Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

CHIẾN THẮNG "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG" - CHIẾN THẮNG CỦA Ý CHÍ VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM.

 

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX; biểu tượng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí kiên cường, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. Với chiến thắng lịch sử này, quân và dân ta đã đập tan huyền thoại “pháo đài bay B52” của Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải quay lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 trở thành khúc tráng ca bất tử của thời đại Hồ Chí Minh, nó kết tinh và tỏa sáng truyền thống văn hóa giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện đặc sắc nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy phương tiện, vũ khí kém hiện đại thắng phương tiện, vũ khí hiện đại”, kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố lực, thế, thời, mưu. Thắng lợi đó biểu hiện sức mạnh chính trị - tinh thần của toàn dân tộc được nhân lên gấp bội, với ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng kẻ thù xâm lược trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” biểu hiện sinh động thế trận hiệp đồng chiến đấu, phục vụ chiến đấu chặt chẽ, hiệu quả của quân dân miền Bắc, lấy lực lượng Phòng không - Không quân làm nòng cốt để tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân. Phong trào thi đua bắn rơi máy bay Mỹ diễn ra rất sôi động, lan tỏa trong tất cả các thành phần, các lực lượng, các đơn vị. Thực tiễn chiến đấu 12 ngày đêm, tất cả các thành phần lực lượng phòng không của dân quân tự vệ, các đơn vị phòng không, không quân chủ lực đều bắn rơi máy bay địch, có nhiều B 52 rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Đó còn là thế trận hiệp đồng phối hợp tuyệt đẹp với các chiến trường miền Nam, đặc biệt của hai thành phố kết nghĩa Huế - Sài Gòn, sẵn sàng chia lửa để bảo vệ Thủ đô Hà Nội thân yêu, với tinh thần quyết tử “Giặc Mỹ đụng đến Thủ đô Hà Nội, đến miền Bắc một, thì quân dân miền Nam đánh trả chúng gấp 5, gấp 10 lần”.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” còn là thắng lợi của lương tri quốc tế, với sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế và nhân loại tiến bộ, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Hành động tàn bạo của Chính quyền Ních-xơn cho máy bay ném bom rải thảm Hà Nội và một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam trong dịp Lễ Giáng sinh đã khiến lương tri của cả nhân loại nổi giận. Làn sóng phản đối chiến tranh nhanh chóng bùng lên, lan rộng khắp nơi trên thế giới, kể cả ngay tại nước Mỹ, đã sục sôi biểu tình lên án mạnh mẽ hành động tội ác man rợ của Nhà Trắng; người dân biểu tình xông vào bao vây đại sứ quán Mỹ, đốt hình nộm và cờ Mỹ. Tờ Thời báo Niu Yoóc, ngày 26/12/1972, đã cảnh cáo: “Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá?”. Tòa án lương tri quốc tế được lập ra để xét xử các tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân các nước, các tổ chức quốc tế đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chứng kiến quân dân Thủ đô Hà Nội sống và chiến đấu anh dũng trong những ngày cuối năm 1972, bạn bè đã bày tỏ lòng mến phục và nhận xét: “Chúng tôi gọi Hà Nội là Thủ đô của các giá trị loài người... Các bạn đứng đầu ở chiến hào tiền tuyến vì nhân phẩm và vì các quyền dân tộc của mỗi dân tộc. Không ai được phép quên điều đó”.
Thắng lợi to lớn của chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” không những góp phần tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược trên mặt trận ngoại giao, buộc Chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27/01/1973 và rút hết quân Mỹ về nước, mà còn góp phần tạo cơ sở vững chắc để quân và dân ta tiếp tục thực hiện lời di huấn của Bác Hồ là “đánh cho ngụy nhào”, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử để thống nhất đất nước.
Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng âm hưởng của chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 vẫn vang vọng mãi như một khúc tráng ca bất tử của thế kỷ XX. Những bài học kinh nghiệm quý báu Đảng ta về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, về phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, về phối hợp và hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ giữa các lực lượng, về đấu tranh quân sự để hậu thuẫn kịp thời, đắc lực cho mặt trận đấu tranh ngoại giao, về tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế... để làm nên chiến thắng lịch sử vẻ vang này, vẫn giữ nguyên giá trị trong nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

CHỦ ĐỘNG NGĂN NGỪA NGUY CƠ CHIẾN TRANH TỪ SỚM, TỪ XA


Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Lúc đất nước yên bình, hiển nhiên là phải tập trung vào nhiệm vụ dựng nước, chăm lo làm giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, bảo tồn được văn hóa dân tộc, xã hội phồn vinh và sẵn sàng, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh. “Ngụ binh ư nông” (gửi binh lính ở nhà nông) là một chính sách đặc sắc của các triều đại Lý, Trần, Lê… Quân chủ lực triều đình không nhiều, chủ yếu là quân địa phương tập trung theo từng phiên, nuôi quân đỡ tốn kém, bảo đảm sức lao động cho nông nghiệp, mà khi có chiến tranh, huy động được tối đa trai tráng cầm súng đánh giặc.
“Động binh tĩnh dân”, “bách tính giai binh”, “tận dân vi binh”… là những kế sách độc đáo của cha ông ta để “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, chăm lo quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, bờ cõi, răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm hại chủ quyền lãnh thổ của đất nước.
Thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm qua cho thấy, thời đại nào, triều đại nào mà gắn chặt dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, xây dựng đất nước theo quan điểm “quốc phú, binh cường”, “biên cường quốc thịnh” thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững; thời đại nào, triều đại nào không gắn chặt giữa dựng và giữ nước, không lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy, để nước nghèo, dân đói, xã hội lạc hậu, quốc phòng và an ninh không được củng cố, nội bộ mâu thuẫn, sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để kẻ thù tiến công xâm lược.
Trần Quang Khải (1241-1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn” (có nghĩa là: Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vật lực. Đất nước vững nghìn thu). Vua Lê Thái Tổ (1385-1433) căn dặn muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (có nghĩa là: Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài).
Bài học kết hợp chặt chẽ dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dân tộc được Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, kết hợp giữa kháng chiến với kiến quốc. Đặc biệt, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên CNXH và bước vào công cuộc đổi mới, bài học dựng nước đi đôi với giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc được Ðảng ta đưa lên một tầm cao mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.
Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW và được ban hành vào năm 2013). Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với quân đội và giải pháp xây dựng quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, bảo đảm không phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; chủ động ứng phó hiệu quả với tác động tiêu cực, gây sức ép thông qua kinh tế từ bên ngoài.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta khẳng định: “Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa… Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vào tháng 10-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

VẮC XIN CHỐNG virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

Để ngăn chặn kịp thời và đẩy lùi các biểu hiện “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các cấp các ngành cần làm tốt một số giải pháp sau đây:

Một là; Tích cực hơn nữa giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu chống chủ nghĩa cá nhân, bởi “Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì cần phải nâng cao trình độ giác ngộ”, khi lập trường vững vàng, tư tưởng thông suốt thì chủ nghĩa cá nhân sẽ không thể ngóc đầu lên được. Đối với bộ đội, Bác dạy: “Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”, Người yêu cầu: “Học tập chính cương, chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng tức là thực hành chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Chú trọng đổi mới chương trình, nội dung gắn với đổi mới toàn diện hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận để cán bộ, chiến sĩ dễ hiểu, dễ tiếp thu, không những không ngại học mà còn mong muốn được cập nhật kiến thức. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường luôn vững vàng, tư tưởng hoàn toàn thông suốt, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là; Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII,XIII) gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đây là giải pháp toàn diện, góp phần xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, từ đó ngăn chặn tận gốc biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lực lượng vũ trang. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân phải “Thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này. Hơn nữa, nếu coi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) như là bài thuốc đặc trị căn bệnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thực hiện tốt Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới sẽ như một liều thuốc bổ, làm cho “cơ thể” của chúng ta thêm cường tráng, ngời sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, từ đó vô hiệu hóa mọi loại “virus” độc hại nguy hiểm, chẳng khác gì “virus” Corona hiện nay.

Ba là; Đề cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, lực lượng chuyên trách trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hiện nay, trong thời kỳ chuyển đổi số hóa internet, mạng xã hội ngày càng phát triển và trở nên phổ cập, việc cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang tiếp nhận những thông tin đa chiều, phải, trái, trắng, đen, đúng, sai lẫn lộn là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí và lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trong lực lượng vũ trang cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời đăng tải những bài viết có cơ sở khoa học phản bác; phê phán những quan niệm lệch lạc, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội… không để các loại “virus” này lây lan ngoài cộng đồng, khoanh vùng dập dịch được ngay.

Chủ động nắm bắt thông tin, định hướng dư luận trước những vấn đề nóng bỏng mà xã hội cũng như cán bộ, chiến sĩ đang quan tâm, chú ý. Trong một số trường hợp, cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành chức năng để xác định, ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm ẩn danh trên mạng xã hội; thậm chí, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Google, YouTube, Facebook,...) ngăn chặn không cho xuất hiện hoặc gỡ bỏ những thông tin vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Đồng thời, tích cực tuyên truyền những điển hình tiên tiến trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, gương “người tốt, việc tốt” trong thực hiện Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chú trọng thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhằm ngăn chặn không cho các hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài có điều kiện tiếp xúc và xâm nhập vào nội bộ đơn vị.

Trên đây là các giải pháp vừa có tác dụng tăng cường “sức đề kháng”, vừa ngăn chặn tiếp xúc với “dịch bệnh”, nếu tổ chức thực hiện tốt sẽ không còn chỗ cho virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tồn tại và các quan điểm sai trái cũng không có môi trường để xuất hiện; bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang nhân dân ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, vượt qua gian khổ, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.

THẾ NÀO LÀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 

  Nhận thức rõ vấn đề, “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính là quá trình thay đổi tư duy, nhận thức về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên. Họ hoài nghi, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dần đánh mất các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà bản thân đã nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nhiều năm mới có được; dễ dàng chấp nhận tư tưởng tư bản chủ nghĩa, tin vào các luận điểm sai trái, phản động. Tiếp đến, họ không những không chấp hành mà còn thực hiện sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trở thành phần tử chống đối, sẵn sàng ngả theo các thế lực thù địch khi được chúng ve vãn, tung hô. Chính vì vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, trong đó chủ quan mang tính quyết định. Những biểu hiện này có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi cá nhân, tổ chức và trong lực lượng vũ trang nhân dân cũng không phải là ngoại lệ.

 Trên thực tiễn đã cho thấy, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã xảy ra một vài hiện tượng đơn lẻ, như: có quân nhân sử dụng mạng xã hội bôi nhọ, làm giảm uy tín của các lãnh đạo, các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang; một vài cán bộ trong lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu có bài viết, phát ngôn xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, nói xấu cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quân đội, Công an. Đó còn là một số sĩ quan cao cấp bị xử lý kỷ luật cả về Đảng và chính quyền, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự do “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội”, “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc”, hoặc “buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện nhiệm vụ chính trị”, v.v.

Nhận diện thủ đoạn “Đánh lận con đen”, “Đánh tráo giá trị”

 

Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng. Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù. Lợi dụng vấn đề này, một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

 Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người./.

 

TỪ VỤ CÔ GIÁO BỊ HỌC SINH LÀM NHỤC ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY


        Mấy ngày qua mạng xã hội xôn xao về chuyện một cô giáo bị học sinh chốt cửa lại rồi có những hành động thiếu chuẩn mực. Những hình ảnh trong clip cho thấy có một đứa nằm lăn đất ăn vạ (tôi gọi là đứa chứ không thể gọi "em học sinh" như đúng cái nhân xưng của nó). Chắc nó mới bị cô giáo tác động vật lý (?).

        Còn một đứa cầm quạt xỉa xói vào mặt cô giáo. Một đứa khác cầm vật gì giống cái gậy dí vào mặt cô. Những đứa khác chỉ tay thẳng mặt cô giáo, nhao nhao kích động, đấu tố. Còn một đứa dùng điện thoại quay lại cảnh trên một cách chuyên nghiệp như một thước phim được dàn dựng.

        Nhưng thật tiếc đó không phải là một thước phim được dàn dựng. Đó là đời thực. Đó là cách ứng xử của những đứa trẻ, những đứa được gọi là học sinh lớp 7 với cô giáo của mình.
        Biết rằng lý do có một phần tử lỗi của cô giáo, nhưng nếu cô giáo sai thì đã có tập thể nhà trường hoặc cao hơn là cơ quan chức năng tiến hành xử lý. Những học sinh nhỏ tuổi này không được phép lợi dụng lỗi phạm của cô giáo để có hành động như vậy với những người đã và đang dạy dỗ mình.

        Vấn đề ở đây là trách nhiệm này thuộc về ai? Ai đã dạy chúng làm thế?

        Câu trả lời chắc chắn rằng sẽ không có ai dạy chúng hành xử như vậy cả. Có lẽ hiện nay sự tác động đến suy nghĩ và hành động của con người (trong đó có trẻ em) chính là mạng xã hội, bởi những hành động của chúng ta ngoài đời thực và cả trên không gian mạng là "chất liệu" cho chúng học.

        Ngày nay, mỗi người có một hoặc nhiều hơn một cái điện thoại có chức năng ghi hình, có một hoặc nhiều hơn một tài khoản mạng xã hội. Mỗi tài khoản như một kênh thông tin riêng của mỗi người. Những thứ chúng ta tạo ra và chia sẻ là chất liệu cho con cháu chúng ta sử dụng.

        Thực tế hiện nay có nhiều người đưa lên mạng xã hội tất cả những gì mình có, kể cả chuyện riêng tư của mình, của gia đình mình, bao gồm hỉ, nộ, ái, ố.... Và tệ hại hơn nữa là rất ít người dám phản đối hay ẩn nó đi mà còn tò mò, thậm chí còn chia sẻ lan tỏa cho người khác dẫn đến mạng xã hội trở thành một bãi rác đa màu cho trẻ em lượm lặt. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến các vụ việc, vụ án đã từng xảy ra như giết người, đốt xe, hiếp dâm, ......
        Cho nên chúng ta là người lớn đừng vứt lên không gian mạng những thứ rác rưởi, để rồi, chúng ta và con cháu chúng ta cùng phải bơi trong đống rác xã hội do chính chúng ta tạo ra và rồi đến một ngày nào đó ta nhận ra thì đã quá muộn./.

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ

 

1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

 2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

 3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

 4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

 5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

 6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

 7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

 8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

 9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

 10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.

Văn hóa truyền thống về ưa thích con trai


Số liệu của cuộc tổng điều tra năm 2019 cho thấy một bức tranh về tình trạng mất cân nbằng giới tính của cả nước theo các vùng. Các số liệu cho thấy, đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số giới tính cao nhất với 115,5, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình của cả nước. Hai vùng có tỷ số giới tính cao hơn mức trung bình của cả nước đều nằm ở phía Bắc. Khi phân tích các số liệu này theo đơn vị tỉnh, thành phố thì đa số các địa phương ở trong nhóm 10 tỉnh/ thành phố có tỷ số giới tính cao nhất nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Với kết quả trên có thể khẳng định rằng: Yếu tố văn hóa truyền thống về ưa thích con trai hơn con giá là nguyên nhân xã hội chủ yếu của tình trạng mất cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay. Vùng đồng bằng Sông Hồng là cái nôi của văn hóa truyền thống Việt Nam

> Việc tiếp tục duy trì những truyền thống văn hóa về sự giúp đỡ và sự chăm sóc lẫn nhau nhưng đồng thời lại lồng gép những truyền thống đó vào một hệ thống gia tộc bình đẳng hơn về giới chính là thách thức chủ yếu trong các nỗ lực nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính ở nước ta hiện nay

Giải pháp: Một số văn bản chính sách và phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập chung chung đến việc phát huy các truiyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhưng không làm rõ đó là truyền thống gì. Mặc dù bất bất thành văn nhưng mô hình phụ hệ lại luôn được coi là nền tảng của truyền thống văn hóa Việt nam. Dó đó nếu chỉ nói tới truyền thống văn hóa một cách chung chung có thể sẽ khuyến khích những hành động trọng nam, khinh nữ. Vì thế rất cần thiết phải định nghĩa lại thế nào là những truyền thống văn hóa Việt nam theo cách giúp củng cố vị thế cho phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình dòng tộc. Truyền thống văn hóa tốt đẹp nên được đánh giá là những truyền thống coi trọng phụ nữ ngang bằng với nam giới. Luật BĐG đã nêu rõ về việc cần thiết áp dụng những biện pháp xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đang ngăn cản việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.


Mất cân bằng giới tính khi sinh và “khủng hoảng về hôn nhân

 


Theo ước tính nhân khẩu học, nếu tỷ số giới tính vẫn mất cân bằng như những năm vừa qua, đến năm 2050, trong cơ cấu dân số Việt Nam sẽ thừa 12% nam giới ở độ tuổi dưới 50 (2.3 – 4,3 triệu nam giới). Tình trạng thiếu phụ nữ sẽ khiến hàng triệu nam giới khó tìm được bạn đời (người ngheog và học vấn thấp…) để lại một loạt hậu quả về mặt nhân khẩu học và mặt xã hội, bao gồm nạn ép buộc kết hôn, buôn bán, bạo hành phụ nữ, trẻ em gái và cả nguy cơ bất ổn xã hội do sự bất mãn về xã hội và tình dục của nam giới…vấn đề di cư trong nước và nước ngoài vì mục đích hôn nhân có thể tăng lên, làm cho xã hội càng mất ổn định hơn

Thực trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam

 

 


Hiện tượng mất cân bằng khi sinh sảy ra từ sau năm 2005, khi đó tỷ số giới tính khi sinh khoảng 106-107. Tỷ số giới tính tăng đến 110 năm 2009, và tiếp tục tăng những năm sau đó (năm 2018:114,8 bé trai/100 gái; năm 2019:111,5/100 gái

Xét theo chiều cạnh mức sống thì có sự khác biệt về mất cân bằng giới tính khi sinh về điều kiện kinh tế. Nhóm nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) thì chỉ số xác định phân bố mức sinh theo giới tính ở mức bình thường là 105,2, thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm giàu nhất tình trạng mất cân bằng mức sinh theo giới tính lại rất cao. Cụ thể mức sinh theo giới tính giàu là 111,7 và nhóm giàu nhất là 112,9. Mức sinh theo giới tính thấp nhất ở nhóm phụ nữ không biết chữ (107) và tăng dần theo trình độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trịnh độ cao dẳng trở lên

Quá trình già hóa và thách thức với hệ thống an sinh xã hội


Tỷ trọng người già đang trong xu hướng tăng nhanh trong khi tỷ trọng số người ở độ tuổi lao động giảm dần, đã làm cho tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm xuống tương đối nhanh trong giai đoạn từ nay đến năm 2050. Tỷ số hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam sẽ giảm từ 8,8 năm 2019 xuống còn khoảng 3,8 vào năm 2049 và ước tính mức giảm gần 60%

Tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm do các yếu tố

>Xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân

Kết quả điều tra năm 2019, số người bình quân một hộ có xyu hướng giảm từ mức 4,6 người/hộ năm 1999 xuống còn 3,6 người/hộ năm 2019. Trung bình 10 hộ dân thì có một hộ độc thân. Những số liệu này phản ánh xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái). Từ góc độ cấu trúc hộ gia đình, có thể thấy rõ một bức tranh xã hội là ngày càng có nhiều hộ gia đình chỉ có ông bà già sống chung với nhau hay ông bà già sống một mình. Trong số 10% số hộ gia đình sống độc thân không khó suy đoán rằng phần lớn các hộ gia đình này là người già, đặc biệt là phụ nữ. Từ bức tranh xã hội về quy mô và cơ cấu hộ gia đình như vậy, có thể thấy số người tiềm năng cxó thể trực tiếp chăm sóc người già sẽ thấp hơn nhiều so với người hỗ trợ tiềm năng như nêu trên 

Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ

 


Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ. Bầu cử là phương thức để quyền lực nhà nước được thiết lập bởi nhân dân và nhân dân tự thực hiện sự ủy quyền của mình. Bầu cử có liên hệ mật thiết với dân chủ, bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ. Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do, công bằng. Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, quyền bầu cử phải gắn chặt với quyền bãi miễn đại biểu khi không còn xứng đáng - đó là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước. Phát huy dân chủ, thực hiện cạnh tranh trong bầu, bồ nhiệm cán bộ. Về nguyên tắc, ở Việt Nam không có sự cạnh tranh đảng phái, nhưng cần thiết có sự cạnh tranh giữa các đảng viên trong việc tranh cử vào các vị trí lãnh đạo của Đảng ở các cấp; cạnh tranh giữa đảng viên với người không phải đảng viên vào vị trí lãnh đạo một số cơ quan nhà nước các cấp. Cạnh tranh lả một hỉnh thức biểu hiện cụ thể, sinh động của dân chủ. Có quy định cạnh tranh công khai, minh bạch sẽ hạn chế tình trạng cạnh tranh không công khai, cạnh tranh ngầm trong lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ. Cạnh tranh là hỉnh thức phát hiện và phát huy nãng lực cán bộ tối ưu hơn sự phát hiện và giới thiệu của tổ chức. Bởi, khi tổ chức giới thiệu nhân sự, cá nhân được giới thiệu không hoàn thành nhiệm vụ nhưng cả cá nhân và tố chức không ai chịu trách nhiệm về sự giới thiệu. Còn khi có sự cạnh tranh, tự ứng cử, cá nhân ứng cử chịu trách nhiệm trước tố chức và cử tri về năng lực, hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác, nhờ thực hiện cạnh tranh, tổ chức đảng và nhân dân có cơ hội để kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong hoạt động của các vị trí trên. Đây có thể coi là hình thức mới của thực hiện dân chủ xã hội chù nghĩa ở Việt Nam. Bởi vậy, không nên cho rằng, cạnh tranh sẽ dẫn đến mất đoàn két, thống nhất trong Đảng. Bởi để cạnh tranh, Đảng cũng phải ban hành các quy chế, điều kiện cạnh tranh. Cá nhân tham gia cạnh tranh phải tuân theo quy chế như điều lệ Đảng. Nghiên cửu phân định quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước và quyền lực tối cao của nhân dân. Hiện nay, ngoài quyền lực công của Nhà nước đã được quy định khá cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực tối cao của nhân dân chỉ được quy đinh khá chung chung. Yêu cầu đặt ra phải xác định cụ thể, luật hóa nội dung, phạm vi, phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò làm chủ của nhân dân để mỗi chủ thể thực hiện đúng vai trò của mình theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có thể nhân rộng những yếu tố hợp lý, điều chỉnh những quy định không phù hợp. Ban hành quy định, thí điểm tổ chức thực hiện bầu cử trực tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại một số địa phương nhiệm kỳ 2016-2020, sau đó tổng két rút kinh nghiệm. Hoàn thiện thể chế chính trị đáp ứng yêu cầu của xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tình hình mới. Trước hết, phải xây dựng một bộ máy nhà nước đủ mạnh để vận hành có hiệu quả các chuẩn mực dân chủ đã được thể chế hóa; có một đội ngũ cán bộ ngang tầm đòi hỏi của một thể chế dân chủ, họ thực sự là những người gần dân, thân dân, vì dân.

Xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân

 


Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp luật. Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biện pháp để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu cầu phải có cơ chế, phương thức kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm soát, giám sát cả từ các nhánh quyền lực lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức của nhân dân. Ở đây, nhân dân vừa ủy quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quyền mà mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, áp dụng các hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với người được ủy quyền. Cán bộ, công chức cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ; vinh dự với vị trí công tác của mình được nhân dân giao phó, lường trước được hậu quả bất lợi khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân dân... để họ có năng lực tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng chức trách được giao, phục vụ lợi ích của nhân dân.

Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

 


Thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Xây dựng hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các tài sản mới như sở hữu trí tuệ cồ phiếu, trái phiếu... quy định rõ, quyền trách nhiệm của các chủ sò hữu đối vói xã hội. Thể chế môi trường kinh doanh cũng như thể chế kinh tế nói chung chỉ phát huy tác dụng có hiệu quả khi tạo được sự đổi mới triệt để nhận thức đúng đắn của xã hội về vai trò quan trọng của thể chế, “...phấn đấu đến năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu” đồng thời xây dựng và hoàn thiện thể chế phải được tiến hành đồng bộ cả ba khâu: 1) Ban hành văn bản, quy định của thể chế 2) Xây dựng cơ chế vận hành, thực thi thể chế trong hoạt động kinh doanh cụ thể; 3) Hoàn thiện tổ chức bộ máy theo dõi, giám sát việc thi hành thể chế, xử lý vi phạm và tranh chấp trong thực thi thể chế. Trong khi triển khai đồng bộ thể chế môi trường kinh doanh phải tập trung cải cách hành chính, từ bộ máy hành chính đến thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi đúng pháp luật. Phát triển đồng bộ các yếu tố thi trường và các loại thị trường. Sớm hình thành việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh dân chủ, cần tập trung khắc phục thực trạng yếu kém của một số văn bản luật pháp. Đôi mới, hoàn thiện các quy định về giá, canh tranh, kiểm soát độc quyền, về ký kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Phương hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay


Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa; kinh nghiệm xây dựng nền dán chủ ở các quốc gia trên thể giới. Một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chú nghĩa trong kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chú khác để kế thừa, học hỏi. Cho đến nay việc làm sáng tỏ hai vấn đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ; hoặc ca ngợi một chiều; hoặc phủ định sách trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng doãng xa hơn. Do vậy một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ XHCN trong kho tàng chủ nghĩa mác- Lênin, chỉ ra những điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học hỏi. Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất, trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giả trị dân chủ của nhân loại được biểu hiện trong chủ nghĩa tư bản. Phải làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu biện ở chủ nghĩa tư bản chứ không phải là sản phẩm riêng của chú nghĩa tư bản. Một số giá trị của dân chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập các hình thức thực hiện để đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Thứ hai, phân biệt rõ và phù hợp giữa dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và dân chủ trong điều kiện CNXH đầy đủ (đích thực)

Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, cần phân biệt dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là chể độ dân chủ đầy đủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã phát triển tương đổi toàn điện với dân chủ trong giai đoạn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai trình độ phát triển khác nhan của xã hội. với các đặc điềm kinh tế, chinh trị, văn hóa xã hội khác nhau. Do đó, đặc điểm, tính chất, hình thức thực hiện cũng khác nhau. Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, cơ cấu xã hội, quan hệ giai cẩp đa dạng, phức tạp; từ đó cũng dẫn đến sự đa dạng về nhu cầu dân chủ.

Thứ ba, cần hiểu đúng bản chất của mối quan hệ dân chủ và nhất nguvên chính trị, thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng lãnh đạo, cầm quyền.

Hiện nay không ít ý kiến cho rằng, ở Việt Nam phải đa đảng mới dân chủ. Họ viện đẫn rằng, do kinh tế có nhiều thành phần thì chính trị phải có đa đảng. Việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế nhiều thành phần với kết cấu kiến trúc thượng tầng chính trị, có thể khẳng định rằng, nền kinh tế nhiều thành phần không nhất thiết (không tất yếu) dẫn đến kiến trúc thượng tầng chính trị đa đảng, có đảng đối lập, bởi vì, trong thực tế lịch sử đã có những thời kỳ nền kinh tế nhiều thành phần không làm nảy sinh chế độ chính trị đa đảng.

Vấn đề đa đảng hay một đảng là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn, vai trò của từng thành phần kinh tế trong đời sống xã hội, tương quan lực lượng giai cấp, quy định của Hiến pháp và pháp luật của mỗi nước, uy tín và sức mạnh của đảng cầm quyền, quan niệm về dân chủ và ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, v.v.. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng mà thể hiện ở việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Không nên chỉ xem xét chế độ đa đảng hay một đảng làm căn cứ duy nhất để đánh giá tính chất và trình độ của dân chủ.

Vấn đề một đảng duy nhất cầm quyền hay các đảng khác nhau cầm quyền không ảnh hưởng quyết định tới dân chủ, mà quan trọng là đảng đó là đảng như thế nào khi cầm quyền. Vì vậy một đảng khi đã độc quyền lãnh đạo thì phải tổ chức xây dựng thể chế chính trị và lãnh đạo sự vận hành của tổ chức như thế nào để không hạn chế, vi phạm dân chủ. Nếu Đảng cầm quyền vi phạm dân chủ thì sẽ làm mất lòng tin của nhân dân, và sớm muộn, Đảng sẽ mất quyền lãnh đạo, mất khả năng cầm quyền. 

Những yếu tố cản trở thực hiện dân chủ ở Việt Nam

 


Một là, vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, những thành quả mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại là một bước ngoặt lớn lao trong việc hỉnh thành và phát triển nền dan chủ ở nước ta. Song một đất nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân đang lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân từ nông dân, vì thế không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những tàn tích tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng có nghĩa là xã hội Việt Nam chưa trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển, với pháp quyền tư sản, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ tư sản dù mang bản chất tư sản, dù phục vụ chủ yếu cho giai cấp tư sản thống trị, nhưng nó cũng tạo ra môi trường đào luyện con ngưòi ngày càng ý thức được vai trò của cá nhân, tầm quan trọng của học vấn, học thức và văn hóa đối với sự phát triển. Môi trường xã hội đó cũng rèn luyện cho con người những thói quen, những năng lực cần thiết thích ứng với những đòi hỏi pháp lý và nhân văn của dân chủ.

Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và nền dân chủ tư sản, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gặp phải không ít những khó khăn trở ngại. Ý thức hệ phong kiến còn ăn sâu vào xã hội, một xã hội mà nông dân còn chiếm đa số trong dân cư; một xã hội nông nghiệp cổ truyền lạc hậu, lực lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động trong xã hội còn giản đơn và hạn chế. Tàn tích của ý thức hệ phong kiến của người nông dân với những hạn chê như: tâm lý cục bộ địa phương; tư tưởng cào bằng, đẳng cấp; dân chủ tự phát... dễ làm triệt tiêu tính tích cực cá nhân, triệt tiêu động lực phát triển. Không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, Việt Nam thiêu tri thức khoa học và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Nguồn nhân lực của chúng ta bị hạn chế về sự am hiểu, tinh thông nghiệp vụ, chuyeD môn do chưa có chuyên môn hóa sâu. Cùng với hạn chế đỏ, ^ bằng dân trí của xã hội còn thấp, kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật còn rất lạc hậu và chậm phát triển, thông tin đến với người dân còn chậm và không đầy đủ, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng hẻo lánh xa xôi.

Ba là, cùng với những hạn chế do Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa cái mới và cái cũ làm nảy sinh nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những vật cản trở đó là: Trình độ phát triển dân chủ còn thấp và chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật thiếu và không đồng bộ, chưa tạo ra được khung pháp lý và cơ chế đủ mạnh để thực hiện dân chủ. Sự suy thoái, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả những người có chức quyền; tệ tham nhũng, buôn lậu đã ứở thành quốc nạn. Bệnh quan liêu diễn ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành đã gây nỗi bất bình trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều luật được ban hành nhưng việc chấp hành luật không nghiêm từ một bộ phận công dân, việc thi hành luật không công minh của một bộ phận cán bộ trong các CJ quan hành pháp và tư pháp đã làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu lực và hiệu quả. Tệ ô dù bao che cho kẻ xấu, khiếu kiện cửa người dân chưa được xem xét đầy đủ và kịp thời đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, tình trạng ấy sẽ làm cho dân chủ biến thành “quan chủ”, quyền được ủy thác đã biến thành quyền bị chiếm đoạt, quyền làm chủ của nhân dân đã biến thành quyền của những ai nắm được chức quyền. Tất cả những khó khăn đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Những yếu tố tác động tới xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, là kết quả trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và phát triền trong những điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt. Bước vào xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản sau:

Một là, học thuyết Mác-Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng nền dân chủ và thực hiện quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Hai là, kế tục những giá trị của dân chủ trong lịch sử Việt Nam đã được xây dựng ngay từ buổi đàu dựng nước và nâng lên một chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nước độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do và trở thành người chủ đất nước, được tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình.

Ba là, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đã mang lại nhiều thuận lợi rất quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ người bóc lột người; bỏ qua sự thống trị cùa một nhóm người đối với đa số nhân dân lao động.

Bốn là, nền dân chù xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trong điều kiện có Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.

Kế tục tưởng vi dân của Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ta thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị gồm: Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội được thiết lập từ Trung ương tới địa phương là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, cơ sở xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là lực lượng đông đảo những người lao động được giải phóng đã vào vị trí người chủ của chế độ mới, nòng cốt là khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây chính là những cơ sở quan trọng, những thuận lợi cơ bản trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Quan niệm về dân chủ tại Đại hội XII, XIII của Đảng

 


Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề của đại hội. Đồng thời trở thành một mục độc lập trong phần XIII của Báo cáo chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hieẹn quyền làm chủ của nhân dân” đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của đại hội. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ XHCN, mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có chủ nghĩa xã hội

Với phương châm: Đoàn kết – dân chủ - kỷ cương – sáng tạo – phát triển, Đại hội XIII của Dảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền lực nhà nước thuộc veef nhaan daan. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”

Quan niệm về dân chủ tại Đại hội IX, X, XI của Đảng

 


Đại IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn bài học chủ yếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”. Đặc biệt Đại hội IX đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta. Đây là một bước tiến về nhận thức “dân chủ”. Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức về dân chủ: 1) bổ sing “dân chủ” vào đặc trưng thức nhất của xã hội XHCN Việt Nam – đó là: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2) Điều chỉnh trong diễn đạt về đặc trưng thú hai- đó là: “ do nhân dân làm chủ”. Đây là bước tiến về mặt nhận thức khi khẳng định: “xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ: “ Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”; 4) Khẳng định: “dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhan dân. Đại hội XI của Đảng (2011) đã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Cương lĩnh đã xác định:  “xã hội XHCN mà nhân dân ta xay dựng là một xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ...”. Đổi mới của đại hội XI so với đại hội X là chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng”. Đây không đơn thuần là chuyển vị trí, mà thực chất là nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn, chính sxác hơn vị trí, vai trò của dân chủ. Cương lĩnh (bổ sung phát triẻn năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vùa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện neèn dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm...Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của nhà nước của cả heẹ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”

Dân chủ ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

 


Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhấn mạnh phát huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, “bài học cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”. Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các dại hội IV, V và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”. Chúng ta xác dịnh mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chut, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong  quản lý toàn bộ xã hội”

Quan niệm về dân chủ đại hội VII, VIII

Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa (cương lĩnh năm 1991), trong đó đã rút ra bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ. Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nề dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn lièn với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”. Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ đại hội này. Đại hôi VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước. Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyếtd định. Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Có nghĩa là, Đại hội VIII cũngchưa nhận thức đẩy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ

Dân chủ trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện lấy hệ tư tưởng Mác-Lênin (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân) làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Đồng thời, nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc... Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân. Dưới góc độ này, dân chủ là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng tự do được sáng tạo và phát triển của con người.Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đời sống tư tưởng - văn hóa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, trở thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và nó khác với nền dân chủ tư sản về hệ tư tưởng chủ đạo (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của giai cấp tư sản). 

Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh

 


Tỷ số giới tính: Là số nam trên 100 nữ trong tập hợp dân số

Tỷ số giới tính khi sinh: Là một chỉ số thống kê được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ em gái (Tỷ số này thông thường là từ 104-106 trẻ em trai/100 em gái và giá trị của chỉ số này thường là rất ổn định qua thời gian)

Tỷ số giới tính khi sinh là chỉ số cơ bản làm thước đo phản ánh cơ cấu dân số về giới tính và phản ánh mức độ cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra. Tỷ số này ở mức cân bằng sinh học tự nhiên giao động từ 103-106 bé trai/1000 bé gái sinh ra sống tùy theo từng quốc gia/vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, tỷ số giới tính khi sinh ở mức cân bằng tự nhiên là 105. Nếu không có sự can thiệp một cách có chủ đích của con người thì tỷ số giới tính tự nhiên sẽ thường trong khoảng từ 103-106 bé trai/100be gái và khi bước vào độ tuổi hôn nhân tỷ số giới tính tự cân bằng

Giảm tỷ trọng trẻ em


Quá trình giảm sinh mạnh mẽ trong hơn 30 năm qua ở nước ta đã dẫn đến việc thay đổi rõ rệt cơ cấu các nhóm dân số theo độ tuổi. Trước hết có thể thấy ngay là tỷ trọng trẻ em trong dân số đã giảm nhanh. Tỷ trọng trẻ em trong dân số ở nước ta đã giảm từ 39,2% năm 1989, xuống 33,1% năm 1999; 24,5% năm 2009 và còn 24,3% năm 2019. Tương ứng với mức sinh ở các năm đó lần lượt là 3,8; 2,3; 2,1; và 2,1 con/phụ nữ. Có thể nhận xét là, trong 10 năm trở lại đây (2009- 2019), mức sinh thay thế được giữ ổn định (2,1 con). Dó đó mục tiêu cơ bản của chính sách dân số hiện nay là duy trì mức sinh thay thế. Những tỉnh/thành phố có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần có các giải pháp chính sách để đưa mức sinh lên ngang bằng với mức sinh thay thế. Nhóm các tỉnh/thành phố đang có mức sinh thay thế ổn định tiếp tụch duy trì mức sinh thay thế này

Giai đoạn năm 2005 đến nay, tỷ trọng dân số trẻ em giảm chỉ còn khoảng 24-25%, trong khi đó tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65+) đang còn tăng chậm (năm 2019 mới có 7,7%), dó đó tỷ trọng dân số lao động tăng lên nhanh, nước ta bước vào thời kỳ có “cơ cấu dân số vàng” (ước tính từ năm 2007). Trong thời kỳ này, số người trong độ tuổi lao động (15-64) nhiều hơn gấp đôi số người phụ thuộc (0-14 và 65+) hoặc tỷ số phụ thuộc dưới 50/100.

Số liệu trình bày trong bảng 1 cho thấy, tỷ số phụ thuộc dân số ở nước ta bắt đầu giảm từ 63,3/100 vào năm 1999 xuống 44,4/100 năm 2009 và bắt đầu tăng trở lại 47/100 vào năm 2019, như vậy thời kỳ “dân số vàng” ở nước ta đã vượt qua đỉnh và có theẻ kéo dài đến năm 2037-2040 

Sinh kế người già

 


Hiện nay cho thấy, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia đình người già. Những khoản thu nhập có tính bảo đảm cuộc sống cho người già thì không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội khác tỷ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ gia đình người già. Khi tuổi càng tăng lên thì nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của người già càng giảm do khả năng lao động ngày càng suy giảm theo. Khi các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc trợ cấp xã hội quá thấp sẽ ảnh hưởng tới việc bảo đảm mức sống của nhóm dân số người già (ước tính hieenj nay mới có khoảng 25% số người già đã tham gia bảo hiểm xã hội và có lương hưu trí). Như vậy nếu không nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đối với nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động, trong vòng 20 năm tới có khoảng gần 10 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên) nằm ngoài bảo hiểm xã hội. Dó đó việc thực hiện thành công các mục tiêu về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội theo quyết định của nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng đối với sinh kế của người già. So sánh với các nhóm dân số khác, nhóm người già có nhu cầu chăm sóc y tế lớn nhất

Mô hình bệnh tật của người già chuyển từ các bênh lây nhiễm sang bệnh mãn tính, không lây nhiễm đang là thách thức lớn cho ngành y tế hiện nay. Ước tính chi phí chữa bệnh trung bình cho mpột người già cao hơn 7-8 lần so với trẻ em

Trong bối cảnh “chưa giàu đã già”, hàng triệu người già ở nước ta trong tương lai gần sẽ đối mặt với thách thức về chi phí khám chữa bệnh cao trong khi chỉ có thu nhập thấp. Đây là một yếu tố tiềm tàng có thể dẫn tới mất ổn định xã hội

Quá trình già hóa và suy giảm nguồn cung lao động

 


Tiềm năng tăng trưởng của một nền kinh tế phụ thuộc vào mức tăng năng xuất lao động và tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực ở đây có thể hiểu là quy mô nhóm dân số trong độ tuổi lao động. Khi một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, số người bước vào độ tuổi lao động thường lớn hớn nhiều so với số người bước ra khỏi độ tuổi lao động. Mức chênh lệch giữa 2 nhóm này sẽ giảm dần khi các quốc gia bước vào thời kỳ già hóa dân số. Tỷ lệ giữa số lao động tăng thêm hàng năm so với quy mô dân số trong độ tuổi lao động là tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Ở các quốc gia đang có cấu trúc dân số già hoặc đang trong quá trình già hóa dân số, tỷ lệ tăng trưởng này có xu hướng giảm dần. Khi tỷ lệ này xuống quá thấp hay giao động ở mức trên dưới 0,5% thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Sau khi phân tích có hệ thống các số liệu thống kê về tương quan giữa tăng trưởng nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế phát triển, các nhà nghiên cứu đều thấy một trong những điều kiện tốt nhất cho tăng trưởng của một nền kinh tế là khi tăng trưởng nguồn nhân lực hằng năm ở mức 2%. Con số này cũng có ý nghĩa là những quốc gia đang ở thời kỳ có tỷ lệ này ở mức 2% là các quốc gia ở thời điểm tốt nhất của thời kỳ có cơ cấu dân số “vàng”. Tại thời điểm này, tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15-64) đạt tới 67-70%, và tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc chỉ khoảng 30-33%.

Kết quả phân tích các số liệu thống kê về biến đổi cấu trúc tuổi của dan số Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009- 2039 cho thấy, với phương án tuổi lao động từ 15-64, tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực ở nước ta có xu hướng giảm nhanh. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống ở mức khoảng 0,5% trong giai đoạn 2034-2039. Nếu như lấy mốc tuổi nghỉ hưu là 60 thì ngay từ năm 2029, tỷ lệ này có thể bắt đầu xuống dưới mức 0,5%. Từ năm 2040, khi nước ta sẽ có cấu trúc dân số già, yếu tố tăng trưởng nguồn nhân lực sẽ tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ từ sau năm 2040 cũng là thời kỳ mag Việt Nam không còn cơ hội dân số “vàng”

Tình hình già hóa dân số ở Việt Nam

 


Dân số Việt nam đang tăng chậm, nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Từ năm 2011 tỷ lệ người 60 tuổi trở lên đạt tỷ lệ trên 10% tổng dân số và sẽ chạm ngưỡng 20% vào năm 2032. Quá trình già hóa dân số sẽ diễn ra trong khoảng 20 năm (từ 2012- 2032) là đạt ngưỡng dân số già, đến năm 2050 dân số Việt nam sẽ trở thành “siêu già”. Việt Nam có tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh, thời gian để chuyeẻn từ “già hóa dân số” sang “siêu già” mất khoảng 15-18 năm, ngắn hơn nhiều so với nhieèu nước, kể cả các quốc gia có trình độ phát trieẻn hơn. Pháp: 115 năm, Thủt Điển Mất 85 năm, Úc: 73 năm, Trung Quốc 26 năm (Trung quốc đến năm 2030 cứ 100 người có 25 người 65 tuổi trở lên), Nhật Bản: 26 năm. Việt Nam đang trong thời gian ngắn ngủi còn lại của cơ cấu dân số vàng

Tỷ trọng người già 65+  là 7,7% năm 2019 (có 7,4 triệu người già, đứng thứ 18 trong các nước có dân số già trên thế giới (khoảng từ năm 2012, tỷ trọng người gia 65+ bắt đầu vượt ngưỡng 7% dân số; ước tính đến năm 2035, có hơn 13 triệu người già; năm 2050 sẽ có hơn 21 triệu người già (từ 65+). Chỉ số già hóa cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh)

Quan niệm về già hóa dân số

 


Già hóa dân số: là thời kỳ quá độ chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Trong quá trình này tỷ trọng trẻ em trong dân số sẽ giảm dần và xuống thấp hơn so với tỷ trọng người già

Trong cơ cấu dân số trẻ: tỷ trọng người già 65+ thấp hơn 7,0%

Trong cơ cấu dân số già: Tỷ trọng người già chiếm từ 14% trở lên

Quá trình già hóa dân số: bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ chạm ngưỡng 10% hoặc khi tỷ trọng dân số 65+ chạm ngưỡng 7%

Thời kỳ dân số già:  bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ đạt ngưỡng 20% trở lên đến dưới 30%  (65+ đạt ngưỡng 14% trở lên đến dưới 21%)

Thời kỳ dân số rất già: bắt đầu khi tỷ trọng người 60+ đạt từ 30% trở lên (65+ đạt từ 21% trở lên)

Quan điểm về dân số ở Việt Nam

 


 Nghị quyết số 04-NQ/HNTW năm1993: Với trọng tâm là thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển vêg mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cư stiếp tục diễn ra tghì trong tương lai không xxa đất nước sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Vì vậy mục tiêu của chính sách dân số trong giai đoạn đó đã nhấn mạnh trọng tâm: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuỷen biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này”

Nước ta đã đạt mức sinh thay thế khoảng năm 2005 (trước 10 năm so với mục tiêu đặt ra). Tuy nhiên mức sinh của ta có xu hướng tiếp tục giảm chậm trong những năm tiếp theo. Chẳng hạn: Quá trình này khó đảo ngượcdưới tác động của các yếu tố phát triển trong quá trình CNH-HĐH. Hiện nay 21 tỉnh/thành phố ở nước ta đang có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần thiết (các dấu hiệu về thiếu nguồn cung ứng lao động cho nhiều doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đã bắt đầu xuất hiện)

Nghị quyết số 21-NQ/TW (25/10/2007), với mục tiêu: “ Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển” vơi 7 giải pháp đề ra. Bên cạnh đó chuyển trọng tâm chính sách dân số đòi hỏi công tác dân số phải cập nhật, phải tính đến các yếu tố “phát triển” về kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường…ngược lại, các kế hoạch phát triển cũng cần tính đến sự biến đổi nhanh về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số

 Đại hội XIII, định hướng “ tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; đảm bảo hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của người dân trong thực hiện chính sách dân số…Chăm lo phát triển về chất lượng, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý…” (đưa lên màn hình)