Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

Nhiều chồng chéo, “thất thoát”, sai lệch khi vận hành chủ trương

Trong vận hành đưa nghị quyết vào cuộc sống cần có đồng bộ các giải pháp tổ chức thực hiện. Nguyên nhân khiến không ít nghị quyết của tổ chức đảng các cấp chậm hoặc không đi vào thực tiễn có lỗi từ sự “rơi rụng” chủ trương đến chồng chéo nghị quyết, từ những chỉ tiêu, giải pháp “trên trời” đến triển khai không thống nhất...

Chữ “quan liêu” và những căn bệnh nan giải

Nói đến việc thực hiện nghị quyết của Đảng, chúng ta nhớ tới câu chuyện của Bác Hồ khi Người đề cập đến “chữ quan liêu viết như thế nào” in trong cuốn “Bác Hồ với chiến sĩ” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 1994.

Câu chuyện đã hơn 70 năm mà vẫn sâu sắc và thời sự. Đại ý: Vào năm 1952, trong một lần đến thăm lớp chỉnh huấn chính trị cán bộ trung, cao cấp, Bác cầm cái que vẽ trên mặt đất để đố chữ mọi người. Một vạch thì anh em đoán là chữ “nhất”, hai vạch là “nhị”, ba vạch là “tam” nhưng khi Bác thêm vạch nữa thì “các vị” lúng túng, không hiểu thế nào.

Điều đáng nói khi nhìn lại thì thấy vạch đầu tiên còn vừa phải, vạch thứ hai dài hơn đã có hơi lệch một chút, vạch thứ ba dài hơn chút nữa và không “song song” cho lắm, vạch thứ tư thì dài nhất và đã “cong” lắm rồi. Bác lại cầm que vạch một vạch, rồi hai vạch dọc từ trên xuống dưới, ban đầu thì thẳng đứng, xuống đến vạch ngang thứ hai thì đã “queo”, vạch thứ ba thì “quẹo”, vạch bốn như con giun. Bác hỏi:

- Chịu hết à? Có thế mà không đoán ra... Các chú biết cả đấy...

Rồi Người nói:

- Chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đúng đắn... Đến tỉnh đã hơi cong, đến huyện đã “tả hữu”, đến xã đã sai lệch. Vì sao? Vì cán bộ không làm đúng, không nắm chắc chủ trương, đường lối, không gần gũi dân, không chịu làm “đầy tớ nhân dân” mà chỉ muốn làm “quan cách mạng”. Cho nên chữ ấy là chữ “quan liêu”. Các chú không học nhưng biết và vẫn làm. Còn cái các chú học, thì các chú lại ít làm...

Câu chuyện trên cho chúng ta nhiều suy nghĩ, trong đó có sự nhắc nhở nghiêm khắc của Người với đội ngũ cán bộ khi để “rơi rụng” chủ trương, đường lối trong các nghị quyết của Đảng. Trong triển khai thực hiện, mỗi cấp làm sai lệch một ít, đến cơ sở thì nghị quyết trở nên méo mó. Hậu quả là nghị quyết chậm đi vào cuộc sống hoặc được thực thi một cách lệch lạc, dẫn tới những sai lầm trong nhận thức và hành động.

Giá trị đích thực của một nghị quyết là để giải quyết các vấn đề, nhất là những bức xúc của cuộc sống, tạo chuyển động tích cực, thậm chí là bước ngoặt trong thực tiễn. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: Thành công của đại hội đảng không phải chỉ ở việc thông qua được nghị quyết, bầu được ban chấp hành mới, quan trọng hơn là có biến được nghị quyết thành hiện thực sinh động hay không, có ra được của cải vật chất mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân hay không, đấy mới là thành công thực tế của đại hội.

Bên cạnh tình trạng làm “rơi vãi”, “thất thoát”, sai lệch nghị quyết như cảnh tỉnh của Bác Hồ qua câu chuyện kể trên thì hạn chế khá phổ biến trong triển khai thực hiện nghị quyết hiện nay là việc “sao y” nghị quyết của trên mà không có sự quán triệt và vận dụng sáng tạo, phù hợp vào cấp mình. Có đồng chí bí thư “lý luận” rằng: Nghị quyết của Trung ương, của trên chắc chắn đã được đầu tư kỹ lưỡng, là sản phẩm trí tuệ chung rồi thì không thể “chế biến” khác được. Cho nên, chỉ cần “thay tên đổi họ”, xử lý một số kỹ thuật câu chữ là thành nghị quyết của tổ chức đảng cấp mình...

“Bản sao” nghị quyết sẽ làm cho quá trình thực hiện dễ trở nên hình thức, tựa như là sự quán triệt, học tập nghị quyết của trên, chứ không phải nghị quyết thực sự ở cấp mình, không có thực tiễn sống động ở chi bộ, đảng bộ cấp mình và do đó khó có thể giải quyết được những vấn đề bức xúc của cơ sở. Thế nên, mới có tình trạng, nghị quyết của một số chi bộ ở nông thôn, miền núi nhưng cũng phân tích đặc điểm tình hình thế giới, trong nước, tác động của cuộc cách mạng 4.0, trí tuệ nhân tạo, đề ra những đột phá chiến lược, giải pháp vĩ mô...

Với quan điểm thẳng thắn, PGS, TS Nguyễn Danh Tiên, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, việc “sao chép”, “nhân bản” và nghị quyết chồng nghị quyết là tình trạng phổ biến trong các tổ chức đảng hiện nay, nhất là ở cơ sở. Nguyên nhân trước hết là do các cấp ủy chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm.

Nói về thực trạng này, đồng chí Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở đảng (Ban Tổ chức Trung ương) chỉ rõ, chính việc sao chép nghị quyết cấp trên là một trong những nguyên nhân khiến nhiều nghị quyết ở các cấp ủy địa phương chưa đi vào cuộc sống vì đây không phải là cách “cụ thể hóa, hiện thực hóa” nghị quyết. Nói cách khác, cơ sở mà áp chủ trương của Trung ương vào vận hành thì chẳng khác nào “ếch ngồi đáy giếng”.

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XIII) về “tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới” thẳng thắn chỉ rõ: Nhận thức của một số cấp ủy, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa sâu sắc, toàn diện về vai trò, vị trí, yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ...

“Bội thực nghị quyết” - thực tế đáng báo động

Bên cạnh văn bản dài dòng, số lượng nghị quyết trong một kỳ đại hội, hội nghị từ Trung ương đến địa phương cũng rất nhiều. Có thời điểm, các tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở phải chịu cảnh “bội thực nghị quyết".

Tìm hiểu tại một tỉnh miền núi phía Bắc, thấy rằng, riêng ở cấp tỉnh: Chỉ sau hơn một năm triển khai nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy đã ban hành 11 nghị quyết chuyên đề, ban thường vụ ban hành 47 nghị quyết, chỉ thị, đề án; hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ban hành 41 nghị quyết, 18 đề án... Ngoài ra còn các nghị quyết, kết luận thường xuyên hoặc triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, các tổ chức chính trị-xã hội.

Đây là con số ở một tỉnh nhỏ, nếu ở địa bàn thành phố, tỉnh có quy mô lớn hơn, con số các nghị quyết có thể còn cao hơn nhiều. Trên cơ sở các nghị quyết, chỉ thị, đề án này, đến cấp huyện, xã... sẽ được tiếp tục cụ thể hóa thành nghị quyết ở cấp mình. Cấp cơ sở thì mật độ nghị quyết càng dày, ngành nào, lĩnh vực cơ bản nào cũng có nghị quyết dẫn đến tình trạng chồng chéo, nghị quyết chồng nghị quyết khiến cấp ủy không còn nhiều thời gian để nghiên cứu, cụ thể hóa và thực hiện. Đó cũng là nguyên nhân “nhân bản” nghị quyết, nội dung của dưới na ná trên, ở cơ sở nhưng toàn bàn những vấn đề vĩ mô, đao to búa lớn...

Kết quả điều tra xã hội học với đối tượng là bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy xã, phường, thị trấn ở 23 xã trên địa bàn 3 tỉnh khu vực Tây Nguyên cho thấy, phần lớn cán bộ còn không ít băn khoăn, trăn trở khi trong cùng một thời điểm lại có quá nhiều nghị quyết (các cấp, các ngành) được ra đời và triển khai trên địa bàn. Thực tế đó gây nên sự dồn tắc, chậm trễ, hoặc chồng lấn, hoặc phân tán sự tập trung sức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.

Không khó để thấy, cơ sở đang hiện hữu tình trạng nghị quyết này vừa được ban hành chưa ráo mực, đang tổ chức học tập, thì nghị quyết khác đã ra đời và tiếp tục triển khai. Có nghĩa, nghị quyết cứ thế gối lên nghị quyết, khi ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã... đều ban hành nghị quyết thường kỳ; cùng với đó là hàng loạt nghị quyết chuyên đề; cộng thêm một số lượng không nhỏ kết luận, quy định, quy chế, đề án, chuyên đề, chương trình... về các lĩnh vực lãnh đạo, nhiệm vụ đặc thù.

Thậm chí, ở một số thời điểm, các chủ trương ban hành được ví như “bão lũ” ùa về gây choáng ngợp, lúng túng cho cơ sở. Thế nhưng, vẫn có một số nơi lại sinh ra bệnh tự mãn, tự cho rằng việc ban hành được nhiều nghị quyết là hay; xem đó là căn cứ để đánh giá về năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng cấp mình.

PGS, TS Vũ Văn Phúc, Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản trăn trở: “Khi mà nghị quyết trước chưa kịp thấm vào cán bộ, đảng viên thì nghị quyết sau lại ra đời khiến việc nhớ tên nghị quyết đã khó, nói gì đến việc triển khai hiệu quả”.

Cơ sở càng thêm lúng túng khi có nhiều nghị quyết cứ thế ra đời, nhưng cấp trung gian thường chỉ triển khai theo lối “sao y bản chính” rồi "giao" về cơ sở quán triệt, tổ chức thực hiện. Thành thử, khi có quá nhiều nghị quyết, văn bản hành chính... đổ dồn về cơ sở thì người quán triệt, tổ chức thực hiện sẽ gặp lúng túng là chuyện hết sức bình thường, nhất là ở khâu xác định đâu là nghị quyết trọng yếu, cấp thiết đối với địa phương để tổ chức thực hiện.

Thậm chí, vì có quá nhiều văn bản, nghị quyết nên ở một số nơi, cán bộ còn nảy sinh biểu hiện "phương phưởng luận" trong quán triệt, triển khai; không nắm rõ các nội dung, tinh thần nghị quyết, số nghị quyết; có nơi, việc học tập nghị quyết buộc phải vận hành theo lối đối phó, nặng hình thức, “đầu voi đuôi chuột”, “đánh trống bỏ dùi”...

PGS, TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh cho biết, ông đã nhiều lần tham gia các đoàn công tác sang Trung Quốc. Nước bạn dân số rất đông, diện tích rất lớn; phạm vi của các tỉnh, thành phố rất rộng, chẳng hạn tỉnh Vân Nam của bạn có diện tích còn lớn hơn cả nước ta. 

Sự nghiệp phát triển đất nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng so với ta, nghị quyết của bạn ít hơn hẳn. Dẫn một góc nhìn tham chiếu, so sánh để thấy, chúng ta cần suy nghĩ để có giải pháp điều chỉnh, đổi mới trong nghiên cứu ban hành và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng. Nghị quyết không cần nhiều, chỉ cần tinh gọn, sát thực và phải thực sự là những tư tưởng, nội dung “từ cuộc sống đi ra” để sau đó mới “đưa nghị quyết vào cuộc sống”...

Mặt khác, cơ sở cũng đang bị bội thực vì chính văn phong, câu từ nặng tính tung hô, mỹ từ sáo ngữ trong nhiều nghị quyết của đảng bộ cấp tỉnh, cấp huyện thường sử dụng, như: “Nỗ lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng tỉnh (huyện) vững về chính trị, giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, mạnh về quốc phòng, an ninh”; “Thực hiện tốt phương châm phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu”...

Phần đánh giá hạn chế, khuyết điểm trong nghị quyết của đảng bộ cấp dưới cũng có nội dung y hệt nghị quyết của đảng bộ cấp trên, như: “Sự phát triển kinh tế-xã hội của huyện (xã) chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ”... Đó thật sự là cách lập ngôn sáo ngữ, đao to búa lớn, “đơm đó ngọn tre”, gây khó cho cấp quán triệt, triển khai. Cho nên, vốn chủ trương đã không rõ ràng, cụ thể, thì làm sao cấp dưới và quần chúng có thể vận hành, triển khai sát đúng, hiệu quả cho được.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng... Nhận thức về một số chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chưa sâu sắc, thiếu thống nhất, do vậy một số công việc triển khai thiếu kiên quyết, còn lúng túng...

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, một trong những giải pháp quan trọng là phải tích cực, kiên quyết đổi mới, nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện nghị quyết; khắc phục những vấn đề còn “gay trăm bề” trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng trên thực tế.

Xứng đáng là những “chiến sĩ tiên phong” trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; coi đây là cuộc đấu tranh liên tục, bền bỉ, lâu dài và là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cũng như thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng ta cũng xác định trong đó phải có vai trò tiên phong, đóng góp quan trọng của báo chí cách mạng. Vì vậy, báo chí không chỉ là “chiến sĩ tiên phong” mà còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân.

Vai trò “vũ khí lý luận” sắc bén

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn bó với báo chí. Người luôn coi báo chí là phương tiện để vận động, tập hợp lực lượng cách mạng, tổ chức thực hiện mục tiêu cách mạng một cách nhanh chóng, sâu rộng, hiệu quả nhất. Chính vì vậy, dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, hay bất cứ giai đoạn, tình thế nào, Bác cũng vẫn quyết sáng lập, chỉ đạo, phát hành những tờ báo cách mạng. Nên ngay khi thành lập Báo Thanh niên ngày 21/6/1925, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị”, “chúng ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành một cách có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức có nguyên tắc và toàn diện”, vậy nên báo chí cần “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; “cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”. “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. 

Như vậy, báo chí là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Để làm được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”. 

Và thực tiễn đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 98 năm qua, Báo chí cách mạng Việt Nam đã luôn làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện, nhân rộng ra toàn xã hội cái hay, cái đẹp, những điển hình, những nhân tố mới; đồng thời, phải tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực, tham ô, tham nhũng, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị ra sức chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó tập trung công kích những nguyên lý cơ bản và những luận điểm chính trị then chốt cả về lý luận và thực tiễn, những bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin. 

Từ đó đưa ra lập luận đối lập chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhất là triệt để lợi dụng và khoét sâu vào những vấn đề nhạy cảm, những thiết sót, bất cập mà chính quyền chưa kịp thời giải quyết, như giải phóng mặt bằng, xử lý ô nhiễm môi trường, an ninh năng lượng, rồi cả cuộc chiến đấu tranh phòng, chống “tham nhũng” của Đảng, để chống phá, xuyên tạc sự thật, bôi nhọ nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Bên cạnh đó, chúng còn trực tiếp tấn công vào nền báo chí cách mạng Việt Nam, với chiêu bài “tự do báo chí, tự do ngôn luận”, từ đó vu cáo Đảng và Nhà nước ta “vi phạm quyền tự do báo chí”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, âm mưu “phi chính trị hóa” báo chí nước ta, tách rời báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho báo chí mất phương hướng chính trị, mất tính chiến đấu. Đây là sự chống phá hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động. 

Để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái đó, trong cuộc chiến cam go “không tiếng súng” ấy, báo chí đã góp phần tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa những giá trị, tính khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thông tin trung thực, đầy đủ, kịp thời về tình hình đất nước và thế giới, các sự kiện chính trị, những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; những gương người tốt, việc tốt để góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn thông tin xấu, độc. 

Đồng thời, phản ánh, nhận diện chính xác, cụ thể những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch trong và ngoài nước chống phá Đảng, Nhà nước ta đến với đông đảo quần chúng nhân dân, giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thuận, đồng hành cùng cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Yêu cầu đặt ra đối với người làm báo 

Từ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ có thể khẳng định, báo chí vừa là công cụ đấu tranh vừa là phương tiện giám sát nhằm phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tuy nhiên, thời gian qua, có không ít người làm báo không giữ vững phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí tha hóa. 

Do đó, để phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện trên, cấp ủy, tổ chức Đảng trong các cơ quan báo chí cần tập trung thực hiện có hiệu quả hai giải pháp đã được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nhằm phát huy cao độ vai trò của cơ quan báo chí trong đấu tranh và giám sát phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chỉ đạo thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TƯ ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” gắn với thực hiện Kết luận số 53-KL/TƯ ngày 4/6/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội. 

Tích cực tham gia hưởng ứng Phong trào thi đua “Xây dựng cơ quan báo chí văn hóa và văn hóa người làm báo” theo 6 tiêu chí do Hội Nhà báo Việt Nam phát động. Tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đối với đội ngũ biên tập viên, phóng viên, xây dựng đội ngũ những người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ nghề nghiệp ngày càng cao, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm đối với chính tờ báo và bạn đọc của mình. Từ đó làm cơ sở xây dựng cơ quan báo chí trở thành một “pháo đài” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cùng với đó, từng cán bộ, phóng viên cần phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác trên tinh thần nghiêm túc, nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống, nói và viết đúng chỉ thị, nghị quyết của Đảng, gương mẫu, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, như tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại lời của V.I.Lênin và căn dặn: “Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung.

 Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”. Thực hiện tốt những lời căn dặn đó thì người làm báo mới “mắt sáng, lòng trong, bút sắc” vượt được mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đoàn kết, thương yêu đồng chí là đặc trưng cao đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

Sinh ra và lớn lên từ nhiều miền quê khác nhau trên dải đất mang hình chữ “S”, khoác lên mình bộ quân phục màu xanh thân thương với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, những thế hệ quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, luôn chung sức chung lòng, đồng cam, cộng khổ, thương yêu đoàn kết gắn bó, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt, để cùng tiến bộ, trưởng thành. Đây chính là cái khác căn bản nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam so với quân đội các nước trên thế giới; là một trong năm đặc trưng của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương đã chỉ ra.

Bởi vì như chúng ta đều biết, sức mạnh đoàn kết trong Quân đội được tạo ra bởi tổ chức, mà tổ chức đó là sự kết nối chặt chẽ giữa cán bộ, chiến sĩ với nhau. Sức mạnh của Quân đội không đơn thuần được tạo bởi điều lệnh, điều lệ quy định bắt buộc, mà nó còn được hình thành và phát triển trên cơ sở tình yêu thương đồng chí, đồng đội chân tình. “Quê hương anh nước mặn đồng chua/Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá/Anh với tôi đôi người xa lạ/Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau/Súng bên súng, đầu sát bên đầu/Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ/Đồng chí!”. Thông qua bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu, chúng ta có thể thấy được phần nào tình yêu thương đồng chí, đồng đội của Quân đội ta vừa ấm áp, gần gũi, chan chứa tình yêu thương đùm bọc, vừa thiêng liêng cao quý biết nhường nào. Và thực tế, trong đấu tranh giải phóng dân tộc đã chứng minh, càng trong gian khó với những thử thách cam go, ác liệt nhất, khi “cái sống, cái chết” cách nhau trong đường tơ, kẽ tóc thì tình thương yêu đồng chí, đồng đội lại càng gắn bó, thiêng liêng và tỏa sáng. Hình ảnh Tô Vĩnh Diện hy sinh thân mình chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng để làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Rồi hình ảnh Thuyền trưởng Đoàn tàu không số Phan Vinh khi lọt vào vòng vây của địch, sau khi lệnh cho đồng đội rời khỏi tàu an toàn, còn mình ở lại vẫn bình tĩnh chiến đấu đánh lạc hướng quân địch và hy sinh khi phá hủy tàu để giữ bí mật, viết lên bản hùng ca bất tử về tình đồng chí của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chính từ tình yêu thương đồng chí là động lực tinh thần to lớn giúp người lính không quản ngại hy sinh, người trước ngã xuống, người sau tiến lên; sẵn sàng xả thân, nhận khó khăn, sự hy sinh ác liệt về mình, nhường sự sống, thuận lợi cho đồng đội. 

Tình yêu thương đồng chí, đồng đội sáng ngời đặc trưng của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện phong phú, sinh động trong những năm đất nước tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chống “diễn biến hòa bình”, vận động quần chúng, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh Covid-19, lao động sản xuất trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội và góp phần xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Có thể khẳng định, tình yêu thương đồng chí, đồng đội là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, được Đảng và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, trở thành một biểu tượng cao đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, như trong lời thề thứ 7 đã  khẳng định: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí”. Yêu thương đồng chí, đồng đội là tình cảm yêu thương giữa các quân nhân của quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, hoàn toàn khác với quân đội của các giai cấp bóc lột. Yêu thương đồng chí, đồng đội vừa thiêng liêng, vừa gần gũi, là cội nguồn sức mạnh đoàn kết, thống nhất cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong quân đội. Quan hệ đồng chí không chỉ là quan hệ giữa các đảng viên, cán bộ mà còn là của những người cùng chung chí hướng, sống, chiến đấu vì mục đích của Đảng, của dân tộc.

Hiện nay, trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, hay lợi dụng một vài vụ việc đơn lẻ của một vài cá nhân, tập thể “con sâu làm rầu nồi canh” vi phạm kỷ luật trong thời gian vừa qua, đã xuất hiện một số quan điểm cho rằng: “Tình yêu thương đồng chí, đồng đội chỉ có trong chiến tranh”. Đây là nhận xét thiếu khách quan, phiến diện một chiều, vì không hiểu được bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Bởi vì tình yêu thương đồng đội không đồng nhất với bao che, tha thứ cho lỗi lầm, khuyết điểm của đồng đội, ngay trong Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương đã thẳng thắn nêu lên trong phần hạn chế khuyết điểm: “Một số người suy nghĩ và hành động không vì đại sự mà ở sự cố chấp, có người vì động cơ cá nhân đã cố tình gây ra mất đoàn kết, tạo nên sự nghi ngờ trong nội bộ. Thậm chí còn có hiện tượng đơn thư nặc danh, vu khống, nói xấu lẫn nhau, làm cho đơn vị mất ổn định….”. Như vậy, tình yêu thương đồng chí, đồng đội là phải thường xuyên giúp đỡ, chỉ ra cho đồng chí, đồng đội những thiếu sót, với tình yêu thương thực sự để sửa, cùng tiến bộ. Vì nếu không nghiêm khắc với khuyết điểm của đồng chí, đồng đội thì sẽ hại đồng đội mình, đẩy đồng đội ngày càng sa lầy vào tội lỗi, như thế không phải là sự thương yêu đùm bọc, không “hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận” được.

Do đó, để khơi dậy và phát huy tình yêu thương đồng chí, động đội thì trong hoạt động hằng ngày, ngoài xây dựng trên những nguyên tắc tổ chức và điều lệnh, còn xuất phát từ tấm lòng độ lượng, khoan dung và nhân ái. Đối với cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị dù bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải luôn gương mẫu, là hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao trách nhiệm, sâu sát, gần gũi, thường xuyên chia sẻ khó khăn, kịp thời động viên bộ đội. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, nể nang, né tránh trách nhiệm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, quân phiệt với bộ đội. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ quân đội thể hiện tình đồng chí một cách chân thành, bền chặt

Đại đoàn kết - cội nguồn sức mạnh Việt Nam

Qua 20 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt nhiều thành quả cách mạng to lớn.

Giá trị truyền thống quý báu

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, với những giá trị, triết lý đạo đức và nhân sinh: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”...

Tư tưởng “Chúng chí thành thành” (ý chí quần chúng làm nên bức thành kiên cố) đã quy tụ sức mạnh người dân, đứng chung chiến lũy đánh đuổi quân thù xâm lược, đứng vững trước thiên tai, cùng nhau dựng nước và giữ nước.

Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước”.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ đó đến nay, trải qua các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem đó là "việc gốc rễ" cho mỗi thắng lợi cách mạng, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

Càng trong khó khăn, thử thách, sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam càng được khẳng định; được bạn bè thế giới ghi nhận, tán dương, bày tỏ sự cảm phục. Ví như, dù số đảng viên không lớn, với khoảng 5.000 đảng viên, trong khi Quân đội vừa mới thành lập, nhưng Đảng ta đã tập hợp quần chúng thành một khối thống nhất vững chắc, nhất tề đứng dậy giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc chiến tranh nhân dân đã đánh bại những thế lực ngoại xâm hùng mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giành độc lập, thống nhất non sông. Bước vào xây dựng xã hội mới, khi đất nước bị bao vây, cấm vận, khủng hoảng... nhưng nhân dân vẫn tin theo Đảng, cùng Đảng tìm tòi đổi mới, tìm cách tháo gỡ khó khăn. Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định cũng chính là kết quả của “ý Đảng, lòng dân”.

Rõ ràng, chỉ khi đứng trước gian khó mới kiểm nghiệm được giá trị to lớn của thực hành đoàn kết. Đó là nguồn sức mạnh nội sinh để dân tộc trường tồn, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Vun đắp sức mạnh nội sinh

Đảng ta khẳng định: Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải phản ánh được nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số dân chúng để có thể tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng cho cách mạng. Bởi thế, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về đại đoàn kết toàn dân tộc, về dân tộc, tôn giáo, về Mặt trận và các đoàn thể nhân dân...

Đặc biệt, ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, xác định mục tiêu: Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng; được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức; trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đạt được trên tất cả lĩnh vực là kết quả đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng với sự quyết tâm, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Ngày 18-11 hằng năm trở thành Ngày hội đại đoàn kết toàn dân, góp phần củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết; giáo dục truyền thống yêu nước, tăng cường đồng thuận xã hội; góp phần xây dựng, phát triển quê hương, đất nước.

Những kết quả đạt được là vô cùng to lớn, tuy nhiên, những hạn chế, bất cập dù được chỉ ra cách đây 20 năm trước trong Nghị quyết 23, thì đến nay vẫn có mặt chưa khắc phục triệt để. Đặc biệt, lòng tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và của một bộ phận nhân dân vào Đảng, vào chế độ chưa thật vững chắc, phần vì đời sống còn nhiều khó khăn, phần vì bất bình trước những bất công xã hội và tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí vẫn diễn ra khá nghiêm trọng; kỷ cương phép nước nhiều lúc, nhiều nơi không nghiêm; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; trật tự, an toàn xã hội còn phức tạp...

Sức mạnh liên minh công, nông, trí chưa được phát huy đúng mức; vai trò của công nhân và nông dân ít được khẳng định trong điều kiện xã hội tri thức, xã hội số; việc phát huy vai trò, đóng góp của kiều bào Việt Nam vào công cuộc đổi mới đất nước vẫn chưa có giải pháp đồng bộ, căn cơ... Đặc biệt, việc xuất hiện những “điểm nóng” ở Tây Nguyên (2001, 2004), Bình Thuận (2018), các vụ việc ở Tây Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nghệ An, hay mới nhất là vụ việc ở Đắk Lắk đều nhằm mưu đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh mới, nhất là sự phát triển của yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, thì việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải là một trong những ưu tiên hàng đầu. Để làm được điều đó, cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, trên cơ sở thực hiện tốt cả hai vai trò: Vai trò thành viên và vai trò lãnh đạo. Xác lập đúng hơn nữa vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị để bảo đảm cho MTTQ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đảng, Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách và quy định pháp luật để MTTQ Việt Nam độc lập về tổ chức, chủ động về hoạt động; cơ chế, chính sách bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng, hỗ trợ lẫn nhau trong mối quan hệ giữa Nhà nước và MTTQ Việt Nam. 

Cùng với đó, toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội phải nhất quán vận hành phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, xem đó không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Hướng về cơ sở, tăng cường đối thoại với nhân dân nhằm giải quyết những vướng mắc giữa chính quyền và nhân dân, đồng thời tạo niềm tin, khuyến khích người dân tham gia góp ý xây dựng Ðảng, chính quyền.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TINH GIẢN CHỨ ĐỪNG TINH "GIẢM”!

         Hội nghị trao đổi về vấn đề tinh giản biên chế của huyện tổ chức đã cả tuần, vậy mà râm ran ý kiến tới tận hôm nay. Đâu đâu cũng nói đến tinh giản, hết con số này đến chỉ tiêu khác. Thôi thì đủ muôn mặt cả, nhưng ngẫm ra cũng có chuyện để nói.

Này thì cơ quan này của tỉnh, báo cáo “nét như Sony”, mấy năm liền “tinh giản” đạt chỉ tiêu, ấy nhưng phân tích ra, thì hóa, toàn biên chế giảm toàn do loạt người nghỉ hưu, thôi việc, nghỉ việc.

Chỗ doanh nghiệp kia của huyện, bao nhiêu cốt cán, có nghề họ nghỉ “tuốt tuột” ra ngoài để sang làm cho doanh nghiệp tư nhân lớn trên tỉnh, thu nhập thì cao hơn, đãi ngộ cũng tốt hơn. Ấy cũng là “tinh giản” đạt!

Bên phía các tổ chức hội thì “vui như Tết”, chỉ tiêu tinh giản tuy không đạt yêu cầu, người đứng đầu nhận khuyết điểm rất nghiêm túc rằng, quyết tâm chính trị có thừa, nhưng thôi thì, nguyên nhân khách quan là cơ bản, nguyên nhân chủ quan là thứ yếu! Hỏi ra mới biết, năm nào cũng “dĩ hòa vi quý”, “đều như vót tăm”, 100% hoàn thành tốt nhiệm vụ, lấy đâu ra cán bộ kém chất lượng để mà giản với tinh!

Mấy đơn vị sự nghiệp, lại có hiện tượng vài viên chức đang ngấp nghé tuổi hưu, nhưng là những người đang làm việc “ầm ầm”, chất lượng, hiệu quả, bỗng nhiên lại “tụt dốc không phanh”, lơi là công tác, cốt để được tụt xếp hạng thành “không hoàn thành nhiệm vụ”, nghiễm nhiên thuộc đối tượng tinh giản biên chế. Lý do ư? Theo quy định, đối tượng nghỉ việc theo diện tinh giản sẽ được hưởng thêm một khoản hỗ trợ đáng kể. Và thế là vừa được theo ý mình là nghỉ hưu trước hạn, lại vừa có tiền, ai lại chẳng ham?

Trở lại với quan niệm đúng, khi tinh giản biên chế được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế.

Hay nếu ta hiểu theo nghĩa Hán Việt, cụm từ “tinh giản” còn ẩn chưa nhiều nghĩa sâu sắc hơn. "Tinh" ở đây là "tiêu biểu", "giản" là "lựa chọn", "sàng lọc"; "tinh giản" tóm lại là hành động diễn tả một quá trình chọn lựa nhằm cho ra kết quả chính là những thành phần còn lại phải thật sự ưu tú và tinh túy.

Dẫn ra như vậy để rồi quay về với thực trạng ở huyện kia, mới thấy, có thể bộ máy cồng kềnh đã được giảm phần nào về số lượng, thậm chí có nơi vượt cả yêu cầu, nhưng ngẫm lại thì, việc tinh giản có lẽ mới chỉ “giản” mà chưa “tinh”. Bởi đối tượng tinh giản ở nơi này, chỗ nọ chủ yếu đang tập trung ở những người nghỉ hưu trước tuổi, chuyển công tác, thậm chí giảm cả những người “tinh” về công việc. Việc sàng lọc, loại ra những người dôi dư chưa tốt, những công chức, viên chức “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”, những vị trí “thừa thãi”, gây lãng phí trong bộ máy hành chính chưa được “chỉ mặt, điểm tên” đưa vào diện tinh giản.

Nguyên nhân thực trạng này thì nhiều, nhưng chung quy lại, vẫn là chưa có cái nhìn tổng thể về tổ chức bộ máy; chưa bám sát khung vị trí việc làm; chưa đánh giá thực chất được chất lượng công việc của công chức, viên chức để có thể đưa ra những nhận định về vị trí, công việc, cá nhân dôi dư, gây lãng phí cho tổ chức bộ máy. Ấy là còn chưa nói tới việc, có nơi, có chỗ lại dàn hàng ngang chỉ tiêu “tinh giản”, trong khi thực ra, việc tinh giản cần phải xem xét trên cơ sở khoa học, thực tiễn, chỗ nào thừa thì phải giảm, chỗ thiếu lại phải xem xét tăng. Có vậy mới đảm bảo hiệu lực, hiệu quả. Thêm vào đó, còn không ít những vướng mắc, bất cập, thiếu thỏa đáng trong chính sách khuyến khích, hỗ trợ cán bộ, công chức viên chức dôi dư nghỉ việc, giúp họ có thể ổn định đời sống, tạo việc làm.

Thế nên, phải hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu kỹ, phải lấy tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức để làm kim chỉ nam cho việc triển khai tinh giản biên chế.

Nếu không, thì “tinh giản” cuối cùng lại thành tinh "giảm”! Mà như thế thì chẳng đúng chút nào!./.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

Người thực hiện xuất sắc tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” được lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ từ trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Đó là sự phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề con người, là sự phát huy truyền thống của dân tộc. Để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vấn đề đầu tiên và trước hết phải từ con người. Do đó, yếu tố chính trị phải đặt lên hàng đầu, mục tiêu chính trị là trên hết. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thực hiện xuất sắc khi được giao nhiệm vụ xây dựng, chỉ huy Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Thứ nhất, đồng chí Võ Nguyên Giáp thực hiện xuất sắc tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về đẩy nhanh việc tổ chức đội quân chủ lực đầu tiên với phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”.

Sau 30 năm ra nước ngoài tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người lựa chọn địa điểm thuộc xã Nà Sác, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm căn cứ để cùng với cơ quan Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng. Đầu tháng 10-1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh để báo cáo tình hình phong trào cách mạng ở vùng Cao-Bắc-Lạng và cả nước.

Sau khi nhận định, đánh giá tình hình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị: Phải thành lập đội vũ trang, lựa chọn các đội viên là những người kiên quyết, hăng hái trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc vào đội. Phải cân nhắc từng người một, các cán bộ chỉ huy tiểu đội, trung đội chủ yếu lấy trong số cán bộ đi học quân sự ở nước ngoài về. Phải lựa chọn những người đã trải qua chiến đấu, ít nhiều biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự, phải có đủ thành phần dân tộc, người địa phương nào cũng có, nhằm phục vụ cho hoạt động được thuận lợi. Thời gian thành lập chậm nhất là vào hạ tuần tháng 12/1944 và khi thành lập phải có những lời thề danh dự... Thành lập xong, ra quân hành động có tính chất quần chúng; trận đầu mặc dù đội quân mới thành lập còn non yếu nhưng phải chiến thắng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Học viện Chính trị nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày truyền thống Học viện (25/10/1951 – 25/10/1976). Ảnh: Tư liệu

Thực hiện chỉ dẫn của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Lê Quảng Ba họp bàn, khẩn trương xây dựng tổ chức biên chế đội vũ trang theo đúng yêu cầu của Người. Về tên gọi của đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng với các đồng chí chủ trì thống nhất lấy tên là “Ðội Việt Nam Giải phóng quân”. Sau khi báo cáo, lãnh tụ Hồ Chí Minh thêm hai từ “tuyên truyền” vào tên đội và duyệt danh sách cán bộ, đội viên của đội. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền”1. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai Tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, tỉnh Cao Bằng, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy nhiệm tuyên bố Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời chỉ có 34 đội viên, với các thành phần dân tộc trên địa bàn, vũ khí thô sơ, thiếu thốn về hậu cần, nhưng sau khi thành lập, Đội đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Sau hai trận này, quân số của Đội tăng lên thành đại đội, mở rộng các cơ sở cách mạng ở các khu vực khác như Hòa An, Nguyên Bình (Cao Bằng), Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Kạn)...

Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chia thành nhiều mũi, có mũi tiến xuống phía Nam đánh chiếm Ngân Sơn, Chợ Rã, Phủ Thông, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Kạn), Chiêm Hóa (Tuyên Quang), có mũi tiến công Thất Khê, Bình Gia (Lạng Sơn), lại có mũi ngược lên biên giới Việt-Trung tiêu diệt nhiều đồn trại từ Trùng Khánh đến Bảo Lạc rồi phát triển sang tỉnh Hà Giang...

Tiến đến địa bàn nào thì vừa đánh thắng quân địch, vừa phát triển thêm lực lượng và tuyên truyền xây dựng niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngày 15/5/1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân hợp nhất với Cứu quốc quân và một số đơn vị du kích thành lực lượng quân sự thống nhất, lấy tên mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đề xuất từ đầu khi gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Việt Nam Giải phóng quân”.

Thứ hai, đồng chí Võ Nguyên Giáp là tấm gương mẫu mực gắn kết giữa vai trò Tổng chỉ huy kiêm Tổng chính ủy và thực hiện phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất, tư cách và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của người chỉ huy, đặc biệt đối với vai trò Tổng chỉ huy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ủy quyền vào cuối năm 1946. Trong buổi trao sắc phong hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bác trao hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho”. Tại Hội nghị quân sự lần thứ V (ăm 1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra yêu cầu cao về phẩm chất, tư cách, nhiệm vụ của người tướng lĩnh với 6 phẩm chất: Trí-dũng-nhân-tín-liêm-trung. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương mẫu mực, thực hiện yêu cầu cao của Bác về những phẩm chất cần có đối với cấp tướng.

Trong hơn 30 năm trên cương vị Tổng chỉ huy của Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên quán triệt và thực hiện xuất sắc quan điểm của Đảng, tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi hoạt động của Quân đội là: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”, “người trước, súng sau”, phát triển rộng khắp cả hai lực lượng chính trị, quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân. Kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với sự nổi dậy của quần chúng trên các địa bàn, cả miền núi, miền xuôi, thành thị, nông thôn để tiến tới tổng khởi nghĩa, điển hình là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; Phong trào Đồng khởi ở miền Nam năm 1960; Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, làm nên đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trên cương vị Tổng Tư lệnh, “biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”, nên khi lựa chọn phương án tác chiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn quán triệt, thực hiện đánh chắc thắng, không chắc thắng không đánh, giành thắng lợi cao nhất nhưng tổn thất phải thấp nhất. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, hơn 30 năm trực tiếp chỉ huy Quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra những quyết định quan trọng làm nên chiến thắng của một đội quân khởi đầu với chân đất, áo vải, vũ khí thô sơ trước đối phương hùng mạnh về trang bị, vũ khí hiện đại, được ví là “bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng”. Ông đã thực hiện xuất sắc quyết định của Bác Hồ và Trung ương Đảng, chỉ huy Quân đội từ những trận đánh đầu tiên là Phai Khắt, Nà Ngần, đến nhiều chiến dịch lớn mà điển hình là làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng thành công hình thái chiến tranh đặc sắc với tên gọi “Nhân trận-dựa vào dân, phát huy toàn dân đánh giặc, bằng mọi vũ khí, mọi lúc, mọi nơi”, buộc 10 danh tướng của Pháp, Mỹ (trong đó có 7 đại tướng Pháp, 3 đại tướng Mỹ) mắc sai lầm về chiến lược và thua trận. Ông đã chỉ huy Quân đội làm lực lượng nòng cốt để toàn dân đánh thắng hai đế quốc to trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng và Bác Hồ đề ra, đó là: Khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuyển lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị là Bí thư Quân ủy đầu tiên, Tổng chính ủy của các chính ủy, luôn quán triệt, thực hiện phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”. Ông luôn chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam thực sự vững mạnh về chính trị, tổ chức, chú trọng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Quân đội. Xây dựng Quân đội cách mạng, là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, của Nhà nước; là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; giữ vững mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân. 

Đại tướng là Bí thư Quân ủy đầu tiên, thể hiện rõ vai trò chỉ đạo, định hướng cho cơ quan Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, cán bộ chính trị các cấp và trực tiếp thực hiện hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, bảo đảm cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; xây dựng các tổ chức, trong đó có tổ chức đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện đoàn kết nội bộ; chăm lo giáo dục chính trị, công tác cán bộ, đặc biệt là học tập Bác Hồ về phát hiện, quý trọng và sử dụng nhân tài. Những lời hiệu triệu, kêu gọi, những mệnh lệnh của Đại tướng đưa ra thấm sâu vào tâm tư, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ như hồi trống trận, như tiếng kèn xung phong thôi thúc toàn quân suốt những năm tháng kháng chiến cho đến ngày toàn thắng, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Ngay từ giai đoạn đầu hình thành Quân đội, Đại tướng đã dạy cho các chiến sĩ về những điều cần làm và những điều cần tránh, về mối quan hệ mật thiết giữa quân với dân, để tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Đại tướng đến với các chiến sĩ, đồng chí, đồng bào bằng tình cảm của một người thân thiết, tập hợp được sức mạnh toàn quân. Ông là một tấm gương mẫu mực của Tổng Tư lệnh kiêm Tổng chính ủy, người Anh Cả của Quân đội nên có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, văn võ song toàn, quán triệt sâu sắc tư tưởng và phương pháp luận Hồ Chí Minh, là người cầm quân tiếp thu và thể hiện đầy đủ tư cách của vị tướng mà Bác Hồ đã dạy.

Thứ ba, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà lãnh đạo kiên trung của Đảng, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời cống hiến cho hạnh phúc của nhân dân, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân giao cho nhiều trọng trách... Ở bất kỳ cương vị công tác nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ công vi thượng”, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên hàng đầu. Ông là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn toát lên sự giản dị của một công dân mang đậm nét văn hóa yêu nước, công dân tiêu biểu qua hai thế kỷ 20 và 21, mãi mãi được vinh danh.

Những năm cuối đời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn đau đáu một tâm nguyện: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là một nhà hoạt động chính trị, vừa là một vị tướng hàng đầu trong lịch sử chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam. Đại tướng là một nhà cách mạng, nhà chính trị tài ba góp phần xứng đáng làm nên những bước ngoặt lịch sử oai hùng của dân tộc, chiến thắng hai đế quốc to trong thế kỷ 20, giành được độc lập, tự do cho Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thời gian càng lùi xa, những cống hiến đặc biệt xuất sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp càng trở nên vĩ đại hơn. Chúng ta mãi mãi khắc sâu công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với sự ra đời, trưởng thành và chiến thắng của QĐND Việt Nam, đồng thời cần ra sức học tập lý luận quân sự, tấm gương, đạo đức, phong cách của Đại tướng.

Lễ Kỷ niệm 50 năm ngày Lãnh tụ Fidel Castro đến thăm Vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Quảng Trị (1973 - 2023).

 Chiều 26/9, tại Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh Quảng Trị, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị phối hợp với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ Kỷ niệm 50 năm ngày Lãnh tụ Fidel Castro đến thăm Vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Quảng Trị (1973 - 2023).

Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương phát biểu

Dự buổi lễ, về phía Đoàn Đại biểu Cấp cao của Đảng, Chính phủ nước Cộng hòa Cuba có ông Esteban Lazo Hernandez, Chủ tịch Quốc hội Chính quyền Nhân dân Cộng hòa Cuba.

Đoàn Đại biểu Cấp cao Việt Nam có các vị Ủy viên Bộ Chính trị: Trương Thị Mai, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; cùng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các bộ, ngành tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình, các nhân chứng lịch sử.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Lê Quang Tùng ôn lại sự kiện lịch sử về chuyến thăm của Lãnh tụ Fidel Castro đến Quảng Trị vào 50 năm trước, bất chấp mọi hiểm nguy rình rập với mong muốn được tận mắt chứng kiến, chia sẻ cùng cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam.

Trong những thời khắc lịch sử đó, Lãnh tụ Cuba đã đến thăm nhiều nơi Vùng Giải phóng tỉnh Quảng Trị khi vùng đất này vẫn còn vương mùi thuốc súng và đầy rẫy đạn bom.

Nhiều nơi Lãnh tụ Fidel Castro đến thăm chỉ cách bờ Nam Sông Thạch Hãn hơn 10km, địa điểm lúc bấy giờ địch còn tạm chiếm đóng và luôn chĩa nòng pháo về phía Bắc Sông Thạch Hãn.

Lãnh tụ Fidel Castro đã đi bộ từ Cầu Đông Hà ngược lên phía Tây để thị sát những lô cốt, vũ khí của địch bỏ lại và chứng kiến nỗ lực của quân và dân Quảng Trị xây dựng lại quê hương sau chiến tranh.

Tiếp đó, Lãnh tụ Fidel Castro ngược lên Đường 9 đến thăm Cao điểm 241 ở xã Cam Thành, huyện Cam Lộ và Trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ; thăm Dốc Miếu (huyện Gio Linh) là căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ có phòng tuyến hàng rào điện tử McNamara.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị nhấn mạnh, chuyến thăm của Chủ tịch Fidel Castro đến Quảng Trị vào 50 năm trước là sự kiện có ý nghĩa chính trị hết sức sâu sắc, là nguồn động viên tinh thần to lớn, tiếp thêm ý chí, sức mạnh cho quân và dân Quảng Trị cùng cả nước trong cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhân dân Việt Nam, nhân dân Quảng Trị mãi mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm và sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba, Chủ tịch Fidel Castro đã giành cho đất nước, quê hương mình.

Cũng bởi đạo lý ấy mà Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam từ lâu đã coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là một nguyên tắc, một mệnh lệnh của trái tim; đã dành cho đất nước anh em Cuba sự ủng hộ hết lòng, coi việc hỗ trợ Cuba là nghĩa vụ tự nhiên, xuất phát từ lương tâm và tình cảm quốc tế trong sáng, truyền thống hữu nghị và nhân văn của dân tộc.

Đáp lại tình cảm của nhân dân Việt Nam, phát biểu tại buổi lễ, ông Esteban Lazo Hernandez, Chủ tịch Quốc hội Chính quyền Nhân dân Cộng hòa Cuba gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã tổ chức sự kiện kỷ niệm trong những ngày đáng nhớ này, cũng như luôn đoàn kết với đất nước Cuba trong những thời điểm khó khăn nhất.

Bày tỏ sự xúc động khi được thăm những nơi mà Lãnh tụ Fidel Castro đã từng đến thăm, Chủ tịch Quốc hội Chính quyền Nhân dân Cộng hòa Cuba nhấn mạnh cách đây 50 năm, Lãnh tụ Fidel Castro đã vui mừng được ôm các chiến sỹ anh hùng, những người đã chiến đấu bằng máu và lửa, những người luôn chắc chắn sẽ giành chiến thắng. Tại đây, ông nhắc lại với họ sự ủng hộ kiên định nhất, sự ngưỡng mộ và tình cảm của nhân dân Cuba.

Theo Chủ tịch Quốc hội Chính quyền Nhân dân Cộng hòa Cuba, khi nói đến mối quan hệ anh em mẫu mực giữa Cuba và Việt Nam, có một hình ảnh khiến cho điều đó trở thành bất tử, đó là Fidel Castro vui mừng phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cao điểm 241, cách địch chỉ vài km.

Chủ tịch Quốc hội Cuba Esteban Lazo Hernandez tham quan trưng bày tranh vẽ "Thiếu nhi Việt Nam - Cuba thắm tình đoàn kết".

Câu nói bất hủ: “Vì Việt Nam chúng tôi sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” cũng đã trở thành biểu tượng đích thực của mối quan hệ chặt chẽ đoàn kết giữa hai nước Việt Nam-Cuba.

Hơn nửa thế kỷ qua, hai dân tộc Việt Nam-Cuba đã luôn kề vai sát cánh trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và ngày nay luôn sát cánh bên nhau vững bước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước; đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên toàn thế giới.

Nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Cuba và các nước bạn bè truyền thống và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai nêu rõ, Việt Nam mong muốn hợp tác chặt chẽ, chia sẻ các nguyên tắc và giá trị chung với Cuba và các nước trên thế giới để cùng phát triển, góp phần cho hòa bình, hợp tác và phát triển.

Việt Nam sẽ luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.

Với tinh thần “Đoàn kết với Cuba là mệnh lệnh trong trái tim mỗi người Việt Nam,” Việt Nam-Cuba tiếp tục cùng nhau xây dựng mối quan hệ hữu nghị mật thiết, hợp tác sâu rộng trên tất cả kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức nhân dân; duy trì, phát triển các cơ chế Ủy ban liên Chính phủ, Hội thảo Lý luận giữa hai Đảng, Tham khảoChính trị giữa hai Bộ Ngoại giao, Đối thoại Chính sách Quốc phòng...

Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba, là đối tác đầu tiên tại châu Á ký Hiệp định Thương mại cấp Chính phủ với Cuba.

Thường trực Ban Bí thư khẳng định, lịch sử đã cho thấy, bất chấp những biến động phức tạp của tình hình thế giới, mối quan hệ Việt Nam-Cuba luôn vững vàng vượt qua mọi thử thách, không ngừng phát triển vì sự nghiệp chính nghĩa của hai dân tộc, hai đất nước.

Việt Nam luôn trân trọng và dành tình cảm đặc biệt với Cuba - người đồng chí cùng chung chiến hào, người anh em thân thiết, người bạn thủy chung, tin cậy.

Mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và mẫu mực giữa hai Đảng, hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ Fidel Castro đặt nền móng là tài sản vô giá, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, nuôi dưỡng, truyền lại cho thế hệ sau.

Tại lễ kỷ niệm, các đại biểu đã giao lưu với các vị khách mời nguyên là lãnh đạo, nhân chứng lịch sử như ông Nguyễn Xuân Phong (nguyên Vụ trưởng Vụ Châu Mỹ - Bộ Ngoại giao Việt Nam), người trực tiếp phiên dịch cho Lãnh tụ Cuba Fidel Castro thăm Vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Quảng Trị năm 1973; bà Hoàng Thị Chẩm (quê ở thôn Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị), nữ du kích tại căn cứ Dốc Miếu năm 1973 vinh dự được bắt tay Lãnh tụ Fidel Castro.

Nhân dịp này, Ban Tổ chức cũng đã trao giải Cuộc thi Vẽ tranh với chủ đề “Thiếu nhi Việt Nam - Cuba thắm tình đoàn kết”.

Cuộc thi do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Ngoại giao và Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị tổ chức nhân kỷ niệm 50 năm Lãnh tụ Cuba Fidel Castro thăm Vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Quảng Trị (1973 - 2023)./.

Họp báo giới thiệu Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp về đề tài Quốc phòng toàn dân năm 2023.

 Sáng  05/10, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức họp báo giới thiệu Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp về đề tài Quốc phòng toàn dân năm 2023. Thừa ủy quyền của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thiếu tướng Lê Xuân Sang, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Trưởng ban Tổ chức Hội diễn chủ trì họp báo. Cùng dự có đại biểu đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công an; các Hội chuyên ngành văn học nghệ thuật Trung ương; cơ quan chức năng của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Cục Công tác đảng, công tác chính trị Bộ Công an; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên,... và đông đảo phóng viên các cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội.

Thiếu tướng Lê Xuân Sang chủ trì họp báo

Giới thiệu về Hội diễn, đại diện Cục Tuyên huấn, cho biết: Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp về đề tài Quốc phòng toàn dân năm 2023, với chủ đề: “Vang mãi khúc quân hành” do Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công an;  Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hà Nội; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên; các Hội chuyên ngành văn học nghệ thuật Trung ương (Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam) tổ chức.

Nội dung Hội diễn tập trung ca ngợi truyền thống cách mạng; tình yêu quê hương, đất nước; Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với các loại hình nghệ thuật: ca, múa, nhạc và sân khấu. Hội diễn được tổ chức từ ngày 09/10 đến ngày 21/10/2023, tại Nhà hát Quân đội (quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội). Tham gia Hội diễn có 19 đơn vị nghệ thuật, với 21 chương trình thi diễn (gồm 15 đoàn thuộc Bộ Quốc phòng, 02 đoàn của Bộ Công an, 01 đoàn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và 01 đoàn của tỉnh Thái Nguyên; 15 chương trình ca, múa, nhạc và 06 chương trình sân khấu).

Hội diễn là hoạt động trọng điểm về văn hóa, văn học nghệ thuật trong Quân đội; thiết thực hướng tới chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; khẳng định thành tựu văn học, nghệ thuật cách mạng và vị thế, vai trò của hoạt động biểu diễn nghệ thuật đối với đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và toàn xã hội, đồng thời động viên, khích lệ đội ngũ văn nghệ sĩ phát huy tài năng sáng tạo nghệ thuật. Đây cũng là dịp để các đơn vị nghệ thuật của Quân đội, Công an và các đoàn nghệ thuật ngoài lực lượng vũ trang, giao lưu, quảng bá các tác phẩm xuất sắc và thể hiện những tác phẩm mới, giới thiệu những tài năng mới trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đóng góp vào kho tàng nghệ thuật của đất nước.

Bên lề Hội diễn, Ban Tổ chức sẽ tổ chức cho 13 đoàn nghệ thuật biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội tại 13 địa điểm, thời gian: từ ngày 13/10 đến ngày 16/10/2023.

Chương trình khai mạc Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp về đề tài Quốc phòng toàn dân năm 2023 sẽ được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV3/Đài Truyền hình Việt Nam và kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam vào 20giờ00, ngày 09/10/2023.