Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023
CHIẾN THẮNG "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG" - CHIẾN THẮNG CỦA Ý CHÍ VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM.
CHỦ ĐỘNG NGĂN NGỪA NGUY CƠ CHIẾN TRANH TỪ SỚM, TỪ XA
VẮC XIN CHỐNG virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Để ngăn chặn kịp thời và đẩy lùi các biểu hiện “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các cấp các ngành cần làm tốt một số giải pháp sau đây:
Một là; Tích cực hơn nữa giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận
cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Đây là giải pháp quan trọng
hàng đầu chống chủ nghĩa cá nhân, bởi “Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì cần phải nâng
cao trình độ giác ngộ”, khi lập trường vững vàng, tư tưởng thông suốt thì chủ nghĩa
cá nhân sẽ không thể ngóc đầu lên được. Đối với bộ đội, Bác dạy: “Đã là quân
đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”, Người yêu cầu: “Học tập chính
cương, chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng tức là thực hành chủ nghĩa
Mác - Lênin”.
Chú trọng đổi mới chương trình, nội dung gắn
với đổi mới toàn diện hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, lý
luận để cán bộ, chiến sĩ dễ hiểu, dễ tiếp thu, không những không ngại học mà
còn mong muốn được cập nhật kiến thức. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập
trường luôn vững vàng, tư tưởng hoàn toàn thông suốt, sẵn sàng nhận và hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là; Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII,XIII) gắn với thực hiện Chỉ thị
số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động phát huy truyền thống,
cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đây là giải pháp toàn diện, góp phần xây dựng
các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, từ đó ngăn chặn tận gốc biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lực lượng vũ trang. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, muốn tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân phải “Thực hành tự phê bình và phê bình
đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên
xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa” và Nghị
quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này. Hơn nữa,
nếu coi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) như là bài thuốc đặc trị căn
bệnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thực hiện tốt Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động
phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới
sẽ như một liều thuốc bổ, làm cho “cơ thể” của chúng ta thêm cường tráng, ngời
sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, từ đó vô hiệu hóa mọi loại “virus” độc hại nguy
hiểm, chẳng khác gì “virus” Corona hiện nay.
Ba là; Đề cao trách nhiệm của các cơ quan báo
chí, lực lượng chuyên trách trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa”. Hiện nay, trong thời
kỳ chuyển đổi số hóa internet, mạng xã hội ngày càng phát triển và trở nên phổ
cập, việc cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang tiếp nhận những thông tin
đa chiều, phải, trái, trắng, đen, đúng, sai lẫn lộn là điều không thể tránh
khỏi. Do vậy, hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí và lực lượng nòng cốt trong
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù
địch, cơ hội chính trị trong lực lượng vũ trang cần nêu cao tinh thần trách
nhiệm, kịp thời đăng tải những bài viết có cơ sở khoa học phản bác; phê phán
những quan niệm lệch lạc, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội… không để các loại
“virus” này lây lan ngoài cộng đồng, khoanh vùng dập dịch được ngay.
Chủ động nắm bắt thông tin, định hướng dư luận
trước những vấn đề nóng bỏng mà xã hội cũng như cán bộ, chiến sĩ đang quan tâm,
chú ý. Trong một số trường hợp, cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành chức
năng để xác định, ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm ẩn danh trên mạng xã hội;
thậm chí, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Google, YouTube,
Facebook,...) ngăn chặn không cho xuất hiện hoặc gỡ bỏ những thông tin vi phạm
pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Đồng thời, tích cực tuyên
truyền những điển hình tiên tiến trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, gương
“người tốt, việc tốt” trong thực hiện Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy
truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Cùng
với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chú trọng thực hiện tốt công tác bảo
vệ chính trị nội bộ, nhằm ngăn chặn không cho các hiện tượng tiêu cực từ bên
ngoài có điều kiện tiếp xúc và xâm nhập vào nội bộ đơn vị.
Trên đây là các giải pháp vừa có tác dụng tăng
cường “sức đề kháng”, vừa ngăn chặn tiếp xúc với “dịch bệnh”, nếu tổ chức thực
hiện tốt sẽ không còn chỗ cho virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tồn tại và
các quan điểm sai trái cũng không có môi trường để xuất hiện; bảo đảm trong mọi
điều kiện, hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang nhân dân ta luôn là lực lượng
chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà
nước và Nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, vượt qua gian khổ, hy sinh, hoàn
thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.
THẾ NÀO LÀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”
Nhận thức rõ vấn đề, “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính là quá trình thay đổi tư duy, nhận thức về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên. Họ hoài nghi, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dần đánh mất các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà bản thân đã nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nhiều năm mới có được; dễ dàng chấp nhận tư tưởng tư bản chủ nghĩa, tin vào các luận điểm sai trái, phản động. Tiếp đến, họ không những không chấp hành mà còn thực hiện sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trở thành phần tử chống đối, sẵn sàng ngả theo các thế lực thù địch khi được chúng ve vãn, tung hô. Chính vì vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, trong đó chủ quan mang tính quyết định. Những biểu hiện này có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi cá nhân, tổ chức và trong lực lượng vũ trang nhân dân cũng không phải là ngoại lệ.
Trên thực tiễn đã cho thấy, biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã xảy ra một vài hiện tượng đơn lẻ, như: có
quân nhân sử dụng mạng xã hội bôi nhọ, làm giảm uy tín của các lãnh đạo, các cơ
quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang; một vài cán bộ trong lực lượng vũ trang
đã nghỉ hưu có bài viết, phát ngôn xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, nói xấu cán bộ
lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quân đội, Công an. Đó còn là một số sĩ quan cao cấp
bị xử lý kỷ luật cả về Đảng và chính quyền, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm
hình sự do “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “vi phạm
chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội”, “vi phạm nguyên tắc tập
trung dân chủ, quy chế làm việc”, hoặc “buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu
kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện nhiệm
vụ chính trị”, v.v.
Nhận diện thủ đoạn “Đánh lận con đen”, “Đánh tráo giá trị”
Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng. Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù. Lợi dụng vấn đề này, một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.
Chúng ta đang trong
quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội
mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến
của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào
các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học
vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình
phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây
nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền
lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người.
Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người./.
TỪ VỤ CÔ GIÁO BỊ HỌC SINH LÀM NHỤC ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY
NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ
1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.
Văn hóa truyền thống về ưa thích con trai
Số liệu của cuộc tổng điều tra năm
2019 cho thấy một bức tranh về tình trạng mất cân nbằng giới tính của cả nước
theo các vùng. Các số liệu cho thấy, đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số giới
tính cao nhất với 115,5, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình của cả
nước. Hai vùng có tỷ số giới tính cao hơn mức trung bình của cả nước đều nằm ở
phía Bắc. Khi phân tích các số liệu này theo đơn vị tỉnh, thành phố thì đa số
các địa phương ở trong nhóm 10 tỉnh/ thành phố có tỷ số giới tính cao nhất nằm
ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Với kết quả trên có thể khẳng định
rằng: Yếu tố văn hóa truyền thống về ưa
thích con trai hơn con giá là nguyên nhân xã hội chủ yếu của tình trạng mất cân
bằng giới tính ở nước ta hiện nay. Vùng đồng bằng Sông Hồng là cái nôi của
văn hóa truyền thống Việt Nam
> Việc tiếp tục duy trì những
truyền thống văn hóa về sự giúp đỡ và sự chăm sóc lẫn nhau nhưng đồng thời lại
lồng gép những truyền thống đó vào một hệ thống gia tộc bình đẳng hơn về giới
chính là thách thức chủ yếu trong các nỗ lực nhằm giải quyết tình trạng mất cân
bằng tỷ số giới tính ở nước ta hiện nay
Giải
pháp: Một số văn
bản chính sách và phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập chung chung đến
việc phát huy các truiyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhưng không làm rõ
đó là truyền thống gì. Mặc dù bất bất thành văn nhưng mô hình phụ hệ lại luôn
được coi là nền tảng của truyền thống văn hóa Việt nam. Dó đó nếu chỉ nói tới
truyền thống văn hóa một cách chung chung có thể sẽ khuyến khích những hành
động trọng nam, khinh nữ. Vì thế rất cần thiết phải định nghĩa lại thế nào là
những truyền thống văn hóa Việt nam theo cách giúp củng cố vị thế cho phụ nữ và
trẻ em gái trong gia đình dòng tộc. Truyền thống văn hóa tốt đẹp nên được đánh
giá là những truyền thống coi trọng phụ nữ ngang bằng với nam giới. Luật BĐG đã
nêu rõ về việc cần thiết áp dụng những biện pháp xóa bỏ những hủ tục lạc hậu
đang ngăn cản việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
Mất cân bằng giới tính khi sinh và “khủng hoảng về hôn nhân
Theo ước tính nhân khẩu học, nếu tỷ
số giới tính vẫn mất cân bằng như những năm vừa qua, đến năm 2050, trong cơ cấu
dân số Việt Nam sẽ thừa 12% nam giới ở độ tuổi dưới 50 (2.3 – 4,3 triệu nam
giới). Tình trạng thiếu phụ nữ sẽ khiến hàng triệu nam giới khó tìm được bạn
đời (người ngheog và học vấn thấp…) để lại một loạt hậu quả về mặt nhân khẩu
học và mặt xã hội, bao gồm nạn ép buộc kết hôn, buôn bán, bạo hành phụ nữ, trẻ
em gái và cả nguy cơ bất ổn xã hội do sự bất mãn về xã hội và tình dục của nam
giới…vấn đề di cư trong nước và nước ngoài vì mục đích hôn nhân có thể tăng
lên, làm cho xã hội càng mất ổn định hơn
Thực trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam
Hiện tượng mất cân bằng khi sinh
sảy ra từ sau năm 2005, khi đó tỷ số giới tính khi sinh khoảng 106-107. Tỷ số
giới tính tăng đến 110 năm 2009, và tiếp tục tăng những năm sau đó (năm
2018:114,8 bé trai/100 gái; năm 2019:111,5/100 gái
Xét theo chiều cạnh mức sống thì có
sự khác biệt về mất cân bằng giới tính khi sinh về điều kiện kinh tế. Nhóm
nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) thì chỉ số xác định phân bố mức sinh theo
giới tính ở mức bình thường là 105,2, thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm
giàu nhất tình trạng mất cân bằng mức sinh theo giới tính lại rất cao. Cụ thể
mức sinh theo giới tính giàu là 111,7 và nhóm giàu nhất là 112,9. Mức sinh theo
giới tính thấp nhất ở nhóm phụ nữ không biết chữ (107) và tăng dần theo trình
độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trịnh độ cao dẳng trở lên
Quá trình già hóa và thách thức với hệ thống an sinh xã hội
Tỷ trọng người già đang trong xu
hướng tăng nhanh trong khi tỷ trọng số người ở độ tuổi lao động giảm dần, đã
làm cho tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm xuống tương đối nhanh trong giai đoạn từ
nay đến năm 2050. Tỷ số hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam sẽ giảm từ 8,8 năm 2019
xuống còn khoảng 3,8 vào năm 2049 và ước tính mức giảm gần 60%
Tỷ
số hỗ trợ tiềm năng giảm do các yếu tố
>Xu
hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ
gia đình hạt nhân
Kết quả điều tra năm 2019, số người bình quân một hộ có xyu hướng giảm từ mức 4,6 người/hộ năm 1999 xuống còn 3,6 người/hộ năm 2019. Trung bình 10 hộ dân thì có một hộ độc thân. Những số liệu này phản ánh xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái). Từ góc độ cấu trúc hộ gia đình, có thể thấy rõ một bức tranh xã hội là ngày càng có nhiều hộ gia đình chỉ có ông bà già sống chung với nhau hay ông bà già sống một mình. Trong số 10% số hộ gia đình sống độc thân không khó suy đoán rằng phần lớn các hộ gia đình này là người già, đặc biệt là phụ nữ. Từ bức tranh xã hội về quy mô và cơ cấu hộ gia đình như vậy, có thể thấy số người tiềm năng cxó thể trực tiếp chăm sóc người già sẽ thấp hơn nhiều so với người hỗ trợ tiềm năng như nêu trên
Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ
Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ. Bầu cử
là phương thức để quyền lực nhà nước được thiết lập
bởi nhân dân và nhân dân tự
thực hiện sự ủy quyền của mình. Bầu cử có liên hệ mật thiết với dân
chủ, bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các
quyền tự do, dân chủ. Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước chỉ được thực
thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó
thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do, công bằng. Trong giai đoạn hiện
nay ở Việt Nam, quyền bầu cử phải gắn chặt với quyền bãi miễn đại biểu khi
không còn xứng đáng - đó là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước.
Phát huy dân chủ, thực hiện cạnh tranh trong bầu, bồ nhiệm cán bộ. Về nguyên tắc, ở Việt Nam
không có sự cạnh tranh đảng phái, nhưng cần thiết có sự cạnh tranh giữa các đảng
viên trong việc tranh cử vào các vị trí lãnh đạo của Đảng ở các cấp; cạnh tranh
giữa đảng viên với người không phải đảng viên vào vị trí lãnh đạo một số cơ
quan nhà nước các cấp. Cạnh tranh lả một hỉnh thức biểu hiện cụ thể, sinh động của dân chủ. Có quy định cạnh tranh công khai, minh bạch sẽ hạn chế tình trạng cạnh tranh
không công khai, cạnh tranh ngầm trong lựa
chọn, bổ nhiệm cán bộ. Cạnh tranh là hỉnh thức phát hiện và phát huy nãng lực cán bộ tối ưu hơn
sự phát hiện và giới thiệu của tổ chức. Bởi, khi tổ chức giới thiệu nhân sự, cá
nhân được giới thiệu không hoàn thành nhiệm vụ nhưng cả cá nhân và tố chức
không ai chịu trách nhiệm về sự giới thiệu. Còn khi có sự cạnh tranh, tự ứng cử,
cá nhân ứng cử chịu trách nhiệm trước tố chức và cử tri về năng lực, hiệu quả
hoạt động của mình. Mặt khác, nhờ thực hiện cạnh tranh, tổ chức đảng và nhân
dân có cơ hội để kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong hoạt động của các vị
trí trên. Đây có thể coi là hình thức mới của thực hiện dân chủ xã hội chù
nghĩa ở Việt Nam. Bởi vậy, không nên cho rằng, cạnh tranh sẽ dẫn đến mất đoàn
két, thống nhất trong Đảng. Bởi để cạnh tranh, Đảng cũng phải ban hành các quy
chế, điều kiện cạnh tranh. Cá nhân tham gia cạnh tranh phải tuân theo quy chế
như điều lệ Đảng. Nghiên cửu phân định quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực
công của Nhà nước và quyền lực tối cao của nhân dân. Hiện nay, ngoài quyền lực
công của Nhà nước đã được quy định khá cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 thì quyền
lực chính trị của Đảng, quyền lực tối cao của nhân dân chỉ được quy đinh khá
chung chung. Yêu cầu đặt ra phải xác định cụ thể, luật hóa nội dung, phạm vi,
phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò làm chủ của nhân dân để mỗi chủ thể thực
hiện đúng vai trò của mình theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.Tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có thể nhân rộng những yếu tố hợp lý, điều chỉnh
những quy định không phù hợp. Ban hành quy định, thí điểm tổ chức thực hiện bầu
cử trực tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại một số địa phương nhiệm
kỳ 2016-2020, sau đó tổng két rút kinh nghiệm. Hoàn thiện thể chế chính trị đáp
ứng yêu cầu của xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong
tình hình mới. Trước hết, phải xây dựng một bộ máy nhà nước đủ mạnh để vận hành
có hiệu quả các chuẩn mực dân chủ đã được thể chế hóa; có một đội ngũ cán bộ ngang tầm đòi hỏi của một thể chế dân chủ, họ thực sự là những người gần dân, thân dân, vì
dân.
Xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ
xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính
khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp luật. Xây
dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biện pháp để hạn chế sự lộng
quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu cầu phải có cơ chế, phương thức kiểm
soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm soát, giám sát cả từ các nhánh quyền lực
lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức của nhân dân. Ở đây, nhân dân vừa ủy
quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quyền mà
mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, áp dụng các
hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với người được ủy quyền. Cán bộ, công chức
cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ; vinh dự với vị
trí công tác của mình được nhân dân giao phó, lường trước được hậu quả bất lợi
khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân dân... để họ có năng lực tự điều chỉnh
hành vi, thực hiện đúng chức trách được giao, phục vụ lợi ích của nhân dân.
Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu,
thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp
pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, loại hình doanh nghiệp trong nền
kinh tế. Xây dựng hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các tài sản mới như sở
hữu trí tuệ cồ phiếu, trái phiếu... quy định rõ, quyền trách nhiệm của các chủ
sò hữu đối vói xã hội. Thể chế môi trường kinh doanh cũng như thể chế kinh tế
nói chung chỉ phát huy tác dụng có hiệu quả khi tạo được sự đổi mới triệt để nhận
thức đúng đắn của xã hội về vai trò quan trọng của thể chế, “...phấn đấu đến
năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng
đầu” đồng thời xây dựng và hoàn thiện thể chế phải được tiến hành đồng bộ cả ba
khâu: 1) Ban hành văn bản, quy định của thể chế 2) Xây dựng cơ chế vận hành, thực
thi thể chế trong hoạt động kinh doanh cụ thể; 3) Hoàn thiện tổ chức bộ máy
theo dõi, giám sát việc thi hành thể chế, xử lý vi phạm và tranh chấp trong thực
thi thể chế. Trong khi triển khai đồng bộ thể chế môi trường kinh doanh phải tập
trung cải cách hành chính, từ bộ máy hành chính đến thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi đúng pháp luật. Phát triển đồng bộ các yếu tố thi trường và các
loại thị trường. Sớm hình thành việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định
pháp luật về kinh doanh phù hợp với Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, để hoàn
thiện thể chế môi trường kinh doanh dân chủ, cần tập trung khắc phục thực trạng
yếu kém của một số văn bản luật pháp. Đôi mới, hoàn thiện các quy định về giá,
canh tranh, kiểm soát độc quyền, về ký kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết
tranh chấp. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước.
Phương hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu
sâu hơn hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội
chủ nghĩa; kinh nghiệm xây dựng nền dán chủ ở các quốc gia trên thể giới. Một mặt,
phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chú
nghĩa trong kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, làm rõ giá trị hợp lý của
các nền dân chú khác để kế thừa, học hỏi. Cho đến nay việc làm sáng tỏ hai vấn
đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh
nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ; hoặc ca
ngợi một chiều; hoặc phủ định sách trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân
chủ càng doãng xa hơn. Do vậy một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý
luận về dân chủ, dân chủ XHCN trong kho tàng chủ nghĩa mác- Lênin, chỉ ra những
điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử
đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa,
học hỏi. Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất, trình độ dân
chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn
lọc các giả trị dân chủ của nhân loại được biểu hiện trong chủ nghĩa tư bản. Phải
làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu biện ở chủ nghĩa tư bản chứ
không phải là sản phẩm riêng của chú nghĩa tư bản. Một số giá trị của dân chủ
tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Việt
Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập
các hình thức thực hiện để đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.
Thứ hai, phân
biệt rõ và phù hợp giữa dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và dân chủ trong
điều kiện CNXH đầy đủ (đích thực)
Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, cần phân biệt
dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là chể độ dân chủ đầy đủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã phát
triển tương đổi toàn điện với dân chủ trong giai đoạn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là
hai trình độ phát triển khác nhan của xã hội. với các đặc điềm kinh tế, chinh trị,
văn hóa xã hội khác nhau. Do đó, đặc điểm, tính chất, hình thức thực hiện
cũng khác nhau. Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu
khác nhau, cơ cấu xã hội, quan hệ giai cẩp đa dạng, phức tạp; từ đó cũng dẫn đến sự đa dạng về nhu cầu dân
chủ.
Thứ ba, cần hiểu đúng bản chất của mối quan hệ dân chủ
và nhất nguvên chính trị, thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng lãnh đạo, cầm quyền.
Hiện nay không ít ý kiến cho rằng, ở Việt Nam phải đa đảng mới
có dân chủ. Họ viện đẫn rằng, do kinh tế có nhiều thành phần
thì chính trị phải có đa đảng. Việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế nhiều
thành phần với kết cấu kiến trúc thượng tầng chính trị, có thể khẳng định rằng,
nền kinh tế nhiều thành phần không nhất thiết (không tất yếu) dẫn đến kiến trúc
thượng tầng chính trị đa đảng, có đảng đối lập, bởi vì, trong thực tế lịch sử
đã có những thời kỳ nền kinh tế nhiều thành phần không làm nảy sinh chế độ
chính trị đa đảng.
Vấn đề đa đảng hay một đảng là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch
sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn, vai
trò của từng thành phần kinh
tế trong đời sống xã hội, tương quan lực lượng giai cấp, quy định của Hiến pháp
và pháp luật của mỗi nước, uy tín và sức mạnh của đảng cầm quyền,
quan niệm về dân chủ và ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, v.v.. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong
việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản
chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng mà thể
hiện ở việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà
nước vào những mục đích gì trên thực tế. Không nên chỉ xem xét chế độ đa đảng
hay một đảng làm căn cứ duy nhất để đánh giá tính chất và trình độ của dân chủ.
Vấn đề một đảng duy nhất cầm quyền hay các đảng khác nhau cầm quyền không ảnh hưởng quyết định tới dân chủ, mà quan trọng là đảng đó là đảng như thế nào khi cầm quyền. Vì vậy một đảng khi đã độc quyền lãnh đạo thì phải tổ chức xây dựng thể chế chính trị và lãnh đạo sự vận hành của tổ chức như thế nào để không hạn chế, vi phạm dân chủ. Nếu Đảng cầm quyền vi phạm dân chủ thì sẽ làm mất lòng tin của nhân dân, và sớm muộn, Đảng sẽ mất quyền lãnh đạo, mất khả năng cầm quyền.
Những yếu tố cản trở thực hiện dân chủ ở Việt Nam
Một là, vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, những
thành quả mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại là một bước ngoặt
lớn lao trong việc hỉnh thành và phát triển nền dan chủ ở nước ta. Song một đất
nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân đang
lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân từ nông dân, vì thế không tránh khỏi
bị ảnh hưởng bởi những tàn tích tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ.
Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng có nghĩa là xã hội Việt Nam chưa
trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển,
với pháp quyền tư sản, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ tư sản
dù mang bản chất tư sản, dù phục vụ chủ yếu cho giai cấp tư sản thống trị,
nhưng nó cũng tạo ra môi trường đào luyện con ngưòi ngày càng ý thức được vai
trò của cá nhân, tầm quan trọng của học vấn, học thức và văn hóa đối với sự
phát triển. Môi trường xã hội đó cũng rèn luyện cho con người những thói quen,
những năng lực cần thiết thích ứng với những đòi hỏi pháp lý và nhân văn của
dân chủ.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và nền dân chủ tư sản, việc
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gặp phải không ít những khó
khăn trở ngại. Ý thức hệ phong kiến còn ăn sâu vào xã hội, một xã hội mà nông
dân còn chiếm đa số trong dân cư; một xã hội nông nghiệp cổ truyền lạc hậu, lực
lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động trong xã hội còn giản đơn và
hạn chế. Tàn tích của ý thức hệ phong kiến của người
nông dân với những hạn chê như:
tâm lý cục bộ địa phương; tư tưởng cào bằng, đẳng cấp; dân chủ tự phát... dễ
làm triệt tiêu tính tích cực cá nhân, triệt tiêu động lực phát triển. Không qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, Việt Nam thiêu tri thức khoa học và kinh nghiệm quản
lý hiện đại. Nguồn nhân lực của chúng ta bị hạn chế về sự am hiểu,
tinh thông nghiệp vụ, chuyeD môn do chưa có chuyên môn hóa sâu. Cùng
với hạn chế đỏ, ^ bằng dân trí của xã hội còn thấp, kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật còn
rất lạc hậu và chậm phát triển, thông tin đến với người dân còn chậm và không đầy
đủ, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng hẻo lánh
xa xôi.
Ba là, cùng với những hạn chế do Việt Nam đang trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan
xen giữa cái mới và cái cũ làm nảy sinh nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những vật cản trở đó là: Trình độ phát triển dân chủ
còn thấp và chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật thiếu và không đồng bộ, chưa tạo ra
được khung pháp lý và cơ chế đủ mạnh để thực hiện dân chủ. Sự suy thoái, biến
chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả những người có chức quyền;
tệ tham nhũng, buôn lậu đã ứở thành quốc nạn. Bệnh quan liêu diễn ra khá phổ biến
ở các cấp, các ngành đã gây nỗi bất bình trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều luật
được ban hành nhưng việc chấp hành luật không nghiêm từ một bộ phận công dân,
việc thi hành luật không công minh của một bộ phận cán
bộ trong các CJ quan hành pháp và tư pháp đã làm cho hoạt động của
bộ máy nhà nước kém hiệu lực và hiệu quả. Tệ ô dù bao che cho kẻ xấu, khiếu kiện
cửa người dân chưa được xem xét đầy đủ và kịp thời đã làm giảm lòng tin của
nhân dân vào bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, tình trạng ấy sẽ làm cho dân chủ biến thành “quan chủ”, quyền được ủy thác đã biến thành quyền bị
chiếm đoạt, quyền làm chủ của nhân dân đã biến thành quyền của những ai nắm được
chức quyền. Tất cả những khó khăn đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Những yếu tố tác động tới xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra đời từ khi giai
cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, là kết quả trực tiếp
của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và phát triền trong những điều kiện
kinh tế, xã hội đặc biệt. Bước vào xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt
Nam có những thuận lợi cơ bản sau:
Một là, học thuyết Mác-Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội
chủ nghĩa là cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng nền dân chủ và thực
hiện quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân.
Hai là, kế tục những giá trị của dân chủ trong lịch sử
Việt Nam đã được xây dựng ngay từ buổi đàu dựng nước và nâng lên một chất lượng
mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều
kiện đất nước độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do và trở thành người chủ đất
nước, được tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình.
Ba là, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa đã mang lại nhiều thuận lợi rất quan trọng trong quá
trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ người bóc lột người; bỏ qua sự thống trị cùa một
nhóm người đối với đa số nhân dân lao động.
Bốn là, nền dân chù xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được
xây dựng trong điều kiện có Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và
rèn luyện, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.
Kế tục tư tưởng vi dân của Hồ Chí Minh, Đảng
ta chủ trương xây dựng chế độ
dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Nhà nước ta thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực, tất cả quyền
lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị gồm: Đảng, Nhà nước và các tổ chức
chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội được thiết lập từ Trung ương tới địa
phương là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Năm là, cơ sở xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là lực lượng đông đảo những người lao động được giải phóng đã vào vị trí người chủ của chế độ mới, nòng cốt là khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây chính là những cơ sở quan trọng, những thuận lợi cơ bản trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Quan niệm về dân chủ tại Đại hội XII, XIII của Đảng
Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa
vào chủ đề của đại hội. Đồng thời trở thành một mục độc lập trong phần XIII của
Báo cáo chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực
hieẹn quyền làm chủ của nhân dân” đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát
huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm
vụ của đại hội. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không
chỉ về bản chất của nền dân chủ XHCN, mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì
không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có chủ nghĩa
xã hội
Với phương châm: Đoàn kết – dân chủ - kỷ cương – sáng tạo –
phát triển, Đại hội XIII của Dảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện
thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm
2013, bảo đảm tất cả các quyền lực nhà nước thuộc veef nhaan daan. Thực hiện
đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở
cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân thụ hưởng”
Quan niệm về dân chủ tại Đại hội IX, X, XI của Đảng
Đại IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn
bài học chủ yếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích
của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”. Đặc biệt Đại hội IX
đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta. Đây là
một bước tiến về nhận thức “dân chủ”. Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát
triển mới nhận thức về dân chủ: 1) bổ sing “dân chủ” vào đặc trưng thức nhất của
xã hội XHCN Việt Nam – đó là: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh; 2) Điều chỉnh trong diễn đạt về đặc trưng thú hai- đó là: “ do nhân dân
làm chủ”. Đây là bước tiến về mặt nhận thức khi khẳng định: “xã hội XHCN mà
nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ: “
Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về
nhân dân”; 4) Khẳng định: “dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng
thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối
chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự
tham gia ý kiến của nhan dân. Đại hội XI của Đảng (2011) đã thống qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Cương
lĩnh đã xác định: “xã hội XHCN mà nhân
dân ta xay dựng là một xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh; do nhân dân làm chủ...”. Đổi mới của đại hội XI so với đại hội X là chuyển
cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng”. Đây không đơn thuần là chuyển vị
trí, mà thực chất là nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn, chính sxác hơn vị trí, vai
trò của dân chủ. Cương lĩnh (bổ sung phát triẻn năm 2011) khẳng định rõ: “Dân
chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vùa là động lực của sự
phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện neèn dân chủ XHCN, bảo đảm
dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh
vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp
luật, được pháp luật bảo đảm...Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt
động của nhà nước của cả heẹ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp,
dân chủ đại diện”
Dân chủ ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện, nhấn mạnh phát huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển
đất nước. Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán
triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân lao động”, “bài học cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng
quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu nhân dân lao động có ý
thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”.
Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các dại hội IV, V
và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế
độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”.
Chúng ta xác dịnh mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chut, Nhà nước quản
lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn
bộ xã hội”
Quan niệm về dân chủ đại hội VII, VIII
Đại hội VII của Đảng (1991) dã thống qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa (cương lĩnh năm 1991), trong đó
đã rút ra bài học lớn “ sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân”. Cương lĩnh năm 1991 đã pháp họa 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao
động làm chủ. Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt
động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng
bước hoàn thiện nề dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân
dân. Dân chủ gắn lièn với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc
sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt
động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp.
Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và
được pháp luật bảo đảm”. Có thể khẳng định dại hội VII đã có bước tiến lớn
trong nhận thức về dân chủ. Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”,
“chế độ làm chủ tập thể” từ đại hội này. Đại hôi VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh
việc phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện
tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan
dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản,
bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước. Đảng
và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn
bị ra quyết định và thực hiện các quyếtd định. Đại hội VIII đề ra mục tiêu của
cách mạng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Có nghĩa là, Đại
hội VIII cũngchưa nhận thức đẩy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ
Dân chủ trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện lấy hệ tư tưởng Mác-Lênin (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân) làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Đồng thời, nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc... Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân. Dưới góc độ này, dân chủ là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng tự do được sáng tạo và phát triển của con người.Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đời sống tư tưởng - văn hóa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, trở thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và nó khác với nền dân chủ tư sản về hệ tư tưởng chủ đạo (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của giai cấp tư sản).
Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh
Tỷ
số giới tính: Là
số nam trên 100 nữ trong tập hợp dân số
Tỷ
số giới tính khi sinh: Là
một chỉ số thống kê được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ
em gái (Tỷ số này thông thường là từ 104-106 trẻ em trai/100 em gái và giá trị
của chỉ số này thường là rất ổn định qua thời gian)
Tỷ số giới tính khi sinh là chỉ số
cơ bản làm thước đo phản ánh cơ cấu dân số về giới tính và phản ánh mức độ cân
bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra. Tỷ số này ở mức cân
bằng sinh học tự nhiên giao động từ 103-106 bé trai/1000 bé gái sinh ra sống
tùy theo từng quốc gia/vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, tỷ số giới tính khi sinh ở
mức cân bằng tự nhiên là 105. Nếu không có sự can thiệp một cách có chủ đích
của con người thì tỷ số giới tính tự nhiên sẽ thường trong khoảng từ 103-106 bé
trai/100be gái và khi bước vào độ tuổi hôn nhân tỷ số giới tính tự cân bằng
Giảm tỷ trọng trẻ em
Quá trình giảm sinh mạnh mẽ trong
hơn 30 năm qua ở nước ta đã dẫn đến việc thay đổi rõ rệt cơ cấu các nhóm dân số
theo độ tuổi. Trước hết có thể thấy ngay là tỷ trọng trẻ em trong dân số đã
giảm nhanh. Tỷ trọng trẻ em trong dân số ở nước ta đã giảm từ 39,2% năm 1989,
xuống 33,1% năm 1999; 24,5% năm 2009 và còn 24,3% năm 2019. Tương ứng với mức
sinh ở các năm đó lần lượt là 3,8; 2,3; 2,1; và 2,1 con/phụ nữ. Có thể nhận xét
là, trong 10 năm trở lại đây (2009- 2019), mức sinh thay thế được giữ ổn định
(2,1 con). Dó đó mục tiêu cơ bản của chính sách dân số hiện nay là duy trì mức
sinh thay thế. Những tỉnh/thành phố có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần
có các giải pháp chính sách để đưa mức sinh lên ngang bằng với mức sinh thay
thế. Nhóm các tỉnh/thành phố đang có mức sinh thay thế ổn định tiếp tụch duy
trì mức sinh thay thế này
Giai đoạn năm 2005 đến nay, tỷ
trọng dân số trẻ em giảm chỉ còn khoảng 24-25%, trong khi đó tỷ trọng dân số
người cao tuổi (từ 65+) đang còn tăng chậm (năm 2019 mới có 7,7%), dó đó tỷ
trọng dân số lao động tăng lên nhanh, nước ta bước vào thời kỳ có “cơ cấu dân
số vàng” (ước tính từ năm 2007). Trong thời kỳ này, số người trong độ tuổi lao
động (15-64) nhiều hơn gấp đôi số người phụ thuộc (0-14 và 65+) hoặc tỷ số phụ
thuộc dưới 50/100.
Số liệu trình bày trong bảng 1 cho thấy, tỷ số phụ thuộc dân số ở nước ta bắt đầu giảm từ 63,3/100 vào năm 1999 xuống 44,4/100 năm 2009 và bắt đầu tăng trở lại 47/100 vào năm 2019, như vậy thời kỳ “dân số vàng” ở nước ta đã vượt qua đỉnh và có theẻ kéo dài đến năm 2037-2040
Sinh kế người già
Hiện nay cho thấy, thu nhập từ sản
xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia đình
người già. Những khoản thu nhập có tính bảo đảm cuộc sống cho người già thì
không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã hội,
trợ cấp xã hội khác tỷ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ gia
đình người già. Khi tuổi càng tăng lên thì nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh
doanh của người già càng giảm do khả năng lao động ngày càng suy giảm theo. Khi
các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc trợ cấp xã hội quá thấp sẽ
ảnh hưởng tới việc bảo đảm mức sống của nhóm dân số người già (ước tính hieenj
nay mới có khoảng 25% số người già đã tham gia bảo hiểm xã hội và có lương hưu
trí). Như vậy nếu không nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đối
với nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động, trong vòng 20 năm tới có khoảng
gần 10 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên) nằm ngoài bảo hiểm xã hội. Dó đó
việc thực hiện thành công các mục tiêu về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội
theo quyết định của nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng
đối với sinh kế của người già. So sánh với các nhóm dân số khác, nhóm người già
có nhu cầu chăm sóc y tế lớn nhất
Mô hình bệnh tật của người già
chuyển từ các bênh lây nhiễm sang bệnh mãn tính, không lây nhiễm đang là thách
thức lớn cho ngành y tế hiện nay. Ước tính chi phí chữa bệnh trung bình cho
mpột người già cao hơn 7-8 lần so với trẻ em
Trong bối cảnh “chưa giàu đã già”,
hàng triệu người già ở nước ta trong tương lai gần sẽ đối mặt với thách thức về
chi phí khám chữa bệnh cao trong khi chỉ có thu nhập thấp. Đây là một yếu tố
tiềm tàng có thể dẫn tới mất ổn định xã hội
Quá trình già hóa và suy giảm nguồn cung lao động
Tiềm năng tăng trưởng của một nền
kinh tế phụ thuộc vào mức tăng năng xuất lao động và tỷ lệ tăng trưởng nguồn
nhân lực. Nguồn nhân lực ở đây có thể hiểu là quy mô nhóm dân số trong độ tuổi
lao động. Khi một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, số người bước vào độ tuổi lao
động thường lớn hớn nhiều so với số người bước ra khỏi độ tuổi lao động. Mức
chênh lệch giữa 2 nhóm này sẽ giảm dần khi các quốc gia bước vào thời kỳ già
hóa dân số. Tỷ lệ giữa số lao động tăng thêm hàng năm so với quy mô dân số trong
độ tuổi lao động là tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Ở các quốc gia đang có
cấu trúc dân số già hoặc đang trong quá trình già hóa dân số, tỷ lệ tăng trưởng
này có xu hướng giảm dần. Khi tỷ lệ này xuống quá thấp hay giao động ở mức trên
dưới 0,5% thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Sau khi phân tích có hệ thống các
số liệu thống kê về tương quan giữa tăng trưởng nguồn nhân lực và tăng trưởng
kinh tế ở các nền kinh tế phát triển, các nhà nghiên cứu đều thấy một trong những
điều kiện tốt nhất cho tăng trưởng của một nền kinh tế là khi tăng trưởng nguồn
nhân lực hằng năm ở mức 2%. Con số này cũng có ý nghĩa là những quốc gia đang ở
thời kỳ có tỷ lệ này ở mức 2% là các quốc gia ở thời điểm tốt nhất của thời kỳ
có cơ cấu dân số “vàng”. Tại thời điểm này, tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi
lao động (15-64) đạt tới 67-70%, và tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi phụ
thuộc chỉ khoảng 30-33%.
Kết quả phân tích các số liệu thống
kê về biến đổi cấu trúc tuổi của dan số Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009-
2039 cho thấy, với phương án tuổi lao động từ 15-64, tỷ lệ tăng trưởng nguồn
nhân lực ở nước ta có xu hướng giảm nhanh. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống ở mức khoảng
0,5% trong giai đoạn 2034-2039. Nếu như lấy mốc tuổi nghỉ hưu là 60 thì ngay từ
năm 2029, tỷ lệ này có thể bắt đầu xuống dưới mức 0,5%. Từ năm 2040, khi nước
ta sẽ có cấu trúc dân số già, yếu tố tăng trưởng nguồn nhân lực sẽ tác động
tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ từ sau năm 2040 cũng là thời kỳ mag
Việt Nam không còn cơ hội dân số “vàng”
Tình hình già hóa dân số ở Việt Nam
Dân số Việt nam đang tăng chậm,
nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Từ năm 2011 tỷ lệ người 60 tuổi trở
lên đạt tỷ lệ trên 10% tổng dân số và sẽ chạm ngưỡng 20% vào năm 2032. Quá
trình già hóa dân số sẽ diễn ra trong khoảng 20 năm (từ 2012- 2032) là đạt
ngưỡng dân số già, đến năm 2050 dân số Việt nam sẽ trở thành “siêu già”. Việt
Nam có tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh, thời gian để chuyeẻn từ “già hóa dân
số” sang “siêu già” mất khoảng 15-18 năm, ngắn hơn nhiều so với nhieèu nước, kể
cả các quốc gia có trình độ phát trieẻn hơn. Pháp: 115 năm, Thủt Điển Mất 85
năm, Úc: 73 năm, Trung Quốc 26 năm (Trung quốc đến năm 2030 cứ 100 người có 25
người 65 tuổi trở lên), Nhật Bản: 26 năm. Việt Nam đang trong thời gian ngắn
ngủi còn lại của cơ cấu dân số vàng
Tỷ trọng người già 65+ là 7,7% năm 2019 (có 7,4 triệu người già,
đứng thứ 18 trong các nước có dân số già trên thế giới (khoảng từ năm 2012, tỷ
trọng người gia 65+ bắt đầu vượt ngưỡng 7% dân số; ước tính đến năm 2035, có
hơn 13 triệu người già; năm 2050 sẽ có hơn 21 triệu người già (từ 65+). Chỉ số
già hóa cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh)
Quan niệm về già hóa dân số
Già hóa dân số: là thời kỳ quá độ chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già.
Trong quá trình này tỷ trọng trẻ em trong dân số sẽ giảm dần và xuống thấp hơn
so với tỷ trọng người già
Trong
cơ cấu dân số trẻ: tỷ
trọng người già 65+ thấp hơn 7,0%
Trong
cơ cấu dân số già:
Tỷ trọng người già chiếm từ 14% trở lên
Quá
trình già hóa dân số:
bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ chạm ngưỡng 10% hoặc khi tỷ trọng dân số 65+
chạm ngưỡng 7%
Thời
kỳ dân số già: bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ đạt ngưỡng 20%
trở lên đến dưới 30% (65+ đạt ngưỡng 14%
trở lên đến dưới 21%)
Thời
kỳ dân số rất già: bắt
đầu khi tỷ trọng người 60+ đạt từ 30% trở lên (65+ đạt từ 21% trở lên)
Quan điểm về dân số ở Việt Nam
Nghị quyết số 04-NQ/HNTW năm1993: Với trọng tâm là thực hiện tốt kế
hoạch hóa gia đình “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân
quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, gây khó khăn lớn cho việc
cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển vêg mặt trí tuệ, văn hóa và
thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cư stiếp tục diễn ra tghì trong tương
lai không xxa đất nước sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những
nguy cơ về nhiều mặt” Vì vậy mục tiêu của chính sách dân số trong giai đoạn đó
đã nhấn mạnh trọng tâm: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để
có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm
2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến
tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo
chuỷen biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này”
Nước ta đã đạt mức sinh thay thế
khoảng năm 2005 (trước 10 năm so với mục tiêu đặt ra). Tuy nhiên mức sinh của
ta có xu hướng tiếp tục giảm chậm trong những năm tiếp theo. Chẳng hạn: Quá
trình này khó đảo ngượcdưới tác động của các yếu tố phát triển trong quá trình
CNH-HĐH. Hiện nay 21 tỉnh/thành phố ở nước ta đang có mức sinh thấp hơn mức sinh
thay thế cần thiết (các dấu hiệu về thiếu nguồn cung ứng lao động cho nhiều
doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đã bắt đầu xuất hiện)
Nghị
quyết số 21-NQ/TW (25/10/2007), với
mục tiêu: “ Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia
đình sang dân số và phát triển” vơi 7 giải pháp đề ra. Bên cạnh đó chuyển trọng
tâm chính sách dân số đòi hỏi công tác dân số phải cập nhật, phải tính đến các
yếu tố “phát triển” về kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường…ngược lại, các kế
hoạch phát triển cũng cần tính đến sự biến đổi nhanh về quy mô, cơ cấu, phân bố
và chất lượng dân số
Đại hội XIII, định hướng “ tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp
luật về dân số gắn với xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; đảm bảo hài
hòa giữa quyền và nghĩa vụ của người dân trong thực hiện chính sách dân số…Chăm
lo phát triển về chất lượng, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý…” (đưa lên
màn hình)