu gương về tự phê bình và phê bình; nêu gương trong đảm nhận việc khó… với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta” trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: cậy quyền, ỷ thế, lạm dùng quyền trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là nâng cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng trở thành việc làm thiết thực hằng ngày, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Năm là, chú trọng và đổi mới công tác tuyên truyền, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, lựa chọn và xây dựng các gương cán bộ, đảng viên điển hình trong rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân với tinh thần phụng sự và liêm chính. Nhân rộng những gương điển hình của cá nhân, tập thể, cấp ủy đó để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, để những bông hoa đẹp sẽ góp phần làm cho vườn hoa đẹp, rừng hoa đẹp ngày một ngát hương hơn.