Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

CHIẾN CÔNG TRÊN ĐỒI D1

 Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, D1 là một trong những cứ điểm quan trọng trong dãy đồi phòng ngự phía Đông của thực dân Pháp, có nhiệm vụ che chở cho trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, là mục tiêu của quân ta trong đợt tấn công thứ hai vào chiều 30-3-1954. Tuy nhiên, nó đã bị quân ta san phẳng chỉ sau hai ngày.

Đồi D1 là nơi diễn ra trận chiến đấu ác liệt của các chiến sĩ Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 trong đợt tấn công thứ 2 vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là cứ điểm ở vị trí cao nhất của dãy đồi phía Đông thuộc phân khu trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, do một đại đội Algeria đóng giữ.
Theo tài liệu lịch sử ghi lại, đồi D nằm trong cụm Dominique bao gồm 3 ngọn đồi D1, D2, D3. Thực dân Pháp đã xây dựng và biến cứ điểm này thành vị trí tiền tiêu của dãy đồi phía Đông. Do vị trí và nhiệm vụ của đồi D là trực tiếp khống chế khu trung tâm khu vực Hầm De Castries và sân bay Mường Thanh, nên thực dân Pháp lợi dụng địa thế tự nhiên của 3 mỏm đồi để xây dựng thành vị trí phòng thủ vô cùng vững chắc, có lợi cho quân Pháp về mặt quân sự.
Tại đây, thực dân Pháp bố trí ở vòng ngoài 3 lớp hàng rào dây thép gai được liên kết với nhau, có độ dày từ 40m đến 60m, xen kẽ các loại mìn ở giữa. Đây là một lưới lửa tự động, sẵn sàng thiêu cháy đối phương ngay từ vòng ngoài. Ngoài ra, địch bố trí các tuyến hào, liên thông với các hầm chỉ huy trên đỉnh đồi nhằm ngăn cản bước tấn công của bộ đội ta.
Về phía ta, đơn vị đảm nhiệm tiêu diệt cứ điểm đồi D1 là các Tiểu đoàn 130, 166, 154, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312.
Đúng 17 giờ 30 phút ngày 30-3-1954, cuộc tiến công vào các ngọn đồi phía Đông của bộ đội ta bắt đầu. Quân ta đánh phân khu trung tâm, thực hiện vây lấn, bóp nghẹt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Phía Pháp dựa vào hầm ngầm, lô cốt để cố thủ và đưa quân từ các điểm khác dùng xe tăng và lính dù, lính lê dương để phản kích. Do các cứ điểm này có tính sống còn với quân Pháp nên chúng quyết liệt phản kích liên tục để giữ vững.
Để chống lại các cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, bộ đội ta tiến hành đào các giao thông hào bao vây và siết chặt, tiếp cận dần các vị trí của quân Pháp. Các chiến hào này tránh cho quân ta bị thương vong bởi pháo binh và không quân Pháp, đồng thời tiến sát được cứ điểm của chúng, tạo được bàn đạp tấn công thuận lợi. Quân Pháp cũng nhận thức rất rõ sự nguy hiểm của cách đánh này nhưng không có cách nào để chế áp. Bộ đội ta vây lấn, đào hào cắt ngang cả sân bay, đến tận chân lô cốt cố thủ, khiến khu vực kiểm soát của quân Pháp ngày càng bị thu hẹp. Đêm xuống, các tổ bộc phá của ta băng lên mở đột phá khẩu lên điểm cao D1. Địch bắn trả dữ dội, chúng dùng súng phun lửa, đại liên từ các lỗ châu mai bắn ra. Ta dùng súng cối, DKZ bắn vào lỗ châu mai của địch.
Trong vòng 30 phút, Trung đoàn 209 đã chiếm được cứ điểm D1. Tiểu đoàn 154 đã tiêu diệt gọn Sở chỉ huy Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Algeria. Mờ sáng hôm sau, quân Pháp pháo kích dữ dội lên đồi D1, phối hợp cùng không quân ném bom chuẩn bị cho quân đánh chiếm lại. Sau các trận pháo, bộ binh Pháp tràn lên đồi D1. Bộ đội ta được lệnh tạm rút khỏi điểm cao để bảo toàn lực lượng. Quân Pháp chiếm lại đồi D1. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch tiếp tục diễn ra vô cùng ác liệt, sau hai ngày, bộ đội ta hoàn toàn làm chủ 3 ngọn đồi D1, D2, D3.
Có thể nói, trận đánh trên đồi D1 có tính chất quyết định đến thắng lợi của quân ta trong đợt tấn công thứ hai trong Chiến dịch Điện Biên Phủ./.
St

CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG: ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ BẰNG "THƯỚC ĐO VỀ SỰ NGAY THẲNG"

 Trong bối cảnh việc kiểm tra, xác minh kê khai tài sản, thu nhập còn nhiều hạn chế thì tính trung thực của cán bộ, đảng viên trong việc tự kê khai càng được đề cao.

Về việc lựa chọn cán bộ chiến lược của Đảng cho tương lai gần, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra yêu cầu: không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV những người có khuyết điểm.
Trong số các khuyết điểm có việc kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc.
Tác dụng képĐiều 4 Nghị định 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc minh bạch tài sản, thu nhập quy định: mục đích của việc kê khai tài sản, thu nhập là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản, thu nhập của người đó; phục vụ cho công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng.
Người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm tự kê khai các thông tin theo quy định tại mẫu Bản kê khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, đầy đủ đối với nội dung kê khai.
Thông thường, hành vi tham nhũng là để thỏa mãn lòng tham về của cải, vật chất. Bởi vậy, việc kê khai tài sản là để xác minh tính minh bạch đối với nguồn tài sản mà cán bộ đang nắm giữ, một trong các giải pháp để có thể phát hiện cán bộ có tham ô, tham nhũng hay không.
Bên cạnh việc phòng ngừa tham nhũng thì việc kê khai tài sản cũng chính là một cách bảo vệ sự trong sạch của cán bộ khi họ có khối tài sản minh bạch, nguồn thu nhập chính đáng. Cán bộ cũng có ý thức giữ mình hơn khi việc kê khai và xác minh tài sản được thực hiện nghiêm túc, công tâm.
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2018), người kê khai không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý theo quy định tại Điều 51 của Luật Phòng, chống tham nhũng.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân mà kê khai không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử. Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai không trung thực thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến...
Thước đo về “lòng ngay dạ thẳng”Báo cáo của Chính phủ cho thấy từ ngày 8/2/2022 đến ngày 30/4/2023, có hơn 13.000 người đã được xác minh tài sản, thu nhập, trong số này có 54 người bị xử lý do không trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm.
Điển hình là trường hợp của cựu Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Lê Đức Thọ. Tại Hội nghị Trung ương 8 (từ ngày 2 đến ngày 8/10/2023), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với ông Lê Đức Thọ do “kê khai, giải trình nguồn gốc và biến động tài sản không trung thực, không đầy đủ, không đúng quy định."
Dĩ nhiên, người cán bộ từng thuộc hàng ngũ lãnh đạo tầm chiến lược này có lý do để gian dối trong việc kê khai tài sản. Ngày 14/12/2023, do hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi” ông Thọ đã bị khởi tố, bắt tạm giam.
Tuy nhiên, không nhiều trường hợp gian dối trong kê khai tài sản bị phát hiện qua việc kiểm tra, xác minh thông thường. Phần lớn là khi cán bộ bị xử lý kỷ luật, bị điều tra hình sự thì hành vi thiếu ngay thẳng trước đó mới bị đưa ra ánh sáng.
Một số hạn chế, bất cập trong thực thi Nghị định 78/2013/NĐ-CP khiến việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, viên chức, đảng viên chưa đạt mục đích và đáp ứng sự kỳ vọng của Đảng, Chính phủ và nhân dân.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là khâu kiểm tra, xác minh, đánh giá, kết luận của bộ phận chức năng về việc kê khai bị bỏ ngỏ. Số liệu, thông tin kê khai tài sản gần như là “đường một chiều,” chủ yếu dựa vào ý thức tự giác của người kê khai. Số người được kiểm tra, xác minh về nguồn gốc tài sản chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số lượng khổng lồ các bản kê khai.
Khi đóng góp ý kiến với Đảng, Quốc hội, Chính phủ về các biện pháp phòng, chống tham nhũng và lựa chọn cán bộ, nhiều chuyên gia, đảng viên lão thành, cử tri đề xuất: để việc kê khai và kiểm soát kê khai tài sản phát huy hiệu quả thì cần thực hiện sâu sát Chỉ thị 33-CT/TW năm 2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản và Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong đó nhấn mạnh tới cách thức hạn chế hành vi kê khai tài sản không trung thực.
Cụ thể, cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Đảng và Nhà nước về kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản, để uốn nắn, xử lý kịp thời những vi phạm; xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm quy định, thậm chí tịch thu tài sản, thu nhập không được chứng minh về nguồn gốc chính đáng.
Trong bối cảnh việc kiểm tra, xác minh kê khai tài sản, thu nhập còn nhiều hạn chế thì tính trung thực của cán bộ, đảng viên trong việc tự kê khai càng được đề cao. Cán bộ càng nắm giữ vị trí quan trọng càng phải nêu gương về sự minh bạch đối với nguồn tài sản mà mình đang nắm giữ.
Không gian dối trong việc kê khai và giải trình về nguồn gốc tài sản chính là thước đo đơn giản và rõ ràng về “lòng ngay dạ thẳng” của cán bộ, đảng viên. Ngược lại, những người thiếu trung thực trong kê khai thì phải được xem là không có đủ phẩm chất đạo đức để đứng trong bộ máy của Đảng, Nhà nước chứ chưa nói đến việc được lựa chọn vào hàng ngũ cán bộ tầm chiến lược.
Nếu để lọt vào đội hình tinh hoa của Đảng những người thiếu ngay thẳng từ hành vi rất cơ bản là kê khai tài sản thì sự nghiệp cách mạng chẳng những bị tổn hại nặng nề mà uy tín của Đảng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Không coi việc kê khai tài sản, thu nhập là “thủ tục hình thức," “đến hẹn lại lên” mà nghiêm túc thực hiện chính là bước đầu tiên nhưng rất quan trọng trong việc phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và củng cố phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên.
Các vụ việc Việt Á, “chuyến bay giải cứu,” FLC, Vạn Thịnh Phát, SCB, Phúc Sơn... một lần nữa cho thấy rằng không ít cán bộ, kể cả lãnh đạo cấp cao, cán bộ tầm chiến lược, nếu tránh được “những viên đạn bọc đường” thì vẫn có thể gục ngã bởi “những viên đạn bọc rất nhiều đường."
Còn nếu việc kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên được thực hiện có hiệu quả thì những dấu hiệu bất thường về sự “giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” sẽ bị phát lộ trước khi cơ quan điều tra phải tốn biết bao thời gian, công sức để lần ra những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của đương sự./.
St

TƯ TƯỞNG CỦA PH.ĂNG-GHEN SOI SÁNG CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 Ph.Ăng-ghen (1820-1895) là một nhà khoa học, triết học và một nhà lý luận chính trị người Đức. Với trí tuệ uyên bác, tinh thần khoa học cần mẫn và phẩm chất nhân văn cao đẹp, luôn mong muốn đem đến những điều tốt đẹp cho nhân loại, Ph.Ăng-ghen đã luôn sát cánh cùng C.Mác nghiên cứu, chỉ ra quy luật tất yếu khách quan của quá trình vận động, biến đổi, phát triển xã hội loài người, từ đó khẳng định tiến trình phát triển của nhân loại sẽ đi đến xã hội cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp, tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc.

Đặc biệt, Ph.Ăng-ghen đã có những luận giải sâu sắc về bản chất ưu việt, dân chủ, tiến bộ của nhà nước vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những tư tưởng có giá trị thời đại ấy của Ph.Ăng-ghen đã, đang và sẽ mãi soi đường, chỉ lối cho Việt Nam trên con đường xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam.
Không chỉ có những tác phẩm viết chung cùng C.Mác, Ph.Ăng-ghen còn có rất nhiều tác phẩm riêng nghiên cứu sâu về vấn đề nhà nước (“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, “Bàn về quyền uy”,…) và là người có công lớn trong việc hoàn thiện lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác. Những tư tưởng của Ph.Ăng-ghen về nhà nước, đặc biệt là về bản chất của nhà nước, bản chất ưu việt của nhà nước vô sản đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Ph.Ăng-ghen khẳng định nhà nước xuất hiện và tồn tại trong giai đoạn xã hội có sự phân chia thành giai cấp. Nguồn gốc trực tiếp nảy sinh nhà nước là do những giai cấp có quyền lợi kinh tế đối lập, mâu thuẫn, xung đột với nhau ở mức không thể điều hòa được, “nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp…, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức”,“nhà nước là một tổ chức của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này chống lại giai cấp không có của”.
Ph.Ăng-ghen cũng chỉ rõ, dù trong bất kỳ chế độ xã hội nào, nhà nước luôn luôn “vẫn chỉ là nhà nước của giai cấp thống trị, và trong mọi trường hợp, về thực chất, vẫn là bộ máy dùng để đàn áp giai cấp bị áp bức, bị bóc lột”. Ngay cả đối với nhà nước tư sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa, dù luôn được các học giả tư sản tuyên bố rằng đó là chính quyền của nhân dân, là một chế độ dân chủ, song thực chất “nhà nước đại nghị hiện đại là công cụ của tư bản dùng để bóc lột lao động làm thuê”, “giai cấp tư sản đã đem sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn” đối với người lao động. Ph.Ăng-ghen nhấn mạnh:
“Người ta tưởng tượng là đã tiến được một bước táo bạo phi thường, nếu họ tự giải thoát khỏi lòng tôn sùng chế độ quân chủ thế tập và trở thành những người theo chế độ cộng hòa dân chủ. Nhưng thực ra, nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”.
Khi bàn về nhà nước vô sản, Ph.Ăng-ghen đồng tình với quan điểm của C.Mác về tính tất yếu của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia.
Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”, và “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”.
Đặc biệt, Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra bản chất ưu việt khác biệt của nhà nước vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa so với các nhà nước đã có trong lịch sử. Nhà nước vô sản là nhà nước dân chủ, là chính quyền của số đông người dân lao động, là một chế độ dân chủ thật sự. Ph.Ăng-ghen viết: “Dân chủ ngày nay là chủ nghĩa cộng sản. Bất cứ thứ dân chủ nào khác đều chỉ có thể tồn tại trong đầu óc của những nhà lý luận uyên bác không cần biết gì đến những sự kiện thực tế”.
Tính dân chủ, mục tiêu dân chủ của nhà nước vô sản đã được thể hiện ngay từ khi giai cấp vô sản tiến hành cuộc cách mạng lật đổ giai cấp tư sản: “trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”. Chính cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đã “tạo ra một chế độ dân chủ”, một chính quyền dân chủ, một nhà nước dân chủ. Và, “thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Chính từ những luận giải khoa học ấy của Ph.Ăng-ghen cùng với Mác và sau này là V.I.Lênin về vấn đề nhà nước, nhất là lý luận về bản chất ưu việt của nhà nước vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thấy được chân lý, tìm ra con đường đúng đắn lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, giành được độc lập tự do cho dân tộc, đồng thời lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tổ chức xây dựng nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đạt những thành tựu phát triển to lớn, đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh cho đông đảo tầng lớp nhân dân Việt Nam.
Trên cơ sở những phân tích của Ph.Ăng-ghen về bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước vô sản, nhiều năm qua Việt Nam luôn nhất quán kiên định và nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng ngay từ đầu đã luôn xác định, đó phải là chế độ xã hội tốt đẹp dân chủ, tiến bộ, văn minh thật sự:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Bao năm qua, nhờ luôn kiên định theo những chỉ dạy của Ph.Ăng-ghen, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ngày càng được hoàn thiện và chứng minh trong thực tế là nhà nước của nhân dân, là chính quyền của nhân dân. Nhà nước Việt Nam ngay từ đầu đã luôn nỗ lực để trở thành một nhà nước dân chủ, một chế độ dân chủ thực sự, phấn đấu không ngừng để thực hiện những mục tiêu tốt đẹp vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân.
Mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều “xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”; “Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”, “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”. Nhà nước luôn đồng hành cùng mọi tầng lớp nhân dân nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu cao đẹp của cả dân tộc, “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn”.
Nhà nước Việt Nam cũng luôn chú trọng công tác đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để kịp thời có sự điều chỉnh, đổi mới trong cách thức tổ chức và phương thức hoạt động, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu quả phân công, phối hợp thực thi nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước,… để ngày càng hoàn thiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam dân chủ, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Mặc dù thực lực nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, song với quyết tâm xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa ưu việt, dân chủ thật sự trong thực tế theo tư tưởng của Ph.Ăng-ghen, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn cố gắng thực hiện tốt nhất vai trò của mình, điều hành, chỉ đạo thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tăng cường thực hiện an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, luôn chú trọng chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm công bằng, dân chủ xã hội,... kể cả trong những giai đoạn khó khăn, khủng hoảng của nền kinh tế hay trong những bối cảnh đại dịch, thiên tai,... trên tinh thần không để người dân phải chịu khổ, chịu đói... hay bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển của đất nước.
Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được đến nay, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm nước cao của thế giới.
“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là minh chứng sống động cho những nỗ lực và bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc điều hành, chỉ đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trên tinh thần luôn kiên định theo chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, Ph.Ăng-ghen nói riêng đã chỉ dạy, với mục tiêu duy nhất là đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, tiến bộ, văn minh cho mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam./.
St

Chăm lo đời sống nhân dân - những thành quả không thể phủ nhận

Nhằm bảo đảm bản chất dân chủ thật sự của chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định cần phải để nhân dân không chỉ được “biết”, được “bàn”, được “làm”, được “kiểm tra”, được “giám sát” việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mà quan trọng hơn là phải được “thụ hưởng” những thành quả của tiến trình phát triển đất nước. Trên tinh thần ấy, những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất coi trọng và luôn nỗ lực thực hiện các chính sách xã hội, chăm lo đời sống mọi mặt cho các tầng lớp nhân dân. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tích cực ban hành và nỗ lực tổ chức triển khai thực hiện ngày càng hiệu quả các chính sách xã hội (CSXH) theo đúng tinh thần chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, đó là phải luôn quan tâm chăm lo cho dân, làm sao để người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được lao động, được chăm sóc, giúp đỡ khi đau yếu hoạn nạn, có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Cùng với quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới phát triển đất nước, hàng loạt nghị quyết, chỉ thị về thực hiện CSXH đã được ban hành và chỉ đạo thực hiện, mới đây, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023, về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Mục tiêu đặt ra là các cấp, ngành, địa phương phải nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện CSXH, bảo đảm cho người dân được thụ hưởng tốt hơn những thành quả của công cuộc đổi mới phát triển đất nước, được bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân thật sự, đồng thời tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng chú trọng vấn đề thực hiện CSXH, coi việc chăm lo đời sống của các tầng lớp nhân dân là bản chất, mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là động lực của công cuộc đổi mới, phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ rõ thời gian qua, việc tổ chức triển khai thực hiện CSXH ở một số địa bàn, khu vực vẫn còn những hạn chế, thiếu sót khiến một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng thật sự những thành quả của công cuộc đổi mới; chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Tuy nhiên, những hạn chế đó là do những nguyên nhân khách quan (như tiềm lực kinh tế đất nước còn hạn chế, diễn biến phức tạp của tình hình thiên tai, dịch bệnh,...), và phần nhiều do nguyên nhân chủ quan thuộc về nhận thức, năng lực, trách nhiệm của một số cấp ủy, chính quyền và một bộ phận cán bộ, công chức khi thực hiện CSXH. Từ đây, Nghị quyết yêu cầu các cấp, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị phải nâng cao nhận thức, xây dựng chương trình hành động với những biện pháp cụ thể, khả thi để thực hiện hiệu quả hơn nữa CSXH theo hướng toàn diện, bền vững, tiến bộ và công bằng, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân, trong đó cần có sự quan tâm, hỗ trợ những đối tượng người có công, gia đình chính sách, nhóm người yếu thế, người dân miền núi, dân tộc thiểu số,... bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền thụ hưởng thực sự của nhân dân trong thực tế, không có sự phân biệt đối xử, không để ai bị bỏ lại phía sau. Chính nhờ những nỗ lực và sự quyết liệt của Đảng, Nhà nước, cùng sự phối hợp tích cực của các tổ chức, ban, ngành, địa phương, đến nay chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng trong thực hiện CSXH. Đời sống mọi mặt của nhân dân ở hầu khắp các tỉnh, thành phố, vùng miền, dân tộc trong cả nước đều được cải thiện và nâng cao với thu nhập bình quân đầu người năm 2023 đạt 4.284 USD, tăng gấp hơn 40 lần so với năm 1990. Việt Nam cũng là quốc gia được đánh giá cao về thành tựu xóa đói, giảm nghèo với tỷ lệ hộ nghèo giảm từ gần 60% năm 1986 xuống dưới 3% năm 2023, trong đó tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo chỉ còn khoảng 33% (mỗi năm giảm từ 4-5%), tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số còn khoảng 17,82% (mỗi năm giảm khoảng 3%), đưa nhiều xã vùng ven biển, hải đảo thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ở khắp các địa phương cũng luôn được chú trọng, tăng cường với nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tính đến cuối năm 2023, 100% số đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng; 100% số người dân bị thiệt hại do thiên tai, thiếu đói được trợ giúp kịp thời, không để ai bị đói; hơn 90% số người khuyết tật khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng; hơn 90% số người cao tuổi khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc. Việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe người dân, cung cấp nước sạch, điện… trong phạm vi cả nước được chú trọng triển khai thực hiện với những kết quả tích cực. Cùng với đó, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng người có công, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Hằng năm, đều dành hơn 30.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách trợ cấp, ưu đãi, chăm sóc sức khỏe, tặng quà… các đối tượng chính sách, gia đình người có công, chỉ đạo toàn dân tích cực tham gia các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng... bảo đảm gia đình người có công đạt mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư nơi cư trú. Các cấp, ngành, địa phương cũng tích cực thực hiện các chính sách ưu tiên, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống của đồng bào DTTS. Trong giai đoạn 2021-2022, cả nước đã thực hiện 91 đề án khuyến công hỗ trợ cho các tỉnh vùng sâu, vùng xa khu vực phía bắc, duyên hải miền trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ với kinh phí 63 tỷ đồng; xây dựng 186 cầu treo dân sinh cho đồng bào DTTS ở 28 tỉnh miền núi phía bắc, miền trung và Tây Nguyên; hỗ trợ hộ nghèo đồng bào DTTS xây dựng, sửa chữa 1.350 nhà ở, nhà đoàn kết, nhà đồng đội, phòng tránh bão, lụt trị giá hơn 110 tỷ đồng; tiếp nhận, tạo việc làm cho hơn 2.000 đồng bào DTTS; giúp đỡ gần 400 hộ nông dân nghèo người DTTS phát triển kinh tế với giá trị hơn chục tỷ đồng; thu hút được gần 17 nghìn tỷ đồng nguồn vốn ODA,... cho hỗ trợ phát triển vùng đồng bào DTTS. Việc phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc y tế vùng miền núi, DTTS cũng rất được coi trọng với việc đầu tư xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, các khoa, ngành đặc thù cho người DTTS. Đến nay, trong số 6.000 học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú hằng năm, có hơn 50% số học sinh đỗ thẳng vào đại học, cao đẳng, 5% được đi học cử tuyển, 13% học dự bị đại học, khoảng 30% vào trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc về địa phương công tác. Các địa phương cũng tích cực thực hiện chỉ đạo của Nhà nước trong việc ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; kết nối, hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa với các cơ sở y tế khám, chữa bệnh cho đồng bào DTTS; đưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; triển khai các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, nâng cao sức khỏe, tầm vóc thanh, thiếu niên DTTS... Tuy nhiên, với thái độ thù địch và thiếu thiện chí, thời gian qua, các đối tượng chống phá, phản động đã thường xuyên ra sức bịa đặt, vu khống, đưa ra nhiều luận điệu bôi xấu, xuyên tạc vấn đề thực hiện CSXH của nước ta. Chúng trắng trợn đổi trắng thay đen bản chất sự việc, cho rằng việc thực hiện CSXH của Việt Nam chỉ mang tính hình thức và những thành tựu được ghi trong các văn kiện, nghị quyết chủ yếu là để “làm màu”, để khoe mẽ thành tích, hoặc là ngụy tạo, tự vẽ ra để thổi phồng công lao của Đảng, ru ngủ, mị dân, lừa phỉnh người dân chứ không có thực. Thậm chí vu khống CSXH chỉ là công cụ để quan chức lợi dụng trục lợi, tham ô, tham nhũng, thực hiện lợi ích nhóm. Các đối tượng bịa đặt rằng, CSXH của Việt Nam chỉ tập trung bảo đảm lợi ích cho một số đối tượng, vùng miền, nhất là đối tượng cán bộ, quan chức ở những tỉnh, thành phố lớn, còn đại bộ phận người dân lao động nghèo, ở miền núi, nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì không được quan tâm, kể cả những người có công với đất nước cũng không được chăm lo xứng đáng, phải sống khổ cực. Để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chia rẽ vùng miền, các đối tượng còn ngang nhiên bịa đặt rằng, những người dân vùng DTTS luôn nằm ngoài phạm vi tác động của CSXH, luôn bị bỏ rơi, không được quan tâm chăm lo đời sống, nâng cao dân trí nhằm thâu tóm mọi quyền lực, lợi ích cho cán bộ, quan chức người Kinh. Đây là những luận điệu xuyên tạc “đổi trắng thay đen”, không thể chấp nhận. Có thể thấy, mục đích chính của những luận điệu xuyên tạc này là nhằm phủ nhận vai trò của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phủ nhận bản chất dân chủ ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc đó nếu không bị nhận diện và đấu tranh kiên quyết, kịp thời sẽ khiến một bộ phận người dân thiếu thông tin, nhẹ dạ bị dẫn dụ, lôi kéo mà nghe theo, từ đó nảy sinh tâm lý nghi ngờ, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đặc biệt từ đây có thể gieo rắc lòng thù hận, nghi kỵ giữa đồng bào các dân tộc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc để các đối tượng phản động dễ bề dụ dỗ, kích động người dân tham gia biểu tình, bạo loạn chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại những thành quả phát triển đất nước, ảnh hưởng đến lợi ích và cuộc sống bình yên của nhân dân như một số vụ việc đau lòng diễn ra thời gian qua ở một số tỉnh, thành phố. Thực tế này đặt ra những nhiệm vụ mới đối với công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Cần khẳng định những nỗ lực và thành tựu trong thực hiện CSXH của Việt Nam thời gian qua là minh chứng xác đáng, thuyết phục nhất giúp củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân, và cũng là căn cứ để phản bác những luận điệu xuyên tạc. Sự đồng lòng, ủng hộ, cũng như quyết tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong thực hiện CSXH đã khẳng định bản chất dân chủ ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng như sự lựa chọn con đường đúng đắn của Đảng ta vì lợi ích và hạnh phúc của mọi tầng lớp nhân dân./.

Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch

Lâu nay, trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, các cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân luôn nêu cao ý thức trách nhiệm và tinh thần chủ động, tích cực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin xấu, độc để bảo vệ tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ những thành quả của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm giữ vững con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy vậy, bên cạnh đó vẫn còn tình trạng một số người thiếu ý thức, trách nhiệm có hành vi lan truyền, dung túng, tiếp tay những quan điểm sai trái, thù địch, thậm chí tán phát các thông tin xấu, độc chống phá chế độ, gây bất ổn xã hội cần phải được đấu tranh, lên án. Tuy nhiên, còn có một tình trạng nguy cơ nguy hại không kém là những người có biểu hiện bàng quan, vô cảm, vô trách nhiệm trước thông tin sai sự thật, thấy đúng không bảo vệ, lan tỏa, nhân rộng; thấy điều sai trái, thông tin xấu, độc chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc không dám đấu tranh, phản bác. Đáng lo ngại trong số này có cả những cán bộ, đảng viên đang công tác tại các cơ quan nhà nước. Biểu hiện dễ nhận thấy ở những người này đó là sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, né tránh đấu tranh, sống ích kỷ, suy nghĩ hẹp hòi, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, không quan tâm đến các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội đang diễn ra chung quanh; thờ ơ với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, không quan tâm đến việc đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thông tin xấu, độc. Thậm chí những người này còn cố tình biện minh rằng đó không phải trách nhiệm của mình. Với quan điểm và lối sống như vậy, những cá nhân này ngày càng trở nên chây ỳ, lười biếng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trốn tránh học tập lý luận chính trị, bỏ bê việc rèn luyện đạo đức cách mạng, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thậm chí coi thường nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do đó dù mang danh là “công bộc, đầy tớ” của nhân dân nhưng những cán bộ, đảng viên này không những không gương mẫu đi đầu trong đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của đất nước, của nhân dân mà còn sống kiểu “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”, “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, không quan tâm đến điều gì khác ngoài việc thu vén cho lợi ích cá nhân mình, thờ ơ với tất cả chỉ miễn sao lợi ích của mình không bị tổn hại. Đồng thời trong xã hội cũng xuất hiện một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có không ít người trẻ lựa chọn cách sống vị kỉ, chỉ sống vì mình, cho mình, không quan tâm những thứ ngoài bản thân mình. Vì thế những cá nhân này trong cuộc sống ngày thường, cũng như khi tham gia mạng xã hội, dù thường xuyên bắt gặp những luận điệu sai trái, thù địch, những thông tin xấu, độc xuyên tạc chế độ, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ Đảng, chính quyền, bôi nhọ lịch sử của dân tộc, phủ nhận những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, bịa đặt những thông tin sai trái liên quan việc thực hiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam… nhưng họ đã chọn cách mặc kệ, không quan tâm, không bày tỏ ý kiến. Nhiều người cho rằng, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, bảo vệ chủ nghĩa xã hội là việc của Đảng, của Nhà nước, của cơ quan chức năng chứ không phải là nhiệm vụ của người dân cho nên từ chối can dự vào để “tránh phiền phức”. Hầu hết những người này quan niệm rằng, chỉ cần mình im lặng, không hùa theo những quan điểm sai trái, thù địch, không tham gia lan truyền những thông tin xấu, độc, không cung cấp thông tin hoặc tiếp tay cho người khác hay trực tiếp có những hành vi cụ thể chống phá Đảng, chính quyền là đã làm đúng phận sự. Tuy nhiên, đây là nhận thức chưa đúng đắn bởi chính sự lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm, không lên tiếng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vô hình trung đã tạo cơ hội cho những quan điểm xấu, độc ngày càng lan rộng, giúp các đối tượng chống phá có điều kiện để hướng lái, dẫn dắt dư luận, gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong một số trường hợp, chính sự bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho hành vi chống phá Đảng, chống phá chính quyền của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước tại nhiều địa phương chưa được phát hiện sớm để kịp thời ngăn chặn, xử lý, từ đó để lại những hậu quả nghiêm trọng. Thực tế này cho thấy sự bàng quan, vô cảm, vô trách nhiệm trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là có lỗi với đất nước, với nhân dân. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng: “Sự im lặng của những người tốt còn nguy hiểm hơn sự tàn nhẫn của những kẻ xấu”. Đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên, sự bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng bởi tước đi sự nhiệt tình, hăng hái và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên; làm suy giảm uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, hiệu lực, hiệu quả điều hành, quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội. Từ đây cũng khiến những cán bộ, đảng viên này trở thành tấm gương xấu nằm trong hệ thống chính trị, tác động tiêu cực đến nhận thức của nhân dân và sự phát triển lành mạnh của xã hội. Những cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm chẳng khác gì người “tự lấy tay che mắt mình”, “tự lấy bông bịt tai mình”, “tự lấy băng dính dán miệng mình”, tự mình chặt đứt sợi dây kết nối cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, với tổ chức, cơ quan, đơn vị, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ đã tự gạt mình ra khỏi đội ngũ của Đảng, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động. Cho nên đây có thể xem là những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta chỉ rõ; đồng thời cũng chính là những điều mà đảng viên không được làm theo Quy định về những điều đảng viên không được làm (số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021) của Ban Chấp hành Trung ương: “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Để trị tận gốc căn bệnh bàng quan, vô cảm, vô trách nhiệm, né tránh không dám đấu tranh với các thông tin sai trái, xấu, độc, chống phá Đảng, Nhà nước hiện nay đòi hỏi cần triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp như sau: Trước hết, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để mỗi người nhận thức rõ, đúng, đầy đủ trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ; phải thường xuyên quán triệt cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không ngừng nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chủ nghĩa xã hội vì đây chính là nhằm bảo vệ cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, cơ hội phát triển toàn diện và tương lai tốt đẹp cho mỗi người. Do đó, đây không phải là trách nhiệm của riêng tổ chức, cơ quan, lực lượng chức năng nào mà cần phải xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Cùng với đó, cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt, lan tỏa rộng rãi các tấm gương sáng, những cách làm hay trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực”; làm tốt hơn nữa công tác thi đua, khen thưởng kịp thời, xứng đáng những điển hình tiên tiến từ đó sẽ có tác dụng khuyến khích, động viên và tạo động lực để mỗi người có sự quyết tâm và cố gắng đóng góp nhiều hơn nữa vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngoài ra cần hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám lên tiếng tố cáo và đấu tranh mạnh mẽ với những quan điểm thù địch, những thông tin xấu, độc, những hành vi sai trái chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Riêng đối với cán bộ, đảng viên, để triệt phá tận gốc căn bệnh bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên về mọi mặt nhất là rèn luyện về lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị, đạo đức cách mạng; đẩy mạnh công tác phê bình và tự phê bình, công khai đánh giá, nhận xét, phân loại cán bộ để kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất./.

Tập trung xây dựng ba nền tảng thể chế, kinh tế, văn hóa, nâng cao hiệu quả, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - Phần 2

Ba nền tảng để hiện thực hóa bốn mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Để hiện thực hóa mục tiêu cao nhất của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là mỗi cán bộ, đảng viên “không thể”, “không dám”, “không cần” và “không muốn” tham nhũng, tiêu cực, thì các cấp, các ngành cần có kế sách chiến lược, đồng bộ, tổng thể, đột phá trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó, trọng tâm ở ba nền tảng: thể chế, kinh tế, văn hóa.

Thứ nhất, về thể chế:

Đầu tiên, để ngăn chặn hiệu quả tình trạng cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, yêu cầu quan trọng là có một hệ thống thể chế chi tiết, chặt chẽ, bịt kín những lỗ hổng, sơ hở trong từng cơ chế, chính sách, pháp luật. Tham nhũng, tiêu cực là “bóng tối vươn theo quyền lực”, có sự gắn kết chặt chẽ với quyền lực, do người có chức, có quyền thực hiện. Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, và nhân dân thực hiện quyền lực này bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua các cơ quan dân cử; bất cứ ai được giao sử dụng quyền lực đều phải vì nhân dân phục vụ, chịu trách nhiệm trước nhân dân và dưới sự giám sát của nhân dân. Vì vậy, hơn lúc nào hết, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ để không ai có thể lạm dụng, lợi dụng quyền lực nhằm trục lợi, phải “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, nêu rõ: Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; nghiên cứu thành lập các thiết chế mới về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cựcĐến nay, hệ thống quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, một số quy định còn chưa thống nhất; việc tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn; việc chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ luật, kỷ cương có nơi còn bị xem nhẹ; xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; cải cách hành chính, cải cách tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Trong những năm tiếp theo, yêu cầu, nhiệm vụ là phải đẩy mạnh việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả lĩnh vực, khắc phục kịp thời sơ hở, bất cập trong quản lý, điều hành kinh tế, xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài chính; quy định thực hiện thanh toán, giao dịch không sử dụng tiền mặt... Về thể chế phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, tập trung hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, phát sinh nhiều khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm; thực hiện trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cơ chế kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên; phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực...

Trong thời gian tới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và phát hiện, đẩy mạnh xử lý nghiêm minh, kịp thời hành vi tham nhũng, tiêu cực; trong đó, quá trình xử lý tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng được thực hiện trước, mang tính tiền đề để kỷ luật hành chính, đoàn thể và xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng phải nghiêm hơn xử lý theo pháp luật. Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, giáo dục, với phương châm “phòng ngừa là chính, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn”, dùng kỷ luật nghiêm minh và giám sát nghiêm khắc để cán bộ, đảng viên biết giữ gìn, suy nghĩ thấu đáo trước khi thực hiện mọi hành động. Mặc dù xử lý cán bộ tham nhũng đưa đến tổn thất lớn về nhân sự, nhưng vì sự tôn nghiêm của kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước, vì sự nghiệp chung, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương phải quyết tâm thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa; theo phương châm “kỷ luật một vài người để cứu muôn người”. Như vậy, với nhiều biện pháp chặt chẽ về thể chế, mỗi cán bộ sẽ “không thể”, “không dám” tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, về kinh tế:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nguyên nhân khách quan đến từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu - nghèo ngày càng được nới rộng giữa các tầng lớp, bộ phận xã hội. Nhiều thách thức, khó khăn, như dịch bệnh, lạm phát, suy thoái kinh tế,... tác động mọi mặt đến các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, những yếu tố khách quan, như mức thu nhập, tiền lương còn bất cập khi so sánh thu nhập của người lao động cùng trình độ làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; đời sống của đa số cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều khó khăn... đã và đang tác động, khiến cho một bộ phận cán bộ, đảng viên kém tu dưỡng sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, mà không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân.

Vì vậy, một trong những chính sách rất quan trọng, có ý nghĩa lâu dài, tích cực trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là giải quyết vấn đề thu nhập một cách hợp lý. Theo đó, tập trung phát triển nền kinh tế năng động, nhanh và bền vững; phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; từ đó, có đủ nguồn lực để nhanh chóng triển khai chủ trương cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 21-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”, để nâng cao thu nhập, đãi ngộ, chất lượng cuộc sống, kết hợp với chính sách đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng cho cán bộ, công chức, viên chức. Cần nâng cao mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập, tạo điều kiện cải thiện và nâng cao thu nhập cho đội ngũ viên chức, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế, để mỗi cá nhân yên tâm công tác khi được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, mà không nhất thiết phải làm thêm, “kiếm thêm”; có chính sách hỗ trợ kịp thời đối với cán bộ, công chức, viên chức có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đồng thời, một yêu cầu quan trọng khác là thay đổi tư duy về tiền lương; lương cần được trả theo vị trí việc làm và năng suất, hiệu quả lao động; chi tiền lương không phải chỉ là chi cho hoạt động thường xuyên, mà còn là chi cho đầu tư phát triển, đầu tư nguồn lực con người, là nguồn lực nội sinh quan trọng, là động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội, để mở ra chu kỳ kinh tế mới.

Thứ ba, về văn hóa:

Khi nói đến văn hóa là thường nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, rất nhân văn, nhân ái, tiến bộ; ngược lại, những gì xấu xa, việc làm ti tiện, hành động phi pháp... là trái với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước ta đã có một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của văn hóa trong sự phát triển của đất nước ta, trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta đã coi “mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)”, hết sức coi trọng vai trò của công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng văn hóa trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; vì vậy, cần khơi dậy, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp trong mỗi con người, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong mỗi cơ quan, tổ chức; xây dựng văn hóa, lối sống có lòng tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tích cực, cao thượng, nhân văn, đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, sai trái, tiêu cực trong toàn xã hội.

Để thực hiện hiệu quả các nội dung trên, trước hết, cần chú trọng xây dựng văn hóa từ trong Đảng và hệ thống chính trị, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, khẳng định: “Văn hóa, đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên. Sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên là yêu cầu quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng”.

Trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên trì xây dựng, thực hành văn hóa liêm chính, tiết kiệm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội; xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực của con người Việt Nam phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nội dung phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vào chương trình giáo dục quốc dân và đặc biệt là chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Phải kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có ý thức thượng tôn pháp luật, biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người nhà có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp; đồng thời, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, khuyến khích và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung. Xây dựng và duy trì nền văn hóa công vụ tiến bộ của mỗi ngành, cơ quan, đơn vị, góp phần bảo đảm tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ. Người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải nêu cao tinh thần nêu gương, đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

Những kết quả tích cực, đáng ghi nhận trong thời gian qua là cơ sở, nền tảng để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục gặt hái nhiều thành công hơn nữa trong thời gian tới; đặc biệt, để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự “không dám”, “không thể”, “không cần”, “không muốn” tham nhũng, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Kết quả trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm thất bại mọi âm mưu, hành động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, củng cố hơn nữa niềm tin yêu của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước ta./.

Sưu tầm

Tập trung xây dựng ba nền tảng thể chế, kinh tế, văn hóa, nâng cao hiệu quả, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - Phần 1

Bên cạnh những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử qua gần 40 năm đổi mới, đất nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; trong đó, tệ tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, vẫn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hướng tới sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay để thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là tập trung xây dựng ba nền tảng mang tính chiến lược: thể chế, kinh tế và văn hóa.

Về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua

Tham nhũng luôn luôn là căn bệnh quái ác, không chỉ làm hao hụt ngân sách quốc gia, tiền của của nhân dân, mà còn gây mất cán bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với chính quyền. Đây là vấn đề mà Đảng ta đã nhận thức rõ từ sớm, chưa bao giờ chủ quan, mà luôn cảnh giác ở mức độ cao nhất, bởi nó liên quan đến sự tồn vong của chế độ, đến vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ Đại hội VII, Đảng ta đã xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, trở thành “một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”, là “thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước”; đến nay, đây “vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một việc làm cần thiết, tất yếu, một xu thế không thể đảo ngược.

Trước tình hình tham nhũng, tiêu cực diễn biến rất nghiêm trọng, phức tạp, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban để chỉ đạo trực tiếp, toàn diện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên phạm vi cả nước. Hơn 10 năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm chính trị rất cao, được thực hiện ngày càng bài bản, đi vào chiều sâu; nhờ đó, đã phát hiện, xử lý nhiều vụ việc, vụ án nghiêm trọng, được dư luận đặc biệt quan tâm với tinh thần “kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp; góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tạo hiệu ứng tích cực và lan tỏa mạnh mẽ quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên; phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch về vấn đề này. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) xác nhận, Việt Nam là một trong số 6 quốc gia ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng 9 điểm kể từ năm 2018. Kết quả này cho thấy nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đồng thời, quá trình tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn 2012 - 2022 đã đúc rút nhiều bài học, kinh nghiệm quý giá, là cơ sở quan trọng để toàn hệ thống chính trị tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh với vấn nạn tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới.

Bốn mục tiêu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Cho dù có những nỗ lực, quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và của toàn hệ thống chính trị, thì bên cạnh những kết quả nổi bật đã đạt được, tình trạng tham nhũng, tiêu cực vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, thậm chí liên quan đến nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã được phát hiện, xử lý thời gian gần đây; không chỉ gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, bên cạnh việc đẩy mạnh phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực, cần chú trọng công tác phòng ngừa, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; “phòng” là chính, là cơ bản, lâu dài, “chống” là quan trọng, cấp bách.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản chất của tham nhũng là hành vi “ăn cắp của công làm của tư”. Có thể thấy, mọi hành động vụ lợi về vật chất, quyền lực, chức quyền của cán bộ, đảng viên thường bắt đầu từ quá trình phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, từ sự hư hỏng, lệch lạc trong đạo đức, lối sống, bị cám dỗ bởi lợi ích, vật chất, trở nên vô cảm trước khó khăn, nỗi đau khổ của nhân dân. Vì vậy, không có giải pháp căn cơ, tối ưu nào để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa hơn là tiến hành phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ngay trong chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, thành viên cơ quan công quyền. Do đó, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể cần tập trung vào việc giáo dục, uốn nắn nhận thức, ý chí, tư tưởng, đạo đức trong mỗi cá nhân; đồng thời, triệt tiêu, hạn chế tối đa môi trường, điều kiện, động cơ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực. Trong những năm tới, công tác phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực phải hướng tới mục tiêu cao nhất là mỗi cán bộ, đảng viên ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị “không thể”, “không dám”, “không cần” và “không muốn” tham nhũng, tiêu cực. Đây chính là bốn mục tiêu cơ bản của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Hơn bao giờ hết, phải làm sao xây dựng được một thể chế chặt chẽ, hướng đến phủ kín các khoảng trống, khe hở để “không thể” tham nhũng; đặc biệt, các quy định phải bảo đảm sự ràng buộc chặt chẽ đối với các quyền hạn, nhiệm vụ được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, một cơ chế xử lý phải thực sự có tính răn đe, nghiêm khắc, “pháp bất vị thân” để mỗi cá nhân thực sự e ngại, bị răn đe trước những hậu quả nghiêm trọng về mặt chính trị, pháp lý, những tổn hại về danh dự, nhân phẩm, lòng tự trọng nếu có hành vi vi phạm để “không dám” tham nhũng. Cuối cùng là, hình thành một môi trường sống, học tập và làm việc chuẩn mực, nền nếp, khoa học; đặc biệt, chú trọng xây dựng nền văn hóa, đạo đức chuẩn mực, trong đó “người dân có đạo làm người, cán bộ có đạo làm quan, đạo làm tướng” để “không cần, không muốn tham nhũng”... (còn tiếp)

Sưu tầm

Nhận diện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” và dự báo một số tình huống có thể xảy ra đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Diễn biến hòa bình với tư cách là "Chiến lược toàn cầu" phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm chống phá các nước chủ nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên thế giới. Đối với nước ta “Diễn biến hòa bình” là thách thức lớn nhất đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” được hình thành từ sau chiến tranh Thế giới thứ 2, phát triển khá hoàn chỉnh trong thập kỷ 80 và đã được vận dụng thành công ngoài mong đợi tại Liên Xô và các nước Đông Âu. Đặc biệt trong những năm gần đây, một số biến động dưới dạng “Diễn biến hòa bình” diễn ra phức tạp ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi với nhiều tên gọi khác nhau như: “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa” hay “Mùa xuân Ả Rập”. Ngoài “Diễn biến hòa bình” do bên thứ ba tác động, còn một bộ phận quan trọng khác do chính chúng ta tạo ra đó là "Tự diễn biến" và “Tự chuyển hóa” từ bên trong, một dạng “Diễn biến hòa bình” cực kỳ nguy hiểm. Trong quá trình đó, lợi dụng vấn đề chống khủng bố, Mỹ và đồng minh đã tiến hành can dự hoặc đe dọa can thiệp vũ trang đối với một số quốc gia có chủ quyền và thể chế chính trị hợp pháp, hợp hiến như: Libya, Syria, Ukraine... Điều này đã và đang mở ra tiền lệ cực kỳ nguy hiểm đối với nền hòa bình trên phạm vi toàn thế giới.

Đối với Việt Nam, chiến lược “Diễn biến hòa bình” là mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, nhận diện âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và dự báo sát đúng các tình huống có thể xảy ra đối với quốc phòng - an ninh của đất nước là điều kiện tiên quyết để đánh bại chiến lược “Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” là vô hiệu hóa nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đi đôi với phủ nhận những thành tựu vĩ đại của Đảng, dân tộc và nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, từng bước đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản dưới nhiều hình thức. Với vị trí địa kinh tế, địa chính trị và địa địa lý của mình, Việt Nam đã và đang trở thành một trọng điểm mà các thế lực thù địch quan tâm, lựa chọn để thực thi chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

Thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Nước ta là gây thanh thế ở nước ngoài, kết hợp gây sức ép từ bên trong thông qua các yếu tố dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,… để kích động đòi thành lập nước "Việt Nam tự do"; “Nhà nước Đê Ga tự trị”; phục hồi “Vương quốc Chăm pa”; “Vương quốc Mông”... với nhiều chiêu bài cực kỳ tinh vi, hiểm độc và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các thủ đoạn của địch được vận dụng linh hoạt trên từng lĩnh vực, từng thời điểm và ở từng vùng miền nhằm làm mất ổn định ở một số khu vực nhạy cảm như: Tây Bắc; Tây Nghệ An; Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Kết hợp với các hoạt động gây rối, biểu tình, bạo loạn hoặc khủng bố ở nhiều nơi. Tại Tây Bắc, chúng kích động người H’mông đòi thành lập “Khu tự trị người Mông; trên địa bàn Tây Nguyên, chúng âm mưu thành lập “Nhà nước Đê Ga” và ở vùng Tây Nam Bộ, chúng đòi tách Tây Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam thống nhất để thành lập nhà nước “Khmer Krom”.

Tuy nhiên, trong những năm trước mắt chiến tranh xâm lược ít có khả năng xảy ra nhưng cần phải hết sức cảnh giác đề phòng với âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của kẻ thù thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trên cơ sở nhận diện âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bài viết dự báo một số tình huống có thể xảy ra đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như sau:

Một là, thực hiện “Diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” đối với cách mạng Việt Nam từ bên trong

Trước hết bằng việc thực thi chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tìm đủ mọi cách làm cho đất nước ta từng bước suy yếu trên tất cả các phương diện. Cùng với đó là những sai phạm của ta chậm hoặc không được khắc phục như: suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, nạn tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết, thiếu dân chủ; tụt hậu xa hơn về kinh tế… làm cho quần chúng nhân dân bất bình, mất lòng tin vào Đảng và chính quyền các cấp, tạo ra mâu thuẫn gay gắt ngay từ bên trong. Kết hợp với các hoạt động chống phá, kích động, mua chuộc, lôi kéo của bọn cơ hội chính trị và các thế lực phản động thù địch,… Đây là những yếu tố tạo ra “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” dẫn tới những biến động lớn về chính trị trong nước và tự đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm sụp đổ chế độ xã hội ở nước ta một cách từ từ khó nhận biết và khó phòng chống. Địa bàn đặc biệt chú ý là các đô thị lớn, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội.

Hai là, thực hiện “Diễn biến hòa bình” tiến tới bạo loạn lật đổ, li khai tự trị và tạo cớ can thiệp vũ trang từ bên ngoài

Từ những diễn biến trên, các thế lực thù địch bên ngoài có thể lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những vấn đề tồn tại của lịch sử,… tăng cường thâm nhập sâu vào các cơ sở xã hội để lôi kéo, chia rẽ, kích động quần chúng nhân dân tiến hành biểu tình, bạo loạn lật đổ; đòi li khai tự trị nhằm tạo cớ cho sự can thiệp vũ trang từ bên ngoài. Chúng sử dụng bộ máy phản động lưu vong từ bên ngoài xâm nhập, móc nối, xây dựng cơ sở, nhen nhóm tổ chức, phát triển lực lượng từ bên trong để đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm gây mất ổn định chính trị từ bên trong. Lợi dụng những sơ hở của ta chúng có thể gây bạo loạn ở một số vùng, một số khu vực nhằm thực hiện âm mưu chia cắt đất nước ta trên từng vùng miền. Trường hợp tạo dựng được ngọn cờ, tập hợp được lực lượng, tạo được thời cơ và những yếu tố cần và đủ, chúng có thể tiến hành các hoạt động lật đổ theo kiểu “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa” như đã từng tiến hành ở một số nước hoặc tạo cớ để can thiệp vũ trang từ bên ngoài với nhiều cấp độ khác nhau. Địa bàn cần đề phòng là các vùng biên giới, ven biển, những nơi nhạy cảm về chính trị, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số và giáo dân theo đạo.

Ba là, xung đột vũ trang, can thiệp quân sự và tiến hành chiến tranh xâm lược đối với Việt Nam

Trong điều kiện tình hình thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khi Lào và Campuchia có biến động lớn, xảy ra bạo loạn, đảo chính, mất ổn định về chính trị... sẽ có tác động trực tiếp đến quốc phòng - an ninh của nước ta. Tình hình khu vực biên giới sẽ hết sức phức tạp, các thế lực thù địch gây xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, đòi xét lại các vấn đề tồn tại về lịch sử… Khi cần thiết chúng có thể sử dụng địa bàn “Đồng minh”, lợi dụng “Nước thứ ba” làm bàn đạp gây chiến tranh chống Việt Nam. Trên biển Đông và khu vực Trường Sa, các nước có tranh chấp chủ quyền biển đảo và quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khu vực có thể xảy ra xung đột vũ trang. Lơi dụng tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bên ngoài có thể tranh thủ thời cơ để tiến hành can thiệp vũ trang nhằm gây ra những biến động phức tạp hơn. Trong nội địa, do ta sơ hở mất cảnh giác, lực lượng khủng bố hoặc các tổ chức phản động có thể lợi dụng tiến hành tiến hành các hoạt động khủng bố; lấy cớ “Chống khủng bố” kẻ thù từ bên ngoài có thể can thiệp vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược đối với nước ta.

Ngoài ra, không loại trừ khả năng khi tình hình Biển Đông nóng lên, các tổ chức phản động trong nước có thể lợi dụng để kích động gây rối, biểu tình, bạo loạn chống phá cách mạng Việt Nam và tạo cớ để bên ngoài can thiệp vào tình hình nước ta dưới mọi hình thức. Đồng thời, cần phải hết sức cảnh giác và đề phòng khi xảy ra các tình huống trên, một số quốc gia có tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo với nước ta có thể tiến công chiếm đóng các đảo xa của ta và dành quyền kiểm soát Biển Đông hoặc lấn chiếm biên giới và chiếm đóng một số vùng lãnh thổ của Tổ quốc trên tuyến biên giới.

Các tình huống trên có liên quan chặt chẽ, tác động qua lại, làm tiền đề và tạo điều kiện cho nhau; đan xen phức tạp và chuyển hóa mau lẹ. Vì vậy, không nên nhận thức rằng khi địch thất bại ở tình huống này mới xuất hiện tình huống tiếp theo, các tình huống có thể xảy ra đồng thời hoặc riêng rẽ và tất cả đều có liên quan đến tình hình ở các nước láng giềng. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác đề phòng với những biến động bất lợi ở các quốc gia này có thể dẫn đến xung đột vũ trang, tranh chấp biên giới trên hướng Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam và một số địa bàn trọng yếu khác. Đây là nguy cơ dẫn đế sự can thiệp mạnh mẽ từ bên ngoài và có thể xảy ra chiến tranh, cần phải hết sức cảnh giác đề phòng.

        Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” là vấn đề cấp bách đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong giai đoạn hiện nay. Đối với Học viện Lục quân nói chung và cán bộ, giảng viên Khoa Trinh sát nói riêng cần phải tập trung nâng cao nhận thức và có các hành động cụ thể trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” tại đơn vị, địa phương nơi cư trú. Đồng thời, chủ động trong công tác tuyên truyền, đấu tranh vạch trần và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá các thế lực thù địch thông qua những việc làm cụ thể trong quá trình dạy, học và công tác. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và trách nhiệm chính trị của mọi thành viên trong toàn Học viện chúng ta; góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới./.     
Sưu tầm