Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Mấy yêu cầu về xây dựng lực lượng pháo binh, tên lửa - nhìn từ các cuộc chiến tranh cục bộ gần đây trên thế giới

 Nghiên cứu các cuộc xung đột quân sự, chiến tranh cục bộ gần đây, nhất là xung đột giữa Nga - Ukraine, Israel - Hamas cho thấy, lực lượng pháo binh, tên lửa đối đất được các bên sử dụng với số lượng lớn, trở thành một trong những lực lượng then chốt trên chiến trường. Thực tế đó đặt ra vấn đề cấp thiết về xây dựng lực lượng Pháo binh - Tên lửa Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đang diễn ra vô cùng khốc liệt, có quy mô tàn phá lớn nhất trên thế giới trong vòng 50 năm gần đây. Ở góc nhìn khác, các nhà nghiên cứu quân sự thế giới cho rằng, đó còn là màn thể hiện “cuộc chiến của pháo binh và tên lửa mặt đất”, bởi đây là lực lượng nổi bật, sử dụng với số lượng rất lớn, là hỏa lực chủ yếu để sát thương đối phương và cũng là lực lượng bị đối phương tập trung tìm, diệt. Gần đây nhất, rạng sáng ngày 07/10/2023, lực lượng Hamas ở Dải Gaza đã bất ngờ phóng hàng nghìn tên lửa đất đối đất, hỏa tiễn và sử dụng chiến binh xâm nhập lãnh thổ Israel, mở màn cho một cuộc xung đột mới. Sau vài giờ bị tiến công, Israel lập tức mở chiến dịch “Những thanh kiếm sắt” để tiêu diệt Hamas, giải cứu con tin. Quân đội Israel đã dùng không quân là chủ yếu kết hợp với pháo binh, tên lửa đánh phá hơn 15.000 mục tiêu và tiến công trên bộ vào Dải Gaza. Hamas đã sử dụng tối đa tên lửa đối đất, tên lửa chống tăng để đánh trả Quân đội Israel tiến công đường bộ.

Nhìn từ hai cuộc xung đột trên, chúng ta thấy, cùng với các loại vũ khí, khí tài khác, pháo binh, tên lửa đã được sử dụng với số lượng lớn, cường độ cao, chủng loại đa dạng, bao gồm cả tên lửa đối đất, đối hải, pháo tự hành, pháo phản lực, pháo xe kéo, súng cối, tên lửa chống tăng, v.v. Trong đó có nhiều vũ khí pháo binh, tên lửa hiện đại, thông minh nên hiệu quả sát thương cao, làm cho đối phương tổn thất rất nặng nề. Thực tế cũng cho thấy, vai trò quan trọng cùng những khó khăn, thách thức của công tác bảo đảm chỉ huy chiến đấu, bảo đảm trinh sát, hậu cần, kỹ thuật của pháo binh, tên lửa trong chiến tranh hiện đại, v.v. Điều đó đặt ra những vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu để xây dựng lực lượng Pháo binh - Tên lửa Quân đội nhân dân Việt Nam.

1. Xây dựng lực lượng pháo binh - tên lửa “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại

Theo các đánh giá về sử dụng pháo binh, tên lửa đối đất trong xung đột quân sự Nga - Ukraine, hai bên đã huy động hàng nghìn khẩu pháo xe kéo, pháo tự hành, pháo phản lực, súng cối các loại, cũng như hàng nghìn đơn vị tên lửa chống tăng và hàng trăm xe bệ phóng tên lửa đất đối đất, đối hải. Không chỉ có vậy, sức mạnh pháo binh, tên lửa của các bên còn được phát huy bởi các loại pháo, đạn công nghệ cao, có điều khiển, dẫn đường chính xác, có khả năng cơ động linh hoạt, được tổ chức chỉ huy hỏa lực hiện đại. Hai bên đã huy động tối đa khả năng pháo binh, tên lửa hiện đại vào tham chiến1 và ứng dụng tự động hóa chỉ huy hỏa lực pháo binh dựa trên công nghệ trinh sát, chỉ thị mục tiêu hiện đại, nên có hiệu quả sát thương lớn, khẳng định hỏa lực pháo binh, tên lửa đối đất đã trở thành hỏa lực chủ yếu trên chiến trường.

Từ thực tiễn đó và trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của pháo binh, tên lửa trong tác chiến; quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về “Lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có lộ trình xây dựng Binh chủng Pháo binh đến năm 2030 phát triển thành Binh chủng Pháo binh - Tên lửa. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, xong cần nguồn lực tài chính khá lớn. Vì vậy, để đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, trước mắt, cần quan tâm hoàn thiện, nhân rộng mô hình tổ chức pháo binh trong sư đoàn bộ binh hỏa lực mạnh; củng cố, nâng cấp biên chế trang bị các đơn vị pháo binh, tên lửa thường trực; chuẩn bị lực lượng dự bị động viên pháo binh, tên lửa hùng hậu, sẵn sàng huy động khi có tình huống. Mặt khác, để phát triển lực lượng tên lửa đối đất, đối hải, tên lửa chống tăng trong lực lượng pháo binh - tên lửa, cần đẩy mạnh nghiên cứu, chế tạo kết hợp lựa chọn, đầu tư mua sắm, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Trong điều kiện thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, cần khuyến khích, phát huy vai trò của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội,... và các đơn vị liên quan trong nghiên cứu, phát triển các loại pháo phản lực, tên lửa đất đối đất, đất đối hạm, tên lửa chống tăng hiện đại và nghiên cứu chế tạo tích hợp hệ thống tự động hóa chỉ huy điều khiển hỏa lực,… từng bước tự chủ nguồn cung cấp vũ khí, trang bị bảo đảm cho Quân đội. Cùng với đó, cần nghiên cứu đổi mới, hiện đại hóa các loại phương tiện, trang bị bảo đảm, đồng bộ với sự phát triển của lực lượng pháo binh - tên lửa.

2. Tổ chức dự trữ vũ khí trang bị, khí tài, đạn dược pháo binh - tên lửa toàn diện, có chiều sâu, đáp ứng yêu cầu tác chiến cường độ cao, tiêu hao lớn

Theo ước tính của các cơ quan tình báo nước ngoài, trong xung đột quân sự Nga - Ukraine, các bên sử dụng lượng đạn pháo, tên lửa vô cùng lớn (tính đến 30/11/2023, cả hai bên đã sử dụng hàng chục triệu viên đạn pháo các loại, hàng nghìn tên lửa đất đối đất, hàng trăm tên lửa đối hải và hàng chục nghìn tên lửa chống tăng). Đó là chưa kể những thiệt hại do vũ khí chính xác của đối phương đánh phá vào các kho cất chứa vũ khí, đạn dược, trong đó có đạn pháo và tên lửa. Còn theo đánh giá của các nhà bình luận quân sự thế giới, sau nhiều tháng giao tranh, đến nay, cả hai bên đều đang dần cạn kiệt nguồn đạn pháo, tên lửa các loại.

Cùng với đó, do sử dụng một lượng lớn pháo binh, tên lửa trực tiếp tham gia tác chiến nên khả năng bị đối phương tiêu hao, tiêu diệt cũng không ngừng tăng cao. Trên thực tế, đã có hàng nghìn phương tiện pháo binh, tên lửa của cả Nga và Ukraine bị tiêu diệt hoặc loại khỏi vòng chiến đấu. Thực tế đó cho thấy, mức độ sử dụng pháo binh, tên lửa cùng những tiêu hao về phương tiện, trang bị, đạn dược của lực lượng này là vô cùng lớn. Điều đó đặt ra cho các bên thách thức rất lớn trong duy trì nguồn bảo đảm chiến đấu cho pháo binh, tên lửa.

Như vậy, trong chiến tranh hiện đại, tác chiến diễn ra liên tục, dài ngày với các loại vũ khí chính xác, cường độ cao nên tiêu hao vật chất, vũ khí trang bị rất lớn. Trong khi đó, pháo binh, tên lửa lại là một trong các loại mục tiêu bị đối phương chú trọng đánh phá, tiêu hao, nhưng khả năng sản xuất, bổ sung thường bị hạn chế, không kịp thời. Vì vậy, cần chuẩn bị nguồn dự trữ vũ khí, trang bị, đạn pháo, tên lửa các loại với số lượng lớn, cất giữ phân tán, bảo mật cao ngay từ thời bình. Để thực hiện điều đó, Binh chủng Pháo binh cần tiếp tục nghiên cứu, nắm chắc tình hình, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều chỉnh bố trí lực lượng pháo binh - tên lửa khoa học, phù hợp trên từng địa bàn chiến lược, các khu vực phòng thủ, nhất là các lữ đoàn pháo binh - tên lửa dự bị chiến lược. Các cơ quan, đơn vị pháo binh toàn quân chú trọng phối hợp với địa phương chủ động xây dựng thế trận pháo binh liên hoàn, vững chắc gắn với xây dựng thế trận khu vực phòng thủ; làm tốt việc chuẩn bị hệ thống kho tàng, căn cứ hậu cần - kỹ thuật, đường cơ động, trận địa pháo binh - tên lửa,… theo các phương án, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến cường độ cao, thời gian dài.

3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của lực lượng pháo binh - tên lửa, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại

Thực tiễn các cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ gần đây đã, đang đặt ra vấn đề lực lượng pháo binh, tên lửa phải tinh nhuệ, có vũ khí trang bị ngày càng hiện đại; đồng thời, cần nguồn nhân lực chất lượng cao hơn để sử dụng các phương tiện, khí tài trinh sát, đo đạc và chuẩn bị bắn nhanh, chính xác, đúng thời cơ để tiêu diệt mục tiêu và nhanh chóng rời khỏi chiến đấu. Trong cuộc xung đột Nga - Ukraine, cùng với việc viện trợ các loại vũ khí, trang bị pháo binh, tên lửa hiện đại, các nước phương Tây đã phải tổ chức huấn luyện, đào tạo cho hàng chục nghìn binh sĩ Ukraine. Bên cạnh đó, lực lượng pháo binh, tên lửa Ukraine cũng tích cực tuyển dụng các kỹ sư, sinh viên công nghệ thông tin, điều khiển vào sử dụng các loại máy bay không người lái (UAV) trinh sát, hệ thống ra đa phản pháo, cùng các hệ thống vũ khí pháo binh, tên lửa mới để tham gia chiến đấu. Đối với lực lượng Hamas, trong điều kiện bị giám sát chặt chẽ, song cũng đã bí mật đào tạo nhân lực chế tạo và sử dụng các hệ thống tên lửa, hỏa tiễn; vì thế, đã tạo nên sự bất ngờ trong tác chiến.

Điều đó đặt ra ngay từ bây giờ, cùng với từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị pháo binh - tên lửa, chúng ta phải chuẩn bị nội dung, chương trình, phương pháp huấn luyện, đào tạo sĩ quan, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ, hạ sĩ quan, binh sĩ pháo binh - tên lửa để có khả năng sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị mới, nhất là sử dụng máy bay không người lái (UAV) trinh sát, hệ thống tự động hóa chỉ huy điều khiển hỏa lực hiện đại. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần tập trung đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và đổi mới hình thức, tổ chức, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao sức mạnh chiến đấu theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW, ngày 20/12/2023 của Quân ủy Trung ương. Để đạt hiệu quả cao, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường huấn luyện thực hành để bộ đội làm chủ vũ khí, khí tài, trang bị, nâng cao khả năng cơ động, tốc độ triển khai, thu hồi vũ khí, khí tài và hiệu suất chiến đấu; kết hợp chặt chẽ truyền thống với hiện đại, chú trọng huấn luyện những tình huống, điều kiện khó khăn, phức tạp trong tác chiến hiện đại; tăng cường huấn luyện dã ngoại với cường độ cao để rèn luyện sức bền và ý chí chiến đấu, v.v.

Xây dựng lực lượng pháo binh - tên lửa có sức mạnh chiến đấu cao là vấn đề có ý nghĩa chiến lược vừa cấp thiết vừa lâu dài, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm truyền thống, nhất là thực tiễn chiến tranh hiện đại, phù hợp với đặc thù của Pháo binh Việt Nam, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

 ùng với sức mạnh quân sự và thế vững mạnh của nền kinh tế thì “sức mạnh mềm” là một trong những yếu tố cơ bản, góp phần quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sẵn sàng để chiến thắng mọi mưu đồ của các thế lực xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu, yếu tố rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Những năm gần đây, khái niệm “sức mạnh mềm” thường xuyên được đề cập và trong thực tế nó đã trở thành nguồn “tài nguyên quyền lực” mới của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế. Trong một thế giới đang thay đổi, đầy biến động, khó dự báo, thì việc các quốc gia, dân tộc luôn coi trọng sử dụng “sức mạnh mềm” và xác định nó như một trụ cột quốc gia đã, đang là xu hướng chung của cộng đồng quốc tế. Cùng với các sức mạnh khác, “sức mạnh mềm” góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ nhân dân và môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Theo giáo sư Joseph Nye1, “sức mạnh mềm” là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách, phù hợp với điều mình muốn, thay vì cưỡng bức thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự. Như vậy, có thể hiểu, “sức mạnh mềm” là tất cả các khả năng mà con người, cộng đồng người hay một quốc gia có thể tạo ra, có sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút, thuyết phục người khác, quốc gia khác tự nguyện làm theo mà không cần thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự. Bản chất cốt lõi của “sức mạnh mềm” chính là tính hấp dẫn, các khả năng tạo ra sức mạnh của một quốc gia có sức hấp dẫn đến mức các quốc gia khác tự nguyện làm theo, tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách của mình với tinh thần hợp tác, không cần dựa vào sự áp đặt, cưỡng bức.

Khác với “sức mạnh mềm”, “sức mạnh cứng” của một quốc gia được nhận diện bởi sức mạnh quân sự (quy mô tổ chức quân đội; sự hiện đại của vũ khí, trang bị; khả năng cơ động; trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, bảo đảm; lý luận quân sự, nhất là lý luận về nghệ thuật quân sự cùng các yếu tố khác hợp thành) và thế mạnh về kinh tế của một quốc gia (quy mô, trình độ của nền kinh tế; cơ cấu kinh tế; khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh kinh tế quốc tế; khả năng kinh tế huy động cho quốc phòng, an ninh). Bản chất của “sức mạnh cứng” là sự áp đặt, cưỡng bức người khác, quốc gia khác phải làm theo ý muốn của mình, trong khi “sức mạnh mềm” tôn trọng sức hấp dẫn, lôi cuốn, thuyết phục, thu hút để người khác, quốc gia khác tự nguyện làm theo. “Sức mạnh mềm” và “sức mạnh cứng” có mối quan hệ chặt chẽ, củng cố, bổ sung và tăng cường sức mạnh cho nhau, khi được kết hợp có hiệu quả thì tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Nội dung của “sức mạnh mềm” khá toàn diện, là tất cả các khả năng mà một quốc gia có thể tạo ra; có ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự, như: văn hóa quân sự, văn hóa giữ nước, bản sắc dân tộc, hợp tác quốc tế về kinh tế, v.v. Đặc biệt, “sức mạnh mềm” được thể hiện rõ nét ở các giá trị văn hóa mang bản sắc riêng của một dân tộc, các giá trị từ nền chính trị cũng như các chính sách đối ngoại của một quốc gia. Ngày nay, các quốc gia đều coi trọng, sử dụng “sức mạnh mềm” trong cả đối nội và đối ngoại, nhằm xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; trong đó phải kể đến Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Singapore, v.v.

Trung Quốc là một quốc gia điển hình về sử dụng “sức mạnh mềm”, nhất là trên lĩnh vực văn hóa; Ðại hội XVII Ðảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên khẳng định, “sức mạnh mềm” là bộ phận cấu thành quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia cũng như sức cạnh tranh quốc tế của đất nước. Đối với Mỹ, bên cạnh thúc đẩy phát triển sức mạnh quân sự và kinh tế, cũng rất coi trọng tuyên truyền, tạo sự lan tỏa các giá trị Mỹ, trong đó có vấn đề “tự do”, “dân chủ”, nhằm tạo sức hấp dẫn, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, mà trọng tâm là các nhà khoa học lớn của thế giới đến làm việc, học tập và sinh sống tại Mỹ. Về phía Nga đã vận dụng, sử dụng “sức mạnh mềm” - ngoại giao thân thiện, gắn với lợi ích chính trị và kinh tế, tạo ra ảnh hưởng nhất định trong quan hệ với nhiều nước, trở thành quốc gia có khả năng dàn xếp, tháo gỡ “nút thắt” cho các vấn đề khu vực và quốc tế, được các quốc gia ghi nhận và đánh giá cao. Không chỉ các nước lớn, ngay cả nước nhỏ, đất không rộng, người không đông, nhưng biết sử dụng “sức mạnh mềm” hợp lý, vẫn có thể tạo được ảnh hưởng lớn đối với thế giới. Tiêu biểu như Hàn Quốc đã sớm có chiến lược phát triển “sức mạnh mềm” dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các nguồn lực; trong đó, hết sức coi trọng phát triển và phổ quát văn hóa quốc gia. Ðáng chú ý, nước này đã phát triển văn hóa thành nền công nghiệp gắn với các mục tiêu khác, nhờ vậy mà văn hóa, hình ảnh đất nước Hàn Quốc được lan tỏa ra khu vực và thế giới, góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Với một phương thức khác, nhờ cách tổ chức và quản trị xã hội khoa học, có môi trường hòa bình, ổn định, các chính sách xã hội hợp lý, cùng với khả năng thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài, Singapore đã có sức hấp dẫn, lan tỏa, thu hút nhiều nhà khoa học lớn, vốn đầu tư và hoạt động kinh doanh của các nước, trở thành một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế giới, đất nước đáng sống và làm việc.

Với Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, “sức mạnh mềm” luôn là bộ phận không thể thiếu, hợp thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thời nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ “sức mạnh mềm” ở chủ trương “Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” và chiến lược “Ngã mưu phạt nhi công tâm, bất chiến tự khuất” - kế đánh vào lòng người, không xông trận mà vẫn khuất phục được đối phương. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển “sức mạnh mềm” Việt Nam lên tầm cao mới, với các quan điểm, tư tưởng: dĩ bất biến, ứng vạn biến; nước lấy dân làm gốc; lấy sức dân làm lợi cho dân; văn hóa soi đường cho quốc dân đi; đại đoàn kết dân tộc và các chủ trương về trồng người, về giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v. Ngày nay, “sức mạnh mềm” được phát huy cao độ trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (tháng 8/2016), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: thực lực và vị thế ở đây không chỉ thể hiện trong sức mạnh vật chất mà cả trong “sức mạnh mềm”. Việt Nam có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ phát huy cao độ “sức mạnh mềm” cùng với các sức mạnh khác của đất nước.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, “sức mạnh mềm” đã, đang có vị trí, vai trò rất quan trọng, cùng với “sức mạnh cứng” hợp thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cùng với xây dựng các nội dung cơ bản của nền quốc phòng toàn dân, cần coi trọng nghiên cứu, phát triển “sức mạnh mềm” của quốc gia trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng này.

Trước hết, cần tiếp tục phát huy “sức mạnh mềm” văn hóa trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam là quốc gia có kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, sự sáng tạo, phong phú về đời sống tinh thần, cách thức độc đáo về tổ chức cộng đồng, trong đó không thể không nhắc tới các giá trị văn hóa phản ánh sự nghiệp đấu tranh kiên cường, bất khuất của cộng đồng người Việt chống lại sự đồng hóa của ngoại bang và sự nghiệp đấu tranh vũ trang kiên cường, bất khuất chống lại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh - văn hóa quân sự. Văn hóa là nền tảng tinh thần của một dân tộc, “sức mạnh mềm” văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy các giá trị văn hóa vật chất (vật thể), tinh thần (phi vật thể) của dân tộc đối với sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, giá trị văn hóa tinh thần được thể hiện rất phong phú và đa dạng, như: lòng yêu nước, yêu quê hương xứ sở, sự cố kết cộng đồng, ý chí kiên cường, bất khuất, sự đùm bọc, sẻ chia, yêu chuộng hòa bình, lòng nhân nghĩa, nhân ái, nhân văn, hòa hiếu, khoan dung, độ lượng, v.v. Còn giá trị văn hóa vật thể cùng với văn hóa phi vật thể phản ánh những nét độc đáo về giá trị tinh thần của người Việt Nam qua các thời đại. Với bề dày lịch sử và vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam có nhiều công trình lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh độc đáo, tạo nên một nước Việt Nam có nền văn hóa đa đạng, giàu bản sắc. Giá trị văn hóa tinh thần và giá trị văn hóa vật chất hợp thành giá trị văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ðây là “sức mạnh mềm”, động lực cơ bản trong huy động sức người, sức của cho sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; kết hợp với việc lan tỏa các giá trị văn hóa ấy trong các quốc gia, cộng đồng quốc tế để thu hút, cảm hóa mọi người, tạo ra mối quan hệ thân thiện, gần gũi, từ đó không ngừng nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam. Vì vậy, người Việt Nam ở nước ngoài cần lan tỏa mạnh mẽ các giá trị văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế; đồng thời, quảng bá rộng rãi, sâu sắc các giá trị văn hóa Việt Nam nhằm thu hút các cá nhân, tổ chức nước ngoài đến học tập, công tác, kinh doanh, du lịch, định cư tại Việt Nam và làm cho các giá trị văn hóa Việt Nam ngày càng được phổ biến, lan tỏa trong cộng đồng quốc tế. Ðây là một trong những cơ sở quan trọng để gìn giữ hòa bình, ngăn ngừa các nguy cơ có thể gây mất ổn định, xung đột hay chiến tranh.

Tăng cường, phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia từ các giá trị chính trị của đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn gắn với một chế độ chính trị nhất định. Sau khi giành được độc lập, Ðảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ chính trị của dân tộc. Đây là chế độ chính trị mà tính ưu việt, đã được minh chứng trên thực tiễn; là cơ sở chủ yếu, động lực cơ bản để huy động sức người, sức của tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trước đây. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chủ nghĩa xã hội đang tiếp tục được nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với những đặc điểm của đất nước và xu hướng vận động phát triển của xã hội loài người, nhằm ngày càng nâng cao khả năng hòa nhập quốc tế của đất nước. Xét về “sức mạnh mềm” từ các giá trị chính trị của đất nước, phải kể đến sự ổn định chính trị và các chính sách an sinh xã hội từ nền chính trị ấy. Trong khi nhiều nước trên thế giới thường xuyên xảy ra bất ổn về chính trị do nhiều lý do khác nhau, thì Việt Nam rất ổn định về chính trị. Một môi trường hòa bình, ổn định là lợi thế lớn - “sức mạnh mềm” cực kỳ quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ bạn bè quốc tế đến với Việt Nam. Khi đến với Việt Nam, họ cảm thấy yên tâm, tin tưởng, an toàn cả về con người và tài sản, lợi ích của họ cũng được bảo đảm. Cùng với sự ổn định về chính trị, các chính sách xã hội của Việt Nam cũng có sức thuyết phục lớn bạn bè quốc tế. Ở Việt Nam, người dân được làm chủ vận mệnh của mình; được sống, được mưu cầu hạnh phúc, được làm chủ xã hội; cuộc sống vật chất, tinh thần luôn được bảo đảm ở mức tốt nhất có thể, được tự do làm ăn, sinh sống trong hòa bình. Ðây là nguồn “sức mạnh mềm” quan trọng từ các giá trị của nền chính trị Việt Nam, cần được phát triển theo chiều sâu, vững chắc, tạo niềm tin, thuyết phục bạn bè quốc tế đến với chúng ta và hết lòng ủng hộ Việt Nam, làm tăng khả năng quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, tiếp tục phát huy “sức mạnh mềm” Việt Nam từ các giá trị của các chính sách đối ngoại của quốc gia. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta rất coi trọng kết hợp hoạt động quân sự với đấu tranh ngoại giao. Thời đại Hồ Chí Minh, “vừa đánh, vừa đàm” là một trong những phương châm cơ bản, chỉ đạo đường lối chiến tranh nhân dân của Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, “thêm bạn, bớt thù” và các chính sách ngoại giao: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế; giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích quốc gia - dân tộc; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; khép lại quá khứ hướng tới tương lai; mở rộng hợp tác quốc tế,… cùng phương pháp ngoại giao thân thiện, khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt nhưng kiên quyết của một dân tộc được hình thành từ nền văn minh lúa nước đã tạo nguồn “sức mạnh mềm” rất quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, thu hút, lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ bạn bè quốc tế. Ðây cũng là nguồn sức mạnh không ngừng gia tăng vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam cần tiếp tục được phát huy, phát triển, tạo cơ sở quan trọng cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Có thể thấy, nhờ vào “sức mạnh mềm” đối ngoại cùng với các hoạt động khác, đến nay Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia trên thế giới (bao gồm 191/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc), xây dựng quan hệ đối tác toàn diện với 12 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 18 nước, trong đó có 05 nước thành viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam cũng giải quyết hợp lý các vấn đề biên giới với các nước láng giềng, từng bước giải quyết các vấn đề phức tạp trên Biển Ðông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Ðặc biệt, Việt Nam luôn nêu cao chính nghĩa; đại đoàn kết dân tộc; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên trì nguyên tắc chiến lược, linh hoạt mềm dẻo trong sách lược; tuân thủ tư tưởng: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là một trong những nguồn “sức mạnh mềm” cơ bản, cùng với các sức mạnh khác hình thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng vững mạnh về chính trị - sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam

 Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán và là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của bài học đó. Ra đời từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, do Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng. Trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao quan điểm “người trước, súng sau”, coi chính trị là “gốc”, là nền tảng để xây dựng quân đội. Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”5. Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”6; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”7. Trung thành và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên trì quan điểm “lấy xây dựng sự vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, thông qua công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào Quân đội để xây dựng nền tảng tư tưởng của Quân đội; làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ vì ai mà chiến đấu, hy sinh; hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng của Đảng cũng là mục tiêu chiến đấu của Quân đội; hiểu rõ Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Bằng công tác tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập hệ thống tổ chức Đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ trong Quân đội, cùng hệ thống cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng của Đảng. Đồng thời, đã nhiều lần thay đổi cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội cho phù hợp với thực tiễn, nhằm không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh Quân đội luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua công tác cán bộ, Đảng chăm lo “công việc gốc” là xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, trong đó có đội ngũ cán bộ chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Cùng với đó và thông qua các mặt công tác khác của công tác đảng, công tác chính trị, sự lãnh đạo của Đảng đã đảm bảo cho Quân đội luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ thế mà mọi hoạt động của Quân đội trong suốt gần 80 năm qua luôn giữ đúng “con đường chính trị” của Đảng, nhiệm vụ quân sự luôn “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng.

Thực tiễn trong gần 80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị đã đem lại những thành tựu không thể phủ nhận. Từ khi ra đời đến nay, trong bất cứ hoàn cảnh nào, giai đoạn nào của cách mạng nước ta, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn chứng tỏ là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; đóng vai trò nòng cốt cùng toàn dân chiến đấu giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đảng bộ Quân đội luôn được xây dựng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Quân đội luôn kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; luôn giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; giữ vững và tăng cường các mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội với nhân dân và các mối quan hệ trong nội bộ Quân đội. Quân đội luôn vững vàng về chính trị, đi đầu trong đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; tỏ rõ là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong những năm qua cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm8. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì ở một số cơ quan, đơn vị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị có thời điểm chưa thường xuyên. Ý thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị có mặt còn hạn chế. Trước tác động của tình hình thế giới, khu vực, sự chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, một số cán bộ, chiến sĩ còn có biểu hiện dao động về tư tưởng; nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước chưa toàn diện và sâu sắc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên, bị tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, dẫn đến vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước tới mức phải xử lý kỷ luật, một số trường hợp phải xử lý hình sự. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng chưa cao; công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên ở một số cấp ủy, chi bộ chưa chặt chẽ. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý đảng viên, tổ chức đảng vi phạm kỷ luật ở một số đảng bộ, chi bộ chưa được thường xuyên, không kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện vi phạm. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mối quan hệ đoàn kết quân - dân; kết quả tăng cường mối quan hệ giữa Quân đội với nhân dân ở một số cơ quan, đơn vị Quân đội có lúc chưa đáp ứng tốt yêu cầu đề ra. Hiệu quả đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chưa tương xứng với vai trò, vị thế, tiềm năng và sức mạnh của Quân đội, v.v. Những hạn chế, khuyết điểm nói trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, đòi hỏi trong bối cảnh, tình hình mới, phải phấn đấu khắc phục triệt để, phải tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị với yêu cầu mới, cao hơn; đó là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị.

Xây dựng về chính trị - điều tất yếu với mọi quân đội

 Chính trị, với nghĩa phổ thông nhất là toàn bộ những hoạt động liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của chính trị là vấn đề giành và giữ chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị của quân đội là chính trị của giai cấp, nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng quân đội. Nói đến chính trị của quân đội là nói đến bản chất giai cấp của đội quân đó. Không có loại hình quân đội “phi giai cấp”, “phi chính trị”, hay “trung lập về chính trị”; bởi, quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để chiến đấu, bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực, nên quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra và nuôi dưỡng nó. Cả lý luận và thực tiễn lịch sử cũng như hiện tại đều khẳng định điều đó.

Tọa đàm khoa học “Xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị trong tình hình mới” tại Quân khu 1Ảnh: qdnd.vn

Xây dựng quân đội về chính trị là xây dựng các mối quan hệ xã hội của quân đội, mà cốt lõi là xây dựng bản chất giai cấp của quân đội. Với tư cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ thể chế chính trị nào cũng đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền và chiến đấu, phục vụ cho mục tiêu chính trị của thế lực cầm quyền. Mặt khác, các lực lượng chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm quân đội thông qua các biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách; trong đó, xây dựng quân đội về chính trị luôn là điều tất yếu đối với mọi quân đội, nhằm bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng tuyệt đối trung thành với mình. Điểm khác biệt chỉ ở chỗ: vấn đề xây dựng quân đội về chính trị được đặt ở vị trí nào trong so sánh với vấn đề xây dựng quân đội về vũ khí, trang bị. Đối với quân đội của thể chế chính trị tư sản, dưới sự chi phối của tư duy “vũ khí luận”, vấn đề xây dựng quân đội về vũ khí, trang bị luôn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, họ vẫn quan tâm đến xây dựng quân đội về chính trị thông qua các biện pháp về giáo dục tư tưởng, công tác tổ chức và chính sách, nhất là việc giáo dục mục tiêu chiến đấu cho binh sĩ và thực hiện đường lối giai cấp trong xây dựng đội ngũ sĩ quan.

Còn đối với quân đội của thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng quân đội về chính trị lại được đặt lên hàng đầu, được xác định là cơ sở nền tảng để xây dựng quân đội; bởi lẽ, trong khi không bao giờ xem nhẹ vai trò của vũ khí, trang bị, những người cộng sản luôn coi con người là yếu tố quyết định. V.I. Lênin đã khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”2. Với tinh thần đó, V.I. Lênin đã coi việc xây dựng vững mạnh về chính trị là một nguyên lý căn bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Người thẳng thừng phê phán sự che giấu bản chất chính trị, giai cấp của quân đội tư sản, rằng: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”3. Công khai bản chất giai cấp của quân đội kiểu mới, Người đã đề ra và tổ chức thực hiện nguyên tắc Hồng quân phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và coi đó là nguyên tắc quan trọng nhất, nhằm đảm bảo cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, V.I. Lênin yêu cầu phải thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội; thực hiện chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; thành lập cơ quan chính trị các cấp và thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội. Người nhấn mạnh: “Không có chính ủy thì chúng ta không có Hồng quân” và “… ở đâu kỷ luật giữ được vững nhất, ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các chính ủy làm được chu đáo nhất… ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, và tinh thần của họ cũng cao hơn; ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”4. Những tư tưởng đó của V.I. Lênin là kim chỉ nam cho hoạt động xây dựng quân đội của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như hiện nay. Xa rời những nguyên tắc cơ bản đó, quân đội sẽ không còn là đội quân cách mạng của giai cấp công nhân, không còn là công cụ bạo lực vũ trang tin cậy của Đảng Cộng sản trong đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đã cho thấy, sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 đã để lại bài học vô cùng đắt giá về vấn đề xây dựng quân đội về chính trị. Do từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, từ bỏ những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, quân đội Liên Xô trong thời gian này đã mất phương hướng chính trị, không bảo vệ được chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa, mặc dù quân số còn rất đông và được trang bị hiện đại.

Về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng trong tình hình mới

 Không gian mạng là môi trường chiến lược, “vùng lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc. Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp; trong đó, xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” vững chắc là nội dung căn cốt, nền tảng.

Thế giới đang trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển nhảy vọt của công nghệ, hình thành nên kỷ nguyên số; trong đó, mọi yếu tố đều có thể được số hóa, lưu trữ, trao đổi trên môi trường không gian mạng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến thứ sáu, bên cạnh môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, trong vũ trụ và trường điện từ; các cuộc tấn công mạng có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và quy mô ảnh hưởng, gây ra những hậu quả, thiệt hại nặng nề cho chủ thể bị tấn công.

Chiến tranh không gian mạng là hoạt động tấn công mạng do một hay một số quốc gia, vùng lãnh thổ tiến hành nhằm vào quốc gia, vùng lãnh thổ khác, gây tổn hại các hệ thống, quy trình và nguồn tài nguyên thông tin cũng như các kết cấu hạ tầng quan trọng khác; phá hoại hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội, tác động đến tâm lý của người dân nhằm tạo lợi thế về quân sự, chính trị, kinh tế, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Đặc điểm của chiến tranh mạng là không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Các cuộc tấn công mạng có thể được thực hiện từ bất kỳ vùng lãnh thổ nào trên thế giới có kết nối mạng toàn cầu, trong bất kỳ thời gian nào, bất kể ngày hay đêm, gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc của cuộc tấn công và truy cứu trách nhiệm của thủ phạm. Các cuộc tấn công mạng thường được chuẩn bị, thử nghiệm trong môi trường mạng đóng nên hết sức bí mật và khó phát hiện trước; khi phát động tấn công thì bất ngờ, đồng loạt, khiến các mục tiêu bị nhắm đến khó có thể ứng phó kịp thời; bên tấn công thường sử dụng các kỹ thuật tinh vi để ẩn danh và che giấu dấu vết của mình.

Thực tế những năm qua, các cuộc tấn công mạng đã diễn ra với nhiều cấp độ, quy mô, mục đích khác nhau, tần suất ngày một gia tăng và đang hiện hữu, trở thành một mối đe dọa lớn đối với mọi quốc gia. Mặt khác, môi trường tác chiến này cũng được nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển về công nghệ sử dụng để trinh sát, thu thập các thông tin quan trọng về chiến lược kinh tế, quân sự, quốc phòng; chiếm quyền kiểm soát, phá hủy, làm tê liệt hệ thống thông tin, hoạt động kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh; tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội; tác động đến tâm lý, nhận thức của người dân,... nước bị tấn công; đồng thời, hỗ trợ, phối hợp, hiệp đồng với các hoạt động quân sự truyền thống đạt được mục tiêu nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Đối với nước ta, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tác chiến không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc trên tất cả các môi trường, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước thì xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, cần được nghiên cứu, triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Có thể hiểu, thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng là thế bố trí lực lượng, vũ khí trang bị tác chiến trên không gian mạng quốc gia Việt Nam; kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, hình thành thế trận quốc phòng - an ninh trên không gian mạng an toàn, vững chắc. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng phải dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại; trong đó, huy động tối đa tiềm lực về khoa học và công nghệ của quốc gia phục vụ cho các hoạt động tác chiến không gian mạng nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Trong thời bình, tác chiến trên không gian mạng có nhiệm vụ bảo vệ an toàn hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ và sẵn sàng đối phó với các tình huống tấn công mạng. Vì vậy, ngay từ thời bình, cần xây dựng một thế trận, cơ sở hạ tầng vững chắc để tạo thế chủ động trước các cuộc chiến tranh mạng trong tương lai. Cần bố trí lực lượng, thế trận rộng khắp, bao gồm các yếu tố cơ sở hạ tầng, vũ khí mạng, lực lượng chuyên trách, lực lượng “dân quân mạng” rộng khắp, tạo thế chủ động có thể phòng thủ, tấn công mọi lúc, mọi nơi. Tạo những điểm giả (honeypot) thu hút nguồn lực của đối phương để hạn chế tổn hại khi bị tấn công mạng; đồng thời, tạo thế cho lực lượng tác chiến không gian mạng tấn công đối phương trên mọi phương diện. Có kế hoạch phối hợp tác chiến với các lực lượng trên lĩnh vực công nghệ thông tin, lực lượng 47, Ban Chỉ đạo 35 của các bộ, ban, ngành, các doanh nghiệp, công ty công nghệ thông tin, học sinh, sinh viên của các nhà trường, tiềm năng công nghệ,… nhằm tạo thế trận rộng khắp, thu hút, phân tán khả năng tấn công mạng của đối phương vào những mục tiêu cơ sở hạ tầng mạng trọng yếu.

Về trang thiết bị, hạ tầng, cần tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ mạng, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cung cấp điện năng độc lập,… phục vụ cho nhiệm vụ tác chiến không gian mạng. Tăng cường các giải pháp bảo vệ cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, trọng tâm là hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về an ninh mạng.

Để thực hiện tốt những mục tiêu, yêu cầu trên, xây “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” vững chắc, cần đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất và triển khai đồng bộ những nội dung, giải pháp cơ bản sau:

1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kỹ năng an toàn, an ninh mạng. Đây là nội dung, giải pháp cơ bản, nền tảng, nhằm trang bị cho toàn dân, mọi thành phần, lực lượng có kiến thức và kỹ năng về an toàn, an ninh mạng. Theo đó, tập trung tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 44/NQ-TƯ của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Luật An ninh mạng; Luật An toàn thông tin mạng; Quyết định số 964/QĐ-TTg, ngày 10/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược an toàn, an ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030; trong đó, tầm nhìn đến năm 2030 trở thành quốc gia tự chủ về an toàn, an ninh mạng để bảo vệ sự thịnh vượng của Việt Nam trên không gian mạng, v.v. Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm, kỹ năng an toàn, an ninh mạng của các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; tạo sức mạnh tổng hợp, đủ khả năng chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng.

2. Tạo lập thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Để thực hiện giải pháp này, Bộ Quốc phòng tập trung xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, cơ quan liên quan chủ động, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng. Tổ chức lực lượng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng cho các hệ thống thông tin của cơ quan Đảng, Nhà nước, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, hệ thống thông tin quân sự. Đồng thời, tham mưu, đề xuất xây dựng các hệ thống kỹ thuật nghiệp vụ, triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Có chế tài, chính sách huy động các đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân thực thi trách nhiệm và sứ mệnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng.

Bộ Công an xây dựng cơ chế, thiết lập đường dây nóng, hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin về tội phạm mạng để quần chúng nhân dân phản ánh kịp thời tới cơ quan chức năng về các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phù hợp với thời đại số; chủ động nghiên cứu, hình thành mô hình toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm quốc gia để kịp thời phát hiện, điều phối, ứng cứu sự cố an ninh mạng; thu thập, chia sẻ thông tin về an ninh mạng giữa Nhà nước và doanh nghiệp, trong nước và ngoài nước; xây dựng, hình thành nền tảng điều hành, giám sát an ninh mạng thống nhất.

Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy phát triển ứng dụng Internet an toàn nhằm bảo vệ người dân trên môi trường mạng; phát triển ứng dụng tuyên truyền (app), nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin cho người sử dụng; phát triển nền tảng hỗ trợ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; hướng dẫn tổ chức, cá nhân thay đổi thói quen, hành vi trên môi trường mạng theo các chuẩn mực an toàn.

3. Phát huy sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng khi có chiến tranh mạng xảy ra. Khi có chiến tranh mạng xảy ra, cùng với lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, cần huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân, chuyên gia về lĩnh vực an toàn thông tin, an ninh mạng bên ngoài nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp. Bên cạnh đó, huy động các phương tiện vật chất kỹ thuật, năng lực sửa chữa, sản xuất công nghiệp của nền kinh tế quốc dân và lực lượng cán bộ, nhân viên công nghệ thông tin trong diện dự bị động viên để phục vụ cho công tác bảo đảm trang bị, bảo đảm công nghệ thông tin quân sự khi có lệnh động viên của Nhà nước. Quá trình đó, cần triển khai các kế hoạch tác chiến mạng đã được xây dựng từ thời bình, triệt để tận dụng hệ thống công nghệ thông tin, thiết bị chiến trường đã được chuẩn bị từ trước; trên cơ sở đó, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện tác chiến thực tế. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, việc cơ động triển khai, bố trí lực lượng cần vận dụng các hình thức, biện pháp một cách linh hoạt, sáng tạo, bảo đảm bí mật, an toàn, hạn chế thấp nhất tổn thất do hỏa lực địch gây ra.

Thực hiện động viên quốc phòng theo thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục; huy động nhân lực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng theo quy định. Huy động mọi nguồn lực của đất nước hoặc một số địa phương cho nhiệm vụ quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng

 Không gian mạng là “môi trường đặc biệt”, nơi kết nối, chia sẻ thông tin toàn cầu, mang lại lợi ích, mặt tích cực trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng cũng có nhiều mối nguy hại đan xen. Việc người dùng có thể tự do đăng tải, chia sẻ thông tin không giới hạn lên không gian mạng khiến nơi đây đã, đang trở thành mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, tuyên truyền chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cần được đẩy mạnh cả về lý luận và thực tiễn.

Thực chất chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh ở Việt Nam là nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Đó là tổng hợp các hoạt động nhằm lôi kéo, dẫn dắt tư tưởng, hành động của quần chúng nhân dân, nhất là lớp trẻ; làm cho họ chạy theo những ham muốn tầm thường, xa rời lý tưởng cách mạng và bị sai khiến; làm cho nội bộ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và một trong những thủ đoạn mà chúng thường sử dụng là lợi dụng không gian mạng để đăng tải các bài viết, hình ảnh, video,... mang nội dung xuyên tạc, kích động có chủ đích.

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, các bài viết tuyên truyền, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên không gian mạng rất nhiều. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, trong 06 tháng đầu năm 2023, mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết tiêu cực, xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng, thu hút hàng chục triệu lượt bình luận, chia sẻ với tỷ lệ bình luận tiêu cực rất cao. Khi tìm kiếm trên mạng những vấn đề nóng, nhạy cảm đang được xã hội quan tâm sẽ cho hàng triệu kết quả. Trong đó, trên 05 trang đầu tiên luôn có hàng chục bài viết tiêu cực từ các trang mạng VOA, BBC, RFA, RFI, Báo Tiếng dân, v.v. Các bài tiêu cực tồn tại rất nhiều trên các website, YouTube, Facebook, Instagram,… do được đăng tải từ nhiều tài khoản; đăng tải nhắc lại không hạn chế ở các thời điểm khác nhau; nội dung chống phá rất linh hoạt, tiếp cận từ nhiều góc độ, không cần tiêu đề rõ ràng, mang tính ám chỉ việc xấu, hoặc chỉ nêu những bất bình trong cuộc sống…; từ đó, đặt câu hỏi, khêu gợi tư tưởng tiêu cực cho người đọc, người nghe, nên tốc độ phát tán và tương tác rất cao.

Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống diễn biến hòa bình trên các loại hình thông tin, truyền thông, nhất là môi trường mạng; tạo nên phong trào sôi nổi, thu hút nhiều đối tượng tham gia và đạt hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh vẫn còn những tồn tại, bất cập: (1). Số lượng cơ quan truyền thông, báo, tạp chí có chuyên mục đấu tranh chuyên biệt chưa nhiều, chủ yếu nằm trong lực lượng vũ trang; (2). Lượng tương tác bình luận, chia sẻ đối với các bài này còn thấp, chỉ đạt từ 2% - 4%; (3). Chưa có nhiều ‘kênh” đăng tải, chủ yếu là các bài viết dạng văn bản trên web, Facebook, khá ít trên YouTube; các trang Fanpage của các đơn vị cũng chỉ thu hút tương tác chủ yếu đối với tài khoản của nhóm bạn có cùng sở thích, nặng tính nội bộ, giáo dục lẫn nhau,... nên hiệu quả còn hạn chế. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng, bài viết xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một làxây dựng đồng bộ lực lượng quản trị, viết bài và tổ chức đấu tranh thường xuyên, liên tục. Đấu tranh chống diễn biến hòa bình là hoạt động tổng hợp, diễn ra trên mọi lĩnh vực, nên cần tìm kiếm, xây dựng mạng lưới cộng tác viên đa dạng, nhất là đối với lĩnh vực có nhiều hoạt động chống phá. Đối tượng lựa chọn phải được đặt lên hàng đầu tiêu chuẩn về chính trị; đủ năng lực khai thác thông tin, viết bài đấu tranh trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là các nhà khoa học, nhà báo có năng lực tiếp cận, viết bài nhanh bất kỳ vấn đề gì mà ban chỉ đạo đặt ra. Tập trung xây dựng các ban chỉ đạo đấu tranh vững mạnh, có khả năng dự báo tình hình, năng lực tổ chức, chỉ huy; thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng các kỹ năng chỉ đạo, phối hợp đấu tranh, sử dụng mạng,… để chỉ huy, chỉ đạo toàn lực lượng thực thi nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, cần kịp thời chỉ đạo: vấn đề nào cần đấu tranh trực diện; vấn đề nào tái khẳng định, bảo vệ; cách ứng xử những vấn đề nhạy cảm. Xác định: thành phần, lực lượng đảm nhiệm; phân phối nhiệm vụ; phương pháp điều hành thống nhất theo các tuyến; quy định bảo mật thông tin; bảo vệ lực lượng đấu tranh. Đồng thời, cần tổ chức một trục đấu tranh thống nhất trong toàn quốc gắn với phân công cụ thể hoạt động riêng của từng đơn vị, không để ngắt quãng, trầm lắng.

Hai làquy chuẩn về kỹ thuật các bài viết đấu tranh chống diễn biến hòa bình khi đăng tải trên mạng. Chúng ta đều biết, internet là kho thông tin khổng lồ, cho phép tương tác, tìm kiếm, chia sẻ thông tin, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người sử dụng. Để xử lý lượng thông tin đó, các công ty dịch vụ mạng như Google, Bing, ALO, Assk.com, Yahoo,... xây dựng bộ quy tắc SEO ( Search Engine Optimization - tối ưu hóa các công cụ tìm kiếm) để tăng hiệu năng tìm kiếm, chia sẻ thông tin. Vì vậy, muốn tăng hiệu quả tìm kiếm, tương tác, các bài viết cần đạt chuẩn SEO. Trong đó, tiêu đề dùng chữ thường, không nên quá 70 ký tự; chapo dưới 150 ký tự; hình ảnh có chất lượng tốt, không vi phạm bản quyền, chứa logo đơn vị phát hành, chú thích ảnh phải phụ trợ chủ đề bài viết; nội dung phân đoạn rõ ràng, có tiêu đề phụ theo phân cấp, không dài quá 250 ký tự, liên quan tiêu đề bài viết, v.v. Đặc biệt, việc nghiên cứu, lựa chọn từ khóa phù hợp với thị hiếu người dùng rất quan trọng; mật độ từ khóa trong bài càng cao thì hiệu lực tìm kiếm càng tốt; từ khóa cần có mặt trong tiêu đề chính, chapo, tiêu đề phụ, trong nội dung bài và cả chú thích ảnh. Ngoài ra, cần tạo các đường liên kết để giải thích nội hàm từ ngữ, vấn đề được trình bày cô đọng; liên kết với các bài liên quan để người dùng dễ dàng truy cập.

Bên cạnh đó, khi xây dựng trang web, đăng tải bài viết nên dùng trang có tên miền ngắn gọn; ưu tiên tên miền quốc tế (cấp 1) có đuôi .com, .net, .info, .gov…; sau đó đến tên miền quốc gia (cấp 2) có đuôi .vn, .au, .uk…; hạn chế tên miền có đuôi .edu.vn, .gov.vn, .edu.uk (cấp 3). Thực tế, trang huongsenviet.com, nhanvanviet.com,… có tên miền quốc tế nên dễ dàng tìm kiếm; các trang blogspot.com có tên miền cấp 3 nên khó tìm kiếm nội dung. Các tài khoản Facebook dùng cho đấu tranh cần đầy đủ ảnh đại diện, danh tính và các thông tin theo yêu cầu của nhà mạng; nếu ẩn danh, thiếu thông tin sẽ khó kết bạn, tham gia nhóm; bị nghi ngờ là tài khoản rác,... sẽ hạn chế tương tác, rất khó tiếp cận công chúng.

Ba làxây dựng hệ thống bài viết, chương trình đấu tranh theo từng lớp sự kiện, không để ngắt quãng, trầm lắng. Cái khó của bài viết đấu tranh là lựa chọn chủ đề phù hợp, có luận cứ, luận chứng rõ ràng, không nói nước đôi, tránh “tuyên truyền hộ địch”,... nên số lượng bài thường hạn chế. Ngoài ra, có một số bài viết hay, sức thuyết phục cao, nhưng lại đăng ở báo, tạp chí có mức độ ảnh hưởng thấp, hạn chế sức mạnh đấu tranh và lan tỏa. Để khắc phục, nên chia làm 03 tuyến bài; tuyến 1 có chất lượng cao của các nhà khoa học; đó là các bài đấu tranh toàn diện, khoa học về vấn đề địch chống phá. Tập trung lý luận chuyên sâu, phản ánh và giải thích thực trạng; thống nhất quan điểm, cách hiểu vấn đề, sự việc; hướng người đọc tiếp cận vấn đề theo hướng tích cực; từ đó, củng cố lập trường, quan điểm, tư tưởng, phản bác, đấu tranh trực diện quan điểm sai. Tuyến 2 là các bài nhỏ, ngắn khoảng 800 – 1.000 từ, đấu tranh trực diện trên từng mặt hoạt động, vấn đề nhánh; tác nghiệp nhanh. Bài tuyến 3 là những nhận xét, hình ảnh, đoạn video ngắn, tập trung lan tỏa gương người tốt, hoạt động nhân văn, cách làm sáng tạo vì cộng đồng, có nội dung phản biện lại luận điểm của địch; loại này dễ làm, sản xuất nhanh trên thiết bị di động, nhất là có lực lượng tham gia đông, không cần chuyên môn sâu. Các bài tuyến 1, 2 cố gắng tuân thủ chuẩn SEO, bài tuyến 3 không cần chuẩn SEO, nhưng bảo đảm linh hoạt, nhanh nhất. Đồng thời, căn cứ sự kiện lịch sử, kế hoạch hoạt động của Đảng, Nhà nước trong năm, cơ quan quản lý, cơ quan báo chí cần dự báo sự chống phá, xây dựng kế hoạch đấu tranh, đặt bài, đăng tải phù hợp. Bài tuyến 1 chủ yếu do các nhà khoa học, nghiên cứu, lực lượng quản trị đấu tranh, các nhà báo lớn thực hiện; bài tuyến 2, 3 do các cơ quan, đơn vị huy động mọi lực lượng, tiềm năng có thể. Bên cạnh đó, cần phân cấp, phân quyền quản lý, hỗ trợ từng mức độ bài viết; cho phép tác giả tự do gửi bài đến mọi ban biên tập trang web; chỉ đạo phát triển các bài giá trị, vấn đề quan trọng đã phản ánh ở tuyến dưới lên trên; đăng tải trên các báo, tạp chí phù hợp, ngang tầm. Đặc biệt, sản xuất video đấu tranh hiện nay gặp khó khăn về chi phí, thời gian, nhân công; kịch bản hạn chế; khó tìm hình ảnh sống; phát biểu dễ va chạm,... nên cần có cơ chế tốt hơn cho loại hình đấu tranh này.

Bốn làtăng cường số lượng bài viết, mật độ đăng tải để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Chúng ta có nhiều bài viết sâu sắc, chất lượng cao, là sản phẩm trí tuệ của nhiều nhà báo, nhà khoa học, cộng tác viên có tâm với sự nghiệp cách mạng; nếu không lan tỏa đến đông đảo bạn đọc sẽ rất lãng phí. Do đó, các cơ quan báo chí, nhất là báo chí chủ lực cần duy trì tốt chuyên mục bình luận, phê phán để đăng tải các bài viết tuyến 1. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần phân công các báo, tạp chí có độ tương tác cao tái đăng tải bài tuyến 1 trong các chuyên mục phù hợp. Các đơn vị tham gia đấu tranh tự nâng cấp trang web thành tên miền cấp 1, 2 để đăng tải bài do cán bộ, nhân viên nội bộ tự viết; được phép đăng lại các bài tuyến 1, 2 của đơn vị bạn dưới dạng trích nguồn. Bài tuyến 3 nên đăng trên mạng xã hội Facebook, Instagram, Tiktok, Telegram, v.v. Sự tương tác, bình luận đối với các bài tuyến 3 sẽ rất lớn, lớn nhất trong 3 tuyến bài, gồm phản biện cả đồng thuận lẫn trái chiều. Quan điểm của cộng đồng mạng là cơ sở để chúng ta xác định thêm chủ đề đấu tranh, lựa chọn vấn đề cần nâng cấp lên các bài tuyến 1, 2. Bên cạnh đó, đặc thù chống phá của các thế lực thù địch là lặp lại cùng một vấn đề ở nhiều thời gian khác nhau nên cùng với những bài đấu tranh mới, cần cho phép tái đăng tải lại những bài cũ để làm dầy mật độ đấu tranh, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn một vấn đề không mới nhưng đang đặt ra ở thời điểm hiện tại.

Cùng với các giải pháp trên, cần có chế tài quản lý, xử lý nghiêm việc đăng tin sai sự thật, tung tin thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp kỹ thuật để theo dõi, thống kê, đánh giá tình hình, theo vết các tài khoản chứa nhiều thông tin xấu, độc; tổ chức ngăn chặn, giảm tốc độ truy cập; hoặc phối hợp bóc gỡ để làm sạch môi trường mạng, hỗ trợ thông tin trung thực, chính thống; định hướng tư tưởng quần chúng nhân dân vững tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Việt Nam không chọn bên, mà chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

 Thứ nhất, trong lịch sử cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam nhất quán không “chọn bên”.

Có thể khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đó luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ được kết tinh từ trong lịch sử, thể hiện ý chí tự cường của một dân tộc nhỏ trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Tinh thần độc lập, tự chủ thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng giai đoạn tổng khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào”(1). Tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt chiều dài lịch sử, trước những biến đổi của thời đại, sự chênh lệch tương quan lực lượng giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng Việt Nam đã bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc của mình chính là nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu và nguyên tắc độc lập, tự chủ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước các biến cố chao đảo của thời cuộc, giữa những dao động, ngả nghiêng của lòng người, của niềm tin về tương lai của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Việt Nam vẫn vững vàng, kiên tâm trên con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; trên cơ sở đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, giữ vững độc lập, tự chủ, đưa đất nước đi lên.

Trong thời kỳ Đổi mới, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, Việt Nam đã thực hiện chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào. Qua các kỳ Đại hội, đường lối đối ngoại đã được bổ sung và hoàn chỉnh. Từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn”, đến “Việt Nam sẵn sàng làm bạn”, và hiện nay “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán, có tầm quan trọng xuyên suốt, mang ý nghĩa sống của Việt Nam trên con đường đổi mới.

Xuyên suốt lịch sử cách mạng đấu tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc, không đứng về bên nọ để chống bên kia. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, phát huy nội lực, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, thực hiện chính sách đối ngoại vì hòa bình, tự vệ, chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những gì thuộc về chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao, bất khả xâm phạm. Đây là vấn đề bất biến, cốt lõi, chính yếu, thường trực, không thể đánh đổi hay nhân nhượng, không thể để nước ngoài thao túng, quyết định vận mệnh của đất nước. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. 

Trong những thời kỳ lịch sử cách mạng, Việt Nam có lúc bị kẹt giữa những toan tính của các nước lớn, song chúng ta vẫn vượt qua được những thách thức hiểm nghèo, bảo toàn được thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, khi cạnh tranh giữa các nước lớn có nguy cơ chia rẽ thế giới theo những lằn ranh mới, quyết liệt và sâu sắc hơn, tác động trực tiếp và nhiều chiều đến quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn kiên vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không ngả theo bên nọ để chống bên kia. Hiếm có quốc gia nào có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn như Việt Nam(2); và có quan hệ ngoại giao với 192 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Việt Nam đã gắn kết và đan xen lợi ích với nhiều quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh. Quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định. Việt Nam chủ động thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác; tích cực hội nhập quốc tế ngày một toàn diện, sâu rộng Trong bối cảnh thế giới và khu vực đan xen nhiều thách thức khó lường, Việt Nam phát huy vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Việt Nam.

Như vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước ngoài để gia tăng sức mạnh bảo vệ, phát triển đất nước là không có cơ sở, ảo tưởng, phi thực tế.

Thứ hai, Việt Nam chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

Bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều biến động phức tạp, bất lường. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực và trên thế giới ngày càng quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, diễn ra dưới nhiều hình thức, với quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng, tính đối kháng ngày càng gay gắt, nội dung ngày càng phức tạp, do đó tính khốc liệt cũng ngày một gia tăng, không gian và thời gian là vô cùng, không có giới hạn, đôi khi mang dáng dấp một cuộc chiến tranh lạnh. Các nước lớn vừa đấu tranh, vừa thỏa hiệp, kéo theo đó là những tập hợp lực lượng mới manh nha, những “sáng kiến” chiến lược được hình thành, những điều ước mà đằng sau đó là những liên minh, liên kết... ra đời, nhiều khi đặt các nước phải thể hiện rõ lập trường, tham gia hay không tham gia, tham gia như thế nào để đạt được lợi ích tối ưu cho đất nước. Thế giới dường như ngày càng có xu hướng phân tuyến rõ ràng. Việt Nam - một quốc gia thành viên ASEAN có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, là đối tượng quan tâm của các nước lớn. Do vậy, trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, các nước đều hàm ý muốn lôi kéo Việt Nam tham gia những sáng kiến, tập hợp lực lượng mà họ “dàn xếp”, thông qua “sức mạnh mềm” viện trợ, đầu tư, phát triển... Bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam xác định nguyên tắc, lợi ích và cách ứng xử với các nước trên cơ sở lợi ích chung; lựa chọn đối sách có lợi cho đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cần thấy rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hợp tác và đấu tranh là hai mặt song hành; trong quan hệ đối tác - đối tượng có sự đan xen, chuyển hóa. Phương châm này giúp chúng ta tận dụng cơ hội hợp tác; đồng thời, thấy rõ hơn sự khác biệt về lợi ích để tìm các giải pháp đưa quan hệ phát triển, không bỏ lỡ cơ hội hợp tác, nhưng cũng không lơ là, mất cảnh giác. Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta là nhằm tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng, đối tác chỉ là để hợp tác và đối tượng chỉ là để đấu tranh. Với nhận thức mới như vậy, trong môi trường quốc tế ngày càng “phẳng”, sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc, đa chiều..., Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, cả song phương và đa phương, với cả những nước có yếu tố đối tượng của chúng ta. Đối với các vấn đề bất đồng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, Việt Nam tìm cách xử lý khôn khéo, tránh đối đầu, tránh “chọn bên”, song kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc; đối thoại, hợp tác để xử lý các khác biệt, bất đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, với tầm nhìn chiến lược là phục vụ mục tiêu an ninh, hòa bình, phát triển của đất nước. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân ngày 20-12-2022: “Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác, đối tượng quốc phòng, không để bị động, bất ngờ; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc, không “chọn bên”(3).

Thời gian qua, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp; cuộc cạnh tranh, thậm chí có lúc lên tới mức đối đầu giữa các nước lớn hiện nay đang đặt nhân loại trước những hiểm họa khôn lường, khó dự đoán. “Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta”(4).Trong điều kiện tình hình thế giới vô cùng nhạy cảm, phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên trì thực hiện chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là thượng sách để giữ vững hòa bình đất nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã phát huy sức mạnh “Ngoại giao cây tre”: mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, kiên định, như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (năm 2016) và tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2921, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm. Cứng mà không gãy, đa phương mà không phụ thuộc, “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, song cũng kiên trì, kiên quyết trong ứng xử những vấn đề thuộc về nguyên tắc “bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”, không chỉ khai thông “thế khó” của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, mà còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, góp phần bảo vệ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiễn cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 và Đội công binh số 2 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Abye _Nguồn: vietnamplus.vn

Với truyền thống văn hóa giữ nước hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải, chính nghĩa, là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác trong giải quyết những vấn đề an ninh đang nổi lên, đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì nền hòa bình bền vững của nhân loại.

Như vậy, quan điểm cổ xúy cho việc “chọn bên” hoàn toàn đi ngược lại  với đường lối, chủ trương của Đảng, trái chiều với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta không chọn bên mà chọn chính nghĩa, lẽ phải. Trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ngày 12-5-2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu rõ: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng”. Chọn chính nghĩa là chọn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của đất nước ta. Chọn lẽ phải là chọn hòa bình và phát triển thịnh vượng của thế giới.

Chúng ta chọn hòa bình bởi Việt Nam đã trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược, các thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu để giành và giữ nền độc lập, tự do dân tộc, sự vẹn toàn của bờ cõi, chủ quyền đất nước, nhưng Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, khát vọng hòa bình cũng chính là khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và ngày nay là khát vọng phồn vinh, hạnh phúc, tự cường.

Chúng ta chọn phát triển, hợp tác vì đó là sự lựa chọn hợp lẽ, vì mục tiêu phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phù hợp với xu hướng chung của tất cả các nước trên thế giới. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng phát triển của đất nước gắn liền với khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của cả khu vực và thế giới.

Sự lựa chọn đó của Việt Nam phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Và chỉ có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới có thể bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đưa đất nước phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc./.

Chọn bên hay chọn lợi ích quốc gia - dân tộc?

 Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, giữa các nước lớn, nhất là giữa các cặp quan hệ, luôn tồn tại mâu thuẫn và khác biệt sâu sắc về lợi ích. Khi giữa các cường quốc có sự đối địch, chia phe, cạnh tranh ảnh hưởng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó xử đối với các nước vừa và nhỏ trong việc phải “chọn bên”. Bởi lẽ, không phải cứ chọn bên là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, khi mà tham vọng lợi ích của các cường quốc thường vượt quá giới hạn luật pháp quốc tế và đi ngược lại lợi ích chung của nhân loại, đề cao lợi ích của mình để xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và giá trị lợi ích của họ. Thậm chí, kể cả khi lợi ích của họ có sự hội tụ nhất định ở một vài điểm, khía cạnh nào đó, họ cũng sẵn sàng mặc cả trên lưng các nước khác.

Việc chọn bên mà không tính và không lường hết được những toan tính chiến lược đó sẽ chỉ tạo ra sự phân cực, chia rẽ mới, gây thảm họa cho chính quốc gia đó. Và khi chọn bên, tham gia liên minh thì cái giá phải trả là gì? An ninh chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc phải chăng sẽ được bảo đảm bằng những lời hứa, cam kết? Điều chắc chắn, đó là phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc của mình với cường quốc khi tham gia liên minh. Đó là điều không thể khác trong quan hệ quốc tế. Do vậy, dựa vào một quốc gia nào đó cho dù là “nước phát triển”, hay “cường quốc” thì chẳng những không giải quyết được vấn đề, mà còn khiến tình hình thêm căng thẳng và phức tạp.

Thế nhưng, không ít người ngộ nhận rằng, lựa chọn đứng về “bên” nào sẽ quyết định tương lai, số phận của quốc gia đó. Bài học lịch sử cho thấy, một số nước do không giữ được độc lập, tự chủ, nên phải tìm chỗ dựa hoặc cầu viện vào thế lực bên ngoài, bị cuốn vào guồng quay của những toan tính nước lớn mà không dễ gì thoát khỏi, để đất nước rơi vào thảm cảnh loạn ly bởi các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Các cuộc “cách mạng màu”, hay còn gọi là “cách mạng dân chủ” trên thế giới trong những năm qua là hệ quả của việc quốc gia, khu vực không bảo đảm độc lập, tự chủ, để các lực lượng bên ngoài thao túng, can thiệp khi xảy ra khủng hoảng, khiến nút thắt của những xung đột, mâu thuẫn, đối kháng nội bộ càng thêm rối ren.

Lựa chọn chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước hết là quyền của mỗi quốc gia. Không một ai, với tư cách, danh nghĩa gì được phép tước bỏ, xâm phạm quyền đó, hoặc lợi dụng để ép buộc quốc gia khác phải đi theo mô hình, giá trị của họ. Việc chọn bên hay không chọn bên, đều phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; dựa vào sức mình là chính, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; không thể ảo tưởng, trông chờ, phó thác hoàn toàn vào bất cứ “bên”, “liên minh” nào, nhất là ngày nay, xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chiếm vai trò chủ đạo.

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nhất là trong thời điểm biến động sâu sắc về địa - chính trị hiện nay, sự cạnh tranh cũng như điều chỉnh chính sách của các nước lớn khác trước rất nhiều so với giai đoạn trước, chứa đựng nhiều nhân tố khó dự báo. Việc các nước lớn đều theo đuổi các tầm nhìn khác nhau về cấu trúc khu vực, xúc tiến mở rộng tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng thông qua các sáng kiến khu vực, hình thành các liên minh tay ba, tay tư, sử dụng “quyền lực mềm” nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các nước thông qua các quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại, chuyển giao công nghệ, viện trợ,... đặt các nước vừa và nhỏ trước ranh giới của sự “chọn bên”. Duy trì chính sách độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành một bài toán nan giải đối với các nước.

Một thực tế khác cũng cần nói đến là, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước tạo nên một mạng lưới đan xen phức tạp, chồng chéo, khiến việc giữ độc lập, tự chủ, tránh chọn bên của các nước ngày càng trở thành một thách thức.

Thực tế này đòi hỏi các nước nhỏ càng phải phát huy cao nhất tinh thần độc lập, tự chủ; vừa kiên định trong lập trường, vừa hết sức khôn khéo, mềm dẻo trong đấu tranh vì lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, tránh xung đột, đối đầu; đồng thời, phải tính đến không gian phát triển, không tự bó buộc mình vào vị trí bất lợi cho đất nước trong bối cảnh cục diện quan hệ quốc tế còn nhiều bất định; sự vận động của cấu trúc quyền lực thế giới mới đang có nhiều đảo chiều, biến đổi.

Trong bối cảnh đó, cân bằng quan hệ để tránh tối đa những mâu thuẫn, bất lợi, rủi ro, leo thang thành cuộc đối đầu, xung đột toàn diện; tối đa hóa không gian hợp tác, tối ưu hóa lợi ích an ninh, phát triển là sự lựa chọn của hầu hết các nước trong khu vực hiện nay. Đối với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lập trường của hầu hết các nước là không “chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Đây là vấn đề cốt lõi, sinh tử của các nước, bởi sự “chọn bên” có thể dẫn đến sự phân hóa, chia rẽ mới trong khu vực, biến khu vực thành “sân khấu tranh chấp địa - chính trị”. Thực tế đó đòi hỏi các nước triển khai chính sách linh hoạt, tránh xung đột, đối đầu. Đây được cho là sự lựa chọn tối ưu nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền đất nước, duy trì thế tự chủ chiến lược, thể hiện khát vọng một ASEAN tự cường, trung lập, hòa bình, ổn định, củng cố “vai trò trung tâm” trong bối cảnh tác động chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn.

Việc một số quốc gia xích lại gần bên nọ, bên kia là điều tự nhiên; liên minh để bảo đảm an ninh, phát triển là điều dễ hiểu, song hầu hết các nước không muốn bị ép buộc phải chọn bên. Hơn lúc nào hết, việc chọn bên trong thời điểm cao trào xung đột nước lớn, giống như việc “đổ thêm dầu vào lửa”, tạo thế đối trọng giữa các bên, mâu thuẫn giữa các trục liên minh cũng vì thế gia tăng, làm tổn hại đến chính lợi ích của các nước. Do vậy, quan điểm cổ xúy “chọn bên” chỉ là ảo tưởng, phi thực tế, phi căn cứ. Lợi ích quốc gia - dân tộc mới chính là sự lựa chọn phù hợp, bất biến, bền vững. Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực, luôn thấu hiểu rõ điều này. Uy-li-am Chong, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (SAS - Yusof Ishak) có trụ sở tại Xin-ga-po, khi nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bài viết “Mạnh mẽ và tinh tế: Cách tiếp cận của Việt Nam để đối phó với sự cạnh tranh của các cường quốc”, trên trang mạng Thinkchina ngày 10-5-2021 đã cho rằng: “Nếu quyền tự quyết trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn là khả năng tối đa hóa lợi ích từ cả hai cường quốc trong khi áp dụng các chính sách phòng ngừa rủi ro để duy trì quan hệ, thì Việt Nam là một điển hình kinh điển của nghệ thuật đó, có thể giúp các quốc gia Đông Nam Á khác nhân rộng chính sách này một cách hữu hiệu”.

Lễ thượng cờ ASEAN nhân dịp kỷ niệm 56 năm Ngày thành lập ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2023) và kỷ niệm 28 năm Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN (28-7-1995 - 28-7-2023) tại Hà Nội _Nguồn: qdnd.vn

Đằng sau âm mưu cổ xúy “chọn bên”

 Lâu nay, chính sách đối ngoại của Việt Nam là một trong những mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch, phản động. Ngoài việc bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất các vấn đề, các sự kiện, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam, họ còn cổ xúy cho cái gọi là “chọn bên”, rằng Việt Nam cần dựa vào nước này để chống nước khác. Gần đây, trước những biến động lớn của đời sống quốc tế liên quan đến cạnh tranh giữa các cường quốc, nhất là cuộc xung đột tại U-crai-na, các phần tử phản động lại rộ lên các chiêu bài cũ, liên tục rêu rao “giảng dạy” cho Việt Nam về chính sách ngoại giao với các nước, đặc biệt là mối quan hệ với các nước lớn, cho rằng đây là cơ hội lịch sử nghìn năm có một để “Việt Nam vươn ra khỏi vòng kim cô”, rằng đây là lúc “thoát Trung, bài Nga”, sớm “đưa Việt Nam hội nhập vào thế giới tự do, văn minh và tiến bộ của phương Tây, đúng với vị trí mà thế giới mong đợi(?!)”. Thậm chí, trên các trang facebook của họ còn xuất hiện cái gọi là “thoát Trung luận” với những luận điểm cổ xúy cho việc chọn bên. Họ cho rằng Việt Nam cần dựa vào Mỹ và các nước phương Tây để vừa phát triển kinh tế, vừa “ngăn chặn hiểm họa từ nước khác”.

Một số quan điểm cho rằng, Mỹ đang muốn lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc do Mỹ đứng đầu, muốn Việt Nam gia nhập “Bộ tứ kim cương mở rộng” nhằm tăng cường sức ép đối với Trung Quốc. Không chỉ đưa ra những luận điểm “bài”, “thoát”, mà họ còn cho rằng cần thiết lập “đồng minh” với các nước lớn, quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, họ hô hào rằng, chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc; không liên minh quân sự thì mất lãnh thổ, chủ quyền ở Biển Đông; Việt Nam nên liên minh quân sự với các nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh để được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Thậm chí, có ý kiến còn cổ xúy cho quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm chống nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ quốc; rằng cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này. Họ cho rằng, vì mục đích bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Thông qua thủ đoạn thâm độc này, họ tìm cách tác động đến dư luận, để qua đó hướng lái chính sách đối ngoại, hòng đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, từ đó làm chệch hướng sự nghiệp cách mạng mà Việt Nam đang thực hiện.

Thực tế, chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại, cho rằng Việt Nam không “dứt khoát” trong quan hệ quốc tế, kích động Việt Nam phải thể hiện lập trường, phải chọn bên, là một thủ đoạn thường xuyên được các thế lực thù địch, phản động tìm cách phát tán, cho thấy một sự nhận thức lệch lạc, thiếu hiểu biết, thiếu khách quan, suy diễn một chiều, mơ hồ về chính trị, xuyên tạc vô căn cứ đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Thực chất của những hoạt động trên cũng chỉ nhằm thông qua sự can thiệp từ bên ngoài hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta.