Thứ Tư, 1 tháng 11, 2023

Quân đoàn 2 tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam


Sáng 2-11, Quân đoàn 2 tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (Luật Sĩ quan). Thiếu tướng Trần Danh Khải, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân đoàn 2 dự và chủ trì.

Từ năm 1999 đến nay, Đảng bộ và toàn Quân đoàn 2 đã quán triệt, triển khai thực hiện Luật Sĩ quan, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật toàn diện, đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả; Luôn nắm vững, thực hiện nghiêm nguyên tắc công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Công tác cán bộ được thực hiện đúng quy chế, quy trình, trách nhiệm và thẩm quyền. Các nội dung được quy định trong Luật Sĩ quan và các văn bản quy phạm pháp luật, các hướng dẫn của cấp trên được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả; thông qua đó đã xây dựng được đội ngũ sĩ quan của Quân đoàn bảo đảm đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.

Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng Trần Danh Khải khẳng định: Đảng ủy Quân đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ, chặt chẽ Luật Sĩ quan và các nghị quyết, thông tư, nghị định thi hành Luật bảo đảm cán bộ sĩ quan nắm vững Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; tạo sự thống nhất về tư tưởng, đồng thuận trong tổ chức thực hiện.

Lãnh đạo, chỉ đạo ban hành các văn bản thực hiện Luật trong Quân đoàn sát thực tiễn, dễ hiểu, dễ triển khai và thực hiện bảo đảm thống nhất. Nhất là việc ban hành quy chế lãnh đạo công tác cán bộ, xây dựng quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý; kế hoạch giải quyết số lượng, đào tạo bồi dưỡng...

Thực hiện đồng bộ các biện pháp giải quyết số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giữ vững ổn định đội ngũ cán bộ cơ sở (nhất là trung đội trưởng, chính trị viên phó đại đội); xét, đề nghị đào tạo bồi dưỡng cán bộ đúng quy hoạch và chức vụ gắn với trình độ học vấn và lý luận chính trị tương ứng; học viên ra trường được sắp xếp, bố trí đúng chuyên ngành, mục tiêu yêu cầu đào tạo, được bồi dưỡng sử dụng khoa học.

Thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác chính sách cán bộ, chính sách hậu phương quân đội đối với sĩ quan theo đúng đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với đặc điểm tình hình, tính chất, nhiệm vụ, điều kiện của đơn vị bảo đảm đúng đối tượng, dân chủ, công khai, công bằng.

Tại hội nghị, các đại biểu đã trình bày nhiều tham luận có giá trị, đánh giá đúng những khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật về điều kiện nghỉ hưu của sĩ quan: Về phụ cấp nhà ở, hỗ trợ nhà ở chính sách, nhà ở công vụ; đời sống hậu phương cán bộ; chính sách hưởng lương hưu; quy định chế độ nghỉ phép đặc biệt; quy định nâng lương của sĩ quan.

Thời gian tới, Đảng ủy Quân đoàn tiếp tục quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm Luật Sĩ quan gắn với các nghị quyết, chủ trương của Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương; các văn bản quy định của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; quy chế, quy định về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội. Tập trung thực hiện chặt chẽ, hiệu quả các nội dung được quy định trong Luật Sĩ quan; xây dựng đội ngũ sĩ quan đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ gắn với việc thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy chế, quy trình và các tiêu chí liên quan đến sĩ quan và đội ngũ cán bộ các cấp.

Nguồn: Báo QĐND

Đừng để lòng dân ta thán vì sự tha hóa của “chủ nghĩa hậu duệ” trong bộ máy công quyền

“Con hơn cha là nhà có phúc” là mong muốn chính đáng, là khát vọng tốt đẹp của mỗi gia đình, mỗi ông bố bà mẹ. Một khi “con hơn cha”, thế hệ sau tiến bộ hơn thế hệ trước không chỉ là hồng phúc của mọi gia đình mà còn là đại phúc của cả dân tộc và toàn xã hội.

Thế nhưng mấy ngày gần đây, dư luận xã hội lại thêm một lần bức xúc vì có trường hợp thăng tiến “siêu nhanh”, bổ nhiệm “thần tốc” không phải vì tài năng, phẩm hạnh và mức độ đóng góp, cống hiến cho tổ chức, mà cái chính do là “hậu duệ” của một người nguyên là cán bộ lãnh đạo cao nhất tỉnh.

Vẫn cố tình “giẫm chân vào vết xe đổ”

Thông tin ông Nguyễn Công Thắng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh sử dụng bằng giả, có nhiều bằng cấp (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) và trong khoảng chục năm được thăng tiến “thần tốc” khiến dư luận thêm một lần nhức nhối về "lỗ hổng" trong quy trình công tác cán bộ. Nhức nhối bởi lẽ, người đứng đầu cơ quan kiểm tra tỉnh ủy có chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì chính bản thân họ lại có hành vi mờ ám trong việc “làm đẹp” hồ sơ, trình độ học vấn của mình để “chui sâu, leo cao”.

Trong khi đó, bản thân người mắc vi phạm này là con trai của một người nguyên là cán bộ lãnh đạo cao nhất của tỉnh Bắc Ninh. Dư luận càng hoài nghi không hiểu vì sao một chức vụ quan trọng như vậy lại được trao “nhầm người” và đòi hỏi phải truy trách nhiệm đến cùng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc tham mưu, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm trường hợp này. Không thể có chuyện dùng tấm bình phong “đúng quy trình” nhưng lại để “con voi lọt qua lỗ kim” như vậy!

Đáng buồn thay, đây không phải là trường hợp đầu tiên con em quan chức bị phanh phui vì có hành trình thăng tiến mờ ám và “lên nhanh như diều gặp gió”. Trước đó, hàng loạt “cậu ấm, cô chiêu” ở nhiều địa phương, bộ, ngành đã phải trả giá đắt bởi họ đi lên không phải bằng đôi chân của chính mình, mà được bố mẹ “cõng trên lưng” suốt chặng đường quan lộ như người dân ví von một cách chua chát.

Khoảng mấy năm trở lại đây, nhiều con quan chức đầu tỉnh, đầu ngành đã được “muôn dân biết mặt, cả nước biết tên” không phải bởi họ có tài năng xuất chúng, phẩm hạnh hơn người, mà bởi họ được “chở che, ưu ái” trong quá trình học tập, công tác và phát triển “thần tốc” khiến dư luận hết sức ngạc nhiên.

Đó là ông Lê Phước Hoài Bảo (con trai ông Lê Phước Thanh, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam) được bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư khi mới 30 tuổi; ông Đinh Văn Vũ, 34 tuổi (con trai ông Đinh Văn Thu, khi đó là Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam) được bổ nhiệm chức vụ Phó giám đốc Trung tâm Hành chính công và Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Nam. Ông Vũ Quang Hải, 28 tuổi (con trai ông Vũ Huy Hoàng, cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương) đã được “bầu” làm Phó tổng giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị Tổng công ty Cổ phần Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco). Ông Nguyễn Nhân Chinh, Bí thư Tỉnh đoàn Bắc Ninh, 36 tuổi (con trai ông Nguyễn Nhân Chiến, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh) được chỉ định làm Bí thư Thành ủy Bắc Ninh...

Tất cả trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” nêu trên, người thì bị cách chức, người bị thu hồi quyết định, người bị hạ chức, người bị thuyên chuyển công tác. Hầu hết con em của các vị quan chức này đều có “quy trình” thăng tiến tương đối giống nhau, đó là thời gian đi học, đi đào tạo (kể cả ở nước ngoài) thì dài, trong khi thời gian công tác, tích lũy kinh nghiệm, mức độ đóng góp, cống hiến cho tổ chức chưa đáng là bao và nhất là tuổi đời, tuổi nghề còn non trẻ, nhưng lại liên tục được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong thời gian ngắn mà nhiều cán bộ, công chức cả đời mơ ước, phấn đấu “trầy vi tróc vảy” cũng khó đạt được!

Kiên quyết ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ

Trước hết, chúng ta phải công tâm khẳng định rằng, con em bất cứ ai cũng được quyền phấn đấu, thăng quan tiến chức. Thực tế cho thấy, phần lớn con em cán bộ lãnh đạo thường hơn con em người dân bình thường vì từ trong “mã gene” của họ đã ít nhiều có tố chất của các bậc phụ huynh; hơn thế, họ cũng được cha mẹ giáo dục, rèn luyện từ nhỏ và được tạo điều kiện học tập, đào tạo đến nơi đến chốn.

“Hổ phụ sinh hổ tử” với hàm ý cha mẹ tài năng cũng thường sinh ra con tài năng. Vì thế, không có lý do gì để chúng ta không khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho con em lãnh đạo chân tài thực đức có cơ hội phấn đấu, cống hiến và trưởng thành. Khi con em cán bộ lãnh đạo được thừa hưởng, phát huy những phẩm chất tốt đẹp, giá trị tích cực của cha anh mình không chỉ là sự nối tiếp thế hệ một cách lành mạnh, chính đáng mà còn góp phần vun đắp truyền thống một cách bền vững và xây dựng nền tảng chắc chắn cho tổ chức, cơ quan, đơn vị; rộng hơn là mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, xã hội và đất nước.

Tuy nhiên, điều khiến dư luận băn khoăn, nhân dân bức xúc vì nhiều trường hợp con em cán bộ lãnh đạo được thăng tiến, bổ nhiệm “thần tốc”, tuy được “lót” bằng cái vỏ bọc “đúng quy trình” nhưng thực chất là tham nhũng quyền lực chính trị, cố tình tìm mọi cách để cho người nhà, người thân của mình được xếp đặt vào những vị trí dễ sinh lời, dễ “hái ra tiền”, dễ “vinh thân phì gia”. Danh đi liền với lợi. Vị trí càng quan trọng, càng “nhạy cảm” thì càng có điều kiện, cơ hội để vơ vét lợi ích, bổng lộc.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bổ nhiệm người nhà, người thân tràn lan không chỉ xuất phát từ tư tưởng phong kiến “con vua thì lại làm vua”, “cha truyền con nối” đã ăn sâu vào “đường gân thớ thịt” của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà nó còn là hệ quả tất yếu của tư duy “lợi ích nhóm”, “gia đình trị”, “dòng họ trị” của một bộ phận quan chức háo danh, vụ lợi, vì lợi ích hẹp hòi nên sẵn sàng chà đạp lên mọi nguyên tắc tổ chức, quy chế, quy định về quy trình nhân sự và công tác cán bộ.

Hậu quả ghê gớm hơn là khi đưa nhiều người nhà, người thân vào ê kíp lãnh đạo của mình sẽ tạo ra những cánh hẩu để cùng che chắn, bao bọc, dung túng vi phạm, khuyết điểm của nhau, từ đó làm mọt ruỗng văn hóa chính trị, đạo đức công vụ và hủy hoại nền tảng liêm chính, minh bạch của bộ máy công quyền, tác động rất tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Điều rất đáng suy ngẫm là trong thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc trước đây, dù đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng tuyệt đại đa số lãnh đạo cao cấp của chúng ta rất gương mẫu, mực thước, động cơ trong sáng, hết lòng vì dân, vì nước; đồng thời luôn coi trọng trách nhiệm giáo dục, rèn luyện rất nghiêm khắc đối với con em mình.

Vì thế, nhiều con em lãnh đạo cao cấp vẫn tình nguyện nhập ngũ, hành quân vào chiến trường chiến đấu hay hăng say tham gia lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường như bao thanh niên, người dân cùng thế hệ. Không có thái độ đòi hỏi, không có tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ”, không có động cơ “cha truyền con nối” là một giá trị văn hóa chính trị cao đẹp, một giá trị đạo đức cách mạng sáng ngời của các bậc lãnh đạo tiền bối và nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta.

Cách đây hơn 11 năm, sau khi lắng nghe từ dư luận xã hội, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI (tháng 2-2012), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt câu hỏi đầy trăn trở: “Trong công tác cán bộ thì “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”. Nó là cái gì?”. Hơn hai năm sau, trong một bài viết đăng trên Báo Nhân Dân nhân dịp kỷ niệm 69 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thẳng thắn nêu ra: “Chúng ta vẫn còn phải trăn trở, đau lòng khi nghe câu truyền miệng lâu nay trong nhân dân: “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ” trong công tác cán bộ”.

Không ngẫu nhiên mà các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta lại rất băn khoăn, trăn trở trước thực trạng “hậu duệ” như vậy. Bởi “chủ nghĩa hậu duệ” không những có thể làm tha hóa nhân cách của cả người được “trao quyền” và “nhận quyền” do động cơ không trong sáng, mục đích không lành mạnh mà nguy hại hơn, nó có thể biến quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thành quyền lực của một gia đình, quyền lực một dòng họ. Đó chính là mầm mống khiến lòng dân ta thán và cũng là nguy cơ làm rạn nứt, thậm chí đổ vỡ niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị.

Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong vòng 4 năm qua, Đảng ta đã ban hành hai quy định nhằm ngăn chặn tận gốc vấn nạn tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Đó là Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” và Quy định số 114-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 11-7-2023 “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”.

Việc nâng cấp chủ thể ban hành quy định cũng như xác định chính xác nội hàm của vấn đề cấp bách này cũng không ngoài mục đích nhận diện rõ hơn các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ mà còn làm cơ sở để xử lý nghiêm minh, kịp thời những trường hợp sai phạm.

Nhiều quy định của Đảng đã được ban hành; nhiều bài học xương máu trong công tác cán bộ ở nhiều bộ, ngành, địa phương đã được mổ xẻ, rút ra; vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn lấy đó làm tấm gương để tự soi, tự sửa, tự răn mình không bao giờ được phép cho “chủ nghĩa hậu duệ” lên ngôi, lộng hành. Bởi nếu quan chức nào còn sa chân vào vũng lầy này thì trước sau cũng sẽ bị kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và sức mạnh dư luận xã hội trừng trị họ một cách thích đáng!


Phòng chống "Diễn biến hòa bình": Sao lại "chụp mũ” như thế?

Cuối tuần, tôi sang nhà chị gái ăn tối. Bữa cơm vừa xong thì Đức-con trai chị tôi-đi học thêm về. Cháu “nháy” tôi ra góc sân, nói nhỏ: “May có cậu sang chơi. Nhờ cậu nói với bố cháu cho cháu được đăng ký học ngành cảnh sát giao thông. Cháu rất thích mà bố cháu cứ phản đối”.

Biết con trai cầu cứu tôi nên vừa bước vào nhà, anh rể tôi đã “phủ đầu”:

- Nó lại nhờ cậu về chuyện đăng ký học cảnh sát giao thông chứ gì? Tôi không đồng ý đâu. Làm nghề đó khó được mọi người yêu quý.

- Dựa vào đâu mà anh nói như thế? Có phải từ việc anh bị xử lý vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe bữa trước?

- Đúng! Tuần trước, tôi qua nhà sếp ăn cơm, chỉ uống một, hai cốc bia. Trên đường về gặp tổ cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra nồng độ cồn, tôi trình bày là chỉ uống một chút và nhà cách đây chưa đầy cây số mà mấy cậu ấy không tha. Đã lập biên bản xử phạt lại còn lên giọng “giáo huấn” nữa. Không để đâu cho hết tức...

- Các chú công an xử lý như thế là đúng pháp luật. Nếu thông cảm cho anh thì các trường hợp khác sẽ như thế nào? Sẽ có trăm nghìn lý do để người vi phạm xin thông cảm. Pháp luật không nghiêm, không đi vào cuộc sống thì xã hội sẽ rối loạn. Đó là cái cớ để các thế lực thù địch, đối tượng bất mãn chống phá nước ta, quy chụp rằng pháp luật Việt Nam có cũng như không. Anh suy nghĩ thế thì sẽ là đối tượng để chúng dụ dỗ, lôi kéo, chia rẽ đoàn kết giữa công an với nhân dân đấy.

Nghe tôi phân tích, anh rể hiểu ra nhưng vẫn than thở:

- Trăm cái lý cũng phải có tý cái tình chứ! Có mỗi cốc bia mà phạt nặng quá. Mất gần 20 triệu đồng nộp phạt, lại còn bị thu giấy phép lái xe 16 tháng. Trên mạng cũng có ý kiến phản đối cảnh sát giao thông đấy.

- Em hiểu tâm trạng, hoàn cảnh của anh. Nhưng anh cũng phải hiểu trách nhiệm của lực lượng công an. Anh còn nhớ vụ tai nạn giao thông hồi đầu năm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mà nguyên nhân là do tài xế uống rượu không? Khi ấy, chính anh bảo phải xử lý thật nghiêm đối tượng lái xe đó còn gì. May mà vừa rồi anh uống cốc bia, đi lại vẫn an toàn. Đây là bài học đắt giá để mình không tái phạm nữa. Từ nay, nhất định cả nhà ta “đã uống rượu, bia là không lái xe”.

Thấy tôi nói đúng nhưng anh rể vẫn vớt vát: 

- Nhưng anh vẫn không thích cháu Đức học cảnh sát giao thông...

- Cháu Đức có xu hướng nghề nghiệp sớm, lại có cái nhìn đúng đắn, toàn diện là điều đáng mừng. Anh phải tôn trọng, ủng hộ nguyện vọng chính đáng của cháu. Đằng này, từ chuyện đơn lẻ anh quay sang “chụp mũ” cho lực lượng cảnh sát giao thông, thậm chí cả ngành công an. Cán bộ, đảng viên như thế là bị mắc âm mưu "diễn biến hòa bình", dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đấy anh ạ! Thôi em phải về giải quyết công việc, mai anh em mình nói chuyện tiếp. 

Tôi định bụng hôm sau sẽ qua nhà nói chuyện, phân tích thêm với anh rể. Nhưng vừa về đến nhà thì cháu Đức đã gọi điện, giọng vui mừng: “Cậu ơi, bố cháu đồng ý cho cháu đăng ký học cảnh sát giao thông rồi ạ. Cháu cảm ơn cậu nhiều nhé!”. 

Nghe cháu báo tin, lòng tôi lâng lâng niềm vui vì anh rể tôi đã hiểu...

Nguồn: Báo QĐND

Tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh là một hệ thống chỉnh thể, toàn vẹn

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta không chỉ thấy ở Bác là tấm gương sáng về đạo đức, phong cách, mà còn thấy hệ thống chỉnh thể, toàn vẹn các giá trị, sức sống và ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức và phong

cách Hồ Chí Minh. Chúng ta không chỉ cố gắng nỗ lực học tập để nâng cao nhận thức, bồi đắp sự hiểu biết về cuộc đời và sự nghiệp của Người, mà còn ra sức làm theo những chỉ dẫn, những lời căn dặn của Người theo đúng phong cách giản dị, thiết thực, hiệu quả. Người thường xuyên nhắc nhở chúng ta, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nói phải đi đôi với làm; nhất quán giữa lời nói với việc làm, tư tưởng và hành động. Theo chỉ dẫn của Người, chúng ta phải gắn liền học tập với làm theo; học tập là tiền đề, là điều kiện; làm theo là thực hành và vận dụng sáng tạo, tích cực và tự giác. Đồng thời đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, từ đó cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân ra sức thi đua xây dựng và phát triển đất nước, tạo ra sự tiến bộ và phát triển thực chất, bền vững".

Học tập Bác, làm theo Bác, nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nội dung quan trọng, là nhiệm vụ chủ yếu, cũng là phương thức căn bản để tạo ra sức lan tỏa, ảnh hưởng và hiệu ứng xã hội rộng lớn, đưa tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người vào cuộc sống. Đó cũng chính là chủ trương lớn của Đảng, một lần nữa được khẳng định tại Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị.

 Học tập và làm theo gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một chủ trương chiến lược, cơ bản, lâu dài để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ trở nên đúng đắn, lành mạnh hơn trong nhận thức và hành động; ra sức nâng cao đạo đức cách mạng, có dũng khí đấu tranh, tự phê bình, quét sạch chủ nghĩa cá nhân; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; góp phần trực tiếp xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Nâng cao trách nhiệm vì dân, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, để Đảng ta thật sự "là đạo đức, là văn minh"; Nhà nước ta thật sự là "Nhà nước của dân, do dân, vì dân". Mặt trận và các đoàn thể thật sự là môi trường dân chủ, đoàn kết và dân vận, làm hậu thuẫn thúc đẩy nhân dân nêu cao vai trò làm chủ, thực hiện quyền dân chủ và làm chủ đích thực của mình. Đó là mục đích sâu xa, là ý nghĩa quan trọng ở tầm chiến lược của việc học tập và làm theo Bác.

NXV


 Nâng tầm cán bộ, giảng viên ở Học viện Quốc phòng

Là trung tâm giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), nghiên cứu, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, quốc phòng hàng đầu của Quân đội và quốc gia, những năm gần đây, Học viện Quốc phòng (HVQP) đã triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng GD-ĐT; trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên ngang tầm nhiệm vụ được xác định là vấn đề cơ bản, yếu tố có ý nghĩa then chốt, quyết định.
Bám sát thực tiễn, chuẩn hóa chức danh

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, trực tiếp là Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11-2-2019 của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”, HVQP đã xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, giảng viên làm cơ sở đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng; coi trọng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác, phong cách nhà giáo, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin... Nhờ đó, Học viện đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học cơ bản đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, đạt tiêu chí ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ GD-ĐT, nghiên cứu khoa học cả trước mắt và lâu dài.

Do nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện đặt ra yêu cầu rất cao nên việc chuẩn hóa chức danh, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí công tác là nội dung rất quan trọng, làm cơ sở cho công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo động lực cho cán bộ, giảng viên tích cực tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Bám sát các tiêu chuẩn chung đối với cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, Học viện đã từng bước chuẩn hóa đối với cán bộ, giảng viên qua đào tạo chính quy, cơ bản cấp chiến dịch, chiến lược ở HVQP; có chức vụ tương đương với mục tiêu đào tạo của Học viện. 

Đối với cán bộ từ cấp chủ nhiệm bộ môn trở lên phải qua thực tiễn chỉ huy cấp sư đoàn và tương đương trở lên, có trình độ sau đại học về khoa học-nghệ thuật quân sự hoặc khoa học xã hội và nhân văn quân sự cấp chiến dịch, chiến lược; trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu; có tư duy đổi mới, sáng tạo, năng lực ứng dụng công nghệ vào giảng dạy, công tác. Cùng với đó, Học viện đã cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với các chức danh khác, đặc biệt nhấn mạnh tiêu chí đối với giảng viên phải vừa là nhà giáo vừa là người chỉ huy, cán bộ quản lý để sẵn sàng bổ sung cho các cơ quan, đơn vị, địa phương khi có yêu cầu.
Nhập từ khóa tìm kiếm...
Giáo dục - Khoa học/Nhà trường Quân đội
Chia sẻ
Thứ năm, 02/11/2023 - 06:29
Theo dõi Báo Quân đội nhân dân trênFollow on Google News
Nâng tầm cán bộ, giảng viên ở Học viện Quốc phòng
Là trung tâm giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), nghiên cứu, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, quốc phòng hàng đầu của Quân đội và quốc gia, những năm gần đây, Học viện Quốc phòng (HVQP) đã triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng GD-ĐT; trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên ngang tầm nhiệm vụ được xác định là vấn đề cơ bản, yếu tố có ý nghĩa then chốt, quyết định.
Bám sát thực tiễn, chuẩn hóa chức danh

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, trực tiếp là Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11-2-2019 của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”, HVQP đã xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, giảng viên làm cơ sở đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng; coi trọng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác, phong cách nhà giáo, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin... Nhờ đó, Học viện đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học cơ bản đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, đạt tiêu chí ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ GD-ĐT, nghiên cứu khoa học cả trước mắt và lâu dài.

Do nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện đặt ra yêu cầu rất cao nên việc chuẩn hóa chức danh, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí công tác là nội dung rất quan trọng, làm cơ sở cho công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo động lực cho cán bộ, giảng viên tích cực tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Bám sát các tiêu chuẩn chung đối với cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, Học viện đã từng bước chuẩn hóa đối với cán bộ, giảng viên qua đào tạo chính quy, cơ bản cấp chiến dịch, chiến lược ở HVQP; có chức vụ tương đương với mục tiêu đào tạo của Học viện. 

Đối với cán bộ từ cấp chủ nhiệm bộ môn trở lên phải qua thực tiễn chỉ huy cấp sư đoàn và tương đương trở lên, có trình độ sau đại học về khoa học-nghệ thuật quân sự hoặc khoa học xã hội và nhân văn quân sự cấp chiến dịch, chiến lược; trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu; có tư duy đổi mới, sáng tạo, năng lực ứng dụng công nghệ vào giảng dạy, công tác. Cùng với đó, Học viện đã cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với các chức danh khác, đặc biệt nhấn mạnh tiêu chí đối với giảng viên phải vừa là nhà giáo vừa là người chỉ huy, cán bộ quản lý để sẵn sàng bổ sung cho các cơ quan, đơn vị, địa phương khi có yêu cầu.

Nâng tầm cán bộ, giảng viên ở Học viện Quốc phòng
 
Nâng tầm cán bộ, giảng viên ở Học viện Quốc phòng
Cán bộ, giảng viên Khoa Quân sự địa phương, Học viện Quốc phòng trao đổi nghiệp vụ giảng dạy. Ảnh: SƠN BÌNH
Nâng tầm cán bộ, giảng viên

Để làm cơ sở cho việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ, giảng viên, Đảng ủy HVQP tập trung xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ theo phương châm “động” và “mở”. Theo Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc HVQP, hằng năm, trên cơ sở quy hoạch cán bộ đầu nhiệm kỳ và bám sát tiêu chuẩn đối với từng chức danh, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, thực tế đội ngũ cán bộ, giảng viên, gắn với các khâu khác trong công tác cán bộ, các cấp ủy đánh giá đúng thực trạng để rà soát, bổ sung, điều chỉnh và tổ chức thực hiện nghiêm túc.

Trong đó chú trọng phát hiện cán bộ trẻ, có đức, có tài, có triển vọng phát triển để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn bổ sung vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, giảng viên, chuyên gia đầu ngành. Học viện cũng chủ động tạo nguồn từ xa, tuyển chọn cán bộ trẻ, có năng lực sư phạm, phẩm chất, đạo đức tốt trong toàn quân và phát hiện, tuyển chọn trong số cán bộ học tập tại Học viện đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều động về Học viện công tác.

Học viện mạnh dạn quy hoạch những cán bộ, giảng viên trẻ có năng lực vào lãnh đạo, chỉ huy các phòng, ban, bộ môn, cơ quan, khoa giáo viên, hệ quản lý học viên. Đồng thời phát huy tốt cán bộ có năng lực thực tiễn giỏi, có kinh nghiệm để vừa tạo sự đột phá vừa có tính kế thừa vững chắc, tránh hẫng hụt trong đội ngũ. Kịp thời thay thế và kiên quyết đưa ra khỏi nguồn những cán bộ, giảng viên không còn đủ tiêu chí, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín thấp, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác.

Học viện chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có cơ cấu đồng bộ, hợp lý, có các chuyên gia đầu ngành giỏi về lý luận quân sự, chiến lược quốc phòng, nghệ thuật quân sự và năng lực thực tiễn lãnh đạo, chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược. Thượng tướng Lương Đình Hồng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy HVQP cho rằng, ngoài việc truyền thụ tri thức khoa học, giảng viên phải nâng tầm tư duy, truyền thụ kinh nghiệm, đào tạo, bồi dưỡng “tay nghề” cho người học.

Chính vì vậy, trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên, HVQP hướng trọng tâm vào thực hiện phương châm “vừa toàn diện vừa chuyên sâu”, thực hiện việc “chuẩn hóa” đội ngũ, bảo đảm tính kế thừa và liên tục. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng tầm tư duy, trình độ thực tiễn lãnh đạo, chỉ huy, quản lý cấp quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng cho đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ giảng dạy. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, song chú trọng nâng cao trình độ khoa học chuyên ngành tương xứng và nghiên cứu, nâng cao trình độ về mọi mặt, nhất là tư duy mới về: Quốc phòng, an ninh, quân sự, kiến thức về kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ, ngoại giao, pháp lý; năng lực dự báo, đánh giá tình hình, xử lý tình huống, thích ứng với sự phát triển mau lẹ, khó lường; bồi dưỡng, nâng cao trình độ công nghệ thông tin, ngoại ngữ... bảo đảm đủ khả năng tham gia các lớp tập huấn, hội thảo khoa học quốc tế và giảng dạy cho học viên quốc tế...

Để đội ngũ cán bộ, giảng viên nắm sâu thực tiễn, Học viện kết hợp đồng bộ nhiều hình thức, biện pháp phù hợp như: Cử đi đào tạo trong và ngoài nước; kết hợp đào tạo, bồi dưỡng ở các lớp tập trung, tại chức với tự đào tạo; tổ chức đi thực tế ở các đơn vị; thực tế nghiên cứu trên các địa bàn chiến lược và thông qua các đợt diễn tập, tập huấn, hội thảo khoa học, thi giảng viên, cán bộ cơ quan giỏi..

 ❤️❤️GIAI NHÂN HÀ THÀNH HẾT LÒNG VỚI CÁCH MẠNG. 

Cảm ơn bà thật nhiều ! 💖🌷


🍁Ảnh: St



 VỮNG TIN VÀO MỤC TIÊU, CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN

1. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đồng loạt viết tin, bài, dàn dựng các video clip, các cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn rồi tung lên mạng xã hội vu cáo Đảng, Nhà nước ta “đi theo con đường CNXH là đi vào ngõ cụt”. Thâm độc hơn, họ tung tin rằng, hiện nay, Quân đội ta đã xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không còn trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Từ đó, xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. 

Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã ngấm vào máu thịt, trở thành niềm tin, lẽ sống, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đó là sự kiên định mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn. Ngoài mục tiêu, lẽ sống ấy, Quân đội ta không có mục tiêu nào khác.

Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là quan sát cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine và cuộc “tấn công” của Hamas vào Isaren gần đây; cán bộ, chiến sĩ Quân đội khẳng định rằng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.

Bởi vì, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; niềm tin và lẽ sống của Quân đội ta, phản ánh tập trung nhất bản chất giai cấp công nhân của Quân đội cách mạng; biểu hiện cụ thể ở: trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân. Đây là nhân tố bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Lúc này, lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân của Quân đội ta là việc hoàn thành tốt nhất các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN”. 

Sự kiên định, vững vàng của Quân đội ta thể hiện ở niềm tin quyết chiến, quyết thắng; không bao giờ dao động, ngả nghiêng, thay đổi lập trường trước mọi khó khăn, thách thức; là sự vững vàng niềm tin tiếp tục đi tiếp con đường cách mạng và hiện thực mục tiêu cao cả ấy. Trong đó, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đổi mới của Ðảng là vấn đề căn cốt nhất, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều sâu sắc ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đây là cơ sở khoa học để chúng ta tiếp tục củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta; góp phần giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng trong Quân đội. 


2. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cũng đều chủ động, tích cực đấu tranh phê phán mọi biểu hiện dao động, ngả nghiêng, thoái thác nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá độc lập dân tộc và CNXH của các thế lực thù địch.

Để mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Một trong những vấn đề có tính nguyên tắc là kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ các cấp đối với việc kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. 

Chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong Quân đội là vấn đề rất quan trọng đối với công tác giáo dục chính trị. Cùng với đó, tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật và sự chống phá của các thế lực thù địch.

Đây là công việc hệ trọng và nội dung đặc biệt quan trọng đối với Quân đội ta trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, để cán bộ, chiến sĩ toàn quân mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân./.



XỬ LÝ NGHIÊM CỘNG TÁC VIÊN BÁO CHÍ CÓ DẤU HIỆU “DÀN DỰNG” VỤ VIỆC!

         Ngày 01/11, Trang thông tin điện tử Công an tỉnh Tiền Giang phát bản tin “Các phóng viên, cơ quan báo chí cần chấp hành nghiêm các quy định pháp luật”. Bản tin nêu rõ: Thời gian gần đây, các phóng viên, các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh Tiền Giang chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về báo chí, thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện khi tác nghiệp, đưa tin. Nhiều phóng viên, cơ quan báo chí đưa nhiều tin, bài viết có chất lượng, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, về những kết quả rất đáng ghi nhận trong thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, an ninh xã hội, gương điển hình tiên tiến trên địa bàn tỉnh, trong đó có lực lượng Công an.

Tuy nhiên, gần đây cá biệt có một vài cá nhân tự xưng là “cộng tác viên” của các cơ quan báo chí ảo tưởng quyền lực, thường xuyên khai thác các sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước hoặc các vi phạm của cán bộ, công chức cùng các mặt trái của xã hội để đưa tin chưa kiểm chứng, thiếu chính xác, thậm chí sai sự thật, công kích các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang; đưa tin khi chưa được các cơ quan chức năng công khai hoặc cung cấp; thậm chí có dấu hiệu “dàn dựng” vụ việc làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan Đảng, Nhà nước, của cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang.

Các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật nói chung, quy định của pháp luật về báo chí nói riêng sẽ được các ngành chức năng xác minh, xử lý nghiêm theo quy định. Công an tỉnh Tiền Giang đề nghị các phóng viên, các cơ quan báo chí đang hoạt động trên địa bàn tỉnh thực hiện nghiêm túc Luật Báo chí, nhất là trong kiểm duyệt tin, bài viết; tích cực đưa tin mang tính xây dựng và tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gương điển hình tiên tiến trong các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội nhưng không được đưa tin thiếu khách quan, không chính xác, sai sự thật, không đúng định hướng tuyên truyền./.
Yêu nước ST.

 LẠI XUYÊN TẠC VỀ VIỆC LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM

     Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV vừa hoàn thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri cả nước, đó là lấy phiếu tín nhiệm đối với 44 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, bảo đảm nghiêm túc, đúng nội dung, quy trình, thủ tục. Thế nhưng, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị lại hậm hực trước kết quả này. Trên các trang mạng xã hội, chúng đưa ra rất nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc việc lấy phiếu tín nhiệm. Nào là việc “lấy phiếu tín nhiệm hình thức”, “lấy phiếu tín nhiệm mà chỉ có ba loại phiếu là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp thì chẳng có ý nghĩa gì”, “tại sao không lấy phiếu tín nhiệm và bất tín nhiệm”…

     Thực ra, đây không phải là lần đầu Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, cũng không phải là lần đầu các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị xuyên tạc về việc lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội và các cơ quan Đảng, Nhà nước. 

     Kể từ lần lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên vào tháng 6-2013 đến nay, Quốc hội đã 3 lần tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Trong đó, Quốc hội khóa XIII lấy phiếu tín nhiệm hai lần (tại Kỳ họp thứ 5 vào tháng 6-2013 và tại Kỳ họp thứ 8 vào tháng 11-2014). Quốc hội khóa XIV lấy phiếu tín nhiệm một lần tại Kỳ họp thứ 6 vào tháng 10-2018. Lần này là lần thứ tư Quốc hội tiến hành công việc quan trọng này. 

So với 3 lần trước, ở lần lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội này có nhiều đổi mới theo quy định tại Nghị quyết 96 (Quốc hội khóa XV). Kế hoạch lấy phiếu tín nhiệm được thông báo đến đại biểu từ nhiều tháng trước. Ngoài kê khai tài sản, người được lấy phiếu tín nhiệm phải tự đánh giá, nhận xét quá trình công tác của bản thân trong nửa nhiệm kỳ vừa qua. Những tài liệu này đều được gửi đến đại biểu Quốc hội nghiên cứu, là một trong những căn cứ để họ quyết định mức tín nhiệm.

     Để đánh giá mức độ tín nhiệm, đại biểu Quốc hội sẽ dựa vào báo cáo toàn văn kết quả hoạt động cá nhân người được lấy phiếu; báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp. Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu này, nếu đại biểu Quốc hội thấy có vấn đề cần làm rõ liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm thì có thể gửi văn bản đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác minh, trả lời, hoặc yêu cầu người được lấy phiếu tín nhiệm làm rõ những nội dung thuộc căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm. Ngoài ra, đại biểu có thể căn cứ vào tài liệu có được trong quá trình hoạt động như báo cáo, kết luận chất vấn; báo cáo công tác của các cơ quan mà người lấy phiếu tín nhiệm đứng đầu... 

     Nếu người được lấy phiếu có quá nửa đến dưới hai phần ba tổng số phiếu đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức; trường hợp không xin từ chức thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm tại kỳ họp đó hoặc kỳ họp gần nhất. Phiếu tín nhiệm với hai mức là tín nhiệm và không tín nhiệm. Quy định này góp phần đảm bảo hiệu quả và nâng cao vai trò của việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. Như vậy, việc lấy phiếu tín nhiệm không “hình thức”, chia thành ba loại phiếu là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp không phải là “không có ý nghĩa” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

     Việc bỏ phiếu kín lần này hoàn toàn không có dấu tích nào để biết ai là người đánh giá và ý kiến đánh giá của đại biểu cũng được bảo mật tuyệt đối. Điều này giúp loại bỏ tình trạng nể nang, không bày tỏ chính kiến, không làm tròn trách nhiệm của đại biểu. Quy trình kiểm phiếu bằng máy do Viện Khoa học Công nghệ quân sự (Bộ Quốc phòng) thực hiện bảo đảm độ chính xác tuyệt đối, bảo mật tốt, tốc độ nhanh.

     Thực tế cho thấy, lá phiếu trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội đã thể hiện tinh thần đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri đã bầu mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Bởi thế trong việc lấy phiếu tín nhiệm này không có chỗ cho cái tôi cá nhân ganh ghét, đố kỵ nhằm hạ uy tín người khác; cũng không có chỗ cho bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm. Suy cho cùng, việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ đều hướng đến mục đích cao nhất: Vì lợi ích đất nước và nhân dân.

     Việc lấy phiếu tín nhiệm không phải như các thế lực thù địch rêu rao là “làm hình thức”, “làm xong để đấy” mà theo quy định mới tại Nghị quyết 96, kết quả lấy phiếu tín nhiệm sẽ là cơ sở để đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm lần này cũng chặt chẽ hơn so với trước khi quy định tiêu chí đánh giá tín nhiệm còn xét đến sự gương mẫu, không chỉ của bản thân người được lấy phiếu tín nhiệm mà cả với vợ, chồng, con của họ trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Căn cứ để lấy phiếu tín nhiệm không chỉ liên quan đến kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, mà tính đến cả tính năng động, đổi mới, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao./.



 CẢNH GIÁC VỚI CÁC KHUYNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG PHI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

     Những khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa không xuất hiện từ hư vô, mà có nguồn gốc chủ yếu từ các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhận diện và phản bác một số khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng hiện nay có ý nghĩa thiết thực, nhân kỷ niệm 93 mùa Xuân (1930-2023) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân vững bước trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

     Khi xây dựng học thuyết về các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sớm cảnh báo thời kỳ chuyển biến từ hình thái tư bản chủ nghĩa lên hình thái cộng sản chủ nghĩa chưa thể là một xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, mà là một trạng thái xã hội mà về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần… còn mang những dấu vết của xã hội cũ. Đến đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin là lãnh tụ đầu tiên trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người đã luận chứng sinh động và cụ thể phạm trù thời kỳ quá độ có nghĩa là “trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội”(1). Trên lĩnh vực kinh tế, nước Nga Xô viết thời kỳ Lênin vẫn tồn tại cơ cấu kinh tế 5 thành phần: kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế xã hội chủ nghĩa.

   Ở nước ta hiện nay, bên cạnh những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… quyết định sự hình thành và bảo đảm con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, vẫn còn không ít nhân tố mà về bản chất chưa thực sự là của chủ nghĩa xã hội. Các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, tư bản có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…; một số quan hệ sản xuất vẫn còn cơ chế bóc lột lao động; sự tồn tại của cơ cấu xã hội đa tầng, đa dạng với đội ngũ khá đông đảo các chủ tư bản nước ngoài cùng những chủ sử dụng lao động trong nước; trình độ trưởng thành chưa cao của đội ngũ công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa; sự xâm nhập của các giá trị tư bản chủ nghĩa thông qua quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; những khó khăn của phong trào xã hội chủ nghĩa và ưu thế tạm thời của các cường quốc tư bản chủ nghĩa trên thế giới hiện nay…, đó là những tiền đề, cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của các khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa.

     Biểu hiện rõ nhất của các khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng hiện nay là trạng thái, phát ngôn mơ hồ về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Không ít giọng điệu ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thời gian qua là bằng chứng khách quan của một thử nghiệm thất bại(?!). Một số tiếng nói cực đoan hơn, đã lớn tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như Hàn Quốc, Đài Loan…(?!). Họ đã cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các anh hùng, chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm hàng loạt con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Đất nước đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa Xuân năm 1930.

     Biểu hiện nguy hiểm thứ hai là trạng thái, phát ngôn mơ hồ về kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trên thế giới và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khá nhiều blogger say sưa ngụy biện, đã là kinh tế thị trường là tất cả đều giống nhau, đều chấp nhận bóc lột và các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là trước sau đều đi lên chủ nghĩa tư bản ! Những blogger này chỉ nhận biết cái bên ngoài, bỏ qua nhiều chất liệu định tính bên trong của mỗi nền kinh tế thị trường. Ngay trong khuôn khổ của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng tồn tại nhiều mô hình khác nhau: mô hình kinh tế thị trường tự do thuần khiết Ănglôxắcxông ở Anh, Bắc Mỹ; mô hình kinh tế thị trường xã hội ở Tây Âu, Bắc Âu; mô hình kinh tế thị trường Đông Á…

     Kinh tế thị trường là một trình độ, nấc thang phát triển của kinh tế nói chung, được quyết định suy cho cùng bởi trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất. Bởi vậy, nó không phải độc quyền, càng không phải là của riêng chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội có con đường và cách thức của mình trong phát triển kinh tế thị trường phù hợp với bối cảnh cụ thể. Ở đó, chúng ta chấp nhận cả những thành phần kinh tế bóc lột lao động, nhưng không chấp nhận bóc lột như một chế độ kinh tế - xã hội; chúng ta chủ động phát triển một số quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng trong bối cảnh các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo. Với tính cách là một quan hệ kinh tế giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, hoạt động bóc lột nêu trên ở Việt Nam hiện nay được triển khai trong điều kiện có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và hàng loạt hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế bảo vệ người lao động trên con đường Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

     Biểu hiện nguy hiểm thứ ba là sự xem nhẹ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thông qua chính đảng tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, trong đó có công cuộc đổi mới từ năm 1986, đúng là sự nghiệp, là thành quả của Nhân dân, của tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng theo mục tiêu, lý tưởng và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất. Nếu giai cấp công nhân không liên minh được với giai cấp nông dân và các lực lượng cách mạng khác, thì sự nghiệp cách mạng sẽ rơi vào “bài ai điếu” xót xa, như Công xã Paris năm 1870 đã nếm trải.

     Ngược lại, nếu mơ hồ cho rằng bất kỳ giai cấp nào cũng có thể lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì sẽ rơi vào một thứ chủ nghĩa không tưởng lớn nhất của mọi thời đại ! Công nhân xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp xây dựng một xã hội không còn bóc lột, áp bức, bất công vì giai cấp này luôn đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và là giai cấp duy nhất chỉ có thể giải phóng được mình khi giải phóng tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội khác. Giai cấp công nhân Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đã lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam, đã rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt toàn dân tộc đến kỷ nguyên của độc lập, tự do, đổi mới thành công, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

     Biểu hiện nguy hiểm thứ tư là sự xem nhẹ, phủ nhận sức mạnh của lý tưởng xã hội chủ nghĩa và niềm tin, ý chí cách mạng trong sự nghiêp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước và sau C.Mác, chủ nghĩa xã hội bao giờ cũng được nhận thức như một lý tưởng, niềm tin và ý chí; nó không chỉ được xây dựng trên cơ sở các điều kiện vật chất cần thiết, mà còn phải nhất thiết nhờ vào hoạt động tự giác và sức mạnh tinh thần to lớn của nhân tố con người xã hội chủ nghĩa. Trên không gian mạng hiện nay, có luận điệu cho rằng, chỉ có thể tin tưởng và xây dựng được niềm tin về một vấn đề gì đó khi có đầy đủ nhận thức về nó ! Tuy nhận thức khoa học là một trong những cơ sở quan trọng của niềm tin cách mạng, nhưng đối với từng người và trong thời điểm cụ thể, không thể nhận thức sâu sắc mọi vấn đề liên quan đến sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh ấy, cần hơn hết một niềm tin cách mạng mãnh liệt, một lý tưởng xã hội chủ nghĩa thường trực, soi đường cho chúng ta vững bước trên con đường lớn của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

     Biểu hiện nguy hiểm thứ năm là nghi ngờ, phủ nhận giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ XIX, đầu XX, không còn sức sống trong thời đại mới, nhất là đối với các quốc gia ngoài châu Âu như Việt Nam. Một số người khác lập luận rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn sinh lực cho những chuyển động của thế giới trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo… Nếu lập luận theo cách tầm thường đó, chắc chắn sẽ dẫn đến phủ nhận toàn bộ giá trị của nhiều di sản tư tưởng, tinh thần khác của nhân loại, trong đó có cả Thiên chúa giáo, Nho giáo, Hồi giáo…!

     Như chúng ta đều biết, chủ nghĩa Mác - Lênin nghiên cứu vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên và xã hội; từ đó nghiên cứu vạch ra những quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đó có phương thức bóc lột giá trị thặng dư và, trên cơ sở đó, nghiên cứu vạch ra quy luật của cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là chỉ có thể ra đời trong điều kiện nền sản xuất công nghiệp điển hình ở châu Âu từ cuối thế kỷ XIX, nhưng điều đó không có nghĩa là lý luận đó chỉ đúng với bối cảnh ấy ! Hơn nữa, cũng cần lưu ý thêm, nền sản xuất công nghiệp của nhân loại dù ở trình độ công nghệ máy hơi nước cuối thế kỷ XVIII, điện khí hóa cuối thế kỷ XIX, điện tử hóa từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX hay trong kỷ nguyên 4.0 hiện nay, vẫn là nền sản xuất công nghiệp, nằm trọn trong thời đại công nghiệp. Bản thân tên gọi cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4thIndustrial Revolution) đã khẳng định sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thế giới đang thay đổi hiện nay./.

   



 CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN KHÔNG PHẢI NGUYÊN NHÂN CỦA THAM NHŨNG

     Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, được quốc tế đánh giá cao.

Tuy nhiên, thế lực thù địch, phản động thời gian qua vẫn cố gieo rắc quan điểm sai trái cho rằng: Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ khi nào ở Việt Nam bỏ chế độ độc đảng lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ.

     Vậy tại sao có thể khẳng định quan điểm nói trên là sai trái?

Chế độ đa đảng không phải là phép màu để chống tham nhũng

Trước hết, tham nhũng là căn bệnh do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra. Có nhà nước là có nguy cơ sinh ra căn bệnh tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Chỉ khi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Như vậy, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng.

     Thực tế là, ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022, do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) vừa công bố đầu năm 2023 cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng, không nhà nước nào là hoàn toàn minh bạch, trong sạch. TI sử dụng thang điểm từ 0 đến 100 để phản ánh quan điểm của các chuyên gia và giới kinh doanh đánh giá về tình trạng minh bạch và hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của mỗi quốc gia, trong đó điểm số 0 là rất tham nhũng và điểm số 100 là rất trong sạch. Quốc gia có điểm số cao nhất thế giới trong bảng xếp hạng này là Đan Mạch với số điểm 90, Phần Lan và New Zealand cùng đứng thứ hai với số điểm 87. Cũng trong bảng xếp hạng này, Nhật Bản và Vương quốc Anh cùng xếp thứ 18 với số điểm là 73, Hoa Kỳ xếp thứ 24 với số điểm là 69, Hàn Quốc xếp thứ 31 với số điểm là 63. Như vậy, từ báo cáo trên thì các quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về phòng, chống tham nhũng vẫn không hoàn toàn trong sạch và minh bạch. Những quốc gia luôn tự đề cao như một hình mẫu về dân chủ và tinh thần chống tham nhũng thì vẫn có chỉ số chống tham nhũng khá khiêm tốn.

    Nếu ai đó cho rằng, thực hiện chế độ đa đảng sẽ tạo ra phép màu để triệt tiêu được tham nhũng là hoàn toàn sai lầm. Việt Nam chúng ta đứng thứ 80 trong bảng xếp hạng 180 quốc gia, vùng lãnh thổ về chỉ số CPI. Như thế, có 100 quốc gia, vùng lãnh thổ xếp dưới chúng ta trong bảng xếp hạng này. Mà trong đó, đại đa số quốc gia này theo chế độ đa đảng. Vậy tại sao các quốc gia, vùng lãnh thổ có hệ thống chính trị đa đảng phái vẫn có hiệu quả phòng, chống tham nhũng kém Việt Nam?

     Như thế có thể thấy hiệu quả phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng lãnh đạo hay chế độ đa đảng mà phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực quản trị của Nhà nước và phẩm chất của cán bộ, công chức. Sẽ thật ngây thơ khi ai đó tin rằng, cứ có đa đảng thì sẽ có sự kiểm soát quyền lực tốt hơn, dẫn tới triệt tiêu tham nhũng. Tại những quốc gia đa đảng phái thì vẫn luôn có sự thỏa thuận quyền lực của các đảng phái đại diện cho giai cấp thống trị xã hội. Dù có bao nhiêu cuộc bầu cử thì quyền lực nhà nước vẫn không thoát khỏi sự thống trị của các đảng phái này. Vì thế, tại các quốc gia đó, nguy cơ và thực tế tham nhũng vẫn luôn là thách thức hiện hữu.

     Đảng ta đủ năng lực lãnh đạo để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

     Thế còn tại Việt Nam, một quốc gia do một đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam thì sao? Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham nhũng hiệu quả.

     Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng tới 9 điểm kể từ năm 2018.

     Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức, tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.   

     Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

     Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra hơn 7.800 vụ án, hơn 15.200 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đến nay đã khởi tố 30 vụ án, 109 bị can (trong đó 25 địa phương đã khởi tố 28 vụ án, 71 bị can); vụ án xảy ra trong lĩnh vực đăng kiểm đã khởi tố 80 vụ án, 613 bị can tại Cục Đăng kiểm Việt Nam, 98 trung tâm và chi cục đăng kiểm; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã khởi tố 54 bị can... 

     Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét, cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến băn khoăn, lo lắng thời gian trước.

     Trước đây, trong một số vụ án tham nhũng, tiêu cực, việc điều tra, xử lý gặp khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ do có một số đối tượng liên quan bỏ trốn. Tuy nhiên, vừa qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt, tuyên án xử phạt tù đối với cả những đối tượng đang bỏ trốn, như trong vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC). Điều này sẽ tạo tiền đề để xử lý nhiều đối tượng bỏ trốn ở một số vụ án khác, là hồi chuông cảnh tỉnh, răn đe, dù có trốn ra nước ngoài cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

     Tham nhũng chính sách là vấn đề nan giải với mọi quốc gia. Thời gian qua, Đảng ta đã chỉ đạo việc quan tâm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngay từ khâu tham mưu, ban hành chính sách. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội xây dựng, trình Bộ Chính trị ban hành quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.

     Việc kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động của chính các cơ quan có chức năng PCTNTC được đẩy mạnh. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật hơn 300 cán bộ, công chức trong các cơ quan PCTNTC có sai phạm; nhiều trường hợp trong số đó bị xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã khởi tố, điều tra hơn 40 vụ án tham nhũng, chức vụ, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp. Đặc biệt là, đã xử lý kỷ luật đối với 3 lãnh đạo, nguyên lãnh đạo thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước. Từ đầu năm 2023 đến nay, đã khởi tố, điều tra 2 thiếu tướng công an, 15 cán bộ thanh tra, giám sát của các cơ quan: Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, chánh thanh tra tỉnh...

      Cùng với đó, để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, sự ra đời của ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC chính là nhân tố mới giúp công tác PCTNTC ở địa phương, cơ sở có sự chuyển biến tích cực. 

     Như thế, có thể khẳng định luận điểm cho rằng “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền” và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên xét về bản chất, không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực về bản chất là tàn dư của chế độ cũ, xã hội cũ, con người cũ. Chỉ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện mới sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, rồi việc thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới dễ làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Hiệu quả của việc PCTNTC đến đâu là do sức đề kháng của chế độ xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, do chất lượng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phụ thuộc vào phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

   


“CHI BỘ LÀ GỐC RỄ CỦA ĐẢNG Ở TRONG QUẦN CHÚNG. CHI BỘ TỐT THÌ MỌI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG ĐỀU ĐƯỢC THI HÀNH TỐT, MỌI CÔNG VIỆC ĐỀU TIẾN BỘ KHÔNG NGỪNG”

 

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Những chi bộ tốt và chi bộ chưa tốt”, bút danh “T.L”, đăng Báo Nhân dân, số 3503, ngày 31 tháng 10 năm 1963.

Đây là sự đánh giá, khẳng định của Bác về bản chất, nguồn gốc sức mạnh của Đảng, vai trò, mối liên hệ mật thiết giữa chi bộ với quần chúng.

Quán triệt và thực hiện lời Bác dạy, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của chi bộ, coi chi bộ là tế bào, là cơ sở của Đảng, là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở; đảng viên là những người có trách nhiệm góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đó với tư cách vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân. Do vậy, xây dựng chi bộ tốt, đội ngũ đảng viên tốt là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng; làm cơ sở, nền tảng xây dựng Đảng ta xứng đáng với trọng trách là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thực hiện lời Bác Hồ dạy, công tác xây dựng Đảng trong Quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm túc. Chất lượng sinh hoạt, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ không ngừng được nâng lên. Đội ngũ đảng viên trong quân đội phát triển cả số lượng và chất lượng, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng, của Quân đội; phát huy tốt tinh thần chủ động, sáng tạo, tự nguyện, tự giác, dám nghĩ, dám làm, gương mẫu trước bộ đội được bộ đội tin yêu, thật sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong đơn vị. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên trong toàn quân tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những việc làm thiết thực, hiệu quả, sát chức trách, nhiệm vụ được giao, theo phương châm “trong trước, ngoài sau, trên trước, dưới sau” tạo sức lan tỏa sâu rộng trong cơ quan, đơn vị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.

St

Chế độ một Đảng cầm quyền không phải nguyên nhân của tham nhũng

 

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, được quốc tế đánh giá cao.

Tuy nhiên, thế lực thù địch, phản động thời gian qua vẫn cố gieo rắc quan điểm sai trái cho rằng: Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ khi nào ở Việt Nam bỏ chế độ độc đảng lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ.

Vậy tại sao có thể khẳng định quan điểm nói trên là sai trái?

CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ PHÉP MÀU ĐỂ CHỐNG THAM NHŨNG

Trước hết, tham nhũng là căn bệnh do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra. Có nhà nước là có nguy cơ sinh ra căn bệnh tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Chỉ khi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa.

Như vậy, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng.

Thực tế là, ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022, do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) vừa công bố đầu năm 2023 cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng, không nhà nước nào là hoàn toàn minh bạch, trong sạch. TI sử dụng thang điểm từ 0 đến 100 để phản ánh quan điểm của các chuyên gia và giới kinh doanh đánh giá về tình trạng minh bạch và hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của mỗi quốc gia, trong đó điểm số 0 là rất tham nhũng và điểm số 100 là rất trong sạch. Quốc gia có điểm số cao nhất thế giới trong bảng xếp hạng này là Đan Mạch với số điểm 90, Phần Lan và New Zealand cùng đứng thứ hai với số điểm 87. Cũng trong bảng xếp hạng này, Nhật Bản và Vương quốc Anh cùng xếp thứ 18 với số điểm là 73, Hoa Kỳ xếp thứ 24 với số điểm là 69, Hàn Quốc xếp thứ 31 với số điểm là 63.

Như vậy, từ báo cáo trên thì các quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về phòng, chống tham nhũng vẫn không hoàn toàn trong sạch và minh bạch. Những quốc gia luôn tự đề cao như một hình mẫu về dân chủ và tinh thần chống tham nhũng thì vẫn có chỉ số chống tham nhũng khá khiêm tốn.

Nếu ai đó cho rằng, thực hiện chế độ đa đảng sẽ tạo ra phép màu để triệt tiêu được tham nhũng là hoàn toàn sai lầm. Việt Nam chúng ta đứng thứ 80 trong bảng xếp hạng 180 quốc gia, vùng lãnh thổ về chỉ số CPI. Như thế, có 100 quốc gia, vùng lãnh thổ xếp dưới chúng ta trong bảng xếp hạng này. Mà trong đó, đại đa số quốc gia này theo chế độ đa đảng. Vậy tại sao các quốc gia, vùng lãnh thổ có hệ thống chính trị đa đảng phái vẫn có hiệu quả phòng, chống tham nhũng kém Việt Nam?

Như thế có thể thấy hiệu quả phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng lãnh đạo hay chế độ đa đảng mà phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực quản trị của Nhà nước và phẩm chất của cán bộ, công chức. Sẽ thật ngây thơ khi ai đó tin rằng, cứ có đa đảng thì sẽ có sự kiểm soát quyền lực tốt hơn, dẫn tới triệt tiêu tham nhũng. Tại những quốc gia đa đảng phái thì vẫn luôn có sự thỏa thuận quyền lực của các đảng phái đại diện cho giai cấp thống trị xã hội. Dù có bao nhiêu cuộc bầu cử thì quyền lực nhà nước vẫn không thoát khỏi sự thống trị của các đảng phái này. Vì thế, tại các quốc gia đó, nguy cơ và thực tế tham nhũng vẫn luôn là thách thức hiện hữu.

ĐẢNG TA ĐỦ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO ĐỂ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

Thế còn tại Việt Nam, một quốc gia do một đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam thì sao? Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham nhũng hiệu quả.

Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng tới 9 điểm kể từ năm 2018.

Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức, tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.   

Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước.

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra hơn 7.800 vụ án, hơn 15.200 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đến nay đã khởi tố 30 vụ án, 109 bị can (trong đó 25 địa phương đã khởi tố 28 vụ án, 71 bị can); vụ án xảy ra trong lĩnh vực đăng kiểm đã khởi tố 80 vụ án, 613 bị can tại Cục Đăng kiểm Việt Nam, 98 trung tâm và chi cục đăng kiểm; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã khởi tố 54 bị can... 

Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét, cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến băn khoăn, lo lắng thời gian trước.

Trước đây, trong một số vụ án tham nhũng, tiêu cực, việc điều tra, xử lý gặp khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ do có một số đối tượng liên quan bỏ trốn. Tuy nhiên, vừa qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt, tuyên án xử phạt tù đối với cả những đối tượng đang bỏ trốn, như trong vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC). Điều này sẽ tạo tiền đề để xử lý nhiều đối tượng bỏ trốn ở một số vụ án khác, là hồi chuông cảnh tỉnh, răn đe, dù có trốn ra nước ngoài cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

Tham nhũng chính sách là vấn đề nan giải với mọi quốc gia. Thời gian qua, Đảng ta đã chỉ đạo việc quan tâm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngay từ khâu tham mưu, ban hành chính sách. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội xây dựng, trình Bộ Chính trị ban hành quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.

Việc kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động của chính các cơ quan có chức năng PCTNTC được đẩy mạnh. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật hơn 300 cán bộ, công chức trong các cơ quan PCTNTC có sai phạm; nhiều trường hợp trong số đó bị xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã khởi tố, điều tra hơn 40 vụ án tham nhũng, chức vụ, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp. Đặc biệt là, đã xử lý kỷ luật đối với 3 lãnh đạo, nguyên lãnh đạo thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước. Từ đầu năm 2023 đến nay, đã khởi tố, điều tra 2 thiếu tướng công an, 15 cán bộ thanh tra, giám sát của các cơ quan: Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, chánh thanh tra tỉnh...

Cùng với đó, để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, sự ra đời của ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC chính là nhân tố mới giúp công tác PCTNTC ở địa phương, cơ sở có sự chuyển biến tích cực. 

Như thế, có thể khẳng định luận điểm cho rằng “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền” và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên xét về bản chất, không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực về bản chất là tàn dư của chế độ cũ, xã hội cũ, con người cũ. Chỉ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện mới sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, rồi việc thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới dễ làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực.

Hiệu quả của việc PCTNTC đến đâu là do sức đề kháng của chế độ xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, do chất lượng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phụ thuộc vào phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

HỒ QUANG PHƯƠNG (qdnd.vn)