Có thể khẳng định, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguyên tắc giữ gìn sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo. Người khẳng định, như một lẽ tự nhiên, “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc”(1); đồng thời, các dân tộc anh em trong đất nước luôn “gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”(2). Theo đó, trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Người luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên tinh thần “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(3).
Mặt khác, Người lý giải ngọn nguồn sức mạnh xuyên suốt cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, tự do và bảo vệ Tổ quốc là “nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc”(4), bởi vậy, Người chủ trương tất cả dân tộc “đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”(5); đồng thời, chính sách dân tộc phải hướng đến mục đích “thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”(6).
Đặc biệt, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có dịp đến thăm trực tiếp, nhưng Người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư một cách bao quát, toàn diện nhiều vấn đề, trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh, hướng tới hoàn thành nhiệm vụ nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào gắn với công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh chính sau:
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đồng bào vùng Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; đồng thời, đánh giá cao tinh thần đoàn kết và ý chí cách mạng bất khuất của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.
Sinh thời, Người nhiều lần khẳng định đồng bào các dân tộc là những người anh em trong cùng một nhà; đồng thời, luôn căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chú trọng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc cả nước nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên nói riêng. Năm 1946, trong “Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Playcu” (lá thư được dịch ra nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên), Người cho rằng: “Ðồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”(7).
Trong một số văn bản, Người nhất quán dùng từ đồng bào (cùng bào thai) để gọi các dân tộc vùng Tây Nguyên, qua đó gợi nhớ đến truyền thuyết nguồn gốc “con Lạc - cháu Hồng”, “con Rồng - cháu Tiên” để gửi đến nhân dân vùng Tây Nguyên thông điệp về tinh thần đoàn kết với nội dung: Dù đồng bào ở Tây Nguyên là người Thượng hay người xuôi lên, dù Nam hay Bắc đều là con một nhà, chung một mẹ Việt Nam; chính vì vậy, phải yêu thương đoàn kết lẫn nhau, chỉ có đoàn kết mới chiến thắng giặc ngoại xâm, mới xây dựng và bảo vệ quốc gia - dân tộc bền vững. Những từ “ta”, “chúng ta” được Người lặp đi, lặp lại nhiều lần như để khẳng định và nhấn mạnh một đặc điểm chung, một chân lý hiển nhiên rằng đất nước Việt Nam luôn thuộc về tất cả dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh đó, Người cho rằng, quân và dân các tỉnh vùng Tây Nguyên, từ già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng đều có tinh thần nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn, rẫy,... góp phần to lớn cùng đồng bào cả nước đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng thời, Người “nhiệt liệt khen ngợi các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến, lập công vẻ vang”(8).
Thứ hai, Người xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời, chủ trương phát huy mạnh mẽ giá trị tinh thần đoàn kết các dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đời sống mới.
Người luôn nêu cao tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc và vạch rõ âm mưu thâm độc của thực dân, đế quốc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; căn dặn đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh đập tan âm mưu, thủ đoạn của thực dân, đế quốc, góp phần bảo vệ chính quyền, giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Riêng với đồng bào Tây Nguyên, Người kêu gọi “Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch”(9).
Có thể nói, vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ đã sản sinh không ít người con ưu tú, anh hùng, có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mà nhiều người trong số họ may mắn được diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, như ông Y Ngông Niê Kđăm, anh hùng Núp, Thiếu tướng Y Blôk Êban, cụ Y Bih Alêô, Nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Nhà giáo ưu tú Nay Hwin... Các cá nhân từng được gặp Bác đều mang trong mình nhiều ấn tượng tốt đẹp, luôn ghi nhớ, trân trọng tình cảm cũng như sự quan tâm của Người với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Như lời kể của cụ Y Ngông Niê Kđăm: “Lời Bác nói đến đâu thấm đến đó. Tôi thấy Bác gần gũi với các dân tộc Tây Nguyên quá. Bác như một nhân vật hiện ra từ giấc mơ của các dân tộc Tây Nguyên”(10); với cương vị công tác của mình, ông còn vinh dự được gặp Bác trong nhiều dịp khác, đối với ông, từng khoảnh khắc được gặp Bác là từng kỷ niệm sâu sắc, ý nghĩa, hằn sâu trong trái tim xuyên suốt sự nghiệp làm cách mạng của bản thân. Trong những lần gặp gỡ những người con ưu tú từ vùng Tây Nguyên, Bác đều ân cần hỏi thăm sức khỏe, tình hình đời sống đồng bào Tây Nguyên và căn dặn phải không ngừng nêu cao tinh thần đoàn kết cùng đánh đuổi thực dân Pháp để bảo vệ độc lập; luôn coi Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm sâu đậm cùng những trăn trở, khát khao của mình với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, đó là sự quan tâm, yêu mến, thiết tha, mong muốn mảnh đất Tây Nguyên ngày càng được phát triển, mọi người đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường vươn lên, đoàn kết gắn bó keo sơn trên mảnh đất Việt Nam. Mặt khác, Người cũng thể hiện tư tưởng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo đó không chỉ riêng các dân tộc Tây Nguyên, mà ở đâu là con dân nước Việt đều không phân biệt giai cấp, thành phần dân tộc, tôn giáo và luôn có vị trí đặc biệt trong trái tim và tư tưởng của Người - đó chính là nét đẹp cao quý trong tầm vóc lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.
LHQ-ST
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét