Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, D1 là một trong những cứ điểm quan trọng trong dãy đồi phòng ngự phía Đông của thực dân Pháp, có nhiệm vụ che chở cho trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, là mục tiêu của quân ta trong đợt tấn công thứ hai vào chiều 30-3-1954. Tuy nhiên, nó đã bị quân ta san phẳng chỉ sau hai ngày.
Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024
CHIẾN CÔNG TRÊN ĐỒI D1
CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG: ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ BẰNG "THƯỚC ĐO VỀ SỰ NGAY THẲNG"
Trong bối cảnh việc kiểm tra, xác minh kê khai tài sản, thu nhập còn nhiều hạn chế thì tính trung thực của cán bộ, đảng viên trong việc tự kê khai càng được đề cao.
TƯ TƯỞNG CỦA PH.ĂNG-GHEN SOI SÁNG CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Ph.Ăng-ghen (1820-1895) là một nhà khoa học, triết học và một nhà lý luận chính trị người Đức. Với trí tuệ uyên bác, tinh thần khoa học cần mẫn và phẩm chất nhân văn cao đẹp, luôn mong muốn đem đến những điều tốt đẹp cho nhân loại, Ph.Ăng-ghen đã luôn sát cánh cùng C.Mác nghiên cứu, chỉ ra quy luật tất yếu khách quan của quá trình vận động, biến đổi, phát triển xã hội loài người, từ đó khẳng định tiến trình phát triển của nhân loại sẽ đi đến xã hội cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp, tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc.
Chăm lo đời sống nhân dân - những thành quả không thể phủ nhận
Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch
Tập trung xây dựng ba nền tảng thể chế, kinh tế, văn hóa, nâng cao hiệu quả, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - Phần 2
Ba nền tảng để hiện
thực hóa bốn mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Để hiện thực hóa mục
tiêu cao nhất của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là mỗi cán bộ,
đảng viên “không thể”, “không dám”, “không cần” và “không muốn” tham nhũng,
tiêu cực, thì các cấp, các ngành cần có kế sách chiến lược, đồng bộ, tổng thể,
đột phá trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó,
trọng tâm ở ba nền tảng: thể chế, kinh tế, văn hóa.
Thứ nhất, về thể chế:
Đầu tiên, để ngăn
chặn hiệu quả tình trạng cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, yêu cầu quan
trọng là có một hệ thống thể chế chi tiết, chặt chẽ, bịt kín những lỗ hổng, sơ
hở trong từng cơ chế, chính sách, pháp luật. Tham nhũng, tiêu cực là “bóng tối
vươn theo quyền lực”, có sự gắn kết chặt chẽ với quyền lực, do người có chức,
có quyền thực hiện. Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, và
nhân dân thực hiện quyền lực này bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
thông qua các cơ quan dân cử; bất cứ ai được giao sử dụng quyền lực đều phải vì
nhân dân phục vụ, chịu trách nhiệm trước nhân dân và dưới sự giám sát của nhân
dân. Vì vậy, hơn lúc nào hết, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ để
không ai có thể lạm dụng, lợi dụng quyền lực nhằm trục lợi, phải “nhốt quyền
lực vào trong lồng cơ chế”. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị
Trung ương 6 khóa XII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, nêu rõ: Hoàn thiện cơ chế thực
thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; nghiên cứu thành lập các
thiết chế mới về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đến
nay, hệ thống quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã
tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, một số quy định còn chưa thống nhất; việc tổ chức
thực hiện vẫn là khâu yếu, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn; việc
chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ luật, kỷ cương có nơi còn bị xem
nhẹ; xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe;
cải cách hành chính, cải cách tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất
nước trong bối cảnh mới.
Trong những năm tiếp
theo, yêu cầu, nhiệm vụ là phải đẩy mạnh việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy
định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả lĩnh vực, khắc
phục kịp thời sơ hở, bất cập trong quản lý, điều hành kinh tế, xã hội, đặc biệt
trong lĩnh vực đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài chính; quy định
thực hiện thanh toán, giao dịch không sử dụng tiền mặt... Về thể chế phòng ngừa
tham nhũng, tiêu cực, tập trung hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các
lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, phát sinh nhiều khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị phản ánh; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc
thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu,
trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân
trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm minh hành
vi vi phạm; thực hiện trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh
bạch; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên
tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ,
quyền hạn; cơ chế kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên;
phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân trong đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực...
Trong thời gian tới,
yêu cầu đặt ra là tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và phát hiện, đẩy
mạnh xử lý nghiêm minh, kịp thời hành vi tham nhũng, tiêu cực; trong đó, quá
trình xử lý tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của
Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng được thực
hiện trước, mang tính tiền đề để kỷ luật hành chính, đoàn thể và xử lý hình sự;
kỷ luật của Đảng phải nghiêm hơn xử lý theo pháp luật. Mục đích của việc xử lý
tham nhũng, tiêu cực là để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, giáo dục, với phương
châm “phòng ngừa là chính, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu không để vi phạm nhỏ
tích tụ thành sai phạm lớn”, dùng kỷ luật nghiêm minh và giám sát nghiêm khắc
để cán bộ, đảng viên biết giữ gìn, suy nghĩ thấu đáo trước khi thực hiện mọi
hành động. Mặc dù xử lý cán bộ tham nhũng đưa đến tổn thất lớn về nhân sự,
nhưng vì sự tôn nghiêm của kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước, vì sự nghiệp
chung, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương phải quyết tâm thực hiện
quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa; theo phương châm “kỷ luật một vài người để cứu
muôn người”. Như vậy, với nhiều biện pháp chặt chẽ về thể chế, mỗi cán bộ sẽ
“không thể”, “không dám” tham nhũng, tiêu cực.
Thứ hai, về kinh tế:
Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy
lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan
và khách quan dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nguyên nhân khách quan đến từ mặt
trái của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu - nghèo ngày càng được nới
rộng giữa các tầng lớp, bộ phận xã hội. Nhiều thách thức, khó khăn, như dịch
bệnh, lạm phát, suy thoái kinh tế,... tác động mọi mặt đến các nước trên thế
giới. Bên cạnh đó, những yếu tố khách quan, như mức thu nhập, tiền lương còn
bất cập khi so sánh thu nhập của người lao động cùng trình độ làm việc trong
doanh nghiệp nhà nước, khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; đời
sống của đa số cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều khó khăn... đã và đang
tác động, khiến cho một bộ phận cán bộ, đảng viên kém tu dưỡng sa vào chủ nghĩa
cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, mà không làm tròn
trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân.
Vì vậy, một trong
những chính sách rất quan trọng, có ý nghĩa lâu dài, tích cực trong phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực là giải quyết vấn đề thu nhập một cách hợp lý. Theo
đó, tập trung phát triển nền kinh tế năng động, nhanh và bền vững; phấn đấu đến
năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập
trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; từ
đó, có đủ nguồn lực để nhanh chóng triển khai chủ trương cải cách chính sách
tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 21-5-2018, của Hội nghị Trung ương
7 khóa XII, “Về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên
chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”, để nâng cao thu
nhập, đãi ngộ, chất lượng cuộc sống, kết hợp với chính sách đãi ngộ, khen
thưởng xứng đáng cho cán bộ, công chức, viên chức. Cần nâng cao mức độ tự chủ
về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập, tạo điều kiện cải thiện và nâng
cao thu nhập cho đội ngũ viên chức, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế, để
mỗi cá nhân yên tâm công tác khi được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, mà không
nhất thiết phải làm thêm, “kiếm thêm”; có chính sách hỗ trợ kịp thời đối với
cán bộ, công chức, viên chức có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đồng thời, một yêu
cầu quan trọng khác là thay đổi tư duy về tiền lương; lương cần được trả theo
vị trí việc làm và năng suất, hiệu quả lao động; chi tiền lương không phải chỉ
là chi cho hoạt động thường xuyên, mà còn là chi cho đầu tư phát triển, đầu tư
nguồn lực con người, là nguồn lực nội sinh quan trọng, là động lực tăng trưởng
kinh tế - xã hội, để mở ra chu kỳ kinh tế mới.
Thứ ba, về văn hóa:
Khi nói đến văn hóa
là thường nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được kết tinh, hun đúc
thành những giá trị tốt đẹp, rất nhân văn, nhân ái, tiến bộ; ngược lại, những
gì xấu xa, việc làm ti tiện, hành động phi pháp... là trái với truyền thống văn
hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước,
đất nước ta đã có một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và
thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc,
sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai
trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của văn hóa trong sự phát triển của đất nước ta,
trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta đã coi
“mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)”,
hết sức coi trọng vai trò của công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước; trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng văn hóa
trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều
lần nhấn mạnh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh ngay trong
chính bản thân mỗi con người, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương
mình; vì vậy, cần khơi dậy, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp trong mỗi
con người, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong mỗi cơ quan, tổ chức;
xây dựng văn hóa, lối sống có lòng tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật, khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tích cực, cao thượng,
nhân văn, đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, sai trái, tiêu cực trong toàn xã
hội.
Để thực hiện hiệu quả
các nội dung trên, trước hết, cần chú trọng xây dựng văn hóa từ trong Đảng và
hệ thống chính trị, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng
viên. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI,
“Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững đất nước”, khẳng định: “Văn hóa, đạo đức và lối sống lành mạnh
phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, trong
cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên. Sự gương
mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên là yêu cầu quan trọng trong công tác lãnh đạo của
Đảng”.
Trong thời gian tới,
các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh, nâng cao chất lượng
công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên trì xây dựng, thực hành văn hóa liêm
chính, tiết kiệm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội; xây dựng, hoàn
thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực của
con người Việt Nam phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; gắn
công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nội dung phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực vào chương trình giáo dục quốc dân và đặc biệt là chương trình
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Phải kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực, tận tụy, hết lòng
phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có ý thức thượng tôn pháp luật, biết trọng
liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người nhà có hành vi tham
nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp; đồng thời,
nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực, khuyến khích và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi
mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung. Xây dựng và duy trì nền
văn hóa công vụ tiến bộ của mỗi ngành, cơ quan, đơn vị, góp phần bảo đảm tính
chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ. Người
đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải nêu cao tinh thần nêu gương, đảng
viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ
giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.
Những kết quả tích
cực, đáng ghi nhận trong thời gian qua là cơ sở, nền tảng để công tác phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục gặt hái nhiều thành công hơn nữa trong thời
gian tới; đặc biệt, để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự “không dám”, “không thể”,
“không cần”, “không muốn” tham nhũng, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,
là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Kết quả trong
công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ góp phần giữ vững ổn định chính
trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm thất bại mọi âm mưu, hành động xuyên tạc,
chống phá của các thế lực thù địch, củng cố hơn nữa niềm tin yêu của cán bộ,
đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước ta./.
Sưu tầm
Tập trung xây dựng ba nền tảng thể chế, kinh tế, văn hóa, nâng cao hiệu quả, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - Phần 1
Bên cạnh những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý
nghĩa lịch sử qua gần 40 năm đổi mới, đất nước ta vẫn còn phải đối mặt với
nhiều khó khăn, thách thức; trong đó, tệ tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh
vực, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, vẫn nghiêm trọng, phức tạp,
với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hướng tới
sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay để thực
hiện hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là tập trung xây dựng
ba nền tảng mang tính chiến lược: thể chế, kinh tế và văn hóa.
Về công tác phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua
Tham nhũng luôn luôn
là căn bệnh quái ác, không chỉ làm hao hụt ngân sách quốc gia, tiền của của
nhân dân, mà còn gây mất cán bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với
chính quyền. Đây là vấn đề mà Đảng ta đã nhận thức rõ từ sớm, chưa bao giờ chủ
quan, mà luôn cảnh giác ở mức độ cao nhất, bởi nó liên quan đến sự tồn vong của
chế độ, đến vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ Đại hội VII, Đảng ta đã xác định tham
nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, trở thành
“một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”, là “thách
thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà
nước”; đến nay, đây “vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn
vong của Đảng và chế độ”. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực là một việc làm cần thiết, tất yếu, một xu thế không thể đảo
ngược.
Trước tình hình tham
nhũng, tiêu cực diễn biến rất nghiêm trọng, phức tạp, Hội nghị Trung ương 5
khóa XI đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham
nhũng, trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban để chỉ
đạo trực tiếp, toàn diện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên phạm
vi cả nước. Hơn 10 năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được
lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm chính trị rất cao, được thực hiện
ngày càng bài bản, đi vào chiều sâu; nhờ đó, đã phát hiện, xử lý nhiều vụ việc,
vụ án nghiêm trọng, được dư luận đặc biệt quan tâm với tinh thần “kiên quyết,
kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, để
lại nhiều dấu ấn tốt đẹp; góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh; tạo hiệu ứng tích cực và lan tỏa mạnh mẽ quyết tâm phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực trong xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên; phản bác các quan
điểm sai trái, xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch về vấn
đề này. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022 của Tổ chức Minh bạch
Quốc tế (TI) xác nhận, Việt Nam là một trong số 6 quốc gia ở khu vực châu Á -
Thái Bình Dương có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng 9 điểm kể từ năm 2018.
Kết quả này cho thấy nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đồng
thời, quá trình tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai
đoạn 2012 - 2022 đã đúc rút nhiều bài học, kinh nghiệm quý giá, là cơ sở quan
trọng để toàn hệ thống chính trị tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh với
vấn nạn tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới.
Bốn mục tiêu trong
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Cho dù có những nỗ
lực, quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và của toàn hệ thống chính trị, thì
bên cạnh những kết quả nổi bật đã đạt được, tình trạng tham nhũng, tiêu cực vẫn
diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng nghiêm
trọng, thậm chí liên quan đến nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà
nước đã được phát hiện, xử lý thời gian gần đây; không chỉ gây ra những hậu quả
nặng nề về kinh tế, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng, quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Vì vậy,
bên cạnh việc đẩy mạnh phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực, cần chú
trọng công tác phòng ngừa, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ
tích tụ thành sai phạm lớn; “phòng” là chính, là cơ bản, lâu dài, “chống” là
quan trọng, cấp bách.
Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, bản chất của tham nhũng là hành vi “ăn cắp của công làm của tư”.
Có thể thấy, mọi hành động vụ lợi về vật chất, quyền lực, chức quyền của cán
bộ, đảng viên thường bắt đầu từ quá trình phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa
cá nhân, từ sự hư hỏng, lệch lạc trong đạo đức, lối sống, bị cám dỗ bởi lợi
ích, vật chất, trở nên vô cảm trước khó khăn, nỗi đau khổ của nhân dân. Vì vậy,
không có giải pháp căn cơ, tối ưu nào để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ
sớm, từ xa hơn là tiến hành phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống ngay trong chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, thành viên
cơ quan công quyền. Do đó, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể cần tập trung vào
việc giáo dục, uốn nắn nhận thức, ý chí, tư tưởng, đạo đức trong mỗi cá nhân;
đồng thời, triệt tiêu, hạn chế tối đa môi trường, điều kiện, động cơ dẫn đến
tham nhũng, tiêu cực. Trong những năm tới, công tác phòng ngừa tham nhũng, tiêu
cực phải hướng tới mục tiêu cao nhất là mỗi cán bộ, đảng viên ở từng địa
phương, cơ quan, đơn vị “không thể”, “không dám”, “không cần” và “không muốn”
tham nhũng, tiêu cực. Đây chính là bốn mục tiêu cơ bản của cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Hơn bao giờ hết, phải làm sao xây
dựng được một thể chế chặt chẽ, hướng đến phủ kín các khoảng trống, khe hở để
“không thể” tham nhũng; đặc biệt, các quy định phải bảo đảm sự ràng buộc chặt
chẽ đối với các quyền hạn, nhiệm vụ được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Hơn
nữa, một cơ chế xử lý phải thực sự có tính răn đe, nghiêm khắc, “pháp bất vị
thân” để mỗi cá nhân thực sự e ngại, bị răn đe trước những hậu quả nghiêm trọng
về mặt chính trị, pháp lý, những tổn hại về danh dự, nhân phẩm, lòng tự trọng
nếu có hành vi vi phạm để “không dám” tham nhũng. Cuối cùng là, hình thành một
môi trường sống, học tập và làm việc chuẩn mực, nền nếp, khoa học; đặc biệt,
chú trọng xây dựng nền văn hóa, đạo đức chuẩn mực, trong đó “người dân
có đạo làm người, cán bộ có đạo làm quan, đạo làm tướng” để “không
cần, không muốn tham nhũng”... (còn tiếp)
Sưu tầm
Nhận diện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” và dự báo một số tình huống có thể xảy ra đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Diễn biến hòa bình với tư
cách là "Chiến lược toàn cầu" phản cách mạng của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm chống phá các nước chủ
nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên thế giới.
Đối với nước ta “Diễn biến hòa bình” là thách thức lớn nhất đối với sự tồn tại
của Đảng Cộng sản và
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại chiến lược
“Diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân
ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Chiến lược “Diễn biến hòa
bình” được hình thành từ sau chiến tranh Thế giới thứ 2, phát triển khá hoàn
chỉnh trong thập kỷ 80 và đã được vận dụng thành công ngoài mong đợi tại Liên
Xô và các nước Đông Âu. Đặc biệt trong những năm gần đây, một số biến động dưới
dạng “Diễn biến hòa bình” diễn ra phức tạp ở một số quốc gia Đông Âu, Trung
Đông và Bắc Phi với nhiều tên gọi khác nhau như: “Cách mạng màu”, “Cách mạng
hoa” hay “Mùa xuân Ả Rập”. Ngoài “Diễn biến hòa bình” do bên thứ ba tác động,
còn một bộ phận quan trọng khác do chính chúng ta tạo ra đó là
"Tự diễn biến" và “Tự chuyển hóa” từ bên trong, một dạng “Diễn
biến hòa bình” cực kỳ nguy hiểm. Trong quá trình đó, lợi dụng vấn đề chống
khủng bố, Mỹ và đồng minh đã tiến hành can dự hoặc đe dọa can thiệp vũ trang
đối với một số quốc gia có chủ quyền và thể chế chính trị hợp pháp, hợp hiến
như: Libya, Syria, Ukraine... Điều này đã và đang mở ra tiền lệ cực kỳ nguy
hiểm đối với nền hòa bình trên phạm vi toàn thế giới.
Đối với Việt Nam, chiến lược
“Diễn biến hòa bình” là mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của Đảng Cộng
sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, nhận
diện âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và dự báo sát đúng các tình huống có thể xảy
ra đối với quốc phòng - an ninh của đất nước là điều kiện tiên quyết để đánh
bại chiến lược “Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng
Việt Nam thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” là vô hiệu hóa
nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, lật
đổ vai trò
lãnh đạo của Đảng cộng sản và xoá bỏ
chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam; đi đôi với phủ nhận những thành tựu vĩ đại của Đảng, dân tộc và nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng thống nhất đất
nước, từng bước đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản dưới nhiều hình thức. Với vị trí địa kinh tế, địa
chính trị và địa
địa lý của mình, Việt Nam đã và
đang trở thành một trọng điểm mà các thế lực thù địch quan tâm, lựa chọn để thực thi chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.
Thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng
Nước ta là gây thanh thế ở nước ngoài, kết hợp gây sức ép từ bên trong thông qua các yếu tố dân tộc, tôn giáo, dân
chủ, nhân quyền,… để kích động
đòi thành lập nước "Việt Nam
tự do"; “Nhà nước Đê Ga tự trị”; phục hồi “Vương quốc Chăm pa”; “Vương quốc Mông”... với nhiều chiêu bài cực kỳ tinh vi, hiểm độc và trên tất
cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Các thủ đoạn của địch được vận dụng linh hoạt trên từng lĩnh vực, từng
thời điểm và ở từng vùng
miền nhằm làm mất ổn định ở một số khu vực nhạy cảm như: Tây Bắc; Tây Nghệ An; Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Kết hợp
với các hoạt động gây rối, biểu tình, bạo loạn hoặc
khủng bố ở nhiều nơi. Tại Tây Bắc, chúng kích động người H’mông đòi thành lập “Khu tự trị người Mông”; trên địa bàn Tây Nguyên, chúng âm mưu thành lập “Nhà nước Đê Ga” và ở vùng Tây Nam Bộ, chúng đòi tách Tây Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam thống nhất để thành lập nhà nước “Khmer Krom”.
Tuy
nhiên, trong những năm trước mắt chiến tranh xâm lược ít có khả năng xảy ra nhưng cần
phải hết sức cảnh giác đề phòng với âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của kẻ thù thông qua
chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trên cơ sở nhận diện âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bài viết dự báo một số tình huống có thể xảy ra đối với cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn hiện
nay như sau:
Một là, thực hiện “Diễn biến
hòa bình” và thúc đẩy “Tự diễn biến”, “Tự chuyển
hóa” đối với cách mạng Việt Nam từ bên trong
Trước hết bằng việc thực thi
chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang
tìm đủ mọi cách làm cho đất nước ta từng bước suy yếu trên tất cả các phương
diện. Cùng với đó là những sai phạm của ta chậm hoặc không được khắc phục như:
suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, nạn tham nhũng, tiêu
cực, mất đoàn kết, thiếu dân chủ; tụt hậu xa hơn về kinh tế… làm cho quần chúng
nhân dân bất bình, mất lòng tin vào Đảng và chính quyền các cấp, tạo ra mâu thuẫn
gay gắt ngay từ bên trong. Kết hợp với các hoạt động chống phá, kích động, mua
chuộc, lôi kéo của bọn cơ hội chính trị và các thế lực phản động thù địch,… Đây
là những yếu tố tạo ra “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” dẫn tới những biến động
lớn về chính trị trong nước và tự đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
làm sụp đổ chế độ xã hội ở nước ta một cách từ từ khó nhận biết và khó phòng
chống. Địa bàn đặc biệt chú ý là các đô thị lớn, trung tâm chính trị, kinh tế
và văn hóa, xã hội.
Hai là,
thực hiện “Diễn biến hòa bình” tiến tới bạo loạn lật đổ, li khai tự
trị và tạo cớ can thiệp vũ trang từ bên ngoài
Từ những diễn biến trên, các
thế lực thù địch bên ngoài có thể lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân
tộc, tôn giáo và những vấn đề tồn tại của lịch sử,… tăng cường thâm nhập sâu
vào các cơ sở xã hội để lôi kéo, chia rẽ, kích động quần chúng nhân dân tiến
hành biểu tình, bạo loạn lật đổ; đòi li khai tự trị nhằm tạo cớ cho sự can
thiệp vũ trang từ bên ngoài. Chúng sử dụng bộ máy phản động lưu vong từ bên
ngoài xâm nhập, móc nối, xây dựng cơ sở, nhen nhóm tổ chức, phát triển lực
lượng từ bên trong để đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm gây mất ổn định
chính trị từ bên trong. Lợi dụng những sơ hở của ta chúng có thể gây bạo loạn ở
một số vùng, một số khu vực nhằm thực hiện âm mưu chia cắt đất nước ta trên
từng vùng miền. Trường hợp tạo dựng được ngọn cờ, tập hợp được lực lượng, tạo
được thời cơ và những yếu tố cần và đủ, chúng có thể tiến hành các hoạt động
lật đổ theo kiểu “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa” như đã từng tiến hành ở một
số nước hoặc tạo cớ để can thiệp vũ trang từ bên ngoài với nhiều cấp độ khác
nhau. Địa bàn cần đề phòng là các vùng biên giới, ven biển, những nơi nhạy cảm
về chính trị, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số và giáo dân theo
đạo.
Ba là,
xung đột vũ trang, can thiệp quân sự và tiến hành chiến tranh xâm lược đối với
Việt Nam
Trong điều kiện tình hình thế
giới đang có những diễn biến phức tạp, khi Lào và Campuchia có biến động lớn,
xảy ra bạo loạn, đảo chính, mất ổn định về chính trị... sẽ có tác động trực
tiếp đến quốc phòng - an ninh của nước ta. Tình hình khu vực biên giới sẽ hết
sức phức tạp, các thế lực thù địch gây xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ,
đòi xét lại các vấn đề tồn tại về lịch sử… Khi cần thiết chúng có thể sử dụng
địa bàn “Đồng minh”, lợi dụng “Nước thứ ba” làm bàn đạp gây chiến tranh chống
Việt Nam. Trên biển Đông và khu vực Trường Sa, các nước có tranh chấp chủ quyền
biển đảo và quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khu vực có thể xảy ra
xung đột vũ trang. Lơi dụng tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch bên ngoài có thể tranh thủ thời cơ để tiến hành can thiệp vũ trang nhằm
gây ra những biến động phức tạp hơn. Trong nội địa, do ta sơ hở mất cảnh giác,
lực lượng khủng bố hoặc các tổ chức phản động có thể lợi dụng tiến hành tiến
hành các hoạt động khủng bố; lấy cớ “Chống khủng bố” kẻ thù từ bên ngoài có thể
can thiệp vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược đối với nước ta.
Ngoài ra, không loại trừ khả
năng khi tình hình Biển Đông nóng lên, các tổ chức phản động trong nước có thể
lợi dụng để kích động gây rối, biểu tình, bạo loạn chống phá cách mạng Việt Nam
và tạo cớ để bên ngoài can thiệp vào tình hình nước ta dưới mọi hình thức. Đồng
thời, cần phải hết sức cảnh giác và đề phòng khi xảy ra các tình huống trên,
một số quốc gia có tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo với nước ta có thể
tiến công chiếm đóng các đảo xa của ta và dành quyền kiểm soát Biển Đông hoặc
lấn chiếm biên giới và chiếm đóng một số vùng lãnh thổ của Tổ quốc trên tuyến
biên giới.
Các tình huống trên có liên
quan chặt chẽ, tác động qua lại, làm tiền đề và tạo điều kiện cho nhau; đan xen
phức tạp và chuyển hóa mau lẹ. Vì vậy, không nên nhận thức rằng khi địch thất
bại ở tình huống này mới xuất hiện tình huống tiếp theo, các tình huống có thể
xảy ra đồng thời hoặc riêng rẽ và tất cả đều có liên quan đến tình hình ở các
nước láng giềng. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác đề phòng với những biến
động bất lợi ở các quốc gia này có thể dẫn đến xung đột vũ trang, tranh chấp
biên giới trên hướng Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam và một số địa bàn trọng yếu
khác. Đây là nguy cơ dẫn đế sự can thiệp mạnh mẽ từ bên ngoài và có thể xảy ra
chiến tranh, cần phải hết sức cảnh giác đề phòng.