Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

 

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không.

Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng giảm.

Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao, có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.

Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm...

Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng điểm.

Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.

Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới. Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.

Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách.

Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội.

Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng.

Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.

Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

CÁN BỘ LÀM GÌ HAY KHÔNG LÀM GÌ

Trong văn chương thường hiểu từ theo ngữ cảnh, nhiều khi một từ đứng riêng độc lập ta không thể hiểu sát và đúng nghĩa; trong một ngữ cảnh cụ thể thì ngữ nghĩa của từ sẽ rõ hơn.

Câu hỏi: cán bộ làm gì hay không làm gì?.., có lẽ cũng có "ngữ cảnh" tương tự. Khi đặt vấn đề giảm biên chế hay định phân công thêm cho ai nhiệm vụ mới, rõ ràng trong rất nhiều trường hợp, cán bộ sẽ đều kêu lên: Tôi đang làm giở việc nọ, việc kia, công việc của tôi đang quá tải... Bởi vậy, chọn người để giảm thì có thể làm được, vì nếu không cùng cánh, không "con ông - cháu cha" thì "cắt phạch" một cái là mai gút-bai (goodbye) nghỉ việc. Nhưng để giao được nhiệm vụ mới cho người còn ở lại... e ra không dễ. Trong trường hợp này xác định cán bộ làm gì hay không làm gì?... có lẽ không đơn giản! Đó là ngữ cảnh thứ nhất.

Mới đây, trên internet lại có tin, theo số liệu điều tra của phòng tư pháp huyện Quốc Oai, trên tổng số 1,2 vạn người đã mất trong vòng 50 năm qua có tới 4.383 trường hợp chết mà không khai báo, làm giấy chứng tử. Vậy, tất cả số người đã chết này vẫn nằm trong hộ khẩu, là vẫn còn sống, nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của họ gần như nằm ngoài vòng quản lý của luật pháp... Chuyện cứ như đùa, nhưng lại là có thật ở ngay sát nách Hà Nội.

Trước phát hiện trên, một ông cán bộ cơ sở giải thích ngon lành: "Về khai sinh thì không ai "quên" cả vì khai sinh muộn sẽ bị phạt, còn khai tử thì nhiều người dân cho rằng họ chẳng được quyền lợi gì, đi đăng ký mất công mất buổi nên không ai để ý". Tôi chợt nghĩ, có lẽ luật về vấn đề này nên bổ sung: "ai cũng phải đăng ký khai tử trước khi chết"... may ra mới giải được vấn đề chăng!. Trong ngữ cảnh này, có lẽ cán bộ đã không làm gì, cho dù không loại trừ cả chuyện có trường hợp chính cán bộ cũng đã tham gia vào đoàn người đưa ma những người đã chết mà người nhà không khai báo đó.

Lại chuyện nữa, ngay trong một quận nội thành hẳn hoi, ông bạn tôi có cậu con trai sinh năm 1997, đầu năm 2010 bố con nhận được giấy triệu tập khám sức khỏe để làm nghĩa vụ quân sự. Dấu son đỏ của Ban Chỉ huy quân sự quận hẳn hoi. Nhận được giấy báo đó, cả nhà được một phen lăn ra cười "thằng cu con đi bộ đội". Nhưng ông bố, vì hiểu chút pháp luật hơn nên nghĩ sâu xa. Nếu không đi khám là chống lệnh nghĩa vụ quân sự. Chống lệnh nghĩa vụ quân sự là vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là có thể bị tước quyền công dân... như chơi. Đừng để có quyết định của tòa án rồi mới kiện thì có mà "kiện củ... khoai", có thắng được thì cũng rất tốn kém. Thôi đành lo trước khi "nước đến trôn" vậy!

Ông đành đi kêu. Gọi lên Ban Chỉ huy quân sự quận thì được trả lời rằng, chúng cháu viết giấy gọi là theo báo cáo từ tổ dân phố về số nam thanh niên đến tuổi. Ông bạn tôi "ngoặc" lại, nhưng con tôi chưa đến tuổi, chính quyền lại quản lưu khai sinh của từng con người theo hộ khẩu tại sao lại sai lệch như vậy. Trả lời rằng, số liệu khai sinh bên công an nắm, Ban Chỉ huy quân sự quận không nắm bác ạ!. Ông bạn tôi về hỏi Tổ trưởng dân phố. Câu trả lời là: Đúng rồi! Con bác làm gì đã đến tuổi, - một cách thản nhiên. Nhưng câu sau mới là câu chốt: Việc này cô tổ phó làm, tôi không nắm được.

Ông bạn tôi lại sang gặp cô Tổ phó tổ dân phố. Sau một hồi trình bày của ông bố đương sự, thì câu trả lời là: à thế à, tao tưởng (nói rất chân tình) con nhà mày đến tuổi rồi, vì thấy nó lớn lớn!". Trong ngữ cảnh này, có lẽ bạn đọc cũng như chính tác giả bài này, thiết nghĩ cán bộ không làm gì..., có khi lại còn tốt hơn!

Hệ thống quản lý đã được xây dựng quy mô từ Trung ương đến thôn, bản, làng và tổ dân phố. Ngõ nào cũng có tổ dân phố quản, xóm nào cũng có trưởng thôn quản, đảng viên thì đều có khắp cả các đầu làng - cuối phố. Thế mà khâu quản lý con người lại để xảy ra những chuyện đáng tiếc như vậy.

Cơ sở mà như vậy, thử hỏi, có công minh? Chúng ta hoàn toàn có thể làm một phép suy diễn, đại loại như câu chuyện đến tuổi rồi mà bà tổ dân phố lại "cảm thấy" còn nhỏ chưa đủ để thực hiện nghĩa vụ quân sự thì sao đây!?. Chưa nói rất có thể còn có nhiều chuyện "lắt léo" khác! Không chừng...

 

CÁC CĂN BỆNH LÀM HAO PHÍ NHÂN TÀI, LÀ MỐI NGUY HẠI CHO ĐẢNG, CHO CHẾ ĐỘ

Khi bàn về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh di huấn, căn dặn rất nhiều điều, trong đó Người đặc biệt lưu ý: Phải tránh bệnh hẹp hòi; xu nịnh; óc bè phái trong sử dụng nhân tài. Bởi, nếu có những bệnh này sẽ là mối nguy hại cho Đảng, cho chế độ.

Biểu hiện của bệnh "Hẹp hòi": "Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng". Đó là "Óc hẹp hòi... Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi".

Căn bệnh này trầm kha ở một bộ phận cán bộ có chức, có quyền nhưng còn hạn chế về đạo đức cách mạng, "chữ tâm" chưa được rèn giũa. Người có suy nghĩ, lòng dạ hẹp hòi thường làm việc gì cũng chỉ nghĩ cho bản thân, chỉ đặt lợi ích bản thân lên trên hết, lên trên lợi ích tập thể, sẵn sàng chà đạp lên người khác, lợi dụng lòng tốt của mọi người để tư lợi cho bản thân. Chính vì vậy, hẹp hòi chính là một trong những điều đại kị đối với tâm tính của con người, nhất là đối với người cách mạng.

Biểu hiện của "Bệnh xu nịnh": Có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái". Khi nói về thói hư tật xấu này, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong cách huấn luyện cán bộ cần tránh "tám điều xấu": trong đó, "Chán ghét người hiền tài; Hay nghe lời xu nịnh" là hai trong số tám điều đó.

Theo Người, thói xu nịnh sẽ làm hư hỏng con người, hư hỏng cán bộ và hư hỏng cả thể chế. Khi kẻ xu nịnh được ưu ái, trọng dụng, thì họ sẽ tận dụng triệt để cơ hội để xoáy tiền của Nhà nước, đục khoét của dân; ton hót, nói xấu nhằm hạ bệ những người ngay thẳng, gây nên sự nghi kỵ trong tổ chức, đơn vị, cơ quan, đó là nguyên nhân dẫn đến chia rẽ mất đoàn kết. Khi những kẻ xu nịnh được trọng dụng, đồng nghĩa những người ngay thẳng ít có cơ hội tiến thân hơn, điều này cực kỳ nguy hại cho tổ chức.

Biểu hiện của bệnh "Óc bè phái": "Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm".

"Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình".

Theo Hồ Chí Minh, tất cả những thói hư tật xấu trên là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân mà nguyên nhân chính là "Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ "chí công vô tư", một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ. Ở những nơi có những biểu hiện đó thì bầu không khí chung luôn có sự bất an, luôn có sự so bì, tị nạnh, không có sự sẻ chia, đồng cảm, không có đoàn kết thực sự bền vững. Ở đó, người tốt, người tài, người trẻ dám nghĩ, dám làm, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ dễ bị ghen ghét đố kỵ, thậm chí bị đặt điều, nghi ngờ, bị vùi dập, dẫn đến mất niềm tin cũng như động lực phấn đấu cống hiến.

 

NHẬN DIỆN ĐÚNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HỆN NAY


 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã và đang diễn ra ở nước ta và là một trong những vấn đề đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của dân tộc, của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như sự lãnh đạo của Đảng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra một cách âm thầm trong mỗi cá nhân, con người cán bộ, đảng viên, khó nhận thấy. Vì thế, nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên cần tập trung và hướng đến cách thức phòng, chống là cơ bản.

Một là, nhận diện đúng nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay.

Về nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên mang tính tổng hợp, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính. Sự xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên là do tác động từ khách quan, bên ngoài, đặc biệt là từ mặt trái cơ chế, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự mua chuộc, lôi kéo, v.v., của các thế lực thù địch hoặc những người mất mãn chính trị, v.v.. Vốn từ cái khách quan tác động, mà chủ quan của cán bộ, đảng viên không đủ sức đẩy lùi, loại bỏ diễn ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Không ít cán bộ, đảng viên vốn là trung kiên cách mạng trong chiến tranh, trong gian khổ, hết lòng vì Đảng, vì dân, nhưng trước tác động từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường không cưỡng lại được và rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cống hiến được bao nhiêu, nhưng với mục đích, động cơ cá nhân chủ động thực hiện tham nhũng, tiêu cực…và trượt dài, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cũng có những trường hợp, cán bộ, đảng viên bị lôi kéo, thậm chí là bị khống chế, đe dọa khi đã vướng vào đường dây tham nhũng và cũng trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trường hợp Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) nhận hối lộ 253 lần với tổng số tiền là 42,6 tỷ đồng là một ví dụ điển hình của sự suy thoái, tha hóa, biến chất người cán bộ, đảng viên.

Với các nội dung trên cho thấy nguyên nhân chủ quan là chủ yếu và tập trung nhất là ở động cơ chạy theo lợi ích cá nhân. Bởi vì, tác động từ khách quan đến tất cả cán bộ, đảng viên, nhưng không phải ai cũng bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những cán bộ, đảng viên không vượt lên, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, sự cám dỗ của lợi ích cá nhân; coi lương tâm, danh dự là dẻ mạt thì sẽ trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, cách thức phòng, chống cũng tập trung vào giải quyết vấn đề nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trong đó suy đến cùng là vấn đề gạt bỏ lợi ích cá nhân, ham muốn vật chất tầm thường.

Hai là, nhận diện đúng hiện tượng và bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay là phản ánh tính chất đấu tranh gay go, phức tạp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở lĩnh vực tư tưởng chính trị, văn hóa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra bên trong mỗi của cán bộ, đảng viên một cách “thầm kín, khó nhận thấy” do được che giấu, ngụy trang che mắt rất kỹ. Giữa “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất. Hai mặt này quan hệ với nhau với nghĩa là cùng trong quá trình vận động. Sự khác nhau là ở “tự diễn biến” phải đến một mức độ nhất định mới xuất hiện “tự chuyển hóa”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”.

Bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh giằng xé rất quyết liệt để giải quyết mâu thuẫn bên trong bản thân họ. Mâu thuẫn giữa giữ vững lương tâm trong sáng, danh dự với chấp nhận đánh mất danh dự mâu thuẫn giữa kiên định giữ vững mục tiêu, lý tưởng là cống hiến cho Đảng, cho nhân dân với chấp nhận xa rời, từ bỏ lý tưởng sống; mâu thuẫn giữa giữ vững, phát huy vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ, cống hiến của người công bộc của dân (cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh) với sự cám dỗ của hưởng thụ, sa đọa. Những mâu thuẫn trên trong tính chỉnh thể thống nhất và cùng là biểu hiện mâu thuẫn cơ bản giữa lợi ích xã hội, tập thể, cộng đồng với lợi ích cá nhân như trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng đã xác định: “Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen…vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân”.

Ba là, nhận diện quá trình vận động từ thay đổi dần về lượng đến thay đổi về chất của “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là quá trình vận động đi từ thấp lên cao. Quá trình đó đi từ sự đơn giản trong nhận thức đến sự thỏa hiệp, nhượng bộ; đến động cơ có tính chủ đích vì lợi ích cá nhân; đến hành vi suy thoái, thậm chí là làm tay sai cho các thế lực thù địch phản lại Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quá trình vận động của  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Quá trình này đi từ đơn giản trong nhận thức về nhận quà biếu; ăn chia vặt đến chủ động liên thủ giữa các thành viên thực hiện lợi ích lớn hơn và hình thành “thói quen nhận phong bì”, bảo vệ lợi ích nhóm có chủ đích bằng các hình thức khác nhau và đến bị ràng buộc “cùng thuyền”, “có lợi mới làm” trong thực hiện tham nhũng.

Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lĩnh vực chính trị, xã hội thường bắt đầu từ chạy cấp, chạy chức, chạy nơi công tác, thậm chí chạy bằng, cấp đào tạo đến tham nhũng quyền lực và đến thực hiện lợi ích cá nhân bù đắp lại những chi phí tiêu cực trước đó. Ngoài ra, còn biểu hiện từ sự mất mãn chính trị, sự kèn cựa, đố kỵ cá nhân đến bắt mối, tiếp tay với những người tiêu cực, thậm chí còn tiếp tay cho thế lực thù địch để chống chế độ xã hội chủ nghĩa, chống Đảng, Nhà nước.

Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở lĩnh vực tư tưởng, văn hóa thường đi từ đơn giản trong tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội đến sự hoài nghi, dao động trong tư tưởng đến tiếp tay tuyên truyền không công cho địch bằng cách nói xấu Đảng, chế độ,v.v và đến bị ràng buộc, bị khống chế làm việc cho thế lực thù địch chống chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, nhận diện, đánh giá đúng tính chất phức tạp, nguy hiểm của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất khó phát hiện ra. Khi phát hiện ra thì quá muộn, bắt buộc phải xử lý theo đúng pháp luật của Nhà nước; kỷ luật của Đảng. Vì thế “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất nguy hiểm, một trong những nội dung then chốt của nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam; của sự nghiệp đổi mới; sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tổng hợp những nội dung trên tạo nên đặc điểm cũng như tính chất phức tạp của quá trình vận động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Mặc dù điểm xuất phát cho quá tình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khác nhau, nhưng đều bắt đầu từ nhận thức đến tình cảm, thái độ, niềm tin bị phai nhạt, đến hành vi tiêu cực, tham nhũng thực hiện lợi ích cá nhân, thậm chí là chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

 

CẨM NANG VÔ GIÁ CỦA CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng và là lãnh tụ đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức. Khi định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, Người đã đặt đạo đức lên hàng đầu và coi đạo đức là đặc trưng bản chất của Đảng.

Từ khi xã hội loài người hình thành thì đạo đức xã hội đã xuất hiện nhưng đạo đức mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là đạo đức mới-đạo đức cách mạng, tức là đạo đức của người cách mạng và đạo đức để phụng sự cách mạng. Với quan niệm “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề này trong rất nhiều bài viết và có riêng hai bài viết đều mang tên “Đạo đức cách mạng” (tháng 6-1955 và tháng 12-1958).

Tuy nhiên, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” được Người viết dưới bút danh Trần Lực và in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) cách đây tròn 65 năm, là tác phẩm tập trung đầy đủ nhất những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.

Vào thời điểm năm 1958, miền Bắc đang trong giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa để chuẩn bị bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà đang bị Mỹ- Diệm ra sức phá hoại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam-những nhiệm vụ cách mạng vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc vào thời điểm đó đều phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức. Tình hình đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải phát huy tinh thần hy sinh, gương mẫu, giữ vững đạo đức cách mạng.

Tuy nhiên, một số cán bộ, đảng viên “lầm tưởng rằng miền Bắc không còn thực dân và phong kiến nữa, thì tức là cách mạng thành công rồi. Do đó mà họ để chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi”, “không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ”. Những biểu hiện, diễn biến đó nếu không ngăn chặn sẽ làm Đảng suy yếu, làm nhân dân mất lòng tin vào Đảng và chế độ. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” để mỗi tổ chức đảng và đảng viên nhìn nhận, soi xét, sửa mình, tu dưỡng, phấn đấu sao cho xứng đáng với tư cách của người cách mạng.

Là người có tư duy hệ thống, Hồ Chí Minh bàn về đạo đức cách mạng một cách rất toàn diện.

Trước hết, Người nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức cách mạng. Với sự trải nghiệm của một nhà cách mạng lão luyện, Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

Đạo đức cách mạng giúp cho người đảng viên đúng mực trong mọi hoàn cảnh, thắng không kiêu, bại không nản; gặp những thử thách khốc liệt của hoàn cảnh thì sẵn sàng hy sinh thân mình để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân và Tổ quốc. Lịch sử của Đảng đầy vinh quang và Đảng thu phục được lòng dân là nhờ có những chiến sĩ cách mạng như thế.

Tuy nhiên, trong mỗi con người, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân luôn song hành tồn tại; cái nào yếu thì cái đối lập sẽ thắng thế. Nếu đảng viên không giữ được đạo đức cách mạng thì chủ nghĩa cá nhân “sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và thải loại người cách mạng khỏi vị trí cao quý của người chiến sĩ tiên phong.

Sự suy thoái không có điểm dừng; khi không còn nhiệt huyết đi đầu, tất yếu họ trở thành những người lừng chừng, chậm tiến và “dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”, trở thành kẻ phản bội lại tổ chức. Ngay cả khi vẫn đi theo Đảng, nếu người cán bộ không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân, bởi nhân dân chỉ tin yêu những người có đạo đức thực sự và đủ sự tinh tường để nhận ra ai có đạo đức thực sự. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, đạo đức của mỗi cá nhân không còn là “tư đức” mà là vấn đề “công đức” bởi gắn với đó là uy tín của chính thể, lòng tin của dân.

Với tư duy khoa học, Hồ Chí Minh quan niệm: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc”, tức là phải có định hướng rõ ràng về tiêu chí, chuẩn mực. Chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên thực chất là các giá trị đạo đức cộng sản đã được cụ thể hóa vào Việt Nam và trở thành cái để phân biệt người đảng viên với đông đảo quần chúng.

Việc xác định các chuẩn mực đạo đức cách mạng là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi đó chính là hình mẫu con người đại diện cho lý tưởng cộng sản, cho chế độ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước đang xây dựng. Để cán bộ, đảng viên có phương hướng phấn đấu, Hồ Chí Minh chỉ ra các biểu hiện cơ bản của đạo đức cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải là “sáo ngữ” mà là những hành động rất cụ thể: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”-đây là điều chủ chốt nhất; là “ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”; là “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”; là “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Đạo đức cách mạng còn là hòa mình với quần chúng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, làm gương cho quần chúng và làm cho quần chúng tin yêu.

Nói một cách ngắn gọn nhất: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, là không cúi đầu trước mọi kẻ địch, mọi khó khăn, gian khổ; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao; toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đạo đức cách mạng của từng đảng viên làm nên đạo đức của toàn Đảng và uy tín của Đảng trước dân tộc.

Nếu trí tuệ con người ít nhiều có yếu tố bẩm sinh thì đạo đức là một sự lựa chọn giá trị sống. Sự tu dưỡng đạo đức cách mạng hoàn toàn không dễ dàng; ngược lại, quá trình ấy không khác gì “gạo đem vào giã bao đau đớn”. Để giúp các tổ chức đảng và đảng viên có phương hướng thực hiện, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng.

Muốn giữ vững đạo đức cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên phải kiên trì tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ căn bệnh “mẹ” đẻ ra “trăm thứ bệnh nguy hiểm”. Hồ Chí Minh kết luận: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Tuy nhiên, Người luôn nhắc nhở: Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là “giày xéo” lên cá nhân; ngược lại, phải tạo điều kiện để mỗi con người phát huy hết đặc tính, năng lực của mình và cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.

Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta sở dĩ tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ là do “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”, đặc biệt là sự phê bình của quần chúng bởi chỉ có quần chúng mới biết rõ, người cán bộ có hành động vì lợi ích của họ hay không. Hồ Chí Minh nói rõ, phê bình và tự phê bình là làm cho “phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” để giúp người khác tránh được khuyết điểm tương tự và để Đảng đi đến sự thống nhất, đoàn kết hơn nữa.

Ngược lại, những ai chỉ muốn “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng” thì nhất định sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, thoái bộ và bị quần chúng bỏ rơi.

Tu dưỡng đạo đức suốt đời là giải pháp trọng yếu của người cách mạng bởi, một việc tốt, một ngày tốt không làm nên một đời tốt nhưng một đời tốt lại dễ dàng bị hủy hoại bởi một việc xấu, một ngày xấu nếu cái xấu ở mức độ trầm trọng. Hồ Chí Minh đúc kết chân lý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Không ai có thể không khổ luyện mà thành tài; càng không ai có thể không rèn đức mà đức sáng. Nghị lực và ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức suốt đời vừa là giải pháp thực thi đạo đức cách mạng, vừa là biểu hiện của đạo đức cách mạng bởi người tốt thực sự sẽ không bao giờ thấy cái tốt của mình là đã đủ để không cần tu dưỡng nữa. 

Tác phẩm “Đạo đức cách mạng” thực sự là một “đại tổng kết” về đạo đức cách mạng. Chăm lo cái gốc đạo đức của Đảng là chủ thuyết sâu sắc của Hồ Chí Minh. Vì thế, nhà sử học Trần Văn Giàu từng đúc kết rằng: “Quả có một đạo đức học Hồ Chí Minh”. Với dung lượng 12 trang-đủ để làm một tài liệu học tập trong Đảng, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” chứa đựng tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng một Đảng chân chính cách mạng trong điều kiện cầm quyền.

Cảnh báo của Người về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, về tình trạng “tự tha hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên từ 65 năm trước, nay đang là những nguy cơ rất lớn trong Đảng. Nếu “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” như lời Lênin thì mỗi đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải biết tự bảo vệ mình trước sự tha hóa của chính mình.

Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới. Trọng trách trước Đảng, trước nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo phải giữ gìn đạo đức cách mạng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Bất kể ai, ở vị trí nào, nếu không rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng mà trở nên kiêu ngạo, tự tôn, tự tác, coi mình cao hơn tổ chức thì “cái chết về chính trị” là điều khó thoát, khó tránh. Với trách nhiệm của người sáng lập và rèn luyện Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao truyền lại cho Đảng “vũ khí” hữu hiệu để xây dựng Đảng “từ gốc”.

Mỗi tổ chức đảng, mỗi cá nhân đảng viên phải thực sự “mở lòng” đón nhận từ Người những thông điệp đạo đức cao cả để “giữ mắt cho trong, giữ lòng cho sáng” nhằm đưa dân tộc tiến bước cùng thời đại.

 

NHẬN THỨC TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ, CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC

Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản.

Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản. Đảng thống nhất nhận thức lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết lý luận, khoa học và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Cùng với tuân theo học thuyết lý luận, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải theo lý tưởng cách mạng, ra sức đấu tranh theo Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, mục tiêu cách mạng Đảng đã đề ra, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng và đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Phải thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật và các quy định của Điều lệ Đảng và đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức đảng là chi bộ.

Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng và yêu cầu xây dựng Đảng, Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã xác định: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”. Đó là bản chất cách mạng, khoa học và tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ và được thực hiện nhất quán trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các đảng cộng sản cầm quyền ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chậm được sửa chữa. Điều đó dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô (1989-1991). Nguyên nhân khách quan là chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân chủ quan là các đảng cộng sản cầm quyền đã rời bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận và Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng trước sự tiến công hiểm độc của kẻ thù. Các đảng cộng sản đã không kiên định và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho những quan điểm sai trái về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, công khai hóa, dân chủ hóa lộng hành dẫn tới sự rối loạn trong Đảng và xã hội, Đảng không kiểm soát được tình hình và mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền.

Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình xấu đi của các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ở trong nước và lưu vong ra sức phá hoại hòng đưa đất nước rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, ngay từ năm 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải dân chủ tư sản. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội”.

Trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) trong tổng kết công tác xây dựng Đảng đã nêu rõ kinh nghiệm hàng đầu là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã xử lý thành công các nội dung cơ bản:

Một là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của Đảng, Nhà nước với thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo tập trung trước hết phải thống nhất về nền tảng tư tưởng, học thuyết lý luận là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lãnh đạo bằng đường lối đổi mới, cương lĩnh, chính sách, pháp luật không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả. Phát huy dân chủ trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội dựa trên nâng cao trình độ trí tuệ và nâng cao dân trí. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kiên quyết chống tập trung quan liêu, lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan và lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Hai là, xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ thực chất là mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đề cao trách nhiệm, trí tuệ, quyền hạn, góp phần xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tự giác thực hiện. Kỷ luật, kỷ cương của Đảng đòi hỏi cá nhân phục tùng tập thể, tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý đúng đắn những mối quan hệ lớn. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.

Ba là, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ một số hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần được quy định cụ thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương.

Các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ với luận điệu ở Việt Nam chỉ có một đảng lãnh đạo, không có dân chủ và Đảng độc đoán, chuyên quyền. Đó là sự xuyên tạc, nhắm mắt trước sự thật, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải không ngừng hoàn thiện và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc đó không chỉ cần thiết của Đảng cầm quyền mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại.

Thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng là những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ từ một nước nghèo kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính trị ổn định. Văn hóa, xã hội phát triển. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, từ 58% hộ nghèo năm 1993, nay còn dưới 3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc. Đối ngoại và hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Nam là một điểm sáng trên thế giới. Cả hệ thống chính trị và toàn dân tập trung hành động vừa phát triển kinh tế, vừa kiểm soát dịch bệnh. Lực lượng các ngành y tế, quân đội, công an thật sự là “lá chắn thép” bảo vệ nhân dân. Điều đó tỏ rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bản chất của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng. Hiện nay, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ tốt với hơn 200 đảng cầm quyền, đảng chính trị trên thế giới, trong đó có những đảng cầm quyền ở các nước tư bản hàng đầu. Nhà nước Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước trong 193 nước thành viên Liên hợp quốc, quan hệ kinh tế, thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối 192/193. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) nhận được hơn 500 điện, thư chúc mừng của các đảng, các tổ chức, các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trên thế giới. Việt Nam đang từng bước sánh vai với các cường quốc trên thế giới như ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tập trung dân chủ là nguyên tắc mang tính khoa học và hiện thực trong xây dựng Đảng và có vai trò rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, bảo đảm phát huy dân chủ thực chất và giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nguyên tắc đó vì thế có giá trị bền vững trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

 

QUÀ TẾT HAY "NỊNH" TẾT?


Năm cũ sắp qua đi, năm mới sắp đến, người Việt Nam có phong tục tặng quà. Con cái tặng quà cha, mẹ, ngược lại cha mẹ tặng quà con cái; học trò tặng quà thầy, cô… nhỏ thì hộp mứt, gói kẹo, tập sách, cuốn vở, lớn hơn là bộ quần áo kèm theo những lời chúc tốt lành. Đó thực sự là một nét đẹp văn hóa đáng trân trọng. Nếu quà tặng cuối năm cứ giữ đúng phong cách, ý nghĩa ấy thì chẳng có gì đáng bàn. Tết Giáp Thìn đang đến ngày một gần và chuyện tặng quà cuối năm đang nóng từng ngày.

Đâu đó đã có những cách tặng quà khác nhau như: tặng vé tàu cho sinh viên về quê ăn Tết hay ở nhiều địa phương có chính sách tặng quà cho người nghèo, trẻ em lang thang cơ nhỡ và những người khuyết tật… Hàng tỉ đồng, hàng trăm ngôi nhà đã được dành cho người nghèo trên cả nước. Những nghĩa cử cao đẹp đó là rất đúng với bản chất của xã hội ta, đáng được hoan nghênh và cần được nhân rộng.

Tuy nhiên, chuyện quà Tết, dù chẳng nói ra nhưng lâu nay xã hội đã ngầm hiểu với nhau, Tết là dịp để "cảm ơn, chạy chọt, xin xỏ"... Một phong tục tốt đẹp của dân tộc từ lâu rồi đã bị một số phần tử lợi dụng để mưu cầu tư lợi. Thế mới có cảnh, cứ gần Tết là dân thường được phen trố mắt thấy xe con nườm nượp ra vào nhà một sếp này, sếp nọ.

Dư luận đã không ít lần “phát hoảng” khi một vài vị lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố công khai đem sung công quỹ hàng tỉ đồng quà Tết để làm từ thiện... Đấy là những con số, những người dám công khai, còn những con số “bí mật” thì chắc là không biết đằng nào mà lần. Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo nên sự mất đoàn kết nội bộ, vì rằng anh được đi chúc Tết, tôi không được đi, trưởng được tặng quà, phó lại không, ngành này có Tết, ngành kia không... Quà cáp, biếu xén đầy âm mưu, sự toan tính cũng chính là mảnh đất tốt cho tham nhũng, lãng phí sinh sôi.

Tết năm nào cũng vậy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường có chỉ thị, công văn, chủ trương nhắc nhở yêu cầu, mọi tổ chức Đảng, chính quyền các cấp phải quán triệt tổ chức Tết cho nhân dân một cách vui tươi, lành mạnh và tiết kiệm; Không được dùng công quỹ để đi thăm và tặng quà, biếu xén cấp trên và cá nhân.

Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng luôn luôn đề cập, chống việc tặng quà Tết bị biến tướng thế nhưng xem ra việc thực hiện rất khó. Mấy ngày qua, trên các trang mạng, dư luận thêm những kinh ngạc, băn khoăn khi quà Tết được không ít người lựa chọn ở mức giá trị hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng… Chỉ với một món quà có giá trị như thế, người nghèo đã có Tết to!

Đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập, mọi vấn đề đang được minh bạch hóa, công khai dân chủ. Nhân dân mong rằng mọi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu mọi tổ chức, địa phương, đơn vị hãy gương mẫu thực hiện tốt, để củng cố lòng tin của nhân dân.

Sự giám sát của dư luận xã hội, của các cơ quan truyền thông, sự chuyển biến về ý thức, sự cải thiện chế độ thu nhập cho công chức là rất cần thiết, nhưng đi cùng với nó là những chế tài nghiêm khắc. Nếu không động từ “cấm” chỉ là để trang trí cho một khẩu hiệu nhàm tai nào đó.

Vì vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm người nào cố tình vi phạm. Cần phát động nhân dân tố giác, phát hiện người cho và nhận quà quá mức bình thường trong dịp Tết, để từ đó có chế độ khen thưởng người phát hiện, kỷ luật nặng những người vi phạm.

Làm kiên quyết triệt để như thế cũng là tự làm sạch nội bộ, làm trong sạch đạo đức cán bộ, đảng viên và bồi dưỡng đạo đức, nếp sống tốt đẹp của dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân. Đừng để năm nào cũng có chỉ thị, công văn nhưng chưa được như mong muốn./.

 

“PHẢI THẮNG LỢI TO LỚN HƠN NỮA”

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị lần thứ tám của Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 vừa diễn ra mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã nhấn mạnh:“Với tinh thần công việc của năm 2023 đã tốt rồi, thì năm 2024 sẽ tốt hơn nữa và phải thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Đây là lời động viên, khích lệ, thể hiện niềm tin tưởng to lớn, cũng là yêu cầu rất cao của đồng chí Tổng Bí thư đối với Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Chỉ đạo của Tổng Bí thư nhanh chóng được các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp quán triệt sâu sắc, phổ biến tại nhiều hội nghị và nhanh chóng lan tỏa đến các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. 

Nhìn lại năm 2023 và sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đứng trước những khó khăn, thách thức, nhưng đất nước ta vẫn đạt nhiều kết quả rất đáng trân trọng, tự hào. Kết quả đó có một phần nguyên nhân là bởi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành đã mạnh dạn xác định chỉ tiêu, mục tiêu phấn đấu hằng năm với yêu cầu rất cao về mức độ hoàn thành; đồng thời tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện bằng nỗ lực, quyết tâm cao nhất.

Tuy vậy, năm qua cũng xuất hiện không ít hiện tượng đáng phải băn khoăn, suy ngẫm về tinh thần trách nhiệm, tác phong công tác của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vẫn còn đó những cá nhân mang tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám làm, hoặc né tránh, đùn đẩy công việc cho nhau. Một số khác lại có tư duy bàn lùi, ngại khó, ngại khổ, không dám đương đầu với khó khăn, thử thách, ngại việc mới và nhất là không thường xuyên đặt ra các mục tiêu phấn đấu với yêu cầu ngày càng cao... Chính thực tế đó gây nên tắc nghẽn, khiến cho công việc không trôi chảy, làm giảm tiến độ, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ ở nhiều tổ chức, cá nhân.

Năm mới nhắc lại chuyện cũ như vậy để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên có nhìn nhận thấu tỏ hơn; đồng thời xác định tâm thế mới trước những nhiệm vụ mới nặng nề hơn, yêu cầu cao hơn. Theo đó, để hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ tốt hơn và giành nhiều thắng lợi to lớn hơn so với năm 2023, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nhanh chóng cụ thể hóa mục tiêu, quyết tâm chính trị thành hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp của quần chúng; khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm 2024 với tinh thần rõ người, rõ việc, rõ thời gian để tập trung, chủ động thực hiện quyết liệt, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đặc biệt, từ yêu cầu “phải tốt hơn năm trước” của lãnh đạo Đảng, qua từng cấp phải được cụ thể hóa thành những chỉ tiêu cụ thể; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giao việc, khoán việc, gắn với trách nhiệm người đứng đầu ở từng cấp, từng bộ phận, bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng. Trong đó, với trọng trách được giao phó, người đứng đầu phải thực sự là những cán bộ “6 dám”, mẫu mực nêu gương; biết khơi dậy và phát huy tinh thần phấn đấu học tập, công tác, ra sức dấn thân vì công việc và lợi ích chung.

Cùng với đó, quá trình thực hiện nhiệm vụ, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cơ quan chức năng cần sớm nhận diện, khắc phục triệt để các biểu hiện “đầu voi, đuôi chuột”; “trên nóng, dưới lạnh”, “trên vất vả chỉ đạo, dưới thong thả triển khai”... trong thực hiện các nhiệm vụ. Làm tốt những phần việc này thì chắc chắn, năm 2024 sẽ đạt kết quả tốt hơn và thu gặt nhiều thắng lợi to lớn hơn năm 2023.

 

Căng thẳng trên Biển Đỏ đe dọa thương mại toàn cầu

                                                            

          Suốt một tháng qua, hơn 100 vụ tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái đã được Phong trào Houthi ở Yemen thực hiện vào các tàu thuyền trên Biển Đỏ. Đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển khoảng 1.000 tỷ USD giá trị hàng hóa toàn cầu. Mỹ đã phát động chiến dịch an ninh đa quốc gia tuần tra tại vùng biển này. Hàng loạt hãng vận tải biển lớn đã tạm dừng lịch trình qua Biển Đỏ. Thị trường dầu theo sát căng thẳng.

          Biển Đỏ - tuyến vận tải biển quan trọng

          Phong trào Houthi ở Yemen tuyên bố sẽ không dừng các cuộc tấn công vào tàu thuyền trên Biển Đỏ bất chấp việc Mỹ thông báo lập liên minh hàng hải nhằm đảm bảo an ninh cho tuyến giao thông huyết mạch này. Biển Đỏ nối với Địa Trung Hải qua kênh đào Suez, hình thành nên tuyến vận tải biển ngắn nhất kết nối châu Âu và châu Á. Khoảng 15% lưu lượng vận tải biển của thế giới đi qua kênh đào này.

          Các cuộc tấn công tại Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải

          Hiện một loạt hãng vận tải đường biển lớn trên thế giới như Hapag Lloyd, MSC và Maersk... đã đồng loạt tạm dừng việc khai thác tuyến vận tải này. Sự gián đoạn được dự báo có thể khiến chi phí vận chuyển đường biển gia tăng mạnh trong thời gian tới.

          CNBC trích dẫn mới nhất cho thấy, tính đến ngày 21/12, giá cước vận chuyển một container 40 feet từ Trung Quốc đến Anh đã tăng vọt chỉ trong vài giờ, lên 10.000 USD, tức cao gấp 4 lần so với tuần trước. Chi phí vận tải bằng đường hàng không cũng tăng 13% trong tuần này, trong khi chi phí chở hàng bằng xe tải tại Trung Đông tăng gấp đôi. Các doanh nghiệp châu Âu được cho là chịu nhiều ảnh hưởng nhất, bởi chuỗi cung ứng của họ phụ thuộc nhiều vào tuyến đường đi qua Biển Đỏ.

          Thị trường dầu theo dõi sát căng thẳng tại Biển Đỏ

          Đó là những ảnh hưởng ban đầu với giá cước vận tải. Thị trường dầu cũng đang theo dõi sát các diễn biến tại khu vực. Bởi mỗi năm có hơn 17.000 tàu chở dầu và khoảng 12% lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển của thế giới đi qua vùng biển này. Nỗi lo nguồn cung đang đẩy giá dầu tăng những ngày cuối năm 2023, dự báo sang cả quý I năm sau. Các tác động trước mắt là giá dầu tăng hơn 1% trong các phiên giao dịch tuần qua. Dầu Brent lên trên 79 USD/thùng, mức cao nhất kể từ đầu tháng 12. Trong khi đó, giá dầu ngọt nhẹ WTI giao tháng 1/2024 giao dịch hơn 73 USD/thùng, cũng là mức cao nhất trong hơn 2 tuần qua.

          Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), lượng dầu vận chuyển qua biển Đỏ chiếm khoảng 12% tổng lượng dầu giao dịch bằng đường biển toàn cầu trong nửa đầu năm 2023. Trong thông báo mới nhất, các công ty dầu mỏ hàng đầu gồm BP và Frontline đều thông báo sẽ tránh di chuyển qua tuyến đường biển này.

"Sau khi phương Tây siết chặt lệnh trừng phạt với dầu thô Nga, vai trò của khu vực Biển Đỏ trở nên quan trọng hơn. Khoảng 74% lượng dầu xuất khẩu bằng đường biển của Nga đến châu Á là đi về phía Nam Suez thay vì 30% như năm 2021. Trong khi đó, châu Âu cũng đang tăng cường nhập khẩu dầu từ Trung Đông. Việc nhiều tàu chở dầu phải đổi hướng vòng qua châu Phi, thay vì tạm thời dừng di chuyển qua khu vực Biển Đỏ đã khiến thời gian giao hàng kéo dài thêm khoảng 18 ngày. Do vậy tôi cho rằng, nguồn cung đến các nhà máy lọc dầu cũng sẽ hạn chế hơn và nguồn cung dầu tạm thời sẽ bị thắt chặt hơn trong ngắn hạn", ông Dương Đức Quang, Phó Tổng giám đốc, Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), cho hay.

          Goldman Sachs cho biết với giả thuyết toàn bộ các tàu chở tổng cộng 7 triệu thùng dầu/ngày đi qua tuyến đường biển này chuyển hướng sẽ khiến giá dầu thô giao ngay tăng thêm 3 - 4 USD mỗi thùng so với giá kỳ hạn. "Xu hướng giá dầu trong thời gian tới có thể sẽ có những biến động khó đoán. Căng thẳng ở khu vực Biển Đỏ cùng với việc OPEC+ cắt giảm sản lượng tự nguyện có thể hỗ trợ cho giá dầu vào đầu năm sau. Dầu WTI nhiều khả năng sẽ tăng nhẹ và đạt mức trung bình khoảng 78 - 82 USD/thùng trong quý I năm sau", ông Dương Đức Quang nhận định.

          Nguy cơ gián đoạn thương mại quốc tế trên Biển Đỏ

          Trên thực tế, ngày càng nhiều tàu chở hàng quyết định neo đậu trên Biển Đỏ trong khi các tàu khác tắt các hệ thống định vị, các nhà buôn phải điều chỉnh lịch trình và chi phí vận chuyển. Sự gián đoạn của một trong những tuyến vận tải huyết mạch Đông - Tây của thế giới càng làm gia tăng tâm lý lo ngại rằng, thương mại quốc tế đứng trước nguy cơ tiếp tục gián đoạn khi chỉ vừa chớm phục hồi sau đại dịch COVID-19. Các dữ liệu mới nhất cho thấy, đã có ít nhất hơn 100 tàu container đã quyết định thay đổi lộ trình di chuyển, đi vòng xuống cực Nam châu Phi thay vì qua Biển Đỏ. Từ đây họ sẽ phải qua eo biển Gibraltar vào Địa Trung Hải sau đó tới các cảng của châu Âu.

          Điều này có thể khiến quãng đường vận tải kéo dài thêm 6.000 hải lý và thời gian giao hàng kéo dài 3 - 4 tuần, từ đó làm tăng đáng kể chi phí vận chuyển.

"Giá cước vận chuyển container đã tăng lên. Chúng đã tăng lên mức cao nhất vào năm 2023. Dù mức giá này là thấp so với khủng hoảng chuỗi cung ứng thời COVID nhưng vẫn cao hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong năm 2023", ông Jan Hoffmann, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đánh giá. "Tôi nghĩ về tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu, tác động đến lạm phát mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn. Liên quan đến những gì đang xảy ra với sự chậm trễ ở Biển Đỏ, thật không may những điều đó dường như cũng đang leo thang", ông Marco Forgione, Tổng Giám đốc Viện Xuất khẩu và Thương mại Quốc tế, cho biết.

          Tuy nhiên theo giới phân tích, mức độ tác động cũng sẽ tùy thuộc vào việc cuộc khủng hoảng sẽ kéo dài bao lâu.

          "Mùa mua sắm cuối năm nay sẽ vẫn an toàn, bởi hàng hóa phục vụ lễ Giáng sinh và năm mới hiện đã đến các cảng ở châu Âu, và không còn bị tác động bởi gián đoạn ở Biển Đỏ. Dù vậy ngay sau dịp lễ, các nút thắt cổ chai sẽ xuất hiện trở lại và gây khó khăn cho các cửa hàng cũng như người tiêu dùng", ông Carsten Brzeski, chuyên gia kinh tế trưởng, Ngân hàng ING tại Đức, nhìn nhận.

Cũng theo ông Carsten Brzeski, nếu khủng hoảng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, người tiêu dùng sẽ không nhận thấy điều gì, ngoại trừ giá năng lượng tăng cao. Nó sẽ chỉ là tạm thời. "Nếu kéo dài lâu hơn, chúng ta sẽ thấy lạm phát tăng trở lại, không ở mức độ như chúng ta đã thấy vào năm 2021 nhưng rõ ràng, khi đó chúng ta sẽ có một câu chuyện hoàn toàn mới, không phải là lạm phát đang trên đà giảm mà là lạm phát sẽ tăng trở lại vào tháng đầu tiên của năm 2024", ông Carsten Brzeski nhận định.

 

 

13 BIỆN PHÁP BẢO VỆ AN NINH MẠNG MỚI NHẤT

         

          1. An ninh mạng là gì?

          Theo khoản 1 Điều 2 Luật an ninh mạng năm 2018 thì an ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

          2. 13 biện pháp bảo vệ an ninh mạng mới nhất

          13 biện pháp bảo vệ an ninh mạng theo khoản 1 Điều 5 Luật an ninh mạng năm 2018 gồm:

          - Thẩm định an ninh mạng;

          - Đánh giá điều kiện an ninh mạng;

          - Kiểm tra an ninh mạng;

          - Giám sát an ninh mạng;

          - Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng;

          - Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng;

          - Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng;

          - Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

          - Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

          - Thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

          - Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

          - Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

          - Biện pháp khác theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

          3. Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng

          Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng theo Điều 8 Luật an ninh mạng năm 2018 như sau:

          - Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:

          + Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật an ninh mạng năm 2018 ;

          + Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

          + Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

          + Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

          + Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;

          + Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

          - Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

          - Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.

          - Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

          - Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

          - Hành vi khác vi phạm quy định của Luật an ninh mạng năm 2018.