Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Nhựa sống được ươm mầm, sinh sôi từ tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo động lực cho mảnh đất Tây Nguyên nỗ lực phấn đấu, vươn lên, cống hiến ngày càng lớn vào công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước

 Tây Nguyên là vùng đất trải dài từ Kon Tum tới Lâm Đồng, bao gồm 5 tỉnh, với diện tích trên 54 nghìn km2 và dân số 5,5 triệu người (chiếm 1/6 diện tích cả nước; lớn thứ ba trong 6 vùng kinh tế - xã hội); được coi là “phên giậu phía tây của Tổ quốc”, là “nóc nhà của Đông Dương”; bao gồm 52 dân tộc thiểu số (chiếm tỷ lệ khoảng 36% dân số toàn vùng), mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự giàu có, đa dạng bản sắc(15). Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trong phát triển, giữ vai trò tâm điểm trong kết nối Đông - Tây; có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh đối với cả nước...

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng phát triển, tiến bộ, văn minh. Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Một số thành quả tại vùng đã được ghi nhận, như các chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai thực hiện hiệu quả, đời sống vật chất, tinh thần của người dân từng bước được cải thiện, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt, khơi dậy và nâng cao ý thức đoàn kết, tính tự lực, tự cường trong việc phát triển sản xuất, giảm nghèo; giá trị văn hóa các dân tộc được bảo tồn, kế thừa và phát huy, một số di tích văn hóa, lịch sử được tu bổ, tôn tạo, trong đó Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là “kiệt tác truyền khẩu” và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại,...

Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng phát triển_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên hiện nay còn một số khó khăn, bất cập, như khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân tộc chậm được thu hẹp, sự thụ hưởng lợi ích từ các chính sách chưa đồng đều; đất sản xuất, đất ở của đồng bào chậm được giải quyết; tâm lý ỷ lại vẫn còn ở một số nhóm người; ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa ở một số bộ phận người dân còn mờ nhạt,... Đặc biệt, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp đất đai còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đất đai,... để kích động, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam(16).

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và kịp thời giải quyết hạn chế, khó khăn, vướng mắc, hướng tới đẩy mạnh phát triển “nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên”(17), cần tiếp tục thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ gìn và phát huy tinh thần đại đoàn kết dựa trên chỉ dẫn, quan điểm và tư tưởng Hồ Chí Minh, xem đó là truyền thống quý báu, sức mạnh nội sinh không thể thay thế, đồng thời, đặc biệt chú trọng nhiệm vụ tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, hướng tới xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, từ đó, tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi nhất cho các địa phương vùng Tây Nguyên phát triển bền vững. Có thể khẳng định, nhiệm vụ thực hiện đoàn kết dân tộc ở vùng Tây Nguyên hiện nay là củng cố tình đoàn kết, gắn bó giữa người Kinh với các dân tộc khác; đoàn kết các dân tộc thiểu số trong vùng với nhau; đoàn kết người dân các dân tộc tại chỗ và di cư từ nơi khác đến. Bên cạnh đó, nghiêm túc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước(18) trong phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả, thiết thực.

Hai là, thực hiện tốt chính sách dân tộc đặt trong mối quan hệ đồng bộ, hài hòa với chính sách phát triển kinh tế - xã hội; khắc phục bất cập, hạn chế, thiếu sót đặt ra trong thực tiễn thực thi chính sách, không ngừng nâng cao hiệu quả triển khai các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch trong thực tế; giải quyết tốt các vấn đề lịch sử có liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đất đai trên toàn vùng. Mặt khác, các dân tộc vùng Tây Nguyên cần phát huy hơn nữa tinh thần tự lực, tự cường, tránh để các thế lực phản động, thù địch gây chia rẽ, kích động, gây hận thù,... để sẵn sàng cùng đồng bào cả nước tương trợ lẫn nhau, nỗ lực vượt qua gian nan, thử thách, hướng tới xây dựng cuộc sống ấm no, bình yên và hạnh phúc trên tinh thần “Cả nước vì Tây Nguyên; Tây Nguyên vượt khó vươn lên cùng cả nước và vì cả nước!”(19).

Ba là, trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển đời sống, cần thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ, “xây” và “chống”, cụ thể: 1- Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng quan điểm, đường lối của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cơ sở; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở vùng Tây Nguyên bằng các luận điểm khoa học, các kết quả nghiên cứu thực tiễn; 2- Cảnh giác, phòng ngừa, kịp thời đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch tiến hành tại vùng Tây Nguyên, nhất là đối với các lực lượng đã lộ diện; ngăn chặn từ xa đối với các nguy cơ tiềm ẩn bằng việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở và chú trọng xây dựng thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc./.

LHQ-ST

Tình cảm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Nhằm hưởng ứng, ủng hộ lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thực hiện chủ trương, chỉ đạo sâu sát của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào vùng Tây Nguyên đã nỗ lực phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để cùng kề vai, sát cánh, anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đem hết sức mình xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng, lập nên những chiến công vang dội; cống hiến cho đất nước những người con ưu tú, xả thân vì Tổ quốc và vun đắp cho mối tình đoàn kết, keo sơn giữa các dân tộc, tiêu biểu như Đinh Núp (dân tộc Ba-na), Y Buông, A Tranh (dân tộc Xơ-đăng), N’Trang Lơng (dân tộc Mơ-nông) hoặc các vị cách mạng tiền bối, như Y Ngông Niê Kđăm, Y Bih Alêô (dân tộc Ê-đê), Nay Đer (dân tộc Gia-rai), Pi Năng Tắc (dân tộc Ra Glai),...

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu trút hơi thở cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào cả nước. Thời khắc đó, chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Thường vụ Khu ủy khu V, từ ngày 4 đến ngày 10-9-1969, tại vùng giải phóng các tỉnh vùng Tây Nguyên, các ban tang lễ được thành lập để tổ chức lễ tang và truy điệu Người. Đồng bào Tây Nguyên, kể cả đồng bào trong vùng địch tạm chiếm ai nấy đều tiếc thương, đau buồn khi nghe tin Người mất, như trong câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”! Bằng mọi hình thức công khai hay bí mật, nhiều đồng bào đã tiến hành để tang Người trong 7 ngày, có nơi tới tận 9 ngày... Riêng anh hùng dân tộc Ba-na, Đinh Núp tự mình để tang Người trọn vẹn 100 ngày, đồng thời nhiều làng đánh chiêng tang báo tin cho nhau...; từ trẻ em đến cụ già đều tỏ lòng đau thương vô hạn.

Điều tiếc nuối nhất, lúc sinh thời, do bối cảnh đất nước bị chiến tranh, điều kiện đi lại khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không thể thực hiện được niềm mong mỏi vào thăm miền Nam. Hàng vạn đồng bào Tây Nguyên không có may mắn được trực tiếp gặp Người như người dân những địa phương mà Người đã đặt chân đến, nhưng đồng bào vẫn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm của Người đối với mình. Đồng bào Tây Nguyên đáp lại tấm ân tình đó bằng niềm tin yêu, lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc và sự ủng hộ chân thành. Điều này đã được cụ Y Bih Alêô, từng là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định: “Tình cảm của Bác đối với Tây Nguyên là sức mạnh vô biên, nó luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Ea Đrăng... Chúng tôi nhớ lời Bác và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”(11).

Tình cảm của đồng bào vùng Tây Nguyên đối với Bác thật sâu sắc, thậm chí, đã hóa thân vào nếp sống sinh hoạt tinh thần, văn hóa hằng ngày trong kho tàng ca dao, tục ngữ nơi đây, tiêu biểu trong số đó, có thể nhắc đến một số câu ca dao nổi bật, thường xuyên xuất hiện, như “Người Êđê chưa gặp mặt Bác Hồ/ Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ” (Ca dao dân tộc Ê-đê); “Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc/ Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương” (Ca dao dân tộc Mơ-nông); hay “Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ” (Đồng bào H-rê). Thêm vào đó, đồng bào Ê-đê, Gia-rai, Ba-na cũng thường hát: “Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh”; trong ngôn ngữ dân tộc mình, người Ê-đê gọi Hồ Chủ tịch là Awa Hồ, người Ba-na gọi là Bok Hồ, người Gia-rai gọi là “Ơi”... Ở tỉnh Kon Tum, gần như gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nào cũng treo ảnh Bác Hồ ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, việc được tặng ảnh Bác Hồ cũng là món quà vô cùng quý giá đối với đồng bào.

Tiếp thu tình cảm, tư tưởng cũng như trí tuệ, tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn sát cánh cùng đồng bào cả nước, một lòng theo Đảng, tin theo cách mạng quyết tâm đánh giặc, xây dựng làng chiến đấu, góp lương thực nuôi bộ đội, nuôi giấu cán bộ...; vượt qua gian nan, thử thách để dần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng buôn, làng hạnh phúc, ấm no; hình ảnh Bác Hồ như đang hiện hữu làm điểm tựa tinh thần và cổ vũ đồng bào. Cụ Y Bih Alêô đã khẳng định: “Người Tây Nguyên chưa được tận mắt nhìn con người thật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Bác đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên như gió mùa xuân luồn vào rừng già thấm mát và bền vững. Ai cũng thấy mình là người con trai, con gái của Bác Hồ”(12); còn bác sĩ nổi tiếng Y Ngông bày tỏ: “Lòng kính yêu Bác Hồ của nhân dân Tây Nguyên nhiều như cây rừng, cao như núi đá, dài như nước suối”(13).

Vào ngày 11-4-1978, ở thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thay mặt Đảng, Nhà nước phát biểu rằng: “Khi còn sống, Bác Hồ vô cùng thương nhớ Tây Nguyên! Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước đánh giá cao sự hy sinh không bờ bến và lòng dũng cảm tuyệt vời của đồng bào Tây Nguyên và đồng bào tỉnh Đắk Lắk. Tổ quốc ta, nhân dân ta và các thế hệ mai sau đời đời nhớ ơn các liệt sĩ từ khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên chiến trường Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên(14).

LHQ-ST

Cảnh giác trước các âm mưu lôi kéo, kích động

 

Xem thông tin kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; khủng bố; tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; che giấu tội phạm” xảy ra tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk), nhiều bác nghỉ hưu ở khu phố 7, phường Xuân Khanh (Sơn Tây, Hà Nội) không khỏi bất ngờ. Trong giờ uống trà buổi tối, chuyện này được bàn luận sôi nổi.

- Tôi nghĩ với tính chất, hành vi khủng bố dã man, tàn bạo, nguy hiểm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án các bị cáo phải chịu nặng hơn. Thực tế, không chỉ người dân nước ta mà cả thế giới đều lên án mạnh mẽ hành vi khủng bố. Các nước đều đấu tranh kiên quyết và triệt để, không khoan nhượng với tội phạm khủng bố...

Cựu chiến binh Sơn vừa dứt lời, bác Mẫn cũng bày tỏ bức xúc:

- Đúng thế! Đó là chưa kể, những kẻ khủng bố hoạt động có tổ chức nhằm thực hiện mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân, chống phá đất nước, làm xáo trộn cuộc sống bình yên của cả huyện, cả tỉnh. Tại phiên tòa, tất cả bị cáo và luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đều đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngay một số trang mạng phản động lần này cũng không thể có ý kiến phản đối tội danh của các bị cáo, bởi những hành vi nguy hiểm và tội lỗi các bị cáo gây ra đã quá rõ ràng. Đáng lẽ tòa phải tuyên phạt thích đáng hơn. 

Thấy các “bạn hưu” đều không đồng tình với mức án “nhẹ” mà tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk vào đêm 10-6, rạng sáng 11-6-2023, bác Hòa, nguyên là cán bộ ngành tư pháp, giải thích:

- Các bác nói cũng hợp lý, vì với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội khủng bố gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án pháp luật quy định rất nặng. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình đối với 2 bị cáo, tù chung thân đối với 11 bị cáo, các bị cáo khác đề nghị mức án từ 12 tháng đến 20 năm tù giam. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều bày tỏ đã nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, xin được Đảng, Nhà nước, pháp luật, nhân dân và Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộc đời. Đồng thời, các bị cáo cũng xin lỗi những gia đình người bị hại và mong được tha thứ; mong mọi người không nghe theo kẻ xấu, không làm những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Nhận thấy hầu hết bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết còn hạn chế, dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, kích động làm những việc trái pháp luật; sau khi xem xét khách quan, toàn diện vụ án, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo mức án thấp hơn Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị. Cụ thể là tuyên phạt 10 bị cáo mức án tù chung thân, các bị cáo khác bị phạt từ 9 tháng đến 20 năm tù. Như vậy, mức án này thể hiện rõ chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, hợp lý và hợp tình. Nếu các bị cáo có trình độ hiểu biết mà phạm tội thì chắc sẽ bị xử phạt nặng hơn, các bác ạ!

Nghe ông Hòa phân tích thấu đáo, mọi người đều gật gù bày tỏ sự đồng tình. Cựu chiến binh Thắng tiếp lời:

- Tôi thấy bài học rút ra là mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác để không bị lôi kéo, kích động. Các cấp chính quyền cần tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu biết pháp luật, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước. Mỗi gia đình, từng khu dân cư cũng phải thường xuyên quan tâm làm tốt việc này để chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Kẻ xấu sẽ không dụ dỗ, lôi kéo được người dân làm những việc trái pháp luật nếu cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở sâu sát bám nắm, làm cho nhân dân hiểu và có tinh thần cảnh giác, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, các ông nhỉ?

Ngăn ngừa suy thoái trong công nghiệp văn hóa

 Tư duy phiến diện và hành động “ăn xổi”

Công nghiệp văn hóa là một khái niệm có biên độ tư duy và phạm vi ứng dụng rộng, đa ngành, đa lĩnh vực, đa phương thức. Trên thế giới, tùy vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và đặc trưng văn hóa, mỗi quốc gia có cách phát triển CNVH khác nhau.

Tại Việt Nam, CNVH trên thực tế đang là lĩnh vực khá non trẻ. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, Đảng, Nhà nước ta đã có định hướng phát triển CNVH từ sớm và tư duy phát triển CNVH được bổ sung, phát triển qua từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống trên lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.

Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành CNVH của Chính phủ ngày 22-12-2023 đã chỉ rõ: Nội dung, hình thức sản phẩm, dịch vụ trong các lĩnh vực CNVH còn hạn chế (thiếu những sản phẩm, tác phẩm lớn, phản ánh được hơi thở, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; một số tác phẩm có biểu hiện "lệch chuẩn"); dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài...

Sự “lệch chuẩn” trong CNVH, từ những góc nhìn cận cảnh trên thực tế, có thể thấy, nó xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển CNVH của Đảng. Từ đó dẫn đến tư duy phiến diện trong một bộ phận tổ chức, cá nhân làm văn hóa. Lối tư duy ấy sinh ra cách làm thực dụng, “ăn xổi”. Đơn cử, tại TP Hồ Chí Minh, ngành công nghiệp giải trí có sự bứt phá, vươn lên bằng các mô hình xã hội hóa. Sự huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn lực từ kiều bào và hợp tác quốc tế đã thổi một luồng gió mới cho thị trường giải trí ở TP Hồ Chí Minh.

Hàng loạt mô hình sân khấu xã hội hóa, hãng phim tư nhân, công ty dịch vụ giải trí... ra đời, đem đến cho thị trường sự đa dạng về loại hình, phong phú về sản phẩm. Nhưng rồi, chỉ được một thời gian, nhiều mô hình đã bị thoái trào, nhiều doanh nghiệp giải thể, nhiều sân khấu đóng cửa, một số hãng phim chỉ còn cái tên trong quá khứ. Thậm chí, không ít tổ chức, cá nhân (trong đó có một số người nổi tiếng) vi phạm pháp luật đã bị truy tố.

Nhìn từ khía cạnh văn hóa tư tưởng, có thể thấy, điều đáng lo ngại hiện nay chính là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong CNVH. Để kiếm nhiều tiền, muốn nhanh chóng nổi tiếng, không ít tổ chức, cá nhân sẵn sàng sử dụng chiêu trò phản cảm bằng mọi giá. Sự xuất hiện nhan nhản các danh hiệu tự phong, kiểu như: “Nữ hoàng”, “ông vua”, “nam thần”, “thánh nữ”, “ngôi sao”... cùng việc “bội thực” các cuộc thi nhan sắc khiến tình trạng “lệch chuẩn” trong thị trường giải trí ngày càng phức tạp. Bên cạnh đó là sự “lệch chuẩn” về tư tưởng, nội dung tác phẩm.

Những ồn ào dư luận xoay quanh một số bộ phim điện ảnh, tác phẩm văn học thời gian qua cho thấy, nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa, truyền thống dân tộc bị “hư cấu” theo những góc nhìn phiến diện. Phẩm chất anh hùng, lòng yêu nước hun đúc nên cốt cách dân tộc bị “pha loãng”, trở nên hời hợt, nhạt nhòa. Thậm chí, có lúc nó bị biến thành công cụ, chi tiết để chọc cười, câu khách...

Xu thế tất yếu và tính cấp thiết “lấy xây để chống”

Nguyên nhân căn bản của những hạn chế, bất cập nêu trên chính là do môi trường CNVH bị chi phối, ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân. Thực trạng này đòi hỏi phải chấn chỉnh, khắc phục cách làm “ăn xổi”, manh mún, chụp giật; đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ nhận thức, tư duy và hành động trong CNVH. Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 của ngành tuyên giáo TP Hồ Chí Minh do đồng chí Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh trình bày tại hội nghị ngày 28-12-2023 cũng nêu rõ: Công tác đấu tranh, phòng, chống luận điểm xấu độc trên không gian mạng thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa kịp thời; việc thực hiện cơ chế đặt hàng tác phẩm văn học nghệ thuật đối với đội ngũ sáng tạo ngoài công lập chưa tạo được sự thu hút đối với các nguồn lực xã hội...

Phát triển CNVH là xu thế tất yếu. Trong chiến lược phát triển Việt Nam hùng cường, tiềm năng, thế mạnh từ văn hóa dân tộc cần được khai mở, tận dụng, phát triển một cách mạnh mẽ, toàn diện. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khẩn trương triển khai có trọng tâm, trọng điểm ngành CNVH và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”.

Để CNVH phát triển bền vững với tinh thần khẩn trương theo định hướng của Đảng, phương châm kết hợp “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được nhất quán từ chủ trương vĩ mô đến ứng dụng, phát triển các mô hình, loại hình từ cơ sở. Chính sách kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh tế được Đảng ta xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) chính là một trong những nguyên tắc nền tảng để đổi mới tư duy, hành động “xây” và “chống” trong CNVH. Mục tiêu phát triển đã được Chính phủ xác định rõ, đến năm 2030 đạt 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ CNVH.

Cơ cấu CNVH bao gồm nhiều lĩnh vực, song ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, quảng cáo, phần mềm và các trò chơi giải trí, truyền hình và phát thanh, thời trang, du lịch văn hóa...

Các ngành ưu tiên phát triển cũng chính là những lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố nhạy cảm. Thời cơ cho CNVH rất lớn, nhưng thách thức cũng đến từ chính yếu tố nhạy cảm của nó mà nhiều khi hiệu lực luật pháp không can thiệp được.

Để “xây” và “chống” có hiệu quả, phải lấy vũ khí văn hóa đạo đức đẩy lùi mầm mống phản văn hóa, quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong hoạt động văn hóa. Mục tiêu kinh tế của CNVH không chỉ có việc nâng tầm, nâng chất lượng các yếu tố về nhân lực, vật chất, công nghệ... mà cần coi trọng giá trị cốt lõi của văn hóa. Cùng với đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường CNVH, cần phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn, hiệp hội từ Trung ương đến địa phương trong quản lý, định hướng lao động nghề nghiệp của văn nghệ sĩ và doanh nghiệp.

Để “xây” tốt thì phải ngăn ngừa mầm mống suy thoái ngay từ tư duy, ý tưởng sáng tạo, biểu diễn, phổ biến tác phẩm. Vai trò nòng cốt của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong các hội, đoàn, hiệp hội cần được đề cao để hội viên các ngành, các lĩnh vực có môi trường lao động, cống hiến lành mạnh, đúng định hướng của Đảng. Muốn CNVH phát triển bền vững, phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để có tác phẩm lớn.

Tác phẩm lớn xứng tầm thời đại luôn được hình thành trên nền tảng truyền thống văn hóa, cốt cách dân tộc. Rời bỏ giá trị cốt lõi ấy, tác phẩm chỉ là sự vay mượn, lai căng, nó có thể gây sốt thị trường ở một lúc, một nơi nào đó, nhưng chắc chắn khó tránh khỏi "chết yểu". Mà bản chất CNVH thì không thể nào chấp nhận những "cái chết" kiểu như vậy.

Tư tưởng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên

 Có thể khẳng định, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguyên tắc giữ gìn sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo. Người khẳng định, như một lẽ tự nhiên, “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc”(1); đồng thời, các dân tộc anh em trong đất nước luôn “gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”(2). Theo đó, trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Người luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên tinh thần “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(3).

Mặt khác, Người lý giải ngọn nguồn sức mạnh xuyên suốt cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, tự do và bảo vệ Tổ quốc là “nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc”(4), bởi vậy, Người chủ trương tất cả dân tộc “đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”(5); đồng thời, chính sách dân tộc phải hướng đến mục đích “thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”(6).

Đặc biệt, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có dịp đến thăm trực tiếp, nhưng Người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư một cách bao quát, toàn diện nhiều vấn đề, trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh, hướng tới hoàn thành nhiệm vụ nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào gắn với công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh chính sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đồng bào vùng Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; đồng thời, đánh giá cao tinh thần đoàn kết và ý chí cách mạng bất khuất của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.

Sinh thời, Người nhiều lần khẳng định đồng bào các dân tộc là những người anh em trong cùng một nhà; đồng thời, luôn căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chú trọng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc cả nước nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên nói riêng. Năm 1946, trong “Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Playcu” (lá thư được dịch ra nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên), Người cho rằng: “Ðồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”(7).

Trong một số văn bản, Người nhất quán dùng từ đồng bào (cùng bào thai) để gọi các dân tộc vùng Tây Nguyên, qua đó gợi nhớ đến truyền thuyết nguồn gốc “con Lạc - cháu Hồng”, “con Rồng - cháu Tiên” để gửi đến nhân dân vùng Tây Nguyên thông điệp về tinh thần đoàn kết với nội dung: Dù đồng bào ở Tây Nguyên là người Thượng hay người xuôi lên, dù Nam hay Bắc đều là con một nhà, chung một mẹ Việt Nam; chính vì vậy, phải yêu thương đoàn kết lẫn nhau, chỉ có đoàn kết mới chiến thắng giặc ngoại xâm, mới xây dựng và bảo vệ quốc gia - dân tộc bền vững. Những từ “ta”, “chúng ta” được Người lặp đi, lặp lại nhiều lần như để khẳng định và nhấn mạnh một đặc điểm chung, một chân lý hiển nhiên rằng đất nước Việt Nam luôn thuộc về tất cả dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, Người cho rằng, quân và dân các tỉnh vùng Tây Nguyên, từ già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng đều có tinh thần nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn, rẫy,... góp phần to lớn cùng đồng bào cả nước đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng thời, Người “nhiệt liệt khen ngợi các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến, lập công vẻ vang”(8).

Thứ hai, Người xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời, chủ trương phát huy mạnh mẽ giá trị tinh thần đoàn kết các dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đời sống mới.

Người luôn nêu cao tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc và vạch rõ âm mưu thâm độc của thực dân, đế quốc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; căn dặn đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh đập tan âm mưu, thủ đoạn của thực dân, đế quốc, góp phần bảo vệ chính quyền, giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Riêng với đồng bào Tây Nguyên, Người kêu gọi “Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch”(9).

Có thể nói, vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ đã sản sinh không ít người con ưu tú, anh hùng, có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mà nhiều người trong số họ may mắn được diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, như ông Y Ngông Niê Kđăm, anh hùng Núp, Thiếu tướng Y Blôk Êban, cụ Y Bih Alêô, Nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Nhà giáo ưu tú Nay Hwin... Các cá nhân từng được gặp Bác đều mang trong mình nhiều ấn tượng tốt đẹp, luôn ghi nhớ, trân trọng tình cảm cũng như sự quan tâm của Người với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Như lời kể của cụ Y Ngông Niê Kđăm: “Lời Bác nói đến đâu thấm đến đó. Tôi thấy Bác gần gũi với các dân tộc Tây Nguyên quá. Bác như một nhân vật hiện ra từ giấc mơ của các dân tộc Tây Nguyên”(10); với cương vị công tác của mình, ông còn vinh dự được gặp Bác trong nhiều dịp khác, đối với ông, từng khoảnh khắc được gặp Bác là từng kỷ niệm sâu sắc, ý nghĩa, hằn sâu trong trái tim xuyên suốt sự nghiệp làm cách mạng của bản thân. Trong những lần gặp gỡ những người con ưu tú từ vùng Tây Nguyên, Bác đều ân cần hỏi thăm sức khỏe, tình hình đời sống đồng bào Tây Nguyên và căn dặn phải không ngừng nêu cao tinh thần đoàn kết cùng đánh đuổi thực dân Pháp để bảo vệ độc lập; luôn coi Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất.

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm sâu đậm cùng những trăn trở, khát khao của mình với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, đó là sự quan tâm, yêu mến, thiết tha, mong muốn mảnh đất Tây Nguyên ngày càng được phát triển, mọi người đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường vươn lên, đoàn kết gắn bó keo sơn trên mảnh đất Việt Nam. Mặt khác, Người cũng thể hiện tư tưởng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo đó không chỉ riêng các dân tộc Tây Nguyên, mà ở đâu là con dân nước Việt đều không phân biệt giai cấp, thành phần dân tộc, tôn giáo và luôn có vị trí đặc biệt trong trái tim và tư tưởng của Người - đó chính là nét đẹp cao quý trong tầm vóc lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

LHQ-ST

Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xây dựng đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam qua nghiên cứu tâc phẩm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” nhấn mạnh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Vì vậy, cuốn sách “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là cẩm nang lý luận, thực tiễn quý giá, định hướng phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị_Ảnh: TTXVN

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, sức mạnh đoàn kết là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cương vị là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thấu hiểu tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn quán triệt trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1). Các bài viết trong cuốn sách là sự hiện thực hóa tư tưởng ấy, thể hiện tầm tư duy lý luận sâu rộng, biện chứng, thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như trách nhiệm của người đứng đầu Đảng, Nhà nước đối với nhân dân, với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, cuốn sách của Tổng Bí thư sẽ góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với lịch sử đấu tranh giữ nước. Chính trong hoàn cảnh phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống ngoại xâm cũng như chống chọi với thiên tai, hiểm họa đã hun đúc nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam một truyền thống vô cùng quý báu, đó là tinh thần đoàn kết. Chỉ có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh để có thể “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để dân tộc mãi trường tồn. Đoàn kết là một trong những bài học mang giá trị lịch sử, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình đấu tranh cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(2); “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3)Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, từ thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(4)Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một công việc hết sức hệ trọng, to lớn và vô cùng khó khăn. Nhiệm vụ đó chỉ có thể thành công khi quy tụ được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Nhờ tinh thần đoàn kết muôn người như một đã tạo thành sức mạnh vô địch, giúp chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành và bảo vệ vững chắc độc lập của Tổ quốc.

Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, để xây dựng đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, tạo tiền đề vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối đúng đắn của Đảng ta, trong đó có đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh bài học này trong những lần phát biểu của mình: Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”. Đây không chỉ là tinh thần đoàn kết, thống nhất mà còn là bài học về ý chí, hành động phải triệu người như một của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân ta ở mọi miền Tổ quốc trong tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây cũng chính là sự phát triển nhận thức trong quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, là tư duy và tầm nhìn của Đảng ta gần 94 năm qua: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng; là cội nguồn sức mạnh, là giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ”(5).

Từ vai trò, tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, Tổng Bí thư đã khái quát ngắn gọn quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ, hiểu thấu đáo tầm tư duy chiến lược của Đảng. Tổng Bí thư khẳng định, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy bản sắc cội nguồn văn hóa và truyền thống của dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã không ngừng đổi mới, phát triển tư duy lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thể hiện trong văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng: “Từ chỗ, chỉ nói đoàn kết, rồi nói đại đoàn kết toàn dân, rồi phát triển lên thành đại đoàn kết toàn dân tộc là những cột mốc đánh dấu sự đổi mới và phát triển quan trọng về tư duy nhận thức và lý luận đối với chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta, theo chiều hướng ngày càng mở rộng về biên độ, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ còn những “xơ cứng” đến ngày càng cởi mở hơn”(6). Tổng Bí thư cũng khẳng định, điểm tương đồng để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng”(7). Đây là mục tiêu lớn nhất, cũng là lợi ích chung lớn nhất của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; của mọi người dân, của toàn dân tộc. Chính nhờ điểm tương đồng này đã và sẽ tiếp tục động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân, huy động được mọi nguồn lực, tranh thủ mọi thời cơ, sự đóng góp của nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng Bí thư cho rằng, điểm tương đồng này nếu biết khơi dậy đúng cách sẽ có sức cuốn hút, lay động lòng người, là lời hiệu triệu toàn dân, nhân lên lòng tự hào, tự tôn, ý chí của cả dân tộc. Đây cũng chính là định hướng cho việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm thu hút, tập hợp, đoàn kết các lực lượng xã hội trong khối đoàn kết thống nhất của toàn dân tộc.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết”(8), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc: “Nền tảng vững chắc của của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới”(9). Như vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc là tổng hòa của các mối quan hệ đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới, thành phần kinh tế, các vùng, miền; giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, trên nền tảng của liên minh công nhân - nông dân - trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; là đoàn kết với bạn bè quốc tế. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Với nội dung toàn diện ấy, những kết quả trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam thời gian qua đã giúp chúng ta vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức to lớn do tác động của mặt trái toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, nhờ có tinh thần đoàn kết, cùng ý chí, quyết tâm cao, chúng ta không những đã vượt qua đại dịch mà còn đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội được bạn bè quốc tế ghi nhận. “Trong gian khó, tinh thần yêu nước, nghĩa đồng bào, truyền thống “thương người như thể thương thân” của dân tộc ta và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy và nâng lên một tầm cao mới”(10).

Thắm tình quân dân_Nguồn: vanhocnghethuatlaichau.vn

Tổng Bí thư nhấn mạnh, việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội là nòng cốt. Tổng Bí thư đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,... phải quán triệt tư tưởng “dân là gốc”, lấy đó làm nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động, ở tất cả các cấp. Cuốn sách đã nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là các cán bộ trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội phải lấy “an dân làm cốt, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm, xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sự đồng thuận của nhân dân”(11), sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, từ đó góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng phát triển, văn minh và vững mạnh.

Để tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư đã nêu ra những giải pháp cơ bản mang tính hệ thống. Đó là:

Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng làm hạt nhân cho đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn coi việc giữ gìn đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; “đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng”(12). Đây là điều kiện tiên quyết để quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, bởi chỉ có một Đảng trong sạch, vững mạnh thì nhân dân mới thật sự tin tưởng, đoàn kết, ủng hộ, phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp chung dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bản thân Tổng Bí thư là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, một nhà lãnh đạo gần dân, trọng dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hình ảnh dung dị, sự quan tâm, tình cảm yêu thương, đồng cảm của người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta với các tầng lớp nhân dân đã để lại ấn tượng sâu sắc, làm lay động lòng người; có tác dụng to lớn cổ vũ mọi giai tầng luôn nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia tích cực vào các phong trào thi đua, các cuộc vận động; phát huy mọi nguồn lực, khả năng sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn, với xu thế của thời đại, với nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Tổng Bí thư đánh giá cao về vị trí, vai trò của các giai tầng, các cá nhân tiêu biểu trong các giới đồng bào, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài,. Đây là nguồn lực to lớn, tạo thành sức mạnh để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phải hướng vào khơi dậy, phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người Việt Nam; động viên nhân dân phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Những quan điểm của Tổng Bí thư về xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài là những định hướng quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhằm củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Với vai trò quan trọng trong vận động, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc phải phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; đi sâu, đi sát vào các tầng lớp nhân dân để nắm được những nhu cầu chính đáng của họ, từ đó thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tạo môi trường thuận lợi để nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực, động lực chủ yếu, là mục tiêu của đại đoàn kết toàn dân tộc trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng có năng lực, uy tín, tâm huyết, trách nhiệm, hết lòng vì công việc chung…

Cuốn sách “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tài liệu quý về xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cuốn sách giúp cho cán bộ trong hệ thống chính trị, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc - sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cuốn sách đặc biệt có ý nghĩa đối với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam bởi thực tế đã chỉ rõ, thành công trong thực hiện sứ mệnh bảo đảm an ninh, trật tự của lực lượng công an bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức. Đoàn kết, thống nhất là phẩm chất, đồng thời còn là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của Công an nhân dân Việt Nam, là sức mạnh nội sinh để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Hiện nay, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của nước ta đang diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, trong đó có Công an nhân dân Việt Nam. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải hết sức quan tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII. Muốn vậy, điều quan trọng hàng đầu là phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Công an nhân dân Việt Nam, mà cốt lõi là sự đoàn kết thống nhất của tổ chức đảng trong công an. Đây được xem là một vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam./.

LHQ-ST

“Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt được khó khăn... ”

 

“Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt được khó khăn, sửa được sai lầm, giành được thắng lợi”. Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị cán bộ trung, cao cấp Quân đội”, tháng 11-1956.

Lời dạy của Bác là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, lúc thường cũng như khi ra trận, phải đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tình thương yêu đồng chí, đồng đội, giúp đỡ nhau như ruột thịt; chỉ có đoàn kết mới có được sức mạnh để hoàn thành mọi nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng kẻ thù... Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, cán bộ và chiến sĩ thực sự đoàn kết trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội thân thiết, cởi mở, chân thành; thực sự thương yêu, gắn bó, coi cơ quan, đơn vị như gia đình, đồng chí, đồng đội là anh em. Đặc biệt, cán bộ luôn đồng cam cộng khổ, sẵn sàng nhận khó khăn, gian khổ, hi sinh về mình, nhường cơm sẻ áo cho chiến sĩ; sống nghĩa tình, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân; toàn tâm toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN...

 Phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp, cán bộ, chiến sĩ luôn khắc ghi lời dạy của Bác về xây dựng mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ. Biểu hiện nổi bật của sự đoàn kết đó thể hiện ở tinh thần phát huy dân chủ, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Cán bộ chăm lo mọi mặt cho chiến sĩ; ngược lại, cấp dưới phải tôn trọng, phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Trên dưới đồng lòng, toàn quân thành một khối vững chắc, thống nhất ý chí và hành động. Cần thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo đảm mọi cán bộ, chiến sĩ, cấp trên, cấp dưới đều bình đẳng về chính trị, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; phát huy đầy đủ dân chủ về chính trị, quân sự, kinh tế, đi đôi với giữ vững và tăng cường kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ phải gắn với đấu tranh, thực hiện tự phê bình và phê bình chân thành, thẳng thắn, nhằm giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, quân phiệt, vi phạm dân chủ, vi phạm nhân cách quân nhân.

Sưu tầm

Ngăn ngừa suy thoái trong công nghiệp văn hóa

 

Tư duy phiến diện và hành động “ăn xổi”

Công nghiệp văn hóa là một khái niệm có biên độ tư duy và phạm vi ứng dụng rộng, đa ngành, đa lĩnh vực, đa phương thức. Trên thế giới, tùy vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và đặc trưng văn hóa, mỗi quốc gia có cách phát triển CNVH khác nhau.

Tại Việt Nam, CNVH trên thực tế đang là lĩnh vực khá non trẻ. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, Đảng, Nhà nước ta đã có định hướng phát triển CNVH từ sớm và tư duy phát triển CNVH được bổ sung, phát triển qua từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống trên lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.

Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành CNVH của Chính phủ ngày 22-12-2023 đã chỉ rõ: Nội dung, hình thức sản phẩm, dịch vụ trong các lĩnh vực CNVH còn hạn chế (thiếu những sản phẩm, tác phẩm lớn, phản ánh được hơi thở, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; một số tác phẩm có biểu hiện "lệch chuẩn"); dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài...

Sự “lệch chuẩn” trong CNVH, từ những góc nhìn cận cảnh trên thực tế, có thể thấy, nó xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển CNVH của Đảng. Từ đó dẫn đến tư duy phiến diện trong một bộ phận tổ chức, cá nhân làm văn hóa. Lối tư duy ấy sinh ra cách làm thực dụng, “ăn xổi”. Đơn cử, tại TP Hồ Chí Minh, ngành công nghiệp giải trí có sự bứt phá, vươn lên bằng các mô hình xã hội hóa. Sự huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn lực từ kiều bào và hợp tác quốc tế đã thổi một luồng gió mới cho thị trường giải trí ở TP Hồ Chí Minh.

Hàng loạt mô hình sân khấu xã hội hóa, hãng phim tư nhân, công ty dịch vụ giải trí... ra đời, đem đến cho thị trường sự đa dạng về loại hình, phong phú về sản phẩm. Nhưng rồi, chỉ được một thời gian, nhiều mô hình đã bị thoái trào, nhiều doanh nghiệp giải thể, nhiều sân khấu đóng cửa, một số hãng phim chỉ còn cái tên trong quá khứ. Thậm chí, không ít tổ chức, cá nhân (trong đó có một số người nổi tiếng) vi phạm pháp luật đã bị truy tố.

Nhìn từ khía cạnh văn hóa tư tưởng, có thể thấy, điều đáng lo ngại hiện nay chính là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong CNVH. Để kiếm nhiều tiền, muốn nhanh chóng nổi tiếng, không ít tổ chức, cá nhân sẵn sàng sử dụng chiêu trò phản cảm bằng mọi giá. Sự xuất hiện nhan nhản các danh hiệu tự phong, kiểu như: “Nữ hoàng”, “ông vua”, “nam thần”, “thánh nữ”, “ngôi sao”... cùng việc “bội thực” các cuộc thi nhan sắc khiến tình trạng “lệch chuẩn” trong thị trường giải trí ngày càng phức tạp. Bên cạnh đó là sự “lệch chuẩn” về tư tưởng, nội dung tác phẩm.

Những ồn ào dư luận xoay quanh một số bộ phim điện ảnh, tác phẩm văn học thời gian qua cho thấy, nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa, truyền thống dân tộc bị “hư cấu” theo những góc nhìn phiến diện. Phẩm chất anh hùng, lòng yêu nước hun đúc nên cốt cách dân tộc bị “pha loãng”, trở nên hời hợt, nhạt nhòa. Thậm chí, có lúc nó bị biến thành công cụ, chi tiết để chọc cười, câu khách...

Xu thế tất yếu và tính cấp thiết “lấy xây để chống”

Nguyên nhân căn bản của những hạn chế, bất cập nêu trên chính là do môi trường CNVH bị chi phối, ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân. Thực trạng này đòi hỏi phải chấn chỉnh, khắc phục cách làm “ăn xổi”, manh mún, chụp giật; đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ nhận thức, tư duy và hành động trong CNVH. Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 của ngành tuyên giáo TP Hồ Chí Minh do đồng chí Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh trình bày tại hội nghị ngày 28-12-2023 cũng nêu rõ: Công tác đấu tranh, phòng, chống luận điểm xấu độc trên không gian mạng thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa kịp thời; việc thực hiện cơ chế đặt hàng tác phẩm văn học nghệ thuật đối với đội ngũ sáng tạo ngoài công lập chưa tạo được sự thu hút đối với các nguồn lực xã hội...

Phát triển CNVH là xu thế tất yếu. Trong chiến lược phát triển Việt Nam hùng cường, tiềm năng, thế mạnh từ văn hóa dân tộc cần được khai mở, tận dụng, phát triển một cách mạnh mẽ, toàn diện. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khẩn trương triển khai có trọng tâm, trọng điểm ngành CNVH và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”.

Để CNVH phát triển bền vững với tinh thần khẩn trương theo định hướng của Đảng, phương châm kết hợp “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được nhất quán từ chủ trương vĩ mô đến ứng dụng, phát triển các mô hình, loại hình từ cơ sở. Chính sách kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh tế được Đảng ta xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) chính là một trong những nguyên tắc nền tảng để đổi mới tư duy, hành động “xây” và “chống” trong CNVH. Mục tiêu phát triển đã được Chính phủ xác định rõ, đến năm 2030 đạt 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ CNVH.

Cơ cấu CNVH bao gồm nhiều lĩnh vực, song ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, quảng cáo, phần mềm và các trò chơi giải trí, truyền hình và phát thanh, thời trang, du lịch văn hóa...

Các ngành ưu tiên phát triển cũng chính là những lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố nhạy cảm. Thời cơ cho CNVH rất lớn, nhưng thách thức cũng đến từ chính yếu tố nhạy cảm của nó mà nhiều khi hiệu lực luật pháp không can thiệp được.

Để “xây” và “chống” có hiệu quả, phải lấy vũ khí văn hóa đạo đức đẩy lùi mầm mống phản văn hóa, quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong hoạt động văn hóa. Mục tiêu kinh tế của CNVH không chỉ có việc nâng tầm, nâng chất lượng các yếu tố về nhân lực, vật chất, công nghệ... mà cần coi trọng giá trị cốt lõi của văn hóa. Cùng với đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường CNVH, cần phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn, hiệp hội từ Trung ương đến địa phương trong quản lý, định hướng lao động nghề nghiệp của văn nghệ sĩ và doanh nghiệp.

Để “xây” tốt thì phải ngăn ngừa mầm mống suy thoái ngay từ tư duy, ý tưởng sáng tạo, biểu diễn, phổ biến tác phẩm. Vai trò nòng cốt của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong các hội, đoàn, hiệp hội cần được đề cao để hội viên các ngành, các lĩnh vực có môi trường lao động, cống hiến lành mạnh, đúng định hướng của Đảng. Muốn CNVH phát triển bền vững, phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để có tác phẩm lớn.

Tác phẩm lớn xứng tầm thời đại luôn được hình thành trên nền tảng truyền thống văn hóa, cốt cách dân tộc. Rời bỏ giá trị cốt lõi ấy, tác phẩm chỉ là sự vay mượn, lai căng, nó có thể gây sốt thị trường ở một lúc, một nơi nào đó, nhưng chắc chắn khó tránh khỏi "chết yểu". Mà bản chất CNVH thì không thể nào chấp nhận những "cái chết" kiểu như vậy.

Sưu tầm

Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên hiện nay

 Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm tới việc rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên. Hơn 93 năm qua, phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn gương mẫu tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, bản lĩnh cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đó là những con người luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, trong thời chiến cũng như trong thời bình, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh cách mạng, thoái hóa, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng; có biểu hiện hoang mang, dao động; có thái độ thiếu quyết đoán, ngại va chạm, sợ đấu tranh, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra: “Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh”(23). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tiếp tục chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên là: “Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”(24). Những biểu hiện này, dưới cấp độ cá nhân, chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên; còn ở cấp độ tập thể, chính là biểu hiện của một tổ chức thiếu dân chủ, thiếu tính đoàn kết, tinh thần xây dựng trong nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.

Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, lần đầu tiên, Đảng đưa vấn đề “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” thành một tiêu chuẩn để đánh giá cán bộ lãnh đạo, là yêu cầu cần có trong rèn luyện bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đến ngày 16-11-2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đặt ra yêu cầu phải có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Phát triển quan điểm của Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cần thực hiện trong công tác cán bộ, nhất là ở khâu tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, sao cho lựa chọn được “những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”(25). Đồng thời, Đảng cũng ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, nhấn mạnh họ phải gương mẫu đi đầu nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công, đổ lỗi. Gần đây nhất, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu quan điểm, cán bộ, đảng viên phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động vì lợi ích chung. Đây được coi là một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá và là thước đo bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, cụ thể hóa chủ trương “... khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(26). Đây chính là sự kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên theo phương châmthấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” của Đảng ta trong thời kỳ mới.

Để tiếp tục phát triển, vận dụng chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện tốt chủ trương của Đảng về rèn luyện bản lĩnh đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thời kỳ hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, nghị quyết, quy định của Đảng về nâng cao đạo đức, rèn luyện bản lĩnh cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên(27). Việc quán triệt phải được thực hiện gắn liền với đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của việc rèn luyện bản lĩnh người cán bộ, đảng viên; từ đó, tạo sự đồng thuận, tinh thần quyết tâm, tính tích cực, tự giác đấu tranh với các biểu hiện sai trái, nhất là trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch hiện nay.

Hai là, xây dựng môi trường rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của cán bộ, đảng viên; xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, duy trì bầu không khí dân chủ, chấp hành kỷ luật, kỷ cương, tạo điều kiện cho họ thường xuyên làm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hành nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với cấp ủy, cán bộ lãnh đạo và đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để đấu tranh, ngăn chặn tiêu cực, suy thoái. Tự phê bình và phê bình phải thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc. Thông qua tự phê bình và phê bình để đấu tranh khắc phục những biểu hiện sai trái, sai lầm, khuyết điểm; góp phần thiết thực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Cán bộ, công chức ngành kiểm sát huyện Bình Liêu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và giúp đồng bào làm rẫy tại thôn Khe Mó, xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baovephapluat.vn

Ba là, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, đảng viên trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, đảng viên và từng lĩnh vực hoạt động, nhằm bảo đảm sự liêm chính, trách nhiệm và bản lĩnh của cán bộ, đảng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử trong công vụ cần được đề ra theo hướng khuyến khích cán bộ, đảng viên dám thể hiện bản lĩnh, bảo vệ cái đúng, đấu tranh ngăn chặn cái sai. Để làm được điều này, trước hết lãnh đạo cấp cao, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gương, thể hiện tinh thần và thái độ đúng, sẵn sàng đấu tranh, sẵn sàng đối mặt với khó khăn, thử thách.

Bốn là, tăng cường công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá của cấp ủy các cấp về chất lượng, hiệu quả, hiệu lực thực hiện chỉ thị, nghị quyết, quy định về rèn luyện bản lĩnh cách mạng của cán bộ, đảng viên. Một trong những nguyên nhân khiến cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh là do công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá chưa được nhận thức đúng và triển khai hành động quyết liệt; có lúc, có nơi, công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá còn tạo ra vùng “ưu tiên” hoặc mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức”. Do đó, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo, quản lý; tập trung kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên trong công việc và đối với nhân dân; tổng kết, kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống và rèn luyện bản lĩnh cách mạng của cán bộ, đảng viên thể hiện qua hiệu quả, chất lượng công việc được giao.

Năm là, chú trọng công tác thi đua, khen thưởng. Kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt, có chính sách thỏa đáng đối với người phát hiện và đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, những hành vi sai trái. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật đối với cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc có biểu hiện sai phạm; đồng thời, xây dựng cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện lệch lạc, sai trái bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; làm tốt công tác tiếp nhận và xử lý thông tin liên quan đến tố giác, tố cáo hành vi sai trái của cán bộ, đảng viên và bảo vệ những người dám lên tiếng, dũng cảm tố cáo hành vi đó, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tố cáo và đấu tranh với hành vi sai trái, tiêu cực./.

LHQ-ST