Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

 

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ thực tiễn đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng phải khẳng định rằng tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược mà các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong bức tranh tổng thể chung của chiến lược "diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Đây là cách mà chúng kết hợp tiến hành giữa tạo sức ép từ bên ngoài và kích động các hoạt động chống phá từ bên trong. Qua nghiên cứu, có thể nhận thấy một số các thủ đoạn, phương thức thâm độc như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số  ở các vùng trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như "Hội đồng liên tôn Việt Nam”,"Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, "Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại trật tự, an toàn xã hội ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài "tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập"Nhà nước Mông”ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập"Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ,"Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta.Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động "Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm "Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động "xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật,kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta,kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn "các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, "dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để "nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để chủ động có các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả, mỗi cán bộ, đảng viên nơi có đồng bào theo đạo sinh sống cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, "điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

 

NHẬN DIỆN MỘT SỐ BIỂU HIỆN SUY THOÁI

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mặc dù vậy, còn rất nhiều biểu hiện suy thoái trong cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) khi thực thi nhiệm vụ, đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận thấu đáo, nhận diện, phát hiện và kiên quyết đấu tranh.

Trước hết, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị tương đối dễ nhận diện đó là “tranh công, đổ lỗi”. Khi công việc được hoàn thành đúng tiến độ, đạt chất lượng, hiệu quả cao thì cố gắng tranh giành đó là công lao của mình, còn gặp khó khăn, thất bại thì tìm mọi cách đổ lỗi cho một cá nhân khác hoặc do yếu tố khách quan. Song hành cùng biểu hiện này còn có biểu hiện khác là “đùn đẩy, né tránh trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ”. Biểu hiện này thường thấy ở việc không có cơ quan, đơn vị, cá nhân nào chịu trách nhiệm chính trong công tác phối hợp, luôn cho rằng nhiệm vụ đó không phải là nhiệm vụ chính của cơ quan, đơn vị mình và đơn vị chỉ có trách nhiệm phối hợp thực hiện, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”, hoặc “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” đối với những công việc có sự tham gia phối hợp của nhiều đầu mối đơn vị...

Bên cạnh đó, một biểu hiện khác nghiêm trọng hơn biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm là “thực hiện công việc nửa vời, không đến nơi đến chốn”. Đó là việc cá nhân đã ý thức được việc làm của mình, thấy trước được kết quả, nhưng làm cho có và không mang lại hiệu quả. Mặt khác, có một bộ phận CB, ĐV “lười nghiên cứu chủ trương, chính sách và các quy định của pháp luật để phục vụ công tác”. Đây là biểu hiện suy thoái dễ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng do thực hiện không đúng, không đủ các quy định của pháp luật, chủ yếu ra các quyết định thông qua bộ phận tham mưu, không xem xét, kiểm tra trước khi quyết định. Nghiêm trọng hơn, CB, ĐV có biểu hiện suy thoái này thường đùn đẩy trách nhiệm, hoặc sợ sai không dám làm vì không nắm chắc các quy định của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn.

Ngoài những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị nêu trên, một biểu hiện hết sức nguy hại khác đang diễn ra khá phổ biến ở không ít nơi, đó là “trọng dụng người không đủ năng lực, không đủ tài, đức và ưa dùng người xu nịnh”. Với việc đánh giá và sử dụng cán bộ như vậy khiến cho những người có năng lực, trình độ, có tinh thần cống hiến mất niềm tin, không còn động lực phấn đấu và gây mất đoàn kết nội bộ trong cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng.

Trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, một bộ phận CB, ĐV đã có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống mà phổ biến nhất trong thực tiễn đó là “lợi dụng việc mua sắm, đầu tư công để hưởng lợi tư”. Không ít người lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc mua sắm, đầu tư công để móc nối, cấu kết với các đơn vị nhà thầu hưởng phần trăm chênh lệch, tiền “hoa hồng”, “lót tay” để phục vụ mục đích cá nhân.

Một biểu hiện khá phổ biến khác đó là “sử dụng thời gian làm việc hành chính để phục vụ mục đích cá nhân”. Biểu hiện này được thể hiện thông qua việc không tập trung vào chuyên môn, không xem nhiệm vụ được giao là nhiệm vụ chính mà chú tâm vào các mối quan hệ bên ngoài, “tham nhũng” thời gian làm việc công để tranh thủ làm việc riêng, tạo thu nhập cá nhân... Cùng với biểu hiện trên, “thiếu đạo đức nghề nghiệp” cũng được xem là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Trong đó, người mắc biểu hiện này chỉ chú trọng đến lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm mà đi ngược lại với đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội...

 

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định đối với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương; cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. 70 năm đã trôi qua, sự thật lịch sử vẫn luôn được nhân dân ta trân trọng, gìn giữ và được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, những ngày qua trên internet và một số trang mạng xã hội xuất hiện một số bài viết của các đối tượng thù địch, chống phá, chúng rêu rao rằng: Chiến thắng Điện Biên Phủ chỉ là sự “tung hô của truyền thông cộng sản”, “không có gì đáng bàn về nghệ thuật quân sự”… Đây là những luận điệu không mới về thủ đoạn, nhưng hết sức thâm độc với mục đích gieo rắc sự hoài nghi, nhằm làm giảm uy tín, vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ của Quân đội.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam và được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ghi nhận. Suốt 70 năm qua, nhiều kênh truyền hình, tạp chí uy tín trên thế giới, cũng như các chính khách, học giả, nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu lịch sử, quân sự, văn hóa, chính trị, pháp lý,… với biết bao cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi khoa học, trên rất nhiều diễn đàn với các cấp độ, tính chất và quy mô khác nhau để tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá chiến thắng Điện Biên Phủ. Nói về ý nghĩa chiến thắng Điện Biên Phủ, ngay tại Pháp, đài truyền hình France 24 khẳng định, đây là “một thời khắc quan trọng trong lịch sử” của Việt Nam và “một cột mốc trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”. Tờ The New York Times cho rằng, sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ “đặt dấu chấm hết cho sự ảnh hưởng quân sự của Pháp tại châu Á”; tờ Frontline của Ấn Độ đưa ra nhận xét: Chiến thắng Điện Biên Phủ là “động lực to lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên khắp thế giới”. Cũng theo nhiều nhà nghiên cứu quân sự, lịch sử trên thế giới đánh giá đây là “một Stalingrat của lịch sử chiến đấu giải phóng thuộc địa”. Từ những nhận định, đánh giá khách quan của các cơ quan truyền thông và của các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới là những minh chứng đập tan luận điệu xuyên tạc phủ nhận giá trị, ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ thể hiện rõ nét nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam. Tướng 4 sao Henri Navarre - tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chính là tổng công trình sư của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được mệnh danh là “một pháo đài bất khả xâm phạm, một tập hợp những gì mạnh nhất, kiên cố nhất chưa từng có ở Đông Dương”, “một Verdun ở châu Á”. Thế nhưng, với ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta; trên cơ sở đánh giá chính xác tình hình, Đảng ta đã đưa ra những chỉ đạo đúng đắn về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chiến đấu để giành toàn thắng. Sau này, tướng Henri Navarre đã phải thừa nhận rằng: “Trên mọi phương diện, sự kết hợp giữa chính trị - quân sự đã được Việt Minh tiến hành với một sự khéo léo bậc thầy”. Tướng 4 sao Raoul Salan, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp nhiều năm ở Đông Dương cũng đưa ra nhận xét: “Quân đội Việt Minh, từ nhân dân mà ra, hòa với nhân dân làm một, tìm sức sống trong nhân dân... có khả năng tiến hành chiến tranh du kích và làm công tác tuyên truyền, đánh cơ động cũng giỏi mà đánh công kiên cũng giỏi... Quân đội này là một quân đội quên mình vì họ có lý tưởng... Đây là một đội quân ưu việt”. Nói về ý chí chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân dù Pháp ở Điện Biên Phủ Piere Langlais đánh giá: “Không ai có thể ngờ rằng, trong 50 ngày bộ binh Việt Minh lại đào được tới 400km hào giao thông ở lớp đất ruộng của Điện Biên Phủ. Và bộ chỉ huy quân ta đã phát hiện ra rằng lưỡi xẻng và lưỡi cuốc của họ cũng là những vũ khí mạnh mẽ như xe tăng và máy bay”. Tiến sĩ Ivan Cadeau, một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp cho rằng, trận Điện Biên Phủ “là thất bại không thể phủ nhận của quân đội Pháp trước một đối thủ dũng cảm”.

Từ những vấn đề trên cho thấy, truyền thông của Việt Nam tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ là hoàn toàn đúng đắn, phản ánh đúng diễn biến trận Điện Biên Phủ. Điều này được các kênh truyền hình, báo chí quốc tế đưa tin khẳng định về ý nghĩa chiến thắng và được chính những người trong cuộc - những người lãnh đạo, tướng lĩnh Pháp thừa nhận sự thất bại và đánh giá cao nghệ thuật quân sự đặc sắc của Việt Nam. Cho nên, những luận điệu xuyên tạc cho rằng: Chiến thắng Điện Biên Phủ chỉ là sự “tung hô của truyền thông cộng sản”, “không có gì đáng bàn về nghệ thuật quân sự” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt, không có căn cứ lịch sử cần lên án, bác bỏ kịp thời./.

 

Công bố quyết định thành lập khối thi đua các học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng

 

Chiều 22-5, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội nghị công bố Quyết định của Bộ Quốc phòng về việc thành lập khối thi đua các học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng; thông qua các văn bản hoạt động và phát động thi đua 6 tháng cuối năm 2024. 

Theo Quyết định số 1200/QĐ-BQP ngày 29-3-2024 của Bộ Quốc phòng “về việc thành lập các khối thi đua các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ”, khối thi đua các học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng (Khối thi đua số 6), bao gồm 9 đơn vị. Năm 2024, Học Viện Quốc phòng làm khối trưởng và Học viện Chính trị làm khối phó Khối thi đua số 6. Cũng tại hội nghị, Khối thi đua số 6 đã thông qua các văn bản hoạt động và phát động thi đua 6 tháng cuối năm 2024. Trong đó, khối thi đua các học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng xác định nỗ lực, đoàn kết, quyết tâm thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024, tập trung hoàn thành thắng lợi những nội dung trọng tâm:

Tiếp tục quán triệt, triển khai hiệu quả nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và nghị quyết của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2024; Chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị trong giai đoạn mới. Triển khai toàn diện, đồng bộ Phong trào Thi đua Quyết thắng; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức thi đua, xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến và làm tốt công tác khen thưởng, tạo động lực phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 2024. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, các học viện, nhà trường vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Thi đua đẩy mạnh nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện “Ba đột phá” theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Trong đó tiếp tục thi đua thực hiện quyết liệt, hiệu quả việc điều chỉnh tổ chức, biên chế của từng học viện, nhà trường; tạo tiền đề đến năm 2025 cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Tập trung thực hiện tốt phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, gắn với phương châm “dạy thực chất, học thực chất, thi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực chất”; chống mọi biểu hiện tiêu cực trong huấn luyện, đào tạo.

Toàn khối thi đua đẩy mạnh đột phá vào đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp huấn luyện, đào tạo, đảm bảo sát thực tiễn, hiệu quả cao. Tập trung vào nâng cao chất lượng bài giảng, giờ giảng, thảo luận... Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ khoa học đầu ngành của khối có số lượng hợp lý, chất lượng cao. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo; rèn luyện bản lĩnh, tác phong công tác; nâng cao năng lực tư duy, năng lực dự báo, năng lực xử trí tình huống; trang bị kiến thức toàn diện cho học viên cả chiến dịch, chiến lược và cấp phân đội, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo và thực tiễn huấn luyện, SSCĐ, công tác ở các cấp trong toàn quân...



 

ĐỂ LỜI NÓI THỰC SỰ LÀ “GÓI VÀNG”!


Người xưa đã dạy: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, nhằm nhắc nhở nhau và khuyên nhủ thế hệ sau rằng, lời nói có thể chuyển tải thông tin, kéo mọi người đến gần nhau, nhưng cũng có thể làm xa cách nhau nếu không cân nhắc kỹ khi phát ngôn. Câu tục ngữ trên khuyên rằng, nên nói đúng, nói đủ, khi nói cần thể hiện sự tôn trọng người nghe, nhưng cũng là tôn trọng chính bản thân mình, quả thật có ý nghĩa vô cùng!

Tuy nhiên, tầng ý nghĩa khác của câu “Lời nói không mất tiền mua…” lại là, phải biết phát ngôn khi cần thiết, bởi chỉ khi đó thông tin được đưa ra mới mang ý nghĩa thiết thực. Khi nói, mỗi người nên cân nhắc về cách nói (như thế nào?), nội dung nói (nói cái gì?) và thời điểm cần nói (vào khi nào?). Có như vậy, lời nói mới trở nên có giá trị, thực sự là “gói vàng” khi mang lại điều hay, lẽ phải; chứ không phải là “lời nói, đọi máu”, do nói sai, không đúng lúc, đúng chỗ. Hiểu được ý nghĩa trên có lẽ không khó với mỗi người, nhưng cái khó chính là thực hiện được điều đó trong thực tiễn!

Trong thực tiễn cuộc sống có hiện tượng, nói một đằng, làm một nẻo hoặc ý nghĩa đằng sau của lời nói khác hẳn thông tin khi phát ngôn, như dân gian thường nói: “Nói vậy mà không phải vậy”! Có hiện tượng, trong cuộc họp, mọi thành viên tham dự đều không phát biểu; hoặc nếu có thì “hùa” theo ý kiến chung, theo sự gợi ý, định hướng. Kết cục là, cuộc họp bàn bạc về vấn đề phức tạp đáng lẽ sẽ kéo dài, bởi cần phải tranh luận, thuyết phục nhau, “trao đi, đổi lại” các ý kiến giữa những người tham gia, thì lại kết thúc rất nhanh, với sự nhất trí rất cao. Đây chính là biểu hiện của cái gọi là “nói xuôi chiều”, “nói đãi bôi”. Những người như thế cho rằng, mình nói cũng chẳng ai nghe, nói nhiều thì phải làm nhiều, nói nhiều sẽ bị “soi”; hoặc đơn giản là “chẳng biết nói gì”?!… Nhưng, khi một trong những quyết định nào đó của các cuộc họp đưa vào thực hiện không được suôn sẻ, hiệu quả không được như kỳ vọng, lại rộ lên những bình phẩm, thậm chí chê bai, dè bỉu, rằng quyết định đó “không đủ tầm, không xứng tầm!”. Thực chất của những phát ngôn kiểu này chỉ là cách “nói vuốt đuôi”.

Sau những cuộc họp như vậy, ở bên ngoài phòng họp, tại những nơi riêng tư là sự bùng nổ về ngôn từ và tâm trạng hoặc là sự thờ ơ, vô cảm, như đầm nước lạnh giá. Điều đó cho thấy, hóa ra mọi người đều có suy nghĩ riêng với vô số lập luận và nhận định, đánh giá. Thế nhưng, những tâm tư, nguyện vọng đó lại không biểu lộ ra, thể hiện ở những nơi cần thiết, khi cần thiết, mà lại bộc lộ ở những địa điểm không chính thức, thời điểm không cần thiết như vậy.

Tình trạng nói trên không phải hiếm. Nguyên nhân là do chưa tạo được môi trường, điều kiện để người có liên quan nói những điều cần nói; hoặc bởi mọi người chưa thấy được sự cần thiết phải nói; hoặc cố tình “mũ ni che tai” nên không nói đủ, nói đúng, nói kịp thời... Dù bởi nguyên nhân nào, tình trạng nói trên cũng gây ra những bất lợi cho sự phát triển của cơ quan, tập thể, đơn vị, khi lãng phí nhiều nguồn năng lượng, trí tuệ, tài nguyên tập thể; hoặc làm giảm tinh thần đấu tranh, phản biện xây dựng, tạo ra lối thỏa hiệp dễ dãi, những sự “đồng thuận hờ”, dẫn đến tâm trạng tiêu cực trong tập thể.

Ở góc độ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tư tưởng buông xuôi, lựa chiều nói trên sẽ không góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chung; đồng thời, không phê phán, ngăn chặn được những tư tưởng, suy nghĩ sai lầm có thể nảy sinh trong tập thể, do vậy, không có lợi cho sự nghiệp chung.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung một nội dung mới, đó là cần khuyến khích, bảo vệ người “dám nói”. Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm khuyến khích và bảo vệ những người dám nói, biết nói, dám làm và biết làm vì lợi ích chung. Để thực hiện điều đó, trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng cần mạnh dạn làm rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan của căn bệnh “không dám nói, không muốn nói; nói không đúng lúc, không đúng chỗ” để đề ra biện pháp thực hiện việc “dám nói” một cách phù hợp. Đó chính là sự quán triệt, học tập nghị quyết Đại hội Đảng một cách thiết thực và phù hợp nhất./.

 

THẬN TRỌNG VỚI CÁC TỪ LÓNG CÓ NỘI DUNG CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Từ lâu, khối đại đoàn kết dân tộc đã trở thành một trong những nền tảng sức mạnh vững chắc đảm bảo cho sự thắng lợi lâu dài và bền vững của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Hiểu được điều đó, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Trong số những thủ đoạn chúng đang sử dụng thì thủ đoạn dùng việc chia rẽ vùng miền qua các từ lóng đang là một trong những cách thức rất phổ biến chúng đang sử dụng rất nhiều trên không gian mạng.

Ngày nay, khi mạng xã hội ngày càng phát triển thì việc lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá Nhà nước ta diễn ra càng phổ biến. Đặc biệt chúng lợi dụng vào việc phát triển này để đưa ra các cách thức nhằm kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết của người dân các vùng miền khác nhau.

Chúng ta đều biết đất nước ta vốn là một đất nước với sự đa dạng về văn hoá. Văn hoá mỗi vùng miền lại có sự khác biệt nhất định. Ban đầu, nhiều người sử dụng mạng xã hội đăng tải các hình ảnh về phong tục văn hoá của địa phương mình như một cách để thể hiện góc nhìn đời sống. Lâu dần xuất hiện trào lưu so sánh hình ảnh tập quán khác nhau giữa hai vùng miền. Và rồi gần đây trào lưu này biến tướng. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy một chủ đề được đăng tải trên mạng xã hội thì bên dưới phần bình luận là sự xuất hiện của những cụm từ mang tính miệt thị này đều đồng loại xuất hiện từ hàng loạt các tài khoản ảo, ẩn danh. Các từ lóng bắt đầu xuất hiện. Chúng ta có thể kể đến các từ như “Parky”, “Cali”, … Xin đặc biệt nhấn mạnh đến hiện tượng từ lóng “Parky”. Từ “Parky” dần trở thành một trong những từ rất phổ biến trên các bình luận của những tài khoản ẩn danh. Từ này vốn là một từ không có nghĩa, nhưng cách đọc của nó khá gần âm với từ “Bắc Kỳ” nhằm chế giễu những người dân Bắc Việt Nam. Hay từ “Cali” là từ bắt nguồn từ danh từ gọi tên một tiểu bang của Mỹ, dùng để chỉ những người có các hành vi phản động, chống phá nước nhà, dấy lên sự phân biệt vùng miền trên mạng xã hội.

Những từ lóng này ngày càng phổ biến trên các không gian mạng và dần trở thành một phương tiện nhằm đả kích, gây mất đoàn kết dân tộc. Trong khi đó một bộ phận người dùng mạng xã hội có tư tưởng lệch lạc, thiếu hiểu biết dẫn đến bị kích động đã đi theo trào lưu này. Họ nghĩ đơn giản việc sử dụng những từ này như một trò tiêu khiển mua vui, giải trí mà không hề hay biết đằng sau nó là sự kỳ thị, chia rẽ vùng miền tiềm ẩn những nguy hại khôn lường. Trào lưu này không chỉ phản ánh văn hoá ứng xử của một bộ phận người dùng mạng xã hội, sự thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức mà nguy hiểm hơn là có thể ẩn chứa âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động sự thù hằn, mâu thuẫn vùng miền. Tình trạng này nếu không chấm dứt sẽ làm tổn hại đến sức mạnh đoàn kết dân tộc và gây ra các hệ lụy khác trong xã hội.

Mọi người, nhất là giới trẻ cần tỉnh táo, nâng cao nhận thức. Hãy thận trọng trước những âm mưu thâm độc của bọn chống phá, thù địch, phản động. Khối đại đoàn kết dân tộc mãi mãi là một báu vật của dân tộc Việt Nam giúp dân tộc ta vượt qua bao thử thách. Chính vì vậy, việc bảo vệ khối đại đoàn kết chính là trách nhiệm của mỗi người dân yêu nước. Hãy yêu nước từ những việc nhỏ nhất như dùng mạng xã hội một cách thông minh và tỉnh táo hơn./.

 

 

SỰ BỊA ĐẶT, XUYÊN TẠC LÁO XƯỢC VÀ XÚC PHẠM


Đúng ngày 7-5-2024, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang sôi nổi, xúc động, tự hào cùng bạn bè quốc tế kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ anh hung, thì trên không gian mạng xuất hiện một số thông tin bịa đặt, xuyên tạc mang tính chống phá liên quan đến ngày lễ trọng thể này. Cụ thể, đối tượng xấu tung tin: giữa lúc người Pháp không còn dính dáng gì đến Việt Nam nữa, thì lại chính Hồ Chí Minh cầu xin người Pháp quay trở lại Việt Nam và từ đó người Pháp lại tiếp tục đô hộ Việt Nam “cho đến cuộc chiến Điện Biên Phủ đẫm máu mới kết thúc”.

Có thể khẳng định ngay rằng, thông tin trên hoàn toàn là sai trái, bịa đặt, láo xược, xúc phạm đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta. Sau Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam phát triển. Nhưng thực dân Pháp với dã tâm quay trở lại đô hộ đất nước ta một lần nữa, đã từng bước gây hấn, rồi liều lĩnh và trắng trợn gây chiến tranh trở lại Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng, Chính phủ và nhân dân kiên trì đấu tranh với mong muốn hòa bình để có điều kiện xây dựng, phát triển đất nước non trẻ vừa mới ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng với mong muốn không để xảy ra chiến tranh, nhưng kẻ thù vẫn ngoan cố lấn tới. Vì vậy, trước dã tâm của kẻ thù, trước nguy cơ độc lập, tự do vừa mới giành được bị đe dọa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ và quân dân ta đã quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình.

Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Đáp lại Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước Việt Nam anh dũng, kiên cường, bền bỉ chiến đấu hy sinh với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Và với ý chí quyết tâm sắt đá, với truyền thống yêu nước nồng nàn, với sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, kết hợp với sức mạnh thời đại, với nghệ thuật tác chiến tài tình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh - Người lãnh đạo tối cao và cũng là linh hồn của Chiến dịch Điện Biên Phủ của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ gian khổ nhưng hào hùng và vinh quang - quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ làm nức lòng nhân dân Việt Nam, thế giới hết lời ca ngợi, còn kẻ thù thì run sợ, khâm phục. Tướng Navarre, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông dương đã thẳng thắn đánh giá về quân đội Pháp và cuộc chiến tranh mà họ tiến hành: “Cuộc chiến tranh Đông Dương không phải là một cuộc chiến tranh dân tộc. Đó là một cuộc viễn chinh thôn tính ở một nơi xa xôi, tiến hành với một quân đội đơn độc, trong đó chúng ta không hiểu được ý nghĩa của nó”. Cũng chính Navarre đã khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi công nhận: “Một lãnh tụ chính trị duy nhất: Hồ Chí Minh và một lãnh tụ quân sự duy nhất: Giáp…”.

Vậy mà những kẻ chống phá lại cố tình tung ra những thông tin sai trái, xúc phạm, xấu độc trên với âm mưu đen tối nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chắc chắn chúng sẽ thất bại nhục nhã, vì sự bịa đặt láo xược, xúc phạm đó chỉ làm cho nhân dân ta và dư luận quốc tế hiểu rõ về bản chất xấu xa của chúng mà thôi. Còn với chúng ta cũng như những người yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, thì Chiến thắng Điện Biên Phủ gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, dân tộc Việt Nam anh hùng, sẽ còn mãi mãi “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”!

 

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI VIỆC TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM CỦA CÁN BỘ


Trong thời gian vừa qua, lợi dụng việc Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng một số cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý ở các tỉnh, thành phố xin từ chức, bị miễn nhiệm các chức vụ, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị đã lợi dụng vấn đề này để đưa ra nhiều thông tin tiêu cực, lệch lạc nhằm thực hiện mục đích chống phá.

Như trong các bài nói, bài phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ cấp cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước là một trong những hoạt động của công tác xây dựng Đảng, sắp xếp bộ máy Nhà nước. Thế nhưng, lợi dụng vấn đề này, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị đã đưa ra nhiều thông tin tiêu cực, lệch lạc nhằm thực hiện mục đích chống phá. Cụ thể là:

Vấn đề nhân sự, nhất là nhân sự cấp cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước từ lâu vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của dư luận. Đặc biệt, với những vị trí quan trọng trong các cơ quan Đảng, chính quyền, việc ai được bổ nhiệm sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, vận mệnh của dân tộc. Do vậy, mọi sự thay đổi trong công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước đều nhanh chóng nhận được sự theo dõi của cộng đồng. Chính vì thế mà lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với chế độ, núp bóng dân chủ, nhân quyền đã sử dụng các nền tảng của mạng xã hội để lập ra các trang với nhiều tên gọi “lôi cuốn” người đọc và lời văn nghe có vẻ đúng để lôi kéo, kích động truyền tải thông tin xuyên tạc tới quần chúng nhân dân.

Một mặt, chúng vẫn tái diễn luận điệu vu khống cho rằng, đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe phái”. Mặt khác, chúng tích cực lan truyền các thông tin suy diễn vô căn cứ, lập ngôn, cắt ngọn thông tin, lấy hiện tượng để xuyên tạc bản chất. Chúng liên kết, sâu chuỗi các sự kiện có thật, chính thống với sự trùng lặp về thời gian diễn ra để bẻ cong, lái theo quỹ đạo tuyên truyền của chúng làm cho mọi người thấy “có căn cứ” và tin theo, sẵn sàng tham gia bình luận, chia sẻ ở diện rộng nhằm lèo lái công chúng hiểu sai lệch bản chất vấn đề. Và như vậy, phương thức hiệu quả nhất của các thế lực thù địch là sử dụng không gian mạng, bởi chúng biết với khoảng 70 triệu dân sử dụng mạng xã hội, nhất là hiện nay khi xu hướng tích hợp trí tuệ nhân tạo vào mạng xã hội đang bùng nổ, người xem chỉ cần xem, truy cập vào một trang xấu, độc thì ngay lập tức sẽ được gợi ý xem hàng trăm trang khác có nội dung tương tự. Do đó, việc lan truyền thông tin xấu ngày càng nhanh hơn, nguy hiểm hơn, ngay lập tức tác động đến nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân, từ đó gây hoài nghi vào hệ thống chính trị, vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gieo rắc sự hoang mang, tâm lý bi quan ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và dẫn đến tâm lý tiêu cực, phản kháng…

Về mục đích, Với mục đích cao nhất của các thế lực thù địch là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Thực chất các hoạt động tuyên truyền của chúng là để gây chia rẽ nội bộ. Thông qua việc thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, qua đó, gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự… hòng hạ bệ uy tín cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân. Sau quá trình bị tác động bởi những thông tin xấu một cách thụ động thì người dân đã tìm đến các thông tin này một cách chủ động.

Về nội dung, những thông tin chống phá thường có nội dung gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; đó là các dạng thông tin có nội dung không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong, mỹ tục như: kích động bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống, tin đồn thất thiệt, thông tin nhảm nhí, rùng rợn…; thông tin cổ vũ, lôi kéo tham gia vào các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, lô đề, cờ bạc, cá độ, vay nặng lãi, tham gia vào các hội kín, nhóm kín trên mạng xã hội dẫn đến vi phạm kỷ luật, pháp luật; thông tin sai trái, độc hại có tính chất tội phạm Tin học như: lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu, tán phát virus…

Để tích cực phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội nói chung, nhất là các thông tin về việc từ chức, miễn nhiệm của cán bọ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, mỗi người cần trang bị cho mình vốn hiểu biết và những kỹ năng cần thiết trong việc tham gia các nền tảng của mạng xã hội, kiểm chứng cơ sở nguồn tin, xem thông tin đó đến từ nguồn nào, chủ thể đăng tải là ai. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tư duy biện chứng, tư duy phản biện và nhận thức đúng về những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội; nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận vững vàng, am hiểu thực tiễn chính trị - xã hội đất nước và thế giới sẽ giúp cán bộ, đảng viên vững vàng, tự tin để phản biện, chống lại các thông tin xấu, độc, bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ; đồng thời, lan tỏa những thông tin chính thống, chất lượng, chuẩn mực, kiên trì quan điểm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” thông qua vận động bạn bè, người thân, đồng nghiệp, cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị trong Quân đội

 Trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chủ tịch luôn đề cao vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; theo Người: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Vì vậy, Người cặn dặn các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Quân đội ta ngay từ những ngày đầu, cùng với việc bố trí đội ngũ cán bộ chính trị để giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu họ phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là tư cách, đạo đức, lối sống và trong công việc để chỉ đạo, động viên, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Đối với cán bộ chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”. Vô luận ở cấp bậc nào, “người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ”. Bởi, cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ chính trị, Người chỉ rõ: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”. Về mặt vật chất, chính trị viên phải luôn săn sóc đến đời sống sinh hoạt: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu của bộ đội. Về mặt tinh thần, chính trị viên phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa và đường lối chính trị trong bộ đội. Mặt khác, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cán bộ chính trị “càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”.

Thấm nhuần lời dạy của Người, lớp lớp đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội luôn tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu giữ vững tư cách của người cán bộ chính trị; tuyệt đối trung thành và đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn có hoài bão, lý tưởng sống đúng đắn, lối sống trong sáng, lành mạnh, trung thực, khiêm tốn, giản dị; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân,... luôn là tấm gương mẫu mực để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo.

Trong tình hình mới, đội ngũ cán bộ chính trị tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc thực hiện tốt vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chính trị không những nâng cao vị thế, vai trò của cá nhân, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị mà còn ngăn ngừa hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết; cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:

Trước hết, cần tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần coi việc thực hiện vai trò nêu gương là một nội dung trọng yếu của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị; một yêu cầu để đảm bảo cho đội ngũ này thực hiện tốt vai trò chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Do vậy, việc xác định những yêu cầu về nêu gương của cán bộ chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải gắn kết chặt chẽ với nội dung các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là: Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v. Trên cơ sở đó, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp trong xây dựng tiêu chí, quy định cụ thể về thực hiện vai trò nêu gương của chính ủy, chính trị viên trong các hoạt động ở đơn vị; đồng thời, làm tốt công tác giáo dục tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng đối với vấn đề này.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong quá trình đào tạo tại các học viện, nhà trường. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về giáo dục, đào tạo và thực hiện quan điểm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”7, các cơ sở đào tạo cán bộ chính trị, nhất là Học viện Chính trị và Trường Sĩ quan Chính trị cần nghiên cứu, hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, chuẩn đầu ra của các đối tượng nhằm đào tạo những chính ủy, chính trị viên có phẩm chất, năng lực toàn diện, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong hoạt động thực tiễn.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các học viện, nhà trường cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo đối với cán bộ chính trị. Kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với nghiên cứu, cập nhật các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng vào hoạt động giáo dục, đào tạo nhằm thực hiện tốt yêu cầu về trang bị kiến thức, năng lực thực hành với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống, vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị ngay tại trường. Trong đó, coi trọng việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thực hành nhằm hình thành vững chắc các phẩm chất, nhân cách và vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị trong thực tiễn.

Ba là, thường xuyên bồi dưỡng và phát huy vai trong nêu gương của cán bộ chính trị trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa “nói” và “làm” là một giá trị nổi bật trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực tiễn cho thấy, hành động nêu gương của người đứng đầu, dù nhỏ đều có tác động, ảnh hưởng lớn đến cấp dưới. Đồng thời, có coi trọng thực hiện vai trò nêu gương thì tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng mới đi vào cuộc sống ở mỗi đơn vị và lan tỏa trong xã hội. Do vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm bồi dưỡng và phát huy tốt vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong các hoạt động thực tiễn, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Cần có cơ chế, chính sách và những biện pháp cụ thể để khích lệ, động viên vai trò nêu gương của họ; đồng thời, uốn nắn, điều chỉnh những nhận thức và biểu hiện sai trái, chưa phù hợp. Đặc biệt, cần phải coi trọng thực hiện tốt vai trò nêu gương của cấp trên đối với cấp dưới cả về lời nói và hành động để khích lệ việc học tập lẫn nhau về nêu gương trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị.

Việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn gương mẫu chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, kỷ luật của Quân đội; đặt lợi ích của tập thể, đơn vị lên trên hết, trước hết. Đồng thời, kiên quyết khắc phục các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, mệnh lệnh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Bốn , đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa” và kiểm tra, giám sát việc thực hiện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; bám sát sự chỉ đạo của trên; học hỏi từ đồng nghiệp để tiến hành tốt tự phê bình và phê bình, ‘‘tự soi, tự sửa’’ hằng ngày, không ngừng hoàn thiện về phẩm chất, đạo đức, lối sống, nhất là vai trò nêu gương trong thực tiễn. Coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tiếp thu những kiến thức trong lãnh đạo, quản lý để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác, đáp ứng tốt các yêu cầu về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ chính trị và yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan kiểm tra các cấp cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ chính trị. Nội dung kiểm tra, giám sát cần phải toàn diện cả về tư tưởng chính trị, động cơ, thái độ, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống và việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động. Quá trình thực hiện cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp ủy đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức quần chúng tham gia; kết hợp chặt giữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với công tác quản lý của người chỉ huy các cấp. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức đối thoại dân chủ, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức quần chúng đối với đội ngũ cán bộ chính trị, nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với biểu hiện thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ chính trị có tầm quan trọng đặc biệt trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Vì vậy, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải khắc ghi những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để đội ngũ cán bộ chính trị không ngừng phát huy tốt vai trò gương mẫu của mình, luôn là người giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội.

 

Để lịch sử chạm đến trái tim

 

Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Long vừa phối hợp với các ngành tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Hơn 700 học sinh, sinh viên đều chăm chú lắng nghe các nhân chứng kể chuyện; sôi nổi, hứng khởi với phần giao lưu và cuộc thi tìm hiểu lịch sử. Kết quả thu về hơn cả mong đợi.

Không giới hạn ở buổi giao lưu, hình thức giáo dục lịch sửtruyền thống đang có sự vận động, thay đổi để ngày càng bắt kịp xu thế. Điển hình như: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Phòng Giáo dục và Đào tạo TP Huế vừa phối hợp biên soạn tài liệu, giáo trình di sản văn hóa, gắn với giáo dục trực quan; Cần Thơ xây dựng chủ đề sinh hoạt văn hóa, các trò chơi gắn với giáo dục truyền thống, lịch sử hay sân khấu hóa các tác phẩm lịch sử, văn học, địa danh, nhân vật lịch sử. Gần đây nhất, nhóm bạn trẻ gồm đoàn viên, thanh niên cơ sở đoàn TP Cần Thơ đã biên soạn và đăng tải video, bài viết về các dấu mốc lịch sử dân tộc... lên fanpage "Tuổi trẻ Tây Đô" hay nền tảng TikTok, YouTube... Những hình ảnh, hiện vật, cách hòa phối âm thanh, nghệ thuật sắp đặt độc đáo đã thu hút nhiều lượt xem và bình luận tích cực từ giới trẻ. Qua những hình thức trên giúp các em nắm kiến thức sâu hơn, từ đó chủ động hơn trong tìm hiểu, tiếp cận với lịch sử chính thống. Thực tế chứng minh, giới trẻ không hề quay lưng với lịch sử, truyền thống của dân tộc. Bồi đắp tình yêu lịch sử, truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ cũng không quá khó khăn, chỉ là bằng cách thức nào để lịch sử chạm đến trái tim giới trẻ?

Giáo dục lịch sử, truyền thống không phải là việc nhồi nhét kiến thức, bắt học sinh phải nhớ ngày này, ngày kia xảy ra sự kiện gì, thắng-thua thế nào trong các cuộc chiến mà cần hiểu tường minh đó là sự chuyển giao di sản quý báu của dân tộc từ những người đi trước cho thế hệ sau. Thời đại công nghiệp 4.0, giới trẻ cũng không ngừng vận động, phát triển và ngày càng có nhiều lựa chọn. Vì thế, bồi đắp tình yêu lịch sử, truyền thống cho thế hệ trẻ cũng phải có cách làm mới, đơn giản, gần gũi nhưng hấp dẫn và dễ tiếp thu.

Trước mắt, trách nhiệm nên thuộc về ngành giáo dục. Trải qua nhiều giai đoạn cải cách phương thức giáo dục, cải biên sách giáo khoa... thì nay, ngành giáo dục nên thay đổi cách truyền đạt kiến thức lịch sử để bắt kịp xu thế, đúng độ tuổi, cấp học. Lịch sử là dữ kiện từ quá khứ, nhưng là câu chuyện chứa nhiều nội dung, biến cố và mỗi người có một cách nhìn nhận khác nhau nên các em có thể thảo luận, đưa ra ý kiến cá nhân. Nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh phân tích, hiểu vấn đề theo chiều hướng đúng đắn. Đồng thời cần có thêm nhiều chương trình học ngoại khóa bằng các chuyến đi thực tế để các em thấy rằng, lịch sử diễn ra xung quanh chúng ta, chứ không hoàn toàn bó buộc trong sách vở khô khan, số liệu khó nhớ.

 

THAY ĐỔI NHÂN SỰ LÃNH ĐẠO NHƯNG ĐƯỜNG LỐI KHÔNG THAY ĐỔI


Với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, trong thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta do thoái hóa, biến chất, tham nhũng, vi phạm khuyết điểm đã bị xử lý kỷ luật, cho thôi giữ các chức vụ.

Ngày 16-5-2024, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đồng ý để đồng chí Trương Thị Mai thôi giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII do vi phạm, khuyết điểm trong việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Trước đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã đồng ý để đồng chí  Vương Đình Huệ thôi giữ các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026;  đồng chí Võ Văn Thưởng thôi giữ các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh nhiệm kỳ 2021 - 2026 do hai đồng chí đã vi phạm các quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và chịu trách nhiệm về người đứng đầu.

Việc thay đổi nhân sự trong bộ máy lãnh đạo, quản lý là công việc bình thường của các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, trong mấy năm gần đây, thực hiện công cuộc chống “giặc nội xâm”, chúng ta đã cương quyết loại bỏ, đưa ra khỏi đội ngũ nhiều cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực. Trong số này có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, cán bộ cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Việc loại khỏi đội ngũ những cán bộ thoái hóa biến chất như “chặt một cành sâu mọi để cứu cả cây”, “chặt một cây nhiễm bệnh để cứu cả rừng cây” với mục đích duy nhất là để Đảng ta trong sạch hơn, lãnh đạo đất nước tốt hơn, tăng thêm niềm tin của người dân với Đảng cầm quyền.

Tuy nhiên, lợi dụng các vụ việc trên, các thế lực thù địch đã và đang  xuyên tạc, thổi phồng, bôi đen sự thật, với luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đang có sự thanh trừng, đấu đá nội bộ”; “Việt Nam đang mất ổn định chính trị”… Chúng còn dự đoán “sắp tới ai sẽ lên… thớt”… Những thông tin này lại được một số người hiếu kỳ trong nước chuyển tiếp cho người khác, gây ra sự băn khoăn, trăn trở, lo lắng trong dư luận xã hội.

Có điều chắc chắn rằng, dù có thay đổi một số vị trí cán bộ, nhưng nền tảng tư tưởng của Đảng ta vẫn không thay đổi. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Cán bộ dù có thay đổi nhưng đường lối của Đảng ta, Cương lĩnh chính trị của Đảng ta vẫn không thay đổi. Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân vẫn không thay đổi.

Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, cán bộ, đảng viên và kiều bào ta ở nước ngoài hôm nay đang đặt một niềm tin tuyệt đối vào quyết tâm chính trị, vào đường lối cách mạng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên của chúng ta sẵn sàng cử người đủ phẩm chất và năng lực thay thế những người lãnh đạo vi phạm khuyết điểm, thoái hóa, biến chất. Trước khi khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII (ngày 16-5-2024), Bộ Chính trị đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc Bộ Chính trị đã quyết định phân công đồng chí Đại tướng Lương Cường,Ủyỷ viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia Ban Bí thư và giữ chức vụ Thường trực Ban Bí thư; đồng chí Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Trong ngày làm việc đầu tiên của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhiệm kỳ 2021 - 2026 và Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đồng thời  Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu bổ sung 4 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, gồm các đồng chí: Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Người dân Việt Nam hôm nay đang vững một niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, bởi lẽ đó cũng là vận mệnh của Tổ quốc, đất nước mình. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trải qua hơn 94 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng không có lợi ích nào khác đó là vì đất nước phồn thịnh, vì hạnh phúc của nhân dân. Lợi ích của quốc gia, dân tộc luôn được đặt lên trên hết, trước hết. Việc xử lý cán bộ cấp cao, thay đổi cán bộ nhưng không ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của đất nước, bởi lẽ, đường lối cách mạng của Đảng ta đã xác định trong Cương lĩnh, Nghị quyết của Đảng, Hiến Pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công khai, minh bạch, đúng đắn, ổn định, kế thừa qua các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua gần 40 năm đổi mới đất nước. Thực tế Việt Nam hôm nay đang là một đất nước hoà bình, phát triển, ổn định về chính trị, là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trên toàn cầu, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 

NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIẾN BƯỚC CÙNG NHÂN LOẠI

Gần đây bài viết “Nền văn hóa lạc loài” của Nguyễn Ngọc Già được phát tán rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động. Bài viết có nội dung xuyên tạc, phủ nhận đường lối đúng đắn và kết quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được trên lĩnh vực văn hóa. Bởi vậy, cần đấu tranh và khẳng định một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, bản sắc văn hóa Việt Nam được khẳng định và đang đồng hành cùng nhân loại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết phát triển văn hóa với phát triển con người. Nhờ đó, văn hóa Việt Nam hiện đại được nối liền với quá khứ, lịch sử, truyền thống của dân tộc và bắt nhịp ngày càng sâu vào văn hóa thế giới, góp phần làm đa dạng, phong phú kho tàng văn hóa chung của cộng đồng thế giới.

Tiến trình hội nhập quốc tế, mở rộng giao lưu văn hóa ngày càng tạo ra những biến đổi to lớn và quan trọng trong đời sống văn hóa quốc tế. Trước những tác động của quá trình này, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện tốt việc kết hợp giữa bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Do đó, nền văn hóa dân tộc Việt Nam không những đã khẳng định được vị thế của mình trong giao lưu, đối thoại với các nền văn hóa trên thế giới, mà còn tạo điều kiện thuận lợi khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bản sắc không phải và không đồng nhất với nền văn hóa. Do đó, luận điệu cho rằng văn hóa Việt Nam “không có nguồn cội, nó không có tính nhân đạo, không có lòng nhân ái” là sự ngộ nhận, xuyên tạc của Nguyễn Ngọc Già. Bởi, bản chất, truyền thống văn hóa Việt Nam là nhân văn, nhân đạo, nhân ái, dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn hóa Việt Nam đã tham gia hội nhập vào văn hóa nhân loại, được cộng đồng thế giới đánh giá cao.

Thứ hai, thành tựu về văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận! Cột mốc đánh dấu văn hóa Việt Nam có những bước phát triển, đạt tới chất lượng và diện mạo mới, là từ khi Việt Nam tham gia Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa (1987-1996) do UNESCO đề xướng. Gần 40 năm đổi mới, những chủ trương phát triền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bảo đảm cho sự phát triển bền vững, hài hòa của xã hội, bảo đảm sự công bằng cho mọi thành viên xã hội, cho sự phát triển văn hóa, con người. Nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Việt Nam đã được công nhận là di sản thế giới, di sản ký ức thế giới. Các loại hình của văn hóa Việt Nam ngày càng được cộng đồng thế giới biết đến và đánh giá cao. Cái gọi là “dấu ấn”, có tính “đại diện”, mà Nguyễn Ngọc Già đưa ra để “đánh giá” giá kết quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, chỉ là những luận điệu lạc loài, thiếu căn cứ.

Với nền văn hóa có bề dày truyền thống, các thế hệ người Việt Nam không hề thiếu những phẩm chất thông minh, sáng tạo, dũng cảm, bản lĩnh, hiếu học, cần cù, khoan dung, nhân hậu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn hóa và con người Việt Nam đã có đủ điều kiện, tiềm năng, sức mạnh để thực hiện được các mục tiêu phát triển đất nước mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Những “dẫn chứng”, “đánh giá” của Nguyễn Ngọc Già chỉ là cách bẻ cong sự thật, cố tình phủ nhận những thành tựu văn hóa đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam cần nâng cao cảnh giác và tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về văn hóa Việt Nam./.

 

 

 

Mãi còn hơi ấm của Người

 

Ngôi nhà số 5 đường Châu Văn Liêm, quận 5, TP Hồ Chí Minh là nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ở trước khi ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5-6-1911. 

Thật quý giá, hơn 100 năm rồi, ngôi nhà và các hiện vật gắn liền với tuổi trẻ của Bác tại Sài Gòn vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Vào dịp tháng 5, dưới mái nhà bình dị này, có rất nhiều người dân và các đoàn du khách trong nước, quốc tế đến thăm. Trước những hiện vật lịch sử thiêng liêng, ai cũng thấy trong tim mình dậy lên niềm tôn kính ấm áp. Những bậc cầu thang bằng gỗ nhẵn bóng màu thời gian, khung cửa sổ cũ, cánh cửa gỗ mở ra ban công và những viên ngói âm dương có tuổi đời hàng trăm năm... như vẫn còn in hình bóng của Người...  Độ lùi của lịch sử càng xa, những giá trị cao quý về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc càng được chưng cất, sâu đậm, gần gũi...

Dịp này, nhiều trường học đã tổ chức cho học sinh, sinh viên đến tham quan ngôi nhà số 5 đường Châu Văn Liêm và Di tích Bến Nhà Rồng (Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP Hồ Chí Minh). Các cơ quan, ban, ngành, tổ chức hội, đoàn... cũng đến đây tri ân, báo công với Bác. Mọi người được trải nghiệm “Hành trình theo chân Bác”, thu nạp hưng khí, bồi đắp tinh thần yêu nước và lối sống cao đẹp theo tấm gương của Người...

Trên đất nước ta, vùng miền nào cũng có những di tích, công trình lịch sử-văn hóa về Bác Hồ. Nhiều địa phương ở Nam Bộ còn có hệ thống Đền thờ Bác Hồ do người dân tự lập nên để tưởng nhớ Bác. Tấm lòng tôn kính của đồng bào ta đối với Bác thật vĩ đại, bao la và cũng thật thân thương, gần gũi. Đó là những giá trị tinh thần làm nên nguyên khí quốc gia, bồi đắp hồng phúc cho dân tộc...

Trong thời đại công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, các giá trị làm nên cốt cách tâm hồn dân tộc càng cần thiết được nuôi dưỡng, lan tỏa. Tận dụng tiện ích công nghệ để đưa các giá trị văn hóa đạo đức theo tư tưởng của Bác hòa vào đời sống, để mỗi người vừa là đối tượng vừa là chủ thể nuôi dưỡng tinh thần cách mạng là vô cùng quan trọng và cần thiết.

Dân tộc ta và trong mỗi chúng ta, mãi còn hơi ấm của Người!...