Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Khắc phục căn bệnh “lười học” và xa rời thực tế

        Gương mẫu chấp hành nghiêm cương lĩnh, điều lệ, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là tiêu chí để xây dựng phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, mỗi đảng viên cần phải tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, tinh thần giác ngộ cách mạng, mới bảo đảm hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được giao.

Những năm qua, để giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), Đảng, Nhà nước đã ban hành các quy định, như: Quy định 181-QĐ/TW năm 2013, Quy định 102-QĐ/TW năm 2017… nhằm giữ vững tính Đảng, bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước, cũng như đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng đối với CB, ĐV, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Các Quy định đã góp phần làm cho CB, ĐV giữ vững quan điểm, lập trường, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ trên từng vị trí công tác. Tuy nhiên, thời gian gần đây trên các trang mạng xã hội như facebook, zalo, YouTube xuất hiện ngày càng nhiều những bài viết của một số người, thậm chí có những người là CB, ĐV trước đây từng công tác trong các cơ quan của Nhà nước, lực lượng vũ trang, nay công khai nói xấu, xuyên tạc chủ trương đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, chia rẽ mối đoàn kết giữa Đảng với nhân dân. Đặc điểm chung trong số CB, ĐV này, là khi đương chức thì không có ý kiến đóng góp thẳng thắn cho Đảng, cho đất nước, cho cơ quan nơi mình công tác, nhưng khi nghỉ hưu do bất mãn một số vấn đề với những người đương nhiệm, đã lợi dụng dân chủ phát ngôn tùy tiện, sai trái; quy chụp, bàn luận thiếu ý thức chính trị, thiếu trách nhiệm, miễn là thỏa mãn tính kiêu ngạo cá nhân, cho rằng bản thân mình là người có tài, đức hơn người khác. Từ đó đã bị những thế lực phản động, thù địch lợi dụng lôi kéo, thậm chí bị xúi giục, kích động.

Nguyên nhân của hiện tượng trên xuất phát từ việc lười học chỉ thị, nghị quyết của Đảng, dẫn đến việc tự học tập, tự rèn luyện của CB, ĐV không thường xuyên, không xem việc học là nhu cầu của bản thân mà do sự “bắt buộc”. Cho nên, nhiều đảng viên sau khi nghỉ hưu, sinh hoạt ở các chi bộ nơi cư trú, tự cho mình cái quyền được nghỉ học tập nghị quyết của Đảng và sinh hoạt đảng, hay một bộ phận đi học nhưng chỉ chăm chú làm việc riêng, viện đủ lý do để nghỉ học… dẫn đến tình trạng không cập nhật được thông tin lý luận mới, nên khi phán xét về các hiện tượng mới nảy sinh trong xã hội thường bằng tư duy chủ quan cá nhân, tầm nhìn hạn chế. Bởi vậy, có những đảng viên nhiều năm đứng trong hàng ngũ của Đảng nhưng do lười học, lười cập nhật kiến thức nên nắm rất lơ mơ, thậm chí không phân biệt được vị trí, vai trò các cơ quan lãnh đạo của Đảng, không hiểu thế nào là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Hậu quả trước mắt là không thấu suốt cương lĩnh, điều lệ, chủ trương nghị quyết của Đảng, không có lý luận dẫn đường, chỉ lối để vận động nhân dân, “đi sau, theo đuôi” quần chúng.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, một phần nguyên nhân trên là do cách thức tổ chức học tập nghị quyết hiện nay của một số cấp ủy còn chậm đổi mới, việc học tập, quán triệt nghị quyết mới dừng lại ở việc giới thiệu, nội dung còn chung chung, dàn trải. Liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, giải đáp thắc mắc còn hạn chế, giáo viên lên lớp thường ít sử dụng phương pháp thảo luận và đối thoại, còn nặng về độc thoại, thông tin một chiều, chưa dành nhiều thời gian để giải đáp những vấn đề bức xúc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm. Quá trình nghiên cứu, thảo luận thường bị bỏ qua do thời gian bố trí học tập ngắn, thiếu tài liệu tham khảo, nên ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả việc học tập nghị quyết của CB, ĐV. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của việc học tập nghị quyết của Đảng. Người cho rằng: “Cần nghiên cứu sâu để thấm nhuần tinh thần nghị quyết; nghiên cứu càng sâu thì càng thêm phấn khởi, hoàn thành nhiệm vụ càng tốt. Nhưng cán bộ thấm nhuần chưa đủ. Phải làm cho tinh thần nghị quyết thấm nhuần trong toàn Đảng, toàn dân, làm cho mọi người thấy hết thắng lợi, khả năng và khó khăn của ta, thấy rõ khả năng của ta to lớn hơn khó khăn nhiều, làm sao cho mọi người vui vẻ, hăng hái làm tròn nhiệm vụ, vì khi nhân dân vui vẻ, hăng hái thì mọi khó khăn sẽ vượt được”. Có thể thấy, việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng vừa là quyền lợi và nhiệm vụ của đảng viên. Đây là khâu đầu tiên nhằm tạo ra sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, là tiền đề vững chắc bảo đảm cho sự thành công trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh, đưa chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống. 

Hiện nay, sau Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2020-2025, các cấp ủy đảng đang tiến hành tổ chức cho CB, ĐV của cấp mình học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội. Để đảm bảo kết quả học tập đạt chất lượng, cấp ủy Đảng các cấp cần phải siết chặt kỷ luật học tập, đổi mới công tác tổ chức và phương pháp quán triệt nghị quyết, nhất là khâu giới thiệu nghị quyết phải xây dựng đề cương theo dạng bài giảng có ví dụ chứng minh cụ thể, ngoài giới thiệu cho CB, ĐV nắm được tinh thần của nghị quyết, phải so sánh được điểm mới, nét nổi bật của nghị quyết nhiệm kỳ là gì? những chủ trương, giải pháp và các chỉ tiêu cần đạt được. 

Đồng thời, khuyến khích tính tương tác, trao đổi, thảo luận giữa người dạy và người học, tránh dạy chay học chay. Đối với CB, ĐV nghỉ hưu, khi học tập, ngoài việc khích lệ tinh thần gương mẫu, tính tự giác, cần khơi gợi được tính cống hiến thông qua đóng góp kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm thực tiễn xây dựng đảng của họ vào thực hiện nghị quyết đại hội; cấp ủy cần tôn trọng, tiếp thu, lắng nghe ý kiến đóng góp của họ. Sau mỗi đợt học tập nghị quyết, tổ chức cho CB, ĐV viết bài thu hoạch tham gia cùng cấp ủy xây dựng chương trình hành động thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở cấp mình. Đây chính là những biện pháp hữu hiệu khắc phục bệnh lười học và xa rời thực tế của CB, ĐV.

Sưu tầm

Cán bộ, đảng viên gương mẫu khi sử dụng mạng xã hội

        Có hay không sử dụng mạng xã hội (MXH) là quyền lựa chọn của mỗi người. Nhưng sử dụng MXH mà gây nguy hại cho đất nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật.

Những lợi ích tích cực từ MXH

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, MXH xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích… Nhưng phải đến năm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống MXH trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ (apps) mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng. Hiểu một cách chung nhất, dịch vụ MXH hay thường được gọi tắt là MXH, là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau, không phân biệt không gian và thời gian. Số lượng người sử dụng MXH trên toàn thế giới đã đạt tới con số 3.5 tỷ người, chiếm khoảng 46% tổng dân số trên thế giới. Đứng đầu là Facebook với hơn 2,5 tỷ người. Số người dùng internet ở Việt Nam năm 2020 là 68,17 triệu người, tăng 6,2 triệu người so với năm 2019 là 10% và có hơn 145 triệu thiết bị di động được kết nối với internet, bình quân mỗi người dùng 2,1 thiết bị di động.

Lợi ích mà MXH mang lại không ai có thể phủ nhận, ngoài việc góp phần phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ, sản xuất, kinh doanh, MXH còn thể hiện rõ nét là quyền tự do cá nhân được mở rộng. Cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có thể sử dụng các trang MXH để đăng tải thông tin, hình ảnh, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về các lĩnh vực, vấn đề xã hội quan tâm, đặc biệt là đóng góp ý kiến trong công tác xây dựng Đảng, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước, địa phương, hay cơ quan nơi mình công tác. Đó là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tự do, dân chủ đang ngày càng được mở rộng và phát huy. Hơn nữa, người dùng MXH sẽ được cập nhật, cung cấp các thông tin mới nhất trên từng lĩnh vực cần quan tâm; được cải thiện và nâng cao một số kỹ năng ứng xử, giao tiếp và kỹ năng sống. Đồng thời, nắm bắt được dư luận và tạo ra trào lưu cho một bộ phận hay số đông thông qua chia sẻ, bình luận của người dùng MXH, ví như trào lưu do Facebook tạo ra từ câu nói của nhân vật Ánh Dương trong bộ phim truyền hình dài tập “Về nhà đi con”, “Thanh xuân như một ly trà…”, câu nói hài hước, dễ nhớ đã trở thành trào lưu mới để người dùng MXH sử dụng và chế tác thành nhiều câu nói hài hước khác.

Tác hại và cách phòng chống

Bên cạnh tiện lợi, nếu người dùng “nghiện” MXH sẽ tiêu tốn nhiều thời gian vào việc vô bổ, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, học tập, công tác và gặp nhiều phiền toái. Chúng ta đã quá quen với hình ảnh trong những buổi sinh hoạt, học tập và cả trong hội nghị triển khai nhiệm vụ của các cơ quan, bên trên giáo viên thì hăng hái, say sưa giảng giải, người chủ trì thì nhấn mạnh những nội dung cần tập trung thực hiện nhưng bên dưới, người nghe chỉ chăm chú xem điện thoại, tranh thủ vào MXH để chia sẻ, tìm kiếm thông tin không liên quan đến nội dung mình đang học tập, sinh hoạt. Dẫn đến tình trạng hôm nay học gì, cơ quan triển khai nhiệm vụ gì cũng không nắm được, có nắm cũng chỉ lơ mơ. Do đó, khi thực hiện mới xảy ra nhiều bỡ ngỡ sai sót, văn bản, hướng dẫn ban hành không đúng, nói một đằng làm một nẻo. Thường thấy trong số CB, ĐV “nghiện” MXH là mặc kệ đồng chí, đồng nghiệp làm sai hay đúng không đóng góp phê bình “mũ ni che tai”, cốt sao quyền lợi của bản thân không đụng chạm đến là được nhưng khi trên MXH xuất hiện thông tin gì thì bình luận, phát biểu sôi nổi, lâu thành quen dần mắc vào căn bệnh “thích thể hiện bản thân” hơn người trên mạng. Lúc nào cũng thể hiện mình giỏi giang, ba hoa, phát ngôn kiểu dân xã hội mạng, có mặt ở chỗ nào là chụp ảnh, là Live Stream chỗ ấy, từ đi hái rau, củ, quả trong vườn, hay gặp bạn bè nhậu nhẹt tiệc tùng bù khú, thậm chí cả những cuộc họp quan trọng của cơ quan… tất cả được đưa lên MXH để mọi người chiêm ngưỡng. Nguy hiểm hơn, có một số CB, ĐV vì “thích thể hiện bản thân”, không rõ đúng sai, hay dở, vô tình đã đưa các thông tin không được kiểm chứng trôi nổi trên internet hoặc chộp được một số thông tin trái chiều, ý kiến phản biện nào đó rồi suy diễn, mục đích nhằm thỏa mãn tính cuồng vọng bản thân, thích nổi tiếng và đưa lên mạng. Thực tế, thông tin trên internet gần như thượng vàng, hạ cám gì cũng có, với rất nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc đường lối Đảng, Nhà nước, nên đưa thông tin không kiểm chứng đã vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc chống phá đất nước.

Do vậy, mỗi CB, ĐV, nhất là cấp ủy các cấp cần nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, tuân thủ nghiêm Điều lệ, kỷ luật của Đảng, chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng, các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước. Trong quy trình tiếp cận, xử lý và sử dụng thông tin, phải bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, nội dung, mục tiêu, thời điểm và đúng đối tượng. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nêu gương của CB, ĐV, Người nhấn mạnh: “Tuyên truyền phải miệng nói tay làm, phải tùy hoàn cảnh mà tổ chức giúp đỡ nhân dân thật sự, không phải chỉ dân vận bằng diễn thuyết” muốn tiến hành tốt các nội dung nêu gương, thì cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện “nói đi đôi với làm”. Sự thống nhất giữa lời nói và việc làm còn là một yêu cầu khách quan của phẩm chất người CB, ĐV nhất là trong tình hình hiện nay. 

Nêu gương của CB, ĐV khi sử dụng MXH phải thể hiện được là người sử dụng thông thái và bản lĩnh, không lệ thuộc, lạm dụng MXH để thể hiện quan điểm phiến diện chủ quan cá nhân, biết xây dựng cho mình lối sống văn hóa, ứng xử văn minh, phân biệt được thông tin thật, giả. Có chính kiến rõ ràng, thẳng thắn phê phán cái sai, bảo vệ cái đúng, phải thể hiện đúng chuẩn mực, tư cách của người đảng viên trong cuộc sống hàng ngày cũng như trên MXH. Mỗi trang MXH của cá nhân CB, ĐV phải là một kênh thông tin, tuyên truyền mang thương hiệu “uy tín, hữu ích” với gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, góp phần cổ vũ, tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cơ quan, đơn vị, địa phương nơi mình công tác ngày càng lan tỏa sâu rộng trong cuộc sống.

Sưu tầm

“Ăn tàn”, coi chừng bỏng miệng!

        Từ xa xưa, những kẻ có hành vi a dua, nịnh bợ, ăn theo nói leo để hưởng lợi được ông bà ta ví là “theo đóm ăn tàn”.

Cái lợi mà họ thu được từ những hành vi tiêu cực ấy rất nhỏ bé, còn hậu quả của nó thì khó lường. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, việc nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện “theo đóm ăn tàn” trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị là vô cùng cần thiết, cấp bách.

AI MUỐN "THEO ĐÓM ĂN TÀN"?

Cạp nong là một loài rắn độc. Chúng có đặc điểm sinh tồn khác biệt so với các loài khác, đó là rất thích ăn tàn tro. Kinh nghiệm bao đời của nhà nông cho thấy, mỗi khi đốt đuốc ra đồng gieo cấy, thu hoạch mùa màng, rắn cạp nong thường theo chân người để ăn tàn đóm. Nếu không cảnh giác đề phòng, con người rất dễ bị rắn cắn. Nhưng với những người thợ săn rắn thì đặc điểm tự nhiên này lại là cơ hội để dễ dàng dụ rắn ra khỏi hang, bắt được những con rắn bự. Theo đóm chỉ nhặt được những mảnh tàn tro nhưng nhiều khi rắn phải trả giá bằng cả tính mạng...

Từ hiện tượng của thế giới tự nhiên, bằng cách nói ẩn dụ, tổ tiên, ông bà ta đã truyền thông điệp cho muôn đời hậu thế, rằng trong cuộc sống phải luôn cảnh giác, đấu tranh, tẩy chay những hành vi kiểu rắn cạp nong. Mặt khác, đó cũng là lời cảnh tỉnh, cảnh báo cho những ai có tư tưởng ấy, hãy tự soi mình, tự gột rửa để sửa chữa, chớ vì những cái lợi nhỏ nhoi mà phải trả giá bằng uy tín, danh dự.

Càng ngẫm càng thấy rõ, ở xã hội nào, lĩnh vực nào cũng có những con người, những hành vi kiểu như vậy. Từ điển tiếng Việt giải thích thành ngữ “Theo đóm ăn tàn” là: “Hùa theo, a dua theo để mong kiếm chác lợi lộc”.

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, sự xuất hiện của những hành vi như vậy chính là  biểu hiện của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Không khó để nhận diện những biểu hiện ấy trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Đó là những người cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, yếu lập trường, thiếu bản lĩnh, gió chiều nào che chiều ấy. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đó là biểu hiện của “lươn, chạch”. Khi đương chức, đương quyền thì xun xoe, nịnh bợ để tiến thân. Khi không đạt được mục đích, nguyện vọng, nhất là trong quy hoạch, bổ nhiệm hoặc dính dáng đến lợi ích nhóm, thì sinh ra tiêu cực, hùa theo các đối tượng bất mãn để chống đối. Tận dụng tiện ích công nghệ thông minh và không gian mạng, sau khi chuyển ngành, nghỉ hưu, nghỉ việc, thậm chí là ra nước ngoài định cư, một số người đã quay lại bới móc, nói xấu tổ chức, bôi nhọ đồng chí, đồng nghiệp. Họ thường theo dõi các kênh truyền thông, tài khoản của các tổ chức, cá nhân có tư tưởng thù địch với Đảng, Nhà nước ta, ăn theo những thông tin xuyên tạc, thất thiệt rồi a dua theo các đối tượng có tư tưởng thù địch bôi nhọ chế độ, quay lưng với lợi ích quốc gia - dân tộc. Tình trạng này đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, đó là: “Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân...”. Ban đầu chỉ là kiểu nói ám chỉ vu vơ, càng về sau càng tăng dần cấp độ, tính chất. Từ việc moi móc những hạn chế, tiêu cực trong nội bộ tổ chức, cơ quan đến hùa theo tư tưởng phản động, phán xét, chỉ trích, hạ bệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Dần dần, họ biến mình thành công cụ cho các thế lực thù địch giật dây, móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập, chống phá Đảng và Nhà nước.

Từ những vụ việc, vụ án xử lý, xét xử các đối tượng vì tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân trong những năm vừa qua, chúng ta thấy rõ, nguyên nhân phạm tội của nhiều đối tượng đều bắt đầu từ việc “theo đóm ăn tàn” như đã trình bày. Ở thái cực đối lập, các thế lực thù địch luôn áp dụng chiêu bài “dụ rắn ra khỏi hang”, tha hồ đốt đóm, đốt đuốc, tung tàn để những thành phần mang tư duy, tư tưởng cạp nong lao ra “ăn tàn”. Những cái lợi về tiền bạc, vật chất mà họ được dụ dỗ quá nhỏ bé. Những ngôn từ mà họ được các thế lực thù địch, phần tử phản động tung hô cũng chỉ là thứ danh ảo. Nhưng hậu quả thì thật, rất thật. Khi bị đưa ra xử lý kỷ luật, xét xử trước pháp luật thì khác gì “ăn tàn, bỏng miệng”, mất hết danh dự, uy tín, ảnh hưởng nặng nề đến gia đình, họ tộc, để lại di chứng về tinh thần...

COI TRỌNG PHÒNG NGỪA, THƯỜNG XUYÊN CẢNH BÁO

Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường... Đó vừa là nhận định thẳng thắn, khách quan, vừa là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với thái độ và bổn phận tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong giai đoạn hiện nay.

Lâu nay, trước những vụ việc, vấn đề tiêu cực nảy sinh trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, không ít người cho rằng đó là do kẽ hở của pháp luật, những bất cập trong hành lang pháp lý và kỷ luật Đảng, rồi thì đổ lỗi do cơ chế... Thực chất, đó là ngụy biện. Tính chiến đấu, tính kỷ luật trong Đảng mang bản chất nhân văn xã hội chủ nghĩa, là “kỷ luật một vài người để cứu muôn người” như cách nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chúng ta lấy giáo dục, thuyết phục, lấy phòng ngừa làm chính, lấy xây để chống, vì vậy, để ngăn chặn, tiến tới thủ tiêu tư duy, hành vi “theo đóm ăn tàn”, trước hết và trên hết phải coi trọng công tác phòng ngừa, thường xuyên cảnh báo để nhắc nhở, răn đe.

Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta đã và đang đi đúng hướng, đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần chấn hưng văn hóa Đảng, đạo đức cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân. Từ Đại hội XII đến Đại hội XIII, Đảng ta đã tạo được bước đột phá mạnh mẽ, sâu sắc về phương thức, giải pháp, hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã mở rộng phạm vi đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Đảng ta xác định, phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cùng với lấy giáo dục, thuyết phục làm chính, việc đấu tranh, xử lý những hành vi vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị cũng phải được tiến hành kịp thời, nghiêm minh, kiên quyết, thường xuyên.

Cùng với Kết luận số 21, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm đã nêu rất cụ thể những hành vi cấm kỵ đối với cán bộ, đảng viên. Đây chính là cơ sở để tổ chức đảng các cấp căn cứ vào thẩm quyền, nhiệm vụ để cụ thể hóa vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện phê bình, tự phê bình, duy trì nghiêm kỷ luật Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt nghiêm túc, lấy đó làm tiêu chí tự tu dưỡng, rèn luyện. Cơ sở nguyên tắc và yêu cầu thực tiễn đã chứng minh, những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống không phải do cơ chế, kỷ luật lỏng lẻo như cách lý giải ngụy biện, mà cái chính đều do ý thức chủ quan, thiếu tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong bối cảnh hiện nay, không gian mạng là môi trường dễ phát sinh các loại “đóm” nên cũng sẽ có không ít người muốn “ăn tàn”. Sự cảnh báo không chỉ từ phía các vụ án, vụ việc bị phát hiện, điều tra, xử lý, mà quan trọng nhất là phải nhắc nhở để răn đe, ngăn chặn từ gốc. Từ văn hóa sử dụng mạng xã hội đến phát ngôn, ứng xử của cán bộ, đảng viên, công chức... đều phải tuân thủ nghiêm các quy định và Điều lệ Đảng. Đặc biệt, đối với những người nổi tiếng, người có ảnh hưởng trong xã hội, phải coi trọng phòng ngừa và kiên quyết chống các hành vi tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội đi ngược lại đường lối của Đảng; chống việc cổ xúy quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, thổi phồng mặt trái của xã hội; ngăn chặn việc sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo sự thật, hạ thấp uy tín của Đảng. Cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu, tuyệt đối không để bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Chớ bốc đồng, a dua “theo đóm ăn tàn” kẻo rồi “bỏng miệng”.../.

Sưu tầm

PHỐI HỢP CÁC CẤP, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG DÂN QUÂN TỰ VỆ

     Dân quân tự vệ là một thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân - lực lượng bảo vệ cấp ủy, chính quyền, tính mạng, tài sản của cơ quan, tổ chức và nhân dân trong thời bình; đồng thời, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi chiến tranh xảy ra. Vì vậy, lực lượng này cần được tiếp tục xây dựng “vững mạnh, rộng khắp”, với nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp, đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, nhất là chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, lực lượng dân quân tự vệ nói riêng “vững mạnh, rộng khắp”, những năm qua, Cục Dân quân tự vệ đã tham mưu cho Bộ Tổng Tham mưu, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước sửa đổi, ban hành và tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, văn bản pháp lý về tổ chức, trang bị, quản lý, duy trì hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng dân quân tự vệ cả trên đất liền và trên biển, đảo1, đạt nhiều kết quả tích cực.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách xây dựng lực lượng dân quân tự vệ nói chung, dân quân tự vệ biển nói riêng “vững mạnh, rộng khắp”, chất lượng ngày càng cao, làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển và tham gia bảo vệ chủ quyển biển, đảo theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Từ đó, dân quân tự vệ biển đã phát huy vai trò, chức năng vừa tham gia phát triển kinh tế, vừa phối hợp với các lực lượng hoạt động trên biển, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên biển ngày càng vững chắc, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trên biển, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.

Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là về mô hình tổ chức, quản lý quân số, điều kiện hoạt động. Đầu tư trang bị tàu thuyền, vũ khí, công cụ hỗ trợ và thiết bị đồng bộ để thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế. Trong khi đó, hoạt động xâm phạm chủ quyền, khai thác tài nguyên trái phép trên vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam ngày một gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sản xuất, kinh doanh trên biển, đe dọa chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc. Để khắc phục những hạn chế, bất cập, phát huy vai trò lực lượng dân quân tự vệ biển trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bài viết đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một làtăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển vững mạnh, rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu cao là một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quốc phòng, quân sự của các địa phương, đơn vị có biển, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tập trung, thống nhất của cấp ủy, chính quyền các cấp, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên, trực tiếp là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược quân sự, Luật Dân quân tự vệ,... các tỉnh, thành phố ven biển tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng, ban hành nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động và các đề án, kế hoạch tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động, cũng như bảo đảm chế độ, chính sách đối với lực lượng dân quân tự vệ biển phù hợp với tình hình thực tế địa phương, cơ sở. Quá trình triển khai thực hiện, các ban, ngành, địa phương từ tỉnh đến cơ sở tuân thủ nghiêm quy trình xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và thực hiện đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân cử, dân chăm lo”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn người đứng đầu các cơ sở, cơ quan, tổ chức có lực lượng, phương tiện hoạt động trên biển về việc đăng ký, xây dựng kế hoạch tổ chức, hoạt động tự vệ biển theo quy định, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót, khắc phục những bất cập nảy sinh từ thực tiễn.

Hai là, chú trọng kiện toàn tổ chức, biên chế và đầu tư phương tiện, trang bị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đây là nội dung quan trọng, trực tiếp quyết định chất lượng lực lượng dân quân tự vệ biển. Các tỉnh, thành phố ven biển cần thực hiện tốt phương châm: xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển phải gắn kết giữa lợi ích kinh tế với quốc phòng, an ninh; phù hợp với tổ chức, biên chế theo Luật định và khả năng bảo đảm trang bị kỹ thuật cũng như trình độ của các lực lượng dân quân biển. Căn cứ vào đặc điểm tình hình trên từng khu vực, nhiệm vụ được giao, các tỉnh, thành phố ven biển cần tổ chức lực lượng dân quân tự vệ biển có cơ cấu, số lượng hợp lý trên từng hướng, vùng biển; lấy công ty dịch vụ tàu biển và hợp tác xã nghề cá làm cơ sở để xác định lực lượng cụ thể. Về tổ chức, cần phân bố theo ngành nghề sản xuất, ngư trường đánh bắt, gắn với các loại hình tổ chức sản xuất,… để thuận tiện quản lý, chỉ huy và huy động lực lượng, phương tiện khi cần thiết. Đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động để phát huy thế mạnh của từng lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp trong các hoạt động tác chiến trên biển, đảo. Quá trình tuyển chọn, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm đến trình độ văn hóa, sức khỏe và kinh nghiệm hoạt động trên biển; ưu tiên các công dân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự ở các đơn vị Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển và những người có kinh nghiệm hoạt động trên biển bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng, trung đội trưởng trong các đơn vị dân quân tự vệ biển.

Ba làquan tâm làm tốt công tác bảo đảm, công tác chính sách cho dân quân tự vệ biển. Do đặc thù nhiệm vụ, lực lượng dân quân tự vệ biển thường phải hoạt động dài ngày trên biển, điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cao. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm bố trí ngân sách, bảo đảo đảm đầy đủ, đồng bộ vũ khí, trang bị, công cụ hỗ trợ cho dân quân tự vệ biển. Thường xuyên kiểm tra công tác kỹ thuật, chú trọng bảo quản động cơ, bánh lái, mỏ neo, hệ thống điện, thông tin liên lạc và phương tiện cứu hỏa, cứu sinh; bảo đảm đầy đủ lương thực, thực phẩm, nước ngọt, xăng dầu trước khi thực hiện nhiệm vụ trên biển. Trang bị đồng bộ hộp cấp cứu tổng hợp, thuốc chữa trị và nâng cao khả năng cứu chữa trên các tàu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách ưu đãi, động viên đối với lực lượng dân quân tự vệ biển khi thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, chiến sĩ và hậu phương cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ biển trong quá trình huấn luyện, thực hiện nhiệm vụ trên biển; biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỤNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN, TỰ VỆ “VỮNG MẠNH, RỘNG KHẮP”

     Dân quân tự vệ là một thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân - lực lượng bảo vệ cấp ủy, chính quyền, tính mạng, tài sản của cơ quan, tổ chức và nhân dân trong thời bình; đồng thời, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi chiến tranh xảy ra. Vì vậy, lực lượng này cần được tiếp tục xây dựng “vững mạnh, rộng khắp”, với nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp, đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, nhất là chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, lực lượng dân quân tự vệ nói riêng “vững mạnh, rộng khắp”, những năm qua, Cục Dân quân tự vệ đã tham mưu cho Bộ Tổng Tham mưu, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước sửa đổi, ban hành và tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, văn bản pháp lý về tổ chức, trang bị, quản lý, duy trì hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng dân quân tự vệ cả trên đất liền và trên biển, đảo1, đạt nhiều kết quả tích cực.

Trên thực tế, cấp ủy, chính quyền các cấp, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đã nhận thức ngày càng đầy đủ vai trò của lực lượng dân quân tự vệ; có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo củng cố tổ chức biên chế; bảo đảm vũ khí, trang bị, trang phục, tổ chức huấn luyện, diễn tập nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu2; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Cùng với đó, tích cực huy động các nguồn lực xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, phối hợp với các lực lượng khác hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh; ứng phó sự cố, thiên tai, dịch bệnh; tuần tra bảo vệ biên giới, đấu tranh phòng, chống tội phạm và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở3.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc phối hợp nắm tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn, nhất là địa bàn trọng điểm  còn chưa kịp thời, hiệu quả; nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ của một số cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa sâu sắc, toàn diện; việc cụ thể hóa, triển khai các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật ở một số cơ quan, tổ chức còn chậm; xây dựng tổ chức tự vệ và phát triển Đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, v.v.

tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

Trước hếtcác cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu bảo đảm cho quá trình xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đúng định hướng của Đảng, đạt hiệu quả thiết thực và sát thực tiễn tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, cơ quan quân sự, đơn vị dân quân tự vệ các cấp cần tập trung tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương và cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt làm cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh; đủ sức bảo vệ cấp ủy, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân, của cơ quan, tổ chức; đồng thời, làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tư, an toàn xã hội ở cơ sở. Trong đó, tập trung quán triệt, cụ thể hóa, triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, văn bản mới của Đảng, Nhà nước, như: Luật Dân quân tự vệ, các đề án, chỉ tiêu, nhiệm vụ trên giao; nghĩa vụ, quyền lợi, chế độ, chính sách của dân quân tự vệ; trách nhiệm của công dân đối với việc tham gia lực lượng dân quân tự vệ, v.v. Trên cơ sở đó, phát huy vai trò, trách nhiệm, sự vào cuộc của các cấp, ngành, địa phương, của cả hệ thống chính trị,... 

Hai làtập trung xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh về mọi mặt, trọng tâm là vững mạnh về chính trị, làm cơ sở hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Với vai trò là cơ quan đầu ngành, Cục Dân quân tự vệ tiếp tục phối hợp, chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương và lãnh đạo các cơ quan, tổ chức đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ngày càng “vững mạnh, rộng khắp”, đủ cơ cấu, thành phần (thường trực, tại chỗ, cơ động, binh chủng và dân quân biển), có tổ chức, biên chế chặt chẽ, thống nhất, hoạt động chất lượng, hiệu quả. Trước mắt, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của chốt chiến đấu dân quân thường trực biên giới đất liền, tổ chức tự vệ trong các doanh nghiệp. Kết hợp triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ trong các đề án về dân quân tự vệ, nhất là nhiệm vụ giai đoạn tiếp theo của Đề án “Xây dựng hải đội dân quân thường trực tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới”,… với nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các đề án về nâng cao hiệu quả hoạt động của ban chỉ huy quân sự, lực lượng dân quân tự vệ cấp xã biên giới, ven biển, trên các đảo, dân quân cơ động, v.v. Đồng thời, nghiên cứu, sớm ban hành, hướng dẫn, triển khai xây dựng mô hình điểm: đơn vị dân quân tự vệ vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, chốt chiến đấu của dân quân thường trực biên giới đất liền gắn với điểm dân cư liền kề và đồn Biên phòng,… để từng bước nhân rộng.

Ba làtăng cường huấn luyện, diễn tập, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đây là vấn đề quan trọng, mang tính động lực, bảo đảm cho lực lượng dân quân tự vệ luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân ở địa phương, cơ sở. Vì vậy, cùng với đẩy mạnh kiện toàn tổ chức, biên chế, các cơ quan, đơn vị, nhất là cơ quan quân sự các cấp cần phối hợp tổ chức tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng, huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao, nâng cao hiệu quả hoạt động theo Đề án “Tổ chức lực lượng huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho dân quân tự vệ giai đoạn 2021 - 2025”, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ, địa bàn của từng địa phương. Tập trung huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, nhất là khả năng nắm, xử lý tình huống an ninh, quốc phòng tại thực địa cho dân quân tự vệ, v.v. Coi trọng luyện tập, diễn tập theo phương án sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu phòng thủ cấp xã và các phương án phòng, chống khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn,...

PHỐI HỢP GIỮA CÁC BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG, LƯỠNG DỤNG GẮN VỚI CÔNG TRÌNH QUỐC PHÒNG

    Quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả, đồng bộ Kết luận số 64-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22-9-2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Kim Bảng luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ; gắn việc thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.

Do vậy, việc kết hợp phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng, an ninh đã được Huyện ủy, UBND huyện quan tâm ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch; các dự án xây dựng đều được thực hiện đúng quy trình, quy định; các công trình quân sự, quốc phòng, hệ thống giao thông, công trình dân sinh lưỡng dụng trong khu vực phòng thủ đều được phân cấp trách nhiệm quản lý, duy tu, bảo dưỡng.

Các phương án quy hoạch phát triển KT-XH của huyện đều đã tính toán tới yếu tố bảo đảm quốc phòng, an ninh cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất... được địa phương xác định có tính lưỡng dụng đã được đưa vào quản lý, vừa phục vụ phát triển KT-XH và sẵn sàng chuyển đổi sản xuất phục vụ quốc phòng, an ninh khi có tình huống xảy ra.

Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo Ban CHQS huyện, Công an huyện phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể tham mưu xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, huy động nguồn lực kinh tế bảo đảm cho quốc phòng, an ninh; chủ động khai thác tiềm năng địa phương để thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm an sinh xã hội. Từng bước đầu tư xây dựng công trình căn bản trong sở chỉ huy các cấp, xây dựng khu căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần-kỹ thuật... đủ đáp ứng nhu cầu phòng thủ của địa phương.

Các dự án đầu tư phát triển, đặc biệt là các dự án có yếu tố nước ngoài, các dự án khai thác tài nguyên khoáng sản đều được khảo sát, nghiên cứu, đánh giá chặt chẽ toàn diện, bảo đảm phù hợp với quy hoạch thế trận quốc phòng, an ninh, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Huyện đã tăng cường công tác quản lý đối với các địa hình có giá trị về quân sự, quốc phòng, địa hình trong các phương án tác chiến của khu vực phòng thủ, góp phần không ngừng củng cố thế trận phòng thủ của địa phương.

Quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện

Để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo Đảng ủy Quân sự, Ban CHQS huyện xây dựng, bổ sung quyết tâm tác chiến phòng thủ; kế hoạch động viên, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; hướng dẫn các ngành, địa phương bổ sung kế hoạch, văn kiện sẵn sàng chiến đấu theo các phương án.

Tập trung lãnh đạo, giáo dục cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội, địa phương; tiếp tục thực hiện đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới, kết hợp chặt chẽ giáo dục chính trị với tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện 5 chuẩn mực Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới...

Hằng năm, địa phương hoàn thành 100% chương trình giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật cho các đối tượng theo kế hoạch, quân số đạt hơn 98,3%, kết quả 100% đạt yêu cầu, trong đó hơn 92% đạt khá, giỏi; tổ chức giáo dục chính trị cho 100% cơ sở dân quân, tự vệ với quân số đạt 100%.

Cùng với đó, Ban Thường vụ Huyện ủy đã lãnh đạo thực hiện hiệu quả về tổ chức, biên chế, xây dựng lực lượng, nâng cao toàn diện chất lượng huấn luyện. Cơ quan quân sự duy trì nghiêm chế độ, nền nếp huấn luyện theo phương châm "cơ bản, thiết thực, vững chắc", từng bước đổi mới phương pháp, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với hội thao, hội thi. Gắn huấn luyện với xây dựng nền nếp chính quy, quản lý kỷ luật, chấp hành pháp luật, kỷ luật, xây dựng Ban CHQS huyện vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”.

Lực lượng dân quân, tự vệ được xây dựng theo phương châm “vững mạnh, rộng khắp”, có quân số hợp lý, đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc đăng ký, quản lý quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật, sắp xếp, biên chế các đơn vị dự bị động viên đạt 100% đầu mối đơn vị, quân số đạt hơn 97%, tỷ lệ đúng chuyên nghiệp quân sự bảo đảm yêu cầu đề ra.

 

 

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI XÂU DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm chỉ đạo chiến lược nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình này chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả trong nước và quốc tế, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định, cần được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện hiệu quả.

Những diễn biến phức tạp của bối cảnh quốc tế hiện nay

Thực tiễn cho thấy, tình hình thế giới, khu vực là yếu tố khách quan có tác động lớn đến lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc nói chung và Việt Nam nói riêng. Dự báo trong thời gian tới, thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường, nổi bật với những vấn đề sau: Những chuyển biến của bối cảnh thế giới đơn cực đang dần được thay thế bằng một thế giới đa cực, bắt đầu từ “chiến dịch quân sự đặc biệt” do Nga tiến hành tại U-crai-na. Cuộc xung đột này đang diễn ra hết sức quyết liệt, phức tạp và khó lường, tạo ra những rạn nứt khó có thể hàn gắn giữa châu Âu và Nga; đồng thời, “vô tình” thúc đẩy sự gắn kết hơn của châu Âu với nhu cầu mở rộng hơn nữa của NATO. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động sâu sắc, chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ các vấn đề xã hội, đặc biệt là tạo nên sự thay đổi nhảy vọt trên lĩnh vực trang bị vũ khí công nghệ cao, từ đó làm chuyển biến căn bản về tư duy quốc phòng quân sự, nghệ thuật tác chiến, tạo môi trường tác chiến đa dạng. Không gian chiến tranh ngày càng mở rộng, vũ khí chính xác công nghệ cao ngày càng tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới tinh thần binh lính trên chiến trường lẫn tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng được nhìn ở dưới các góc độ khác nhau, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh lợi ích quốc gia - dân tộc; khối liên minh quân sự xáo trộn, tạo nên những thách thức phức tạp. Các nước nhỏ vẫn luôn phải chịu những sức ép từ cường quyền của một số nước lớn

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung, quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng là vấn đề cốt yếu, thường xuyên, cấp bách. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ, cần đầu tư “xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phòng thủ quân khu thành khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(1). Trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp và khó lường hiện nay, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này chúng ta cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

Tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo, lãnh đạo  của Đảng đối với các cơ quan tham mưu chiến lược trong xây dựng các phương án tác chiến chiến lược mới, phù hợp với tình hình thực tiễn.

Đây là nhóm giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu. Bởi vì, trong chiến tranh hiện đại, tấn công, phòng ngự - phòng thủ và phản công diễn ra một cách quyết liệt, nhiều lúc đan xen, liên tục diễn ra các hoạt động tác chiến mang tính đan cài. Thực tiễn đang đặt ra những bài toán khó đối với các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng. Để thực hiện hiệu quả nhóm giải pháp này, chúng ta cần triển khai các biện pháp cụ thể:

Một là, Quân ủy Trung ương là cơ quan lãnh đạo mọi mặt và trực tiếp đối với nền quốc phòng toàn dân cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo để các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng thực hiện tốt các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó.

Hai là, các cơ quan tham mưu chiến lược, cần nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng, cập nhật thường xuyên để tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề mới về quốc phòng, an ninh. Công tác tham mưu chiến lược càng chính xác, kịp thời và thiết thực thì quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân của nước ta càng vững chắc. Trên cơ sở đó, thế và lực của nền quốc phòng nước ta mới được nâng cao một cách toàn diện, hiện đại, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu tác chiến trên các hướng chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

Ba là, đối với các cấp trực thuộc Trung ương, Đảng ủy Quân sự các cấp cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo để đề ra các phương thức tác chiến mới; các phương án điều chỉnh thế bố trí chiến trường trên từng vùng, từng địa bàn tác chiến các cấp cho phù hợp với chiến tranh hiện đại và với sự điều chỉnh của tổng thể nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới.

Bốn là, cần chỉ đạo việc phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng công trình dân dụng, lưỡng dụng gắn với công trình quốc phòng để bảo toàn lực lượng, tính mạng cho nhân dân. Đồng bộ mọi mặt công tác bảo đảm để vừa tác chiến, vừa phòng tránh dài ngày như các tầng hầm, công trình ngầm.

 

BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT

  Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Có thể nói, tôn giáo ở Việt Nam được ví như bức tranh thu nhỏ của tôn giáo trên thế giới, từ các hình thức sơ khai, như: Tô tem giáo, Ma thuật giáo, Saman giáo đến các tôn giáo lớn, được hình thành từ rất sớm, có tổ chức chặt chẽ, như: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Hồi giáo,… trong đó có những tôn giáo du nhập từ bên ngoài, nhưng cũng có nhiều tôn giáo nội sinh, như: Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiền phái Trúc Lâm, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, v.v. Loại hình tổ chức của các tôn giáo cũng đa dạng: có những tôn giáo chỉ có một tổ chức duy nhất (Phật giáo, Công giáo) và cũng có những tôn giáo có rất nhiều tổ chức khác nhau (Tin Lành, Cao Đài), v.v. Nếu như nhiều quốc gia thường có một tôn giáo giữ vai trò chủ đạo, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội, thì ở Việt Nam có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng cùng tồn tại và bình đẳng về vị thế, không có tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo, ảnh hưởng quyết định đến đời sống xã hội Việt Nam. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh họat tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Không ai được quyền bắt người khác từ bỏ tín ngưỡng, tôn giáo mà họ đang theo. Tín đồ và chức sắc các tôn giáo không được tuyên truyền lôi kéo, công kích tín ngưỡng, tôn giáo của người khác.

Hiện nay, các thế lực thù địch đanh ráo riết, kích động mâu thuẫn giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh, kích động chống đối chính quyền nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước ta. Cùng với hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, các thế lực thù địch  còn lợi dụng những tồn tại của lịch sử ra sức kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng ly khai, tự trị của các dân tộc trên các địa bàn chiến lược để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự đoàn kết thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Mới đây, ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ ra mắt “Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”. Đây là tài liệu chính thống, kịp thời cung cấp những thông tin cơ bản về tôn giáo, chính sách tôn giáo ở Việt Nam và những thành tựu, cũng như thách thức của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; một trong những công cụ chuyển tải thông tin trung thực tới các nước, các tổ chức quốc tế quan tâm đến lĩnh vực nhân quyền, tôn giáo, làm cơ sở tham chiếu, chứng minh cho nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua đó, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Ngay lập tức một số trang báo điện tử thiếu thiện chí, như: VOA, RFI, RFA,… cùng nhiều trang mạng của các tổ chức, cá nhân chống đối, cơ hội chính trị đã có những bài viết, bình luận sai trái, đánh giá tiêu cực về Cuốn sách này. Họ không chỉ rêu rao việc cho ra đời Cuốn sách là “bức bình phong” nhằm che đậy các vi phạm kéo dài tại Việt Nam; mà còn tạo ra bức tranh méo mó về vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, khi quy chụp: “Việt Nam không hề có tự do, và tự do tôn giáo lại càng không. Hàng loạt các vụ đập phá chùa chiền, nhà thờ để chiếm đất đai, chính quyền cài cắm người vào hàng ngũ tu sĩ để hòng phá hoại và chia rẽ tôn giáo”(!). Đây là những nhận định lố bịch, mang đầy dã tâm chính trị hòng chống phá Đảng, Nhà nước và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân ta.

Những thành tựu thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta cho thấy, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của  nhân dân là quan điểm, chính sách xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Quan điểm đó được thể hiện trong các văn bản của Đảng ngay từ khi mới thành lập, nhất là trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ về công tác tôn giáo được ghi dấu bằng nhiều nghị quyết, tiêu biểu như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới”, Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, v.v. Trong đó, khẳng định rõ: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; coi trọng giữ gìn và “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước”; “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”1.

Quan điểm nhất quán ấy đã được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và các chính sách nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tế của người dân, phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (năm 1946) và các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau này, đều  khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền cơ bản của con người. Hiến pháp (năm 2013) ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Thực hiện các nguyên tắc đã được hiến định, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Trong đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được kỳ họp thứ 2, Quốc hội (khóa XIV) thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 là dấu son trong lộ trình cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với đời sống thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, khẳng định với quốc tế rằng, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong đảm bảo quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ quan điểm đến chính sách và thực tiễn đều minh chứng rằng, Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm trên thực tế sự đa dạng, hòa hợp, bình đẳng giữa các tôn giáo và không có sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo2, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, Nhà nước không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật; mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin tại gia đình, cơ sở thờ tự hoặc điểm nhóm hợp pháp. Các tôn giáo đều chung sống hài hòa, đoàn kết, gắn bó, đồng hành với dân tộc, không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Các tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ có đóng góp nhất định cho đất nước trên nhiều phương diện của đời sống xã hội, tích cực tham gia các phong trào xã hội, từ thiện, xóa đói giảm nghèo, đóng góp thiết thực vào sự phát triển đất nước, là một nhân tố xã hội, văn hóa tích cực, góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc.

Nhà nước luôn bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường theo quy định pháp luật. Đặc biệt, những ngày lễ trọng của các tôn giáo, như: lễ Phật đản, lễ Vu lan (của Phật giáo); lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh (của Công giáo và Tin lành); lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, lễ kỷ niệm ngày khai đạo (của đạo Cao Đài); lễ hội Katê của đồng bào Chăm; tháng chay Ramadan (của người Hồi giáo),… được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự.

 

CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP


Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay

Những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, đem lại nhiều cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước, nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội đẩy mạnh hoạt động chống phá, triệt để lợi dụng không gian mạng hòng thực hiện các hoạt động tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu cách mạng, thành quả trong điều hành và phát triển đất nước, lan truyền thông tin sai sự thật, vô căn cứ, quy chụp về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề “dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo”... hòng gieo rắc sự hoài nghi, kích động, làm mất đoàn kết nội bộ, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh móc nối, tuyển lựa cơ sở, mua chuộc, lôi kéo cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng, lập trường, thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị, đồng thời tìm cách “tiêm nhiễm” tư tưởng cực đoan, nhằm gây mất ổn định chính trị, “tự chuyển hóa” từ bên trong...

Bên cạnh đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số bất cập, hạn chế: 1- Việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời, chưa sát thực tế; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số chủ trương, nghị quyết có nơi, có lúc chưa quyết liệt, còn yếu kém, chậm trễ; 2- Việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên; công tác thông tin, tuyên truyền một số đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời; trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi tính chiến đấu chưa cao, hoặc còn bị động, lúng túng; việc dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và định hướng dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời; kết quả thực hiện một số chủ trương của Đảng về quản lý báo chí, truyền thông, xuất bản, quản lý internet, mạng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu; 3- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn thấp; công tác phát triển đảng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo đạo, vùng nông thôn và trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước còn nhiều khó khăn; kết nạp đảng viên ở một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng; 4- Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, còn một số nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng; đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu; chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới chưa thật đầy đủ, sâu sắc, toàn diện; hiện tượng lộ, lọt bí mật, phát ngôn không đúng quy định vẫn còn xảy ra, nhưng chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời; 5- Ở một số cấp ủy, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới, chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp; việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên; công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; 6- Công tác phòng, chống tham nhũng ở một số địa phương, bộ, ngành chưa chuyển biến rõ rệt; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi; thể chế về quản lý kinh tế - xã hội góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn bất cập; cơ chế kiểm soát quyền lực đối với tổ chức và người có chức vụ, quyền hạn chưa đủ mạnh; việc kiểm soát tài sản, thu nhập chưa chặt chẽ, hiệu quả... 

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới

Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đòi hỏi có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là “tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(3)Để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần được tăng cường và tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy và người đứng đầu về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ.

Thứ hai, quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, quy định, kết luận(4) của Trung ương về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là Chỉ thị số 39-CT/TW, Kết luận số 72-KL/TW...; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kịp thời phát hiện, khắc phục vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc và kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đi đôi với đấu tranh tự phê bình và phê bình. Thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước về bố trí, quản lý cán bộ, đảng viên làm việc tại bộ phận trọng yếu, cơ mật, thường xuyên có quan hệ tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm đối với cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.