Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Tình cảm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Nhằm hưởng ứng, ủng hộ lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thực hiện chủ trương, chỉ đạo sâu sát của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào vùng Tây Nguyên đã nỗ lực phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để cùng kề vai, sát cánh, anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đem hết sức mình xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng, lập nên những chiến công vang dội; cống hiến cho đất nước những người con ưu tú, xả thân vì Tổ quốc và vun đắp cho mối tình đoàn kết, keo sơn giữa các dân tộc, tiêu biểu như Đinh Núp (dân tộc Ba-na), Y Buông, A Tranh (dân tộc Xơ-đăng), N’Trang Lơng (dân tộc Mơ-nông) hoặc các vị cách mạng tiền bối, như Y Ngông Niê Kđăm, Y Bih Alêô (dân tộc Ê-đê), Nay Đer (dân tộc Gia-rai), Pi Năng Tắc (dân tộc Ra Glai),...

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu trút hơi thở cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào cả nước. Thời khắc đó, chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Thường vụ Khu ủy khu V, từ ngày 4 đến ngày 10-9-1969, tại vùng giải phóng các tỉnh vùng Tây Nguyên, các ban tang lễ được thành lập để tổ chức lễ tang và truy điệu Người. Đồng bào Tây Nguyên, kể cả đồng bào trong vùng địch tạm chiếm ai nấy đều tiếc thương, đau buồn khi nghe tin Người mất, như trong câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”! Bằng mọi hình thức công khai hay bí mật, nhiều đồng bào đã tiến hành để tang Người trong 7 ngày, có nơi tới tận 9 ngày... Riêng anh hùng dân tộc Ba-na, Đinh Núp tự mình để tang Người trọn vẹn 100 ngày, đồng thời nhiều làng đánh chiêng tang báo tin cho nhau...; từ trẻ em đến cụ già đều tỏ lòng đau thương vô hạn.

Điều tiếc nuối nhất, lúc sinh thời, do bối cảnh đất nước bị chiến tranh, điều kiện đi lại khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không thể thực hiện được niềm mong mỏi vào thăm miền Nam. Hàng vạn đồng bào Tây Nguyên không có may mắn được trực tiếp gặp Người như người dân những địa phương mà Người đã đặt chân đến, nhưng đồng bào vẫn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm của Người đối với mình. Đồng bào Tây Nguyên đáp lại tấm ân tình đó bằng niềm tin yêu, lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc và sự ủng hộ chân thành. Điều này đã được cụ Y Bih Alêô, từng là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định: “Tình cảm của Bác đối với Tây Nguyên là sức mạnh vô biên, nó luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Ea Đrăng... Chúng tôi nhớ lời Bác và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”(11).

Tình cảm của đồng bào vùng Tây Nguyên đối với Bác thật sâu sắc, thậm chí, đã hóa thân vào nếp sống sinh hoạt tinh thần, văn hóa hằng ngày trong kho tàng ca dao, tục ngữ nơi đây, tiêu biểu trong số đó, có thể nhắc đến một số câu ca dao nổi bật, thường xuyên xuất hiện, như “Người Êđê chưa gặp mặt Bác Hồ/ Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ” (Ca dao dân tộc Ê-đê); “Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc/ Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương” (Ca dao dân tộc Mơ-nông); hay “Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ” (Đồng bào H-rê). Thêm vào đó, đồng bào Ê-đê, Gia-rai, Ba-na cũng thường hát: “Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh”; trong ngôn ngữ dân tộc mình, người Ê-đê gọi Hồ Chủ tịch là Awa Hồ, người Ba-na gọi là Bok Hồ, người Gia-rai gọi là “Ơi”... Ở tỉnh Kon Tum, gần như gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nào cũng treo ảnh Bác Hồ ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, việc được tặng ảnh Bác Hồ cũng là món quà vô cùng quý giá đối với đồng bào.

Tiếp thu tình cảm, tư tưởng cũng như trí tuệ, tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn sát cánh cùng đồng bào cả nước, một lòng theo Đảng, tin theo cách mạng quyết tâm đánh giặc, xây dựng làng chiến đấu, góp lương thực nuôi bộ đội, nuôi giấu cán bộ...; vượt qua gian nan, thử thách để dần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng buôn, làng hạnh phúc, ấm no; hình ảnh Bác Hồ như đang hiện hữu làm điểm tựa tinh thần và cổ vũ đồng bào. Cụ Y Bih Alêô đã khẳng định: “Người Tây Nguyên chưa được tận mắt nhìn con người thật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Bác đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên như gió mùa xuân luồn vào rừng già thấm mát và bền vững. Ai cũng thấy mình là người con trai, con gái của Bác Hồ”(12); còn bác sĩ nổi tiếng Y Ngông bày tỏ: “Lòng kính yêu Bác Hồ của nhân dân Tây Nguyên nhiều như cây rừng, cao như núi đá, dài như nước suối”(13).

Vào ngày 11-4-1978, ở thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thay mặt Đảng, Nhà nước phát biểu rằng: “Khi còn sống, Bác Hồ vô cùng thương nhớ Tây Nguyên! Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước đánh giá cao sự hy sinh không bờ bến và lòng dũng cảm tuyệt vời của đồng bào Tây Nguyên và đồng bào tỉnh Đắk Lắk. Tổ quốc ta, nhân dân ta và các thế hệ mai sau đời đời nhớ ơn các liệt sĩ từ khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên chiến trường Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên(14).

LHQ-ST

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét