Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

“NHÂN QUYỀN” KHÔNG PHẢI LÀ TUYỆT ĐỐI

 Những âm mưu, thủ đoạn mượn danh “nhân quyền” được tiến hành đều đặn và bung nở mạnh

mẽ khi Liên hợp quốc, các tổ chức trực thuộc và các quốc gia thành viên tiến hành các hoạt động

hướng đến kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác các tính

năng của Internet, truyền thông, mạng xã hội nhằm làm méo mó bản chất, giá trị ngày Nhân

quyền quốc tế. Mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; quy kết, vu cáo

“Việt Nam không có nhân quyền”, “chính quyền không bảo đảm quyền con người”, từ đó muốn

đưa Việt Nam đi theo các lối nhân quyền kiểu phương Tây; phớt lờ những sáng kiến đóng góp

của Việt Nam cho các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc…

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người mà không có bất cứ ai, tổ chức, thể chế

chính trị nào có thể tước bỏ. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về quyền

con người, đó là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm

chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản

của con người.

Tuy nhiên, dưới mọi góc độ nghiên cứu quyền con người đều không có tính tuyệt đối, trong lĩnh

vực nhân quyền, giữa quyền và nghĩa vụ luôn song hành, thống nhất với nhau, không tách rời

nhau. Trong bất kỳ thể chế chính trị nào hiện nay, quyền con người không được xem là quyền

tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật để ngăn cản, điều chỉnh, xử lý những

hành vi lạm dụng quyền của cá nhân, tổ chức này xâm hại đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức,

Nhà nước. Một số tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền nhưng thiếu thiện chí

với Việt Nam đã không hiểu hoặc cố tình phớt lờ các mối quan hệ trên nên thường có cái nhìn

phiến diện, sai lệch, thiếu khách quan đối với vấn đề nhân quyền ở nước ta.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN “VÌ NHÂN QUYỀN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Nhân quyền hay quyền của con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước

bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Nhân quyền là danh từ trong sáng, dùng để chỉ một

trong những giá trị căn cốt của loài người. Kỷ niệm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12) là dịp để

Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên tôn vinh những giá trị cao cả cùng những thành tựu đạt

được trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Với Việt Nam, những thành tựu ấy được minh chứng cụ thể qua việc không ngừng nâng cao đời

sống, bảo vệ các quyền hợp pháp của người dân, đồng thời tích cực đóng góp cho nỗ lực thúc

đẩy quyền con người trên toàn thế giới.

Song bất chấp thực tế mà nước ta đạt được trong bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, hội nhóm,

cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, những tổ chức mượn danh “nhân quyền”, hãng truyền

thông hải ngoại định kiến với Việt Nam lại dùng những chiêu bài xảo trá để đả phá. Trong đó

cần nhận diện, đấu tranh qua những vấn đề sau:

Thứ nhất, mượn ngày Nhân quyền quốc tế, một số tổ chức thường ra thông báo, cáo trình bày tỏ

quan điểm đánh giá sai sự thật về bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Trong đó, tổ chức Giám sát

nhân quyền (HRW) “kêu gọi Việt Nam cải tổ gấp quyền con người trước kỳ kiểm định phổ quát

sắp đến” nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm các luật lệ quốc tế mà Việt Nam là thành

viên. Mặc dù mang cái tên rất mỹ miều là “Giám sát nhân quyền” nhưng mọi hoạt động của tổ

chức này đều thể hiện rõ tâm địa xấu xa, mưu đồ và động cơ chính trị đen tối, thấp hèn. Dù

không có mặt ở Việt Nam, không khảo sát thực tiễn, không có những tài liệu chính thống, không

hiểu được tình hình nhân quyền ở nước ta nhưng HRW lại luôn tự cho mình quyền phán xét về

nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Việt Nam “cần khẩn cấp cải tổ quyền con người”. Các thông tin

mà HRW có được thực chất từ một vài tổ chức, cá nhân bất mãn, cơ hội chính trị cung cấp. Điều

này cho thấy rõ âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam của HRW.

 Thứ hai, trao giải thưởng nhân quyền cho các đối tượng có hoạt động chống phá Tổ quốc, xâm

phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vào ngày 18/11/2023, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt

Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) có trụ sở tại bang California (Mỹ)

công bố cái gọi là “Báo cáo nhân quyền 2022-2023” để xuyên tạc kỳ thị tôn giáo, dân tộc đồng

thời cổ vũ cho những đối tượng lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến

hành các hoạt động trái pháp luật, phá hoại đất nước. Đều đặn hằng năm, mạng lưới này còn tiến

hành xét họp, bình chọn, công bố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành

tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”. Đối tượng nào có “thành

tích” chống phá đất nước càng nhiều thì tỷ lệ được trao giải thưởng càng cao. Năm nay, các đối

tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về

các hoạt động chống phá đất nước được tổ chức này “vinh danh”, tán dương.

Cùng với tổ chức ngoại vi của mình là VHRN, lợi dụng ngày Nhân quyền quốc tế, tổ chức phản

động Việt Tân cũng đăng đàn trên mạng xã hội tiến hành trao giải thưởng nhân quyền với tên gọi

“Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để ca

ngợi, cổ xúy cho các hoạt động chống phá Việt Nam. Năm nay Việt Tân đã tổ chức bình chọn,

trao giải và xướng tên đối tượng Trương Văn Dũng.

Điểm chung của trò lố “Giải thưởng nhân quyền” là các đối tượng được các tổ chức này trao giải

đều có các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ bảng, nói xấu chính quyền, thông tin sai sự

thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với Đảng, Nhà nước,

phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp

pháp của tổ chức, cá nhân. Đằng sau trò lố đó là tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ, đồng thời để

cho các đối tượng trong nước bấu víu, tiếp tục tiến hành các hoạt động phá hoại Tổ quốc, nhân

dân.

Thứ ba, không dừng lại ở trao “Giải thưởng nhân quyền”, các thế lực thù địch còn lồng ghép với

thủ đoạn đòi thả tự do cho các đối tượng được gọi là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là các

đối tượng có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên

án và phải chấp hành án phạt tù khi có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt

Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xâm hại đến quyền, lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá

nhân; thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền; soạn thảo, phát tán nhiều tài

liệu bôi xấu chế độ. Ngoài ra, họ còn tổ chức khảo sát, lấy ý kiến về tình hình nhân quyền ở Việt

Nam trên mạng xã hội; tự cho mình có sứ mệnh giải quyết những khó khăn, vướng mắc của

người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước

can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; phủ nhận những nỗ lực trong thúc đẩy quyền con

người Việt Nam; đòi thay đổi thể chế chính trị…

Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong những điều kiện lịch sử mới của đổi mới và hội nhập quốc tế

   Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong những điều kiện lịch sử mới của đổi mới và hội nhập quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

    Một trong những luận điểm nổi tiếng của Đảng ta khi tổng kết thực tiễn ở tầm lý luận về quá trình đấu tranh cách mạng, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa là: Chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo. Luận điểm này được soi sáng bởi tư tưởng của V.I.Lênin, khi ông nhấn mạnh rằng, “Phân tích cụ thể một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác”. Do đó, xét về mặt nguyên tắc và phương pháp, Đảng Cộng sản trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin là trung thành một cách sáng tạo chứ không phải máy móc, giáo điều. Cũng như vậy, Đảng ta luôn thấm nhuần chỉ dẫn khoa học và cách mạng của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng lý luận kinh điển mácxít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người nhấn mạnh, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin cốt là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó trong ứng xử với con người và công việc cho đúng. Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý rằng, phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn cách mạng, đứng vững trên lập trường quan điểm Mác - Lênin, dùng thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật để phân tích tình hình, nhận thức đúng các quy luật khách quan, xu thế vận động của lịch sử, phát hiện ra các mâu thuẫn phải giải quyết, phải nhận rõ dùng phương pháp nào, đi theo con đường nào để độc lập, tìm tòi đúng những câu trả lời của thực tiễn đang đặt ra, phù hợp với tình hình, đặc điểm nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ mà đặc điểm to nhất, khó khăn lớn nhất phải vượt qua là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Người chỉ rõ, không nắm vững lý luận và phương pháp cách mạng thì không thể có năng lực sáng tạo để xác định đúng phương hướng, chiến lược và đường lối cách mạng.

    Hồ Chí Minh không chỉ đề cao tính khoa học, tính Đảng trong việc nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn đề cao đạo đức và văn hóa, bởi chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là đỉnh cao của trí tuệ khoa học, kết tinh trí tuệ, tư tưởng của thời đại, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà còn là đạo đức cách mạng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đảng cách mạng phải tiêu biểu cho đạo đức và văn minh. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, lấy đó làm nền tảng. Đức là gốc tạo thành nhân cách.

    Người để lại lời căn dặn có giá trị bền vững và ý nghĩa thức tỉnh với tất cả mọi người. Người nói, đọc hàng trăm hàng ngàn quyển sách Mác - Lênin, thuộc bao nhiêu cuốn sách Mác - Lênin mà còn ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là hiểu Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Đó là sự thống nhất hữu cơ giữa khoa học - chính trị - đạo đức và văn hóa.

    Những chỉ dẫn đó của Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng mácxít lỗi lạc và sáng tạo bậc thầy của cách mạng Việt Nam, vẫn mãi mãi có ý nghĩa soi sáng nhận thức, là kim chỉ nam hành động cho Đảng, cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta trong mọi thời kỳ cách mạng, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập để phát triển nhanh và bền vững, để hiện đại hóa đất nước hiện nay.

    Thấm nhuần những lời dạy của Người, Đảng ta khi khởi xướng đường lối đổi mới và trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối đổi mới hơn 35 năm qua và hiện nay đã chú trọng đổi mới tư duy, nỗ lực tìm tòi từ thực tiễn để đổi mới tư duy lý luận, hình thành những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thứ nhất, Đảng ta ra sức khắc phục những biểu hiện của bệnh giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, tự phê phán và phê phán nghiêm khắc bệnh chủ quan duy ý chí, coi thường quy luật, làm trái quy luật đã từng mắc phải. Đã rút ra một trong những bài học quan trọng là tôn trọng quy luật khách quan cũng như bài học đặc biệt quan trọng khác là tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, coi “dân là gốc của nước” nên phải luôn luôn nhất quán với nguyên tắc lấy dân làm gốc”. Nhấn mạnh vai trò chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển là Nhân dân và sức sáng tạo của Nhân dân nên phải ra sức thực hành dân chủ, dân vận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là biểu hiện rõ nét và trực tiếp nhất về tính đúng đắn của sự trung thành một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới. Thứ hai, trong những năm đầu của đổi mới, chúng ta đứng trước biến cố xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu, khi chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã tấn công một cách thâm độc và tinh vi vào nền tảng tư tưởng, vào ý thức hệ của những người cộng sản. Niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào chủ nghĩa xã hội bị thách thức nghiêm trọng. Đảng ta đã vượt qua thách thức đó bằng trí tuệ khoa học, bằng bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng để giữ vững phương hướng chính trị, kiên định lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn. Sự ra đời của Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã chứng tỏ điều đó. Chính nhờ có Cương lĩnh này - Cương lĩnh của đổi mới, Cương lĩnh của hội nhập, Đảng đã nêu cao ngọn cờ tư tưởng Mác - Lênin - Hồ Chí Minh, tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam lúc đó vượt ra khỏi tình huống hiểm nghèo, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, tiến tới ổn định và phát triển. Một trong những thành công lớn của Đảng là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, không để xảy ra khủng hoảng chính trị như nhiều nước đã mắc phải, không mất phương hướng chính trị mà nhiều đảng cộng sản cầm quyền đã để xảy ra dẫn tới đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa và tự đánh mất vai trò cầm quyền của chính mình.

    Thứ ba, bài học về lòng trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta đã được chứng thực trong thực tiễn đổi mới. Đảng ta đã ngày càng nhận thức rõ hơn những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên quyết giữ vững nguyên tắc, bảo vệ và phát huy những giá trị bền vững đó (học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, quan niệm duy vật về lịch sử, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, bản chất, mục tiêu và các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội, vai trò tiên phong của Đảng, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân, vai trò của nhân tố con người, của liên minh giai cấp của giai cấp công nhân, của văn hóa…). Mặt khác, nhận thức mới của Đảng về chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở tư duy tự phê phán và phê phán đối với những nhận thức sai lầm trước đây, đã hiểu sai, làm sai chủ nghĩa Mác - Lênin, làm mất tín nhiệm của chủ nghĩa và học thuyết do giáo điều hóa, giản lược hóa gây ra, nay phải ra sức vượt qua, làm cho chủ nghĩa, học thuyết được thể hiện chân thực như chính bản thân nó. Đồng thời cũng tự mình nỗ lực nhận rõ những hạn chế lịch sử trong bản thân di sản để xác định trách nhiệm phải bổ sung, phải phát triển, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin sống động, phong phú, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Đây là vấn đề vô cùng hệ trọng, phải “làm mới” chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những tri thức mới, hiểu biết mới, bổ sung vào kho tàng kinh điển những cái mới chưa được các nhà kinh điển đề cập tới, do thời đại lịch sử mà các ông xây dựng nên học thuyết trước đây không đặt ra, càng chưa có những dữ kiện để giải quyết. Đây là một thử thách về lòng trung thành một cách có bản lĩnh. Rõ nhất là lý luận về con đường, về phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thế giới toàn cầu hóa và hội nhập, về kinh tế thị trường, về nhà nước pháp quyền, về Đảng cầm quyền.

    Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh đã cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam. Nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh, rộng hơn là di sản của Người cũng ngày càng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Trước đây, chúng ta thường nhấn mạnh tư tưởng Hồ Chí Minh là vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhận thức đó chưa đủ để hình dung hết tầm vóc Hồ Chí Minh với tư cách một nhà tư tưởng. Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng đúng đắn mà quan trọng và thực chất hơn, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Người có cống hiến lớn vào kho tàng lý luận kinh điển Mác - Lênin, có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới, nhất là lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở những nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa như Việt Nam. Người còn có cống hiến lớn trong lý luận đảng cộng sản cầm quyền ở tầm học thuyết và chủ thuyết xây dựng đảng cách mạng chân chính. Do đó, Hồ Chí Minh thực sự có những đóng góp mới làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên phong phú, sâu sắc hơn và cách mạng Việt Nam là một minh chứng đầy sức thuyết phục về giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay. Lần đầu tiên, một quan niệm khoa học về tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh đã được Đảng nêu lên đầy đủ và trang trọng đưa vào Cương lĩnh của Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập. Từ chỗ nhấn mạnh học tập tác phong Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định sự cần thiết phải học tập và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng của Người. Từ chỗ nhấn mạnh tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định sự cần thiết phải học tập và làm theo cả tư tưởng lẫn đạo đức và phong cách của Người. Đó là một hệ thống chính thể toàn vẹn. Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh khát vọng Hồ Chí Minh, khát vọng Việt Nam - Đó là khát vọng phát triển một Việt Nam cường thịnh, cùng sánh vai với các cường quốc năm châu. Nêu cao khát vọng này là tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ, nêu cao sức mạnh toàn dân tộc, tạo ra những đột phá của phát triển. Từ thực tiễn Việt Nam, có thể nói, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là cách tốt nhất để tỏ rõ sự trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh chống lại mọi sự xuyên tạc, phủ nhận, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, hạ thấp tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta của các thế lực thù địch. Thành tựu lý luận này của Đảng ta là một cống hiến quan trọng vào việc bảo vệ những chân lý giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở trung thành bằng cách sáng tạo và phát triển nó.

    Thứ năm, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Đảng ta nhấn mạnh “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước” thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hợp tác song phương và đa phương, đa dạng hóa, đa phương hóa, Đảng ta đã thiết lập quan hệ hợp tác với các đảng chính trị cầm quyền trên thế giới, không chỉ với các đảng cộng sản cầm quyền mà còn với các Đảng chính trị tư sản, các đảng xã hội dân chủ. Sự khác biệt ý thức hệ không thể trở thành rào cản không thể vượt qua trong hợp tác, cùng hợp tác, cùng đấu tranh, cùng cạnh tranh để phát triển mà không hề xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

    Đại hội XIII đã phát hiện quan hệ giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp luật, pháp chế, kỷ cương xã hội. Đảng ta đã tỏ rõ thực hiện đúng di huấn của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo: Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phải làm đúng quy luật, phải thuận lòng dân và hợp thời đại. Đó là đảm bảo tối cần thiết để khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.

    Dù thực tiễn luôn vận động biến đổi và các thế lực thù địch phản động không ngừng đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhưng bản chất cách mạng, khoa học là điều không thể phủ nhận, tạo nên giá trị, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước là cơ sở khoa học, nhân tố quyết định để Đảng ta hoạch định chủ trương, đường lối đúng đắn, lãnh đạo đất nước tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Trích - Sưu tầm

Tiến trình cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin

 

    Khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước, cứu dân (ngày 05/6/1911), nước ta đã mất độc lập chủ quyền. Nhân dân ta sống trong tình cảnh vong quốc, nước mất nhà tan, bị bóc lột, áp bức và nô dịch dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp cùng bè lũ phong kiến tay sai bán nước. Việt Nam đã trở thành một xứ thuộc địa dưới chế độ thực dân, nửa phong kiến. Đất nước chìm đắm trong đêm dài nô lệ, khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước.

    Cuộc hành trình tìm đường, chọn đường và nhận đường của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kéo dài 30 năm (1911 - 1941). Bằng phương thức lao động vô sản hóa, Người đã lăn lộn trong thực tiễn đấu tranh giữa những người cùng khổ ở khắp các đại dương, châu lục để nhận rõ bản chất của kẻ thù và nhận thức tính tất yếu của con đường giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản. Đó là cuộc cách mạng theo ý thức hệ tiên tiến nhất của thời đại - ý thức hệ của giai cấp công nhân, kết tinh thành tư tưởng - lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người sáng lập Đảng Cộng sản theo học thuyết Đảng kiểu mới của V.I.Lênin. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, năm 1945, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, giành lại độc lập, khẳng định chủ quyền, đưa dân tộc và Nhân dân tới tự do và làm chủ. Đó là những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử ấy chẳng những được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn tỏ rõ thiên tài tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng với những cống hiến vô giá của Người đối với dân tộc và quốc tế trong lịch sử hiện đại ở thế kỷ XX. Có thể minh chứng bằng một số sự kiện điển hình dưới đây:

    Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi. Giai cấp công nhân và Nhân dân lao động đã giành được quyền lực về tay mình. Nước Nga Xô viết xã hội chủ nghĩa đã ra đời, khai sinh cho chủ nghĩa xã hội hiện thực với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử thế giới dù là một hiện tượng đơn nhất nhưng đã mang ý nghĩa phủ định chủ nghĩa tư bản về nguyên tắc. Từ đấy, một thời đại mới, một kỷ nguyên mới đã mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kỷ nguyên giải phóng các dân tộc bị áp bức, giành độc lập dân tộc và quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

    Chuyển biến có tính bước ngoặc đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là từ một người yêu nước với ý thức và tình cảm dân tộc sâu sắc đã trở thành một chiến sĩ cộng sản. Trên lập trường giai cấp công nhân, giác ngộ lý tưởng cộng sản, Người đã tán thành đường lối của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III), theo chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin) và con đường cách mạng vô sản. Người nhận rõ cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là hình mẫu điển hình về một cuộc cách mạng triệt để (cách mạng đến nơi) cần phải noi theo. Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tours, năm 1920. Bước ngoặc ấy dẫn đến sự kiện lịch sử trọng đại tiếp theo, sau một thập kỷ. Đó là năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Người không chỉ đặt tên cho Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là tác giả đầu tiên, trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, đồng thời viết thư gửi đồng bào cả nước, kêu gọi đồng bào ủng hộ Đảng, theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc, tự giải phóng chính mình. Chính cương, sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, ngay từ đầu đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, đã xác định rõ mục tiêu và phương thức cách mạng là đi tới xã hội cộng sản, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng. Những tư tưởng đó của Đảng và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ giá trị và ý nghĩa soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước đã được giải quyết và cách mạng Việt Nam đã được dẫn dắt bởi ý thức hệ tiên tiến nhất của thời đại.

    Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm lý luận nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

    Đây là công trình khảo cứu lý luận và lịch sử có tầm vóc lớn được viết trên lập trường, quan điểm mácxít. Đó thực sự là một bản án, một văn kiện chính trị - pháp lý kết án tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa, bị áp bức ở Việt Nam và Đông Dương.

    Hai mươi năm sau, ngày 02/9/1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do chính Người soạn thảo tại Thủ đô Hà Nội, khai sinh nền cộng hòa dân chủ và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Tuyên ngôn Độc lập cũng đồng thời là tuyên bố “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã được thi hành, từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, từ sức mạnh quyền lực của Nhân dân. Năm 1925 cũng là năm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và giáo dục nhóm chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi trong “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản. Vào lúc này, Người đã trù tính trong Điều lệ và chương trình hành động của Hội là, sau này, khi cách mạng thắng lợi và đi vào kiến thiết chế độ mới nhất định ta sẽ áp dụng “Tân kinh tế chính sách của Lênin” (Chính sách Kinh tế mới - NEP). Đó là mầm mống đầu tiên để hình thành tư tưởng đổi mới và hội nhập của Hồ Chí Minh sau này.

    Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Đường kách mệnh” làm tài liệu huấn luyện về chiến lược và phương pháp cách mạng cho các lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Tác phẩm đã đặt nền móng tư tưởng - chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Đây cũng là tác phẩm lý luận đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, nhen nhóm các phong trào cách mạng. Đáng lưu ý là ngay mở đầu tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng lên hàng đầu, “Tư cách của người cách mệnh”. Đảng cách mạng không chỉ cần có lý luận tiên phong dẫn đường để làm tròn vai trò tiên phong của Đảng mà còn nhấn mạnh vào những điểm cốt yếu: làm cách mạng trước hết phải có Đảng lãnh đạo, với Đảng trước hết phải có chủ nghĩa dẫn đường. Đảng không có chủ nghĩa giống như người không có trí khôn, không có kim chỉ nam hành động. Chủ nghĩa, học thuyết nhiều nhưng chân chính cách mạng nhất, triệt để nhất thì chỉ có chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin). Đảng phải “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”. Đó là dự cảm đạo đức vô cùng sáng suốt của Người.

    Cuộc khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực sau hơn bảy thập kỷ tồn tại và sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ cuối thế kỷ XX đã chứng thực những dự cảm sáng suốt đó.

    Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ giai cấp và dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng ta giương cao ngọn cờ đoàn kết, đại đoàn kết, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Người viết thư kêu gọi toàn quốc đồng bào đoàn kết để “đánh tan thù chung”, “cứu giống nòi ra khỏi cảnh nước sôi lửa nóng”, giành độc lập tự do… dẫn đến Cách mạng tháng Tám, giải quyết đúng đắn mối quan hệ Thời - Thế - Lực trong thực tiễn cách mạng, năm 1945.

    Đó là một mẫu mực điển hình về tận dụng tình thế và thời cơ cách mạng, về xây dựng lực lượng và phát huy vai trò quần chúng Nhân dân trong sáng tạo lịch sử. Tầm nhìn chiến lược và tài năng tổ chức của Hồ Chí Minh trong những quyết định lịch sử tại Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội Tân Trào giữa tháng 8/1945, phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, tuyên bố độc lập trước khi quân đồng minh kéo vào Việt Nam cũng là một mẫu mực về sự kết hợp khoa học và nghệ thuật trong cách mạng giải phóng dân tộc, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

    Đó là những minh chứng về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể của Việt Nam của Hồ Chí Minh. Đây là một ví dụ kinh điển chứng minh giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, của Đảng ta và thiên tài tư tưởng, tổ chức của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

    Năm 1946, Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã gây dựng nền móng chế độ dân chủ cộng hòa, giải quyết những di sản mục nát của đế quốc thực dân, phong kiến để lại, chủ động đối phó với chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, dựa vào sức mạnh toàn dân và phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “trường kỳ kháng chiến”, “kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Trong thời kỳ 1946 - 1954, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam lại rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới là đế quốc Mỹ.

    Đảng ta đã kết hợp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, từ năm 1954 đến năm 1975, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thực hiện thống nhất Tổ quốc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, “đánh thắng hai đế quốc to” (chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của Pháp và chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ). Đó là bằng chứng lịch sử về sức sống, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng giải phóng và phát triển ở Việt Nam.

    Những sự kiện lịch sử từ năm 1975 tới nay, nhất là qua 35 năm đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1986 - 2021), vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, có lúc hiểm nghèo, Việt Nam đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, tiếp tục giữ vững phương hướng chính trị, hướng tới phát triển nhanh và bền vững. Đảng ta không chỉ trưởng thành về trình độ lý luận mà còn tỏ rõ bản lĩnh chính trị trong hơn 3/4 thế kỷ lãnh đạo và cầm quyền, để đưa Việt Nam tới cơ đồ và sự nghiệp như hiện nay.

    Thực tiễn đã chứng minh những khẳng định có tính nguyên tắc của Đảng trong các cương lĩnh, các văn kiện đại hội theo suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới là đúng đắn và sáng tạo.

    Thứ nhất, kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; với phương thức phát triển của Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là phương thức “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp” phù hợp với xu thế khách quan của lịch sử, của thời đại và với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam. Đổi mới mang tầm vóc cách mạng, có nguyên tắc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam.

    Thứ ba, đảm bảo vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam trước đây và trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

Trích - Sưu tầm

Phê phán luận điệu “Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là không phù hợp”

 

    Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Với trách nhiệm cao, việc làm thiết thực, các đơn vị Quân đội đã không ngừng tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mang tới bạn bè, nhân dân thế giới hình ảnh rất đẹp về Việt Nam, giúp tăng cường đoàn kết, sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, hòng phủ nhận ý nghĩa của hoạt động cao cả này, cần đấu tranh bác bỏ.

    Đối ngoại quốc phòng là một trong những chủ trương, nhiệm vụ quan trọng, trụ cột trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Thực hiện chủ trương này, từ tháng 6/2014, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc với hình thức cá nhân và đơn vị tại các phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA), Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) và trụ sở Liên hợp quốc (Hoa Kỳ), trên các lĩnh vực: tham mưu, y tế, công binh, v.v.

    Hình ảnh những chiến sĩ “mũ nồi xanh” của Quân đội nhân dân Việt Nam tại các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là đại diện cho trách nhiệm, tấm lòng của nhân dân Việt Nam, một dân tộc thấu hiểu hơn ai hết nỗi đau chiến tranh, muốn góp sức để gìn giữ hòa bình và cũng là thể hiện nghĩa tình, tri ân nhân loại tiến bộ trên thế giới dành cho Việt Nam trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây. Những đóng góp to lớn của lực lượng “mũ nồi xanh” Việt Nam được cộng đồng quốc tế, đặc biệt là nhân dân nước sở tại ghi nhận, đánh giá cao với tình cảm trân trọng đặc biệt đã góp phần tô thắm tinh thần quốc tế cao cả, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động lại ra sức xuyên tạc, hạ thấp vai trò lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ cho rằng: Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là không phù hợp, không mang lại lợi ích gì cho đất nước; gây tốn kém ngân sách, rủi ro cho lực lượng vũ trang; thậm chí có kẻ còn lớn tiếng rằng, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược nước khác, v.v. Cần khẳng định rằng, đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, xuyên tạc về hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Mục đích của những luận điệu đó là nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta; làm tổn thương hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, sai lệch bản chất và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm mất lòng tin, giảm uy tín của Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế. Đồng thời, nó gây ra sự nghi ngờ, bất an và thiếu trách nhiệm đối với một số người dân, tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của gia đình, người thân các quân nhân tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc.

    Chúng ta biết, cả về lý luận và thực tiễn tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định, đây là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, với những minh chứng sau:

    Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc một cách thận trọng và theo từng giai đoạn, dựa trên khả năng triển khai lực lượng, quản lý rủi ro và tiết kiệm tối đa chi phí trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách được nghiên cứu, hoạch định và chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ. Về công tác chuẩn bị pháp lý, Việt Nam đã cử các đoàn công tác liên ngành tìm hiểu, khảo sát thực tế tại Liên hợp quốc và các cơ quan gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; từ đó, đề ra chủ trương, quy định pháp luật, làm cơ sở thực hiện. Điều 89, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “… Hội đồng quốc phòng và an ninh quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở Việt Nam, khu vực và thế giới”; Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại kỳ họp thứ 10. Đó là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện truyền thống yêu chuộng hòa bình, trách nhiệm với thế giới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã thành lập Tổ công tác liên ngành, Bộ Quốc phòng thành lập Ban Chỉ đạo; thành lập Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam (năm 2014) và nay là Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam để triển khai nhiệm vụ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Như vậy, việc tham gia hoạt động này là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; có lộ trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp với lĩnh vực mà Việt Nam có đủ điều kiện, năng lực và nguồn lực để đảm bảo triển khai thành công. Bên cạnh đó, việc triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình là thực thi theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp cho hoạt động gìn giữ hòa bình, được Liên hợp quốc bảo đảm, hỗ trợ và có sự hỗ trợ của quốc tế, đã góp phần giảm đáng kể việc chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động này. Do vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc gây tốn kém ngân sách, gây rủi ro cho lực lượng vũ trang là hoàn toàn lạc lõng, sai trái.

    Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, do đó việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, nhân đạo và duy trì an ninh quốc tế theo chương trình của Liên hợp quốc là khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế cao cả của Việt Nam. Các lực lượng của Việt Nam tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chỉ tập trung vào các hoạt động vì mục đích hòa bình, nhân đạo và tái thiết, góp phần xây dựng hòa bình ở các quốc gia, khu vực, như: Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA), Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) đang gặp rất nhiều khó khăn do nội chiến và nạn đói triền miên. Việc này không chỉ là một nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, mà là một trong những minh chứng cam kết thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cũng góp phần nâng cao khả năng ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống; nâng cao hình ảnh, vị thế, tạo sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Quân đội, đất nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chỉ là “vác tù và hàng tổng, việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” là cách tiếp cận thiên kiến, phiến diện, không đúng sự thật, chỉ với dụng ý xấu mà thôi.

    Việt Nam luôn nhất quán tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại: không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác và luôn tôn trọng nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, như đã được ghi trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”1. Việt Nam đã từng là nạn nhân của chiến tranh xâm lược và hiểu rõ những hậu quả và đau thương của chiến tranh. Do đó, Việt Nam luôn đề cao giá trị hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc quốc tế; những hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc hoàn toàn phù hợp với các quy định của Liên hợp quốc, luật pháp Việt Nam và không có mục đích gì khác.

    Thực tế đã minh chứng, từ khi chính thức tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Quân đội ta trong hoạt động này là tham gia tích cực vào các nhiệm vụ tái thiết, duy trì hòa bình và hỗ trợ nhân đạo. Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi các đơn vị: bệnh viện dã chiến, đội công binh đến tham gia vào các nhiệm vụ khắc phục hậu quả xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình của Liên hợp quốc tại nhiều khu vực ở Châu Phi còn nhiều khó khăn, bất ổn. Các đơn vị y tế của Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình y tế nhân đạo, cứu trợ thiên tai, cứu hộ, hỗ trợ người dân vùng nông thôn nghèo khó và các trẻ em mồ côi, tàn tật; đồng thời, tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng cho nhân dân bản địa, giúp giảm bớt nghèo đói, cải thiện điều kiện sống và góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng và công bằng. Sự đóng góp của những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam được Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao, “là hình mẫu” cho nhiều nước khác. Tỷ lệ sĩ quan Việt Nam đạt xuất sắc và đặc biệt xuất sắc là trên 30%, trong khi đó tỷ lệ bình quân của Liên hợp quốc chỉ là 01% - 02%. Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình - Jean Pierre Lacroix đã phát biểu: “Những hoạt động Việt Nam tiến hành gần đây nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động gìn giữ hòa bình rất đáng làm hình mẫu cho nhiều nước khác bởi Việt Nam đã tích cực hợp tác với các đối tác liên quan để đào tạo quân sự; đồng thời, tìm ra những phương thức tốt hơn để có thể đảm bảo hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình của mình đạt hiệu quả tốt nhất”. Tại phái bộ MINUSCA, Trung tướng Daniel Traore, Chỉ huy trưởng lực lượng quân sự Phái bộ khi trao tặng giấy khen cho Trung tá Nguyễn Thị Liên đã nói: “Lòng nhân từ, bác ái và thiện chí của cô thể hiện những giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc. Cô xứng đáng là Đại sứ tuyệt vời của Việt Nam”. Sự thực trên bác bỏ mọi luận điệu sai trái, phản khoa học, không có căn cứ của các thế lực thù địch, nhằm cố tình hạ thấp uy tín của Quân đội, xuyên tạc đường lối đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta.

    Trong tình hình quốc tế hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lực lượng giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc không chỉ thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các nước, mà còn đóng góp hiệu quả, thiết thực cho hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; khẳng định một Việt Nam có trách nhiệm, nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình và có ý thức về nghĩa vụ cao cả, khát vọng của mọi người dân trên toàn thế giới được sống trong hòa bình, ổn định, an toàn và thịnh vượng. Đồng thời, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình “bóp méo” đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Sưu tầm

Làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch

 

    Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là biểu hiện tập trung những phẩm chất ưu tú của người quân nhân cách mạng, một giá trị văn hóa - đạo đức của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Những phẩm chất đó được xây đắp từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ; được các thế hệ lưu truyền, kế tục và phát huy. Song, với âm mưu thâm độc, nhằm thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch mưu toan xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; nhưng, mọi xuyên tạc của chúng đều trở nên vô ích và sẽ bị phá sản.

    Nhận thấy bản chất, sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và sức “hấp dẫn”, sự lan tỏa những giá trị tốt đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế lực thù địch càng điên cuồng chống phá. Họ coi việc xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hướng “đột phá” trong mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội, hòng làm suy yếu, biến chất Quân đội nhân dân Việt Nam. Không chỉ công kích vào những vấn đề cơ bản về nguồn gốc, bản chất, họ còn tập trung chống phá những nội dung cấu thành, các giá trị cốt lõi của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện trong các mối quan hệ cơ bản của Quân đội, nhất là trong quan hệ với nhân dân, với Đảng; gắn với thực tiễn hoạt động các cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, chiến sĩ cả trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ và xử lý các mối quan hệ trong cuộc sống đời thường. Họ ra sức rêu rao rằng, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” là do chúng ta “tự gán ghép”, không phải là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Lợi dụng sự vi phạm pháp luật, kỷ luật, hình ảnh, hành động thiếu mẫu mực của một số ít quân nhân, các thế lực thù địch ra sức tô vẽ, phù phép, cường điệu hóa với những luận điệu, như: “Quân đội đã hư hỏng, thoái hóa, biến chất”, “Quân đội không còn gắn bó máu thịt với nhân dân”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”,… rồi lu loa trên các phương tiện truyền thông, nhất là trên Internet, mạng xã hội nhằm chia rẽ Quân đội với nhân dân, với Đảng, vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

    Âm mưu, chiêu trò này thực sự nguy hiểm khi nó hủy hoại, làm suy yếu, biến chất Quân đội ta một cách “êm thấm”, thực hiện “đánh gục” Quân đội mà “không có tiếng súng”. Điều đó dễ làm cán bộ, chiến sĩ hoài nghi, dao động về tư tưởng, tình cảm, giảm sút niềm tin đối với những giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và bản chất của Quân đội; tạo ra sự “lệch chuẩn” trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ; dễ dẫn đến tha hóa về đạo đức, lối sống. Lâu dần sẽ làm Quân đội ta bị rệu rã về tổ chức, mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

    Mục đích thâm hiểm của chúng là vậy nhưng không dễ để đạt được. Bởi lẽ, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa - chính trị - đạo đức cao đẹp đã được khẳng định và ngày càng tỏa sáng trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta trong gần 80 năm qua cũng như trong đời sống tinh thần của đất nước. Đó là “báu vật” mà nhân dân đã trao cho Quân đội, không ai có thể phủ nhận hay xuyên tạc. Trong khi nói bừa “Bộ đội Cụ Hồ” là danh từ “tự gán ghép”, không phải là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân thì các thế lực thù địch đã tự vả vào mặt mình khi lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, rằng: cán bộ, chiến sĩ hiện nay không còn xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” nữa, v.v. Sự mâu thuẫn đó đã nói lên sự chống phá của chúng là chiến dịch của những ý tưởng phản động về chính trị, bóp méo sự thật, phản khoa học và sự phá sản là kết cục không thể tránh khỏi.

    Mặc dù, một số cán bộ, chiến sĩ có lúc, có nơi, có lời nói và hành động làm ảnh hưởng đến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, Quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội,... nhưng, điều đó tuyệt nhiên không làm cho những giá trị của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” mất đi, mà ngược lại, khi những “con sâu” ấy bị loại bỏ, sẽ càng khẳng định Quân đội ta không dung thứ cho những hành vi đi ngược lại phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Và qua đó, giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng lan tỏa tích cực không chỉ trong Quân đội, mà cả trong đời sống tinh thần xã hội; phản ánh sâu sắc bản chất, tính chất cao đẹp, sức sống mạnh mẽ và sức hấp dẫn to lớn của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong đời sống hiện thực.

    Đấu tranh làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch là nội dung trọng tâm, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong “cuộc chiến trong thời bình” của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội ta hiện nay. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, chúng ta phải thực hiện tổng thể nhiều nội dung, biện pháp; trong đó, tập trung làm tốt những nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, đề cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch. Mọi biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, hoặc mắc sai lầm đối với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội ta nói chung, sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” nói riêng đều rất nguy hiểm, sẽ khiến chúng ta phải “trả giá”. Do đó, trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào, cũng phải đề cao cảnh giác, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong đấu tranh. Tuy nhiên, tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh phải trên cơ sở nhận rõ thực chất những luận điệu xuyên tạc và tính chất nguy hiểm, tác hại của sự xuyên tạc đó. Không thể đánh đồng hiện tượng vi phạm kỷ luật, sự suy thoái, tha hóa về đạo đức, lối sống của một số cán bộ, chiến sĩ với sự xuyên tạc, chống phá, hạ thấp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch, tuy giữa chúng có quan hệ với nhau nhất định; càng không thể nhầm lẫn những hiện tượng đó với bản chất tốt đẹp của Quân đội ta và giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Muốn đấu tranh có hiệu quả, không chỉ hô hào khẩu hiệu chung chung, mà nhất thiết phải tổ chức tốt việc đấu tranh ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; thường xuyên bồi dưỡng lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và dũng khí đấu tranh.

    Thứ hai, quán triệt sâu sắc quan điểm và phương châm tích cực, chủ động trong đấu tranh. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực, chủ động “đấu tranh” làm phá sản mọi luận điệu xuyên tạc với việc “giữ vững, nâng cao và phát huy” phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; lấy “giữ vững, nâng cao và phát huy” là chính, tích cực chủ động “đấu tranh” là quan trọng. Kiên quyết khắc phục những biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung. Phải vạch rõ bản chất phản động, phản khoa học và tính chất nguy hiểm, những tác hại của những luận điệu xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Đồng thời, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý chặt chẽ việc sử dụng, tham gia hoạt động trên Internet, mạng xã hội của mọi quân nhân; nắm bắt tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ. Kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính, tự phê bình và phê bình; kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin xấu độc, xuyên tạc.

    Thứ ba, đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1, thực hiện tốt việc “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”. Trên cơ sở đó, tạo nên sự vững vàng, nhạy bén về tư tưởng, chính trị cho cán bộ, chiến sĩ; gia tăng sức “đề kháng” và khả năng “miễn dịch“tự bảo vệ”, ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động bởi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

    Thứ tư, phát huy tinh thần tự giác, nỗ lực phấn đấu, nêu gương của cán bộ, chiến sĩ. Tinh thần tự giác, nỗ lực phấn đấu, nêu gương trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của cán bộ, chiến sĩ là động lực và sức mạnh to lớn làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch. Việc giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cũng như việc đấu tranh làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phụ thuộc quyết định vào cán bộ, chiến sĩ nhận thức và hành động như thế nào, thể hiện cụ thể trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường ra sao. Mọi sự “đổ lỗi” cho hoàn cảnh khách quan nhằm biện minh cho sự suy thoái về đạo đức, lối sống, sự suy giảm hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” của cán bộ, chiến sĩ đều là không đúng và cần phải loại trừ. Trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải thực sự yêu mến, kính trọng nhân dân; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ, giúp đỡ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời, vận động, thuyết phục nhân dân tham gia cách mạng, ủng hộ, giúp đỡ Quân đội; giữ nghiêm kỷ luật quan hệ với nhân dân, thực hiện tốt “đi dân nhớ, ở dân thương”, “không đụng đến cái kim, sợi chỉ của nhân dân”, v.v. Trong đó, cần đặc biệt nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị các cấp phải thực sự là tấm gương mẫu mực, trong sáng về tự tu dưỡng, rèn luyện và tiêu biểu trong đấu tranh bảo vệ giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

 Sưu tầm

Không thể cứ mãi chạy theo "Đường lưỡi bò"

 

    Hình ảnh "đường lưỡi bò" phi pháp của Trung Quốc hết chui vào rạp chiếu phim, lại chui vào một chiếc xe ô tô trong triển lãm và mới nhất còn chui cả vào một giáo trình giảng dạy ở một trường đại học của chúng ta.

    Dĩ nhiên sau đó tất cả những vụ việc này đều đã bị các cơ quan chức năng xử lý, nhưng nó đặt ra một vấn đề nhức nhối: Chẳng nhẽ chúng ta cứ "chạy theo đuôi" và chỉ có thể xử lý sau khi "sự đã rồi" mãi sao?

    Từ câu chuyện về một bộ phim hoạt hình, một chiếc xe ô tô nhập khẩu đến một cuốn sách được sinh viên mang về từ Trung Quốc chúng ta thấy rất rõ 2 vấn đề: Một, ý thức chính trị của tất cả những thành viên liên quan đến những câu chuyện này là chưa tốt; Hai, các Hội đồng kiểm duyệt, các đơn vị nhập khẩu, trưng bày dù đều có nhiều "cửa" với nhiều "con mắt" kiểm tra giám sát nhưng đều hoạt động chưa hiệu quả.

    Nếu không sớm tìm cách cải thiện hai vấn đề này thì chỉ sợ là sau một bộ phim, sau một chiếc xe ô tô, sau một giáo trình, những hình ảnh và những tuyên truyền phi pháp kiểu như "đường lưỡi bò" lại có thể tinh vi chui vào những ngóc ngách mà chúng ta chưa lường đến.

    Xin được nhắc đi nhắc lại rằng "đường lưỡi bò" hay còn gọi là "đường 9 đoạn" là một sự tưởng tượng của Trung Quốc để đòi chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ, quyết liệt của cộng đồng quốc tế.

    Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện những đòi hỏi vô lối này trên nhiều lĩnh vực khác nhau, và sẽ sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau để phục vụ cho ý đồ phi pháp của mình. Không chỉ tuyên truyền trong nước, Trung Quốc còn phát hành các ấn bản có “đường lưỡi bò” ra quốc tế nhằm ngấm ngầm tạo ra “sự đã rồi”, đánh lừa dư luận. Thành thử trên mặt trận văn hoá, chỉ cần lơ là thiếu cảnh giác một chút thôi là chúng ta sẽ lập tức phải "chạy theo" những tuyên truyền vô lối của họ. Sau tất cả những gì đã diễn ra, chúng ta hiểu rằng: đã đến lúc không thể cứ mãi "chạy theo" và xử phạt khi mọi sự rơi vào thế "đã rồi" được nữa.

    Đã đến lúc phải tự vệ một cách chủ động, và đủ sự tinh vi, để không rơi vào những sự cài cắm giống như những cái bẫy cũng hết sức tinh vi. Mọi người dân trong nước và kiều bào Việt Nam cần nhận diện và đấu tranh, làm cho thế giới cũng như người dân Trung Quốc biết rõ sự thật. Cần thiết, chính phủ có hẳn một chế tài nhằm ngăn chặn các hành vi tương tự, buộc tất cả các đối tượng đang sinh sống tại Việt Nam cũng như đến làm ăn với chúng ta phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam./.

Sưu tầm

Chủ tịch Hồ Chí Minh - biểu tượng của tinh hoa và khí phách dân tộc Việt Nam

 

    Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói đến biểu tượng của tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Tất cả những gì tốt đẹp nhất của dân tộc ta trong hàng nghìn năm lịch sử đều được kết tinh, hun đúc, sống dậy, tràn đầy sức mạnh hơn bao giờ hết trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, trong thời đại Hồ Chí Minh.

    Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa những giá trị tinh thần cao quý như độc lập, tự do, hạnh phúc; loại bỏ bất công, bất bình đẳng trong xã hội; đem lại hòa bình và công lý, một thế giới mới chống lại đói nghèo, bệnh tật, dốt nát.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa yêu nước là thứ của quý, động lực tinh thần lớn nhất cho cách mạng, kháng chiến và xây dựng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước “có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống không phải bằng lý luận, sách vở thuần túy mà chủ yếu thông qua thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người sử dụng liên tục chủ nghĩa yêu nước như một vũ khí và rèn luyện vũ khí ấy ngày càng sắc bén trong trường kỳ cách mạng và kháng chiến. Người chỉ rõ: “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh kéo dài hàng nghìn năm đã nhào nặn tâm hồn Việt Nam, đạo lý và khí phách Việt Nam. Chúng ta tự hào về một dân tộc rắn rỏi, kiên trung, hiên ngang, có tinh thần độc lập tự chủ, lạc quan, sáng tạo, thương người, chính nghĩa, đại nghĩa, trước “sóng cả không ngã tay chèo”.

    Những giá trị đó có từ ngàn xưa, được vun bồi, kết tinh, sống dậy trong Hồ Chí Minh, phát sáng hào quang. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do; là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính nhân đạo, tượng trưng cho tinh thần của dân tộc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Để khởi nghĩa thắng lợi, Người khái quát và nâng cao tinh thần, khí phách của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” và cuối cùng Việt Nam đã giành được độc lập.

    Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một trong các tiền thân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay. Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 đã mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi con người Việt Nam và đây là nguồn động viên lớn để khơi dậy lòng nhiệt huyết của thế hệ hôm nay quyết giữ vững nền độc lập tự do, như Bác Hồ đã từng nói: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt vời về nhiệt tình, chí khí cách mạng kiên cường, khí phách anh hùng, tinh thần độc lập tự do, một lòng kiên trì cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, lâu dài, phức tạp, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thắng không kiêu, bại không nản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.

    Bên cạnh đó, thế giới đã khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản theo Chủ nghĩa quốc tế, đồng thời tượng trưng cho dân tộc mình. Một dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thời cổ trung đại đến cận hiện đại đã tiến hành liên tục các cuộc đấu tranh anh hùng để bênh vực những giá trị đạo đức cao cả, chân chính không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại. Đó là quyền sống, độc lập, tự do, hạnh phúc, công lý cho mọi dân tộc và vì mọi người, bình đẳng giữa các dân tộc, thế giới hòa bình. Câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã vang vọng khắp mọi nơi trên toàn thế giới hưởng ứng./.

Sưu tầm