Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Lên đơn vị thì mới hiểu...

        Ông xem mấy video clip trên tài khoản Facebook này chưa? Trong Quân đội vất vả như thế thì con mình sao chịu nổi?

Bà Hoa vừa giơ chiếc điện thoại vừa cất giọng lo lắng, bực bội. Ông Minh chậm rãi mở điện thoại xem kỹ từng video clip được một tài khoản Facebook khá nổi tiếng đăng tải. Một số video clip ghi lại cảnh hành quân, lao động, tăng gia sản xuất, có cả những hình phạt đối với quân nhân vi phạm...

- Thì Quân đội là môi trường huấn luyện và rèn luyện gian khổ để cho bộ đội trưởng thành, mạnh khỏe, bản lĩnh mà. Tất cả chiến sĩ mới đều như thế chứ có phải mỗi con mình đâu!

- Tôi nghe ông nói thế nhiều lần rồi. Nhưng tôi xem mấy video clip ở đây có thấy huấn luyện mấy đâu, toàn là lao động, trồng cây, trồng rau và một số hình phạt, như phạt chạy quanh sân, phạt gấp chăn buổi trưa. Con mình chưa thấy viết thư, gọi điện thoại về nhà nên tôi lo lắm!

- Bà lại cả tin theo mấy video clip cắt ghép trên mạng rồi. Nhiệm vụ chính ở đơn vị vẫn là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng đây là nội dung thuộc bí mật quân sự nên không thể quay phim, chụp ảnh, tuyên truyền trên mạng. Còn ngoài giờ huấn luyện thì bộ đội phải lao động, tăng gia sản xuất, thực hiện các chế độ khác trong ngày là hết sức bình thường. Có như vậy các chiến sĩ mới trưởng thành, mạnh khỏe, vừa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa sau này hoàn thành nghĩa vụ quân sự, trở về quê hương có đủ phẩm chất, năng lực cần thiết để lập thân, lập nghiệp. Bà chứng kiến bao nhiêu người ở làng ta đi bộ đội về đều chững chạc hơn hẳn còn gì?

Nghe ông Minh giải thích, bà Hoa đã gật gù, nhưng vẫn hỏi tiếp:

- Thế còn chuyện phạt chiến sĩ gấp chăn, chạy quanh sân thì ông bảo có nên không?

- Tất nhiên là không nên rồi. Nhưng tôi biết chắc chắn không phải đơn vị nào cũng phạt chiến sĩ như vậy. Đây chỉ là cách làm của một vài cán bộ tiểu đội, trung đội với mong muốn rèn luyện cho chiến sĩ tốt lên, giống như ở nhà một số bậc phụ huynh cũng phạt con đứng nghiêm khi con hư, hoặc bắt quét nhà nhiều lần khi con quét cẩu thả, không sạch. Việc rèn luyện bằng hình thức phạt như thế này là sai, nếu chỉ huy các đơn vị biết sẽ phê bình nghiêm khắc và chấn chỉnh ngay nên không phải là phổ biến đâu bà ạ! Vấn đề là các đối tượng bất mãn, phản động đã lợi dụng việc này để chống phá, nói xấu Quân đội ta.

Chúng tìm kiếm những hình ảnh này từ xưa đến nay, cắt ghép video, lồng tiếng, làm như là mới xảy ra... thổi phồng các vụ việc nhằm xuyên tạc cuộc sống trong quân ngũ; lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một số người để kích động tâm lý lo lắng, bức xúc, với âm mưu thâm độc là làm cho người dân nghĩ xấu về Quân đội, thanh niên không muốn đi bộ đội. Bà thiếu tỉnh táo là mắc mưu của bọn phản động ấy rồi. Chủ nhật tới, tôi đưa bà lên đơn vị thăm con để bà thấy ở đơn vị không chỉ có huấn luyện, rèn luyện mà còn có các hoạt động văn hóa-văn nghệ, thể dục-thể thao; doanh trại thì đẹp như công viên và cán bộ, chiến sĩ thân thiết như anh em một nhà.

Câu chuyện trên đã xảy ra gần một tuần. Sau khi cùng chồng lên đơn vị thăm con, bà Hoa bảo: "Đúng là trên mạng xã hội có những kẻ đăng thông tin tiêu cực về cuộc sống quân ngũ không đúng chút nào. Ai không tỉnh táo thì dễ bị mắc mưu chúng thật".

Sưu tầm

Phòng, chống "diễn biến hòa bình": Đừng quá sính ngoại!

            Thấy ông Phi, bạn hàng xóm đang lúi húi gấp đồ cho vào ba lô có vẻ chuẩn bị đi xa, ông Tài ngạc nhiên hỏi:

- Ông Phi định đi đâu mà thấy chuẩn bị đồ đạc lỉnh kỉnh thế?

- À, tôi đang chuẩn bị đồ để trưa nay lên thành phố trông cháu giúp vợ chồng con trai út. Rõ khổ! Đang đi học tự nhiên trường vỡ nợ, có nguy cơ giải tán, giờ bố mẹ chúng chẳng biết gửi con ở đâu?

Ông Tài hỏi dồn:

- Có phải cháu nội của ông học cái trường quốc tế gì đó mà mấy hôm nay trên ti vi nhắc đến liên tục không ông?

- Đúng rồi! Trường đó tên toàn tiếng nước ngoài nên tôi cũng không nhớ.

- Cái trường ấy tôi thấy có dấu hiệu lừa đảo đấy ông ạ! Khổ thân các cháu học sinh, đang yên đang lành tự nhiên lại chẳng được đi học nữa. Mà nói thật với ông, tôi chẳng thích mấy cái trường sính ngoại quá ấy đâu!

- Sao ông lại nói thế? Tôi thấy mô hình trường quốc tế hiện cũng khá phổ biến và có những mặt tích cực mà. Cơ bản là do chế tài, cách quản lý của ta thôi!

- Thì tôi thấy trường đó đặt trên đất nước ta, dạy các cháu người Việt Nam mà cả giáo viên lẫn học sinh đều chỉ giao tiếp bằng tiếng nước ngoài, lại còn bỏ không dạy Lịch sử là môn rất quan trọng đối với mỗi người Việt Nam. Như thế, chẳng có nguy cơ làm các cháu học sinh "mất gốc", không biết về lịch sử, truyền thống, văn hóa dân tộc; thậm chí gây nguy hại cho nước nhà hay sao? 

- Ông nói lạ! Làm gì có chuyện trường học mở trên nước mình mà lại không sử dụng ngôn ngữ của ta? Mà môn Lịch sử quan trọng thế, tôi nghĩ trường nào chẳng phải dạy, nhất là đối với các cháu học sinh tiểu học.

Thấy bạn vẫn nghi ngờ, ông Tài liền mở điện thoại, bấm bấm một hồi rồi đưa cho bạn:

- Đấy, ông đọc đi! Thông tin trên trang chủ của nhà trường do họ giới thiệu đấy nhé!

Ông Phi đọc một lượt phần giới thiệu của nhà trường, rồi hốt hoảng:

- Chết thật! Sao trường dạy cho thế hệ trẻ người Việt mà lại không sử dụng tiếng Việt nhỉ? Đã thế còn không đưa môn Lịch sử vào giảng dạy nữa? Như vậy làm sao mà đám trẻ thấm nhuần, hun đúc được tinh thần, cốt cách của người Việt Nam mình? Thảo nào lần trước cháu về quê, tôi dắt đến thăm mấy di tích lịch sử gần nhà thờ các anh hùng dân tộc, thấy cháu hờ hững lắm. Hỏi về các vị anh hùng, tướng lĩnh lừng danh của dân tộc mà cháu trả lời rất mù mờ, nhầm lẫn lung tung...

- Khi xem ti vi, lúc đầu, tôi cũng ngạc nhiên lắm, nhưng sau tìm hiểu mới biết, có một số trường khác cũng đang áp dụng phương pháp giảng dạy này. Thành thử nhiều học sinh mù tịt về lịch sử cha ông, truyền thống dân tộc. Cứ đà này, tôi lo sẽ có nhiều cháu thiếu tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, rỗng kiến thức lịch sử, văn hóa Việt, rồi chỉ nhìn đất nước, quê hương bằng ánh mắt tiêu cực... 

- Đúng vậy ông ạ! Ông nói làm tôi cũng thấy lo lắng. Chiều nay tôi phải góp ý với vợ chồng thằng út tìm trường khác cho con học! Trường quốc tế cũng tốt, hội nhập cũng tốt, nhưng vẫn phải giữ được nền tảng, cốt cách của người Việt Nam mình chứ ông nhỉ? Tiếng nước mình không thạo, lịch sử nước nhà không biết thì có giỏi đến đâu cũng chẳng trông mong gì đâu!

Sưu tầm


Không “chính trị hóa” các vụ án kinh tế

        Phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Trương Mỹ Lan và đồng phạm, do Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh mở, đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Bên cạnh thông tin khách quan, phản ánh trung thực diễn biến phiên tòa và bản chất vụ án, không gian mạng cũng liên tục xuất hiện những thông tin xuyên tạc, kích động theo hướng “chính trị hóa” các quan hệ kinh tế, nhằm phá hoại môi trường đầu tư, gây rối an ninh chính trị, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước...

Thấy gì từ vụ án xét xử Trương Mỹ Lan và đồng phạm?

Vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB, với vai trò chủ mưu của Trương Mỹ Lan, được dư luận truyền thông trong nước và quốc tế đánh giá là vụ “đại án” có tính chất rất phức tạp, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Trương Mỹ Lan và đồng phạm đã sử dụng những thủ đoạn tinh vi để “rút ruột” ngân hàng, tham ô, tham nhũng, gây thiệt hại cho Nhà nước và các tổ chức, cá nhân với tổng số hơn 400.000 tỷ đồng. Đồng phạm giúp sức, cấu kết với Trương Mỹ Lan có 41 lãnh đạo, cán bộ Ngân hàng SCB; 15 cựu cán bộ Ngân hàng Nhà nước; 3 cựu cán bộ Thanh tra Chính phủ; 1 cựu cán bộ Kiểm toán Nhà nước... và nhiều cá nhân khác.

Chính vì tính chất phức tạp và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của vụ án nên các cơ quan thực thi pháp luật đã phải xử lý một khối lượng công việc khổng lồ, với khoảng 6 tấn hồ sơ, tài liệu. Điều tra, khám phá thành công vụ án đặc biệt lớn, đặc biệt nghiêm trọng này là sự cố gắng nỗ lực vượt bậc của các cơ quan thực thi pháp luật; thể hiện tinh thần kiên quyết, kiên trì trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... của Đảng, Nhà nước ta.

Những kẻ làm ăn bất chính, có hành vi tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng... sẽ phải chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật. Tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ và hiệu lực của sức mạnh cảnh báo, răn đe, nghiêm trị đã được thực thi rất nghiêm minh, thông suốt.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, nhiều phương tiện, ấn phẩm truyền thông mang tư tưởng thù địch và tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội của các thành phần bất mãn, cơ hội chính trị, các đối tượng thù địch trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài... lại cố tình bẻ cong sự thật, xuyên tạc, lèo lái vụ án đi theo một hướng khác.

Từ khi Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Trương Mỹ Lan và đồng phạm vào ngày 5-3-2024 đến nay, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản của các tổ chức phản động trên mạng xã hội đã liên tục phát, đăng tải những nội dung theo hướng “chính trị hóa” vụ án kinh tế để lèo lái dư luận.

Họ lợi dụng thành phần xuất thân của Trương Mỹ Lan và một số đối tượng khác (là người Việt gốc Hoa) để tung tin xuyên tạc, kích động. Một mặt, họ cho rằng người như bị cáo Trương Mỹ Lan, pháp luật Việt Nam sẽ không dám xử nghiêm; mặt khác, họ tung tin xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đang thực hiện cái gọi là “đàn áp tư sản”, rồi “khuyến cáo” các nhà đầu tư nước ngoài từ bỏ ý định đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, truyền thông mang tư tưởng thù địch còn lớn tiếng chỉ trích, phê phán hệ thống pháp luật và hệ thống chính trị ở Việt Nam là “tạo ra nhiều lỗ hổng để tham nhũng phát triển”...

Tỉnh táo nhận diện, quyết liệt đấu tranh

Đứng trên lập trường khách quan, chúng ta thấy rõ, những luận điệu mang đầy tính hiềm khích, xuyên tạc, kích động kiểu như vậy đều là những dạng biểu hiện của “thuyết âm mưu” do các thế lực thù địch rắp tâm thực hiện. Âm mưu của họ là gây mâu thuẫn dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách ngoại giao nhân dân... của Đảng, Nhà nước ta; phá hoại môi trường đầu tư và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

Bám vào những diễn biến của phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Trương Mỹ Lan và đồng phạm để tung tin xuyên tạc, kích động, lèo lái dư luận... là thủ đoạn nằm trong chiến dịch truyền thông “bẩn” mang “thuyết âm mưu” của các thế lực thù địch, chĩa mũi nhọn chống phá đất nước. Nhìn rộng ra và xâu chuỗi các vấn đề, sự kiện trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian qua, chúng ta sẽ thấy rõ hơn mưu đồ này.

Theo đó, trước, trong và sau mỗi vụ án, vụ việc, sự kiện... liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng công lý, thì truyền thông mang tư tưởng thù địch cũng dồn dập các chiến dịch tuyên truyền theo hướng đả kích, chống phá. Họ không chỉ cố tình sổ toẹt, phủ nhận thành tựu, hiệu lực, hiệu quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn lấy đó làm môi trường để “ký sinh” tư tưởng phản động nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Đảng ta đến cùng.

“Chính trị hóa” các vụ án kinh tế, các quan hệ kinh tế bằng kiểu lập luận ngụy biện, lấy hiện tượng để quy kết bản chất, lấy cái cá biệt để quy chụp tổng thể... là chiêu bài được các thế lực thù địch sử dụng, “nhai đi nhai lại” liên tục.

Để nhận diện rõ hơn chiêu bài thâm độc, xảo biện, xảo quyệt của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động, cần có tư duy biện chứng, đánh giá vấn đề một cách tổng thể, khách quan. Chúng ta đều biết rõ, tham nhũng, tiêu cực là một thuộc tính của xã hội có giai cấp. Không có bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào không tham nhũng và không có các vụ án về kinh tế.

Nhìn gần hơn, ở một số quốc gia châu Á trong những năm vừa qua, người ta còn truy tố, xử lý cả các nguyên thủ vì tội tham nhũng. Để khám phá, điều tra thành công một vụ án kinh tế, hoàn toàn không phải là một công việc dễ dàng. Nó đòi hỏi các cơ quan thực thi pháp luật phải mất rất nhiều công sức, thời gian để truy tìm, củng cố, hoàn thiện chứng cứ, hồ sơ.

Chính vì vậy, những quan điểm cho rằng, tham ô, tham nhũng, tiêu cực là “đặc trưng” ở Việt Nam, rằng Việt Nam “càng chống, tham nhũng càng nhiều” là kiểu lập luận quy chụp, phiến diện, võ đoán, cố tình “đánh bùn sang ao” nhằm gây rối an ninh chính trị, phá hoại, kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Nhìn từ vụ án xét xử Trương Mỹ Lan và đồng phạm cũng như tinh thần kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ... trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay giúp cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước củng cố lòng tin, kiên định với mục tiêu, chiến lược, sách lược của Đảng. Với phương châm lấy phòng ngừa là chính, “chặt cành để cứu cây”, “trị một người để cứu muôn người”..., tính nghiêm minh của pháp luật và tinh thần nhân văn xã hội chủ nghĩa trong quan điểm của Đảng đã và đang phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả chấn hưng, cảnh tỉnh, răn đe trong môi trường đầu tư và đời sống xã hội.

Thông qua đó, giúp chúng ta nhận diện rõ hơn những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch để có tinh thần, thái độ, phương pháp đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả. Mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nòng cốt là đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu..., cần thống nhất nhận thức, tuyệt đối không nghe theo, hùa theo những luận điệu xuyên tạc, phản động.

Bên cạnh đó, cần lên tiếng đấu tranh trên không gian mạng, thông qua các nền tảng mạng xã hội, vạch trần, lật tẩy, chỉ rõ những luận điệu xuyên tạc mang ý đồ đen tối của các thế lực thù địch, góp phần lành mạnh hóa môi trường truyền thông, bảo vệ vững chắc đường lối, chủ trương, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Sưu tầm

Giải trí... nguy hiểm!

           Ông Huy đang ở trong phòng bỗng giật mình bởi tiếng mở cửa khá mạnh của cậu con trai học lớp 11:

- Con chán học ở trường làng rồi bố ạ! Học xong lớp 12, bố cho con đi du học nước ngoài nhé!

Ông Huy không khỏi bất ngờ trước thái độ của con:

- Sao thế hả Khang? Ngồi xuống, bình tĩnh kể cho bố nghe xem nào.

- Bố biết “tíc tóc” không? Đó là một trong những mạng xã hội khá phổ biến mọi người đang dùng. Hôm qua, con xem được đoạn video hài ở trên đó, cứ buồn cười cả đêm. Thế mà sáng nay con kể lại cho các bạn trong lớp thì cô giáo nghe được, lại quát mắng con. Con bày tỏ không đồng tình thì cô bảo nếu còn tái phạm thì cô sẽ mời bố mẹ lên làm việc. Con thấy rất là vô lý, vì con chỉ kể lại video hài hước đó với mục đích giúp cho không khí lớp học thêm vui vẻ thôi.

Ông Huy chưa hiểu rõ sự tình, hỏi tiếp:

- Chắc mấy cái video hài đó có gì không phù hợp thì cô mới nghiêm khắc như vậy chứ?

Giọng Khang vẫn nguyên sự ấm ức:

- Đó là đoạn phim ngắn người ta ghép hình ảnh của một số vị lãnh đạo vào, làm cho họ nhảy múa theo điệu nhạc, xem buồn cười lắm! Đây này bố!

Xem video hài hước trên điện thoại của con trai được chừng nửa phút, ông Huy thốt lên:

- Ôi trời, Khang ơi là Khang. Con xem và kể với mọi người cái video này thì bị cô giáo mắng là đúng rồi!

Khang hỏi lại với vẻ khó hiểu:

- Con thấy cái video đó chỉ là vui vẻ thôi mà. Họ sử dụng phần mềm ứng dụng trí tuệ nhân tạo để ghép hình các nhà lãnh đạo, chế lời vào nhạc rất sinh động để thu hút người xem giải trí, chứ đó có phải những hình ảnh, câu chuyện thật đâu mà cấm xem?

- Đó là con mới hiểu một khía cạnh nhỏ, nên tưởng đó chỉ là trò vui chơi giải trí. Nhưng lời nói và hành vi của những người trong video dựng không đúng sự thật đó lại có ảnh hưởng tiêu cực tới danh dự, uy tín của các vị lãnh đạo, khiến những người không hiểu biết sẽ nhận thức sai về các đồng chí lãnh đạo, từ đó mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước. Đây là một trong nhiều chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn nhằm thực hiện âm mưu chống phá đất nước ta đấy con ạ! Con đã vô tình tiếp tay tuyên truyền cho kẻ xấu nên cô giáo mới nhắc nhở, chấn chỉnh thế đấy! Bố nói thế, con đã nhận ra vấn đề chưa?

- Vâng, đúng là con chưa đủ tỉnh táo để nhận ra điều đó nên đã vô tình tuyên truyền, tiếp tay cho kẻ xấu. Nhưng giá như cô giáo giải thích rõ với con như bố vừa phân tích thì con sẽ hiểu ngay. Từ nay con xin hứa sẽ thận trọng, tỉnh táo hơn trong những chuyện như thế này, bố ạ!

Sưu tầm

Phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong Quân đội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung và Quân đội Nhân dân Việt Nam nói riêng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết không chỉ là đường lối chiến lược mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng. Người chỉ rõ: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết quốc dân đồng bào để bảo vệ chính quyền cách mạng, chiến thắng thù trong, giặc ngoài. Vì vậy, phải đại đoàn kết dân tộc để làm cho “quần chúng Nhân dân được tự do, độc lập hoàn toàn và cho mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập”.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp một lần nữa quay trở lại xâm lược, mở rộng ra các vùng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, quân đội Tưởng tìm cách can thiệp vào chính trị nước ta, hòng thỏa hiệp để xứ Đông Dương trở về tay Pháp. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính của Nhân dân Việt Nam, vì vậy phải: “Lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược. Mở rộng Việt Minh cho nó bao gồm mọi tầng lớp Nhân dân…”.

Yếu tố then chốt để Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định phát động toàn quốc kháng chiến là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ chủ nghĩa dân tộc truyền thống, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, thúc giục cả dân tộc đứng lên kháng chiến với lập trường tư tưởng kiên định vì độc lập dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa trên thế giới đấu tranh giành lại độc lập, tự do, đồng thời là biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam; của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta: đường lối kháng chiến phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trương “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập và nhanh chóng phát triển, thu hút được đông đảo quần chúng và được các lực lượng tiến bộ, chính phủ nhiều nước trên thế giới ủng hộ. Cách mạng phát triển mạnh, Đảng ta đã tổ chức xây dựng, thực hiện thế trận chiến tranh Nhân dân trường kỳ, toàn diện đánh dấu bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 - phá hủy chiến lược “Chiến tranh cục bộ” khiến Mỹ và chính quyền ngụy Sài Gòn phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris; hay cuộc tập kích chiến lược mang tính hủy diệt bằng B52 đối với miền Bắc và thủ đô Hà Nội năm 1972; đến cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Chiến thắng 30/4/1975 là minh chứng cho chiến thắng của đại đoàn kết toàn dân tộc vì hòa bình, độc lập và tự do của đất nước dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong giai đoạn mới, Đảng ta khẳng định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Nghị quyết 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” xác định, nền tảng vững chắc của đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và Nhân dân, là niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa người Việt Nam trong và ngoài nước; là đoàn kết giữa Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới.

Sau gần 40 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Nhận thức về tầm quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Phát huy giá trị đại đoàn kết dân tộc trong Quân đội hiện nay

Quân đội Nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với Nhân dân. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, việc tiếp tục giữ gìn, củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vừa là yêu cầu nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của Quân đội. Những năm qua, đội ngũ quân nhân phục vụ trong quân đội luôn nhận thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn quán triệt sâu sắc và gương mẫu trong thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trọng tâm là Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Trong giai đoạn 2003 - 2022, các cơ quan, đơn vị trong quân đội đã làm mới, sữa chữa, nâng cấp 145.636 km đường nông thôn; 202.305 km kênh mương nội đồng; cải tạo 3.879 km lưới điện; xây dựng 5.855 nhà văn hóa; 17.926 nhà ở chính sách cho người có công, hộ nghèo; làm 1.072 cầu các loại; 934 công trình nước sạch; xóa gần 3.000 nhà tạm, nhà dột nát.

Bên cạnh đó, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng đứng chân trên địa bàn chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu, chỉ đạo xử lý thắng lợi các tình huống về quốc phòng, an ninh; chủ động, nhạy bén đấu tranh, làm thất bại hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; xung kích, đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn... nhất là phòng, chống, đẩy lùi dịch COVID-19. Những kết quả trên cho thấy Quân đội đã góp phần củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

Trong bối cảnh mới, sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp phục vụ trong Quân đội cần quán triệt sâu sắc và nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, mối quan hệ, giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Mỗi quân nhân phải rèn luyện nếp sống chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; tiếp tục giữ vững và tăng cường sự đoàn kết trong nội bộ, đoàn kết quân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, góp phần to lớn vào củng cố, phát triển đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đồng thời, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước; chủ động nắm tình hình, phát hiện từ sớm, từ xa, ngăn chặn, xử lý kịp thời ý đồ chia rẽ Nhân dân với Đảng và Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giúp đỡ Nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, tham gia hiệu quả chương trình xóa đói giảm ngèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, xây dựng đời sống tinh thần vui tươi, lành mạnh; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát huy truyền thống 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, cán bộ, chiến sĩ toàn quân quyết tâm thực hiện các giải pháp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tăng cường thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội với Nhân dân; củng cố nguồn sức mạnh, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.\

Sưu tầm

Trị bệnh giáo điều của cán bộ, đảng viên ở cơ sở

          Cán bộ, đảng viên là hạt nhân xây dựng tổ chức cơ sở đảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân; thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Chất lượng của cán bộ, đảng viên cơ sở nói chung, năng lực quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận vào thực tiễn ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của các tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến hiệu quả quán triệt, triển khai và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.

Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận vào thực tiễn, còn có những biểu hiện của bệnh giáo điều đặt ra những yêu cầu mới cần ngăn ngừa kịp thời, có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nhận diện bệnh giáo điều

Bệnh giáo điều là khuynh hướng cường điệu hóa vai trò của lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử, cụ thể. Những người bị bệnh giáo điều thường tiếp thu lý luận một cách đơn giản, phiến diện mang tính chất cảm tính; biến lý luận thành những công thức chết cứng, chìa khóa vạn năng cho mọi hành động hoặc áp dụng rập khuôn, máy móc kinh nghiệm của người khác, địa phương khác. Cho nên, khi xác định biện pháp lãnh đạo, không xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn.

Bệnh giáo điều thường biểu hiện dưới dạng hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn, quá lạm dụng sách vở; nghiên cứu học tập lý luận nhưng không chuyển hóa được lý luận vào thực tiễn công tác. Nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ, ở những nguyên lý chung chung, trừu tượng, mượn những lời của Mác, Lênin để làm cho người ta lầm lẫn mà không thâu tóm được bản chất cách mạng và khoa học, không xuất phát từ thực tiễn để vận dụng lý luận.

Điều này dẫn đến hình thành tư duy lối mòn, thiếu sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo những người giáo điều thường làm trái với chỉ thị của Lênin; họ không phân tích rành mạch việc gì hết; họ viết hoặc họ nói đều là trống rỗng, họ gây nên một tác phong rất xấu trong Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. 

Những người giáo điều thường đọc dăm ba quyển sách, thuộc dăm ba câu chữ để khoe khoang, “lòe thiên hạ” chứ không phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác. Hoặc lý luận chỉ là tổng số những công thức máy móc, đơn điệu, phiến diện, làm cho lý luận không có sức sống, xa rời thực tiễn, không chỉ đạo được thực tiễn. Từ đó lại xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân.

Xét về tính chất, bệnh giáo điều biểu hiện trên cả hai phương diện lý luận và kinh nghiệm: Giáo điều lý luận là thuộc lòng lý luận một cách máy móc nhưng không hiểu, không nắm được bản chất khoa học, cách mạng của lý luận; nặng về diễn giải sách vở, thoát ly thực tiễn; áp dụng lý luận nhưng không nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể.

Giáo điều kinh nghiệm là việc áp dụng nguyên xi kinh nghiệm đã có sẵn một cách rập khuôn, máy móc mà không có sự sáng tạo, kế thừa, chọn lọc. Xét về phương pháp, giáo điều là xa rời, đối lập với biện chứng; bị kìm hãm, tự kìm hãm bởi tư duy, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái nhất thành bất biến, không thay đổi, cô lập chúng khỏi những sự vật khác, trong những mối quan hệ khác. 

Xét về thái độ, giáo điều thường rất dễ rơi vào định kiến, trì trệ và bảo thủ, dẫn đến chậm thay đổi, ngại thay đổi, lệ thuộc vào những thói quen đã định hình nên khó đổi mới, thậm chí chống lại đổi mới chỉ vì những hạn chế, bất cập trong tư duy, nhận thức, không theo kịp sự vận động, phát triển của thực tiễn.

Tác hại của bệnh giáo điều làm cản trở sự phát triển của tư duy lý luận khoa học, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo. V.I.Lênin cảnh báo, giáo điều là thói quen đáng sợ nhất, vì nó làm cho cán bộ, đảng viên rơi vào định kiến, trì trệ và bảo thủ, ở một mức độ nào đó, bệnh giáo điều là sức ỳ, sự trì trệ, bảo thủ sẽ cản trở phát triển, là lực cản của đổi mới. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng vì kém lý luận cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào thì làm thế ấy; không biết áp dụng lý luận vào giải quyết thực tiễn trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cho nên thường thất bại trong lãnh đạo, chỉ đạo và công tác. 

Ngoài ra, bệnh giáo điều còn biểu hiện ở khuynh hướng tả khuynh, chủ quan và cực đoan, quy kết vội vàng, áp đặt vô nguyên tắc; cản trở sự tìm tòi, sáng tạo, không kích thích phản biện khoa học từ đó dẫn đến mất dân chủ, tự do, tùy tiện, dẫn đến việc quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không sát thực tiễn, không hiệu quả, thậm chí dẫn đến sai lầm, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Ngăn ngừa bệnh giáo điều bằng cách nào?

Trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển toàn diện, vững chắc; năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn ngày càng được nâng lên. Song nhìn chung, chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tiễn chưa sát, hiệu quả chưa cao.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: Ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng chưa kịp thời, chưa sát thực tế; ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu khả thi.

Trong đó, bệnh giáo điều vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến quá trình đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; làm cho quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên không được vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn. Do đó, để ngăn ngừa bệnh giáo điều của cán bộ, đảng viên, cần thực hiện một số biện pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần xác định công tác giáo dục lý luận chính trị là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc giáo dục, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng gắn với bảo đảm tính thống nhất, tính kế thừa và tính liên thông, khắc phục sự trùng lặp ở các cấp học, bậc học và đối tượng.

Đổi mới phương pháp giảng dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm; rèn luyện về phương pháp tư duy. Gắn đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục với phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả. 

Thứ hai, nâng cao năng lực nắm bắt, đánh giá thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên (nhất là ở cơ sở) cần tăng cường bám nắm thực tiễn, tích cực nghiên cứu thực tiễn, gần dân, sát dân; chống các biểu hiện làm việc bàn giấy, xa rời thực tiễn. Quá trình nắm bắt, đánh giá thực tiễn sẽ giúp cán bộ, đảng viên tự đánh giá, điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho hoạt động đúng mục đích, đúng hướng, có cơ sở khoa học, tránh được sự mò mẫm, tự phát.

Thứ ba, nâng cao năng lực vận dụng lý luận vào nhận thức và hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Nâng cao trình độ lý luận và vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo vào thực tiễn; tích lũy kinh nghiệm, vốn sống, năng lực tổng kết thực tiễn một cách có lý luận; biết sử dụng lý luận như một phương pháp để tổng kết thực tiễn, làm cho thực tiễn được lý luận hóa, bên cạnh đó, khắc phục bệnh giáo điều nhưng phải đề phòng chủ nghĩa xét lại; không ngừng học tập, nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tri thức phải được kiểm nghiệm thông qua hoạt động thực tiễn chứ không dừng lại ở việc nói, viết theo kiểu chủ nghĩa kinh viện, tầm chương trích cú. 

Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng. Cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy phải thực sự gương mẫu trong chấp hành các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống.

Các tổ chức cơ sở đảng cần xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, tăng cường đối thoại, trao đổi, tiếp xúc giữa cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn với thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng.

Sưu tầm

HỒ CHÍ MINH - LÃNH TỤ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

    Thứ nhất, Hồ Chí Minh là người sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của tờ Thanh Niên là dấu mốc vô cùng quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của báo chí Việt Nam, từ báo chí yêu nước trở thành báo chí cách mạng, là sự khởi đầu cho dòng báo chí vô sản Việt Nam. Những bài viết trên báo Thanh Niên có nội dung xoay quanh các mâu thuẫn trong xã hội khó có thể hoá giải được. Đó là mâu thuẫn giữa kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, giữa người lao động với chủ nghĩa đế quốc, tư bản, giữa kẻ giàu và người nghèo, tất cả đều lột tả được bản chất vấn đề, tạo nên những tác động to lớn trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, điều mà trước đây chưa một tờ báo nào làm được.

    Thứ hai, không chỉ là người khơi nguồn, Hồ Chí Minh còn là người lãnh đạo, tổ chức, định hướng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động và phát triển theo tinh thần thấm nhuần tính Đảng, tính nhân dân sâu sắc. Đây không chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trong công tác lãnh đạo hoạt động cách mạng của người Chiến sĩ Cộng sản Nguyễn Ái Quốc đến lãnh đạo tối cao của Đảng, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam mà đối với hoạt động báo chí của Người là bước chuyển từ lập trường làm báo để hoạt động cách mạng sang viết báo để đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Từ xuất phát điểm: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”. Người còn chỉ rõ vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam: Hoạt động báo chí là hoạt động cách mạng, trong đó, những người làm báo là những chiến sĩ cách mạng. “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ và hoà bình thế giới”. Người cũng chỉ rõ, tính chiến đấu của báo chí không chỉ nhằm ở tiến công vào kẻ thù cách mạng mà còn biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động sản xuất. Bên cạnh đó, Người còn nói, trong biểu dương, phải rút được kinh nghiệm có ý nghĩa phổ biến, phê bình phải cụ thể, rõ ràng. Phê bình và tự phê bình là để sửa chữa khuyết điểm và tăng sức chiến đấu. Đặc biệt, Người khẳng định, hoạt động báo chí quan trọng nhất là tính Đảng, đây là cơ sở căn cốt để phân biệt giữa báo chí cách mạng và phản cách mạng. Theo đó, Người yêu cầu: “Báo chí ta không phải chỉ cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. Chính tư tưởng và đường lối đó đã giúp cho báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động thống nhất về mặt tư tưởng và tổ chức.

    Từ khi có Đảng, “báo chí của tổ chức cộng sản trước đây đều ngừng xuất bản, để theo một dòng chỉ đạo thống nhất của Đảng Cộng sản về tư tưởng chính trị của báo chí, theo đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Sau khi giành chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến kiến quốc thì cũng là lúc báo chí cách mạng nước ta chuyển hướng hoạt động từ công khai sang bí mật rồi lại công khai với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Trong nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, “là thời điểm đội ngũ phóng viên phải đi sâu vào thực tiễn khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội đến với công trường, nhà máy, hợp tác xã nông nghiệp”. Trong giai đoạn hiện nay, là tích cực tuyên truyền, phổ biến Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, tích cực, động viên người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực. Chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo… Mỗi một lĩnh vực Đảng ta điều có chủ trương chỉ đạo rõ ràng, cụ thể và phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước.

    Thứ ba, không chỉ là người đưa đường dẫn lối cho báo chí cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh còn tham gia trực tiếp vào quá trình viết báo, tự tay ươm mầm, tự tay chăm bón cho “vườn hoa báo chí” cách mạng Việt Nam trưởng thành và phát triển.

    “Trong gần 50 năm cầm bút, Bác là tác giả của hơn 2.000 bài báo, 276 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký với gần 200 bút danh được sử dụng”, trong đó, mỗi con chữ là những trăn trở về con đường cứu nước, giúp dân, mỗi bài viết là lời hiệu triệu, truyền bá lý tưởng cộng sản và con đường giải phóng dân tộc. Người đã để lại nhiều bài học quý giá về nghề báo và kỹ năng làm báo cách mạng chuyên nghiệp.

    Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã gắn bó với nghề báo, coi báo chí là vũ khí sắc bén, là phương tiện để vận động và tập hợp lực lượng cách mạng, tổ chức và thực hiện mục tiêu cách mạng một cách nhanh chóng, sâu rộng và hiệu quả nhất. Chính vì vậy, cho dù ở hoàn cảnh, giai đoạn, tình thế khó khăn nào, Người vẫn quyết tâm sáng lập, chỉ đạo để ra đời những tờ báo, bài báo cách mạng. Ngòi bút của Người bao quát rộng lớn mọi vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Người phân tích một cách cụ thể, sắc sảo, đánh giá rõ ràng và đưa ra những giải pháp rất thiết thực. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, những bài viết của Người như những lời hiệu triệu có tác dụng vô cùng to lớn, trở thành sức mạnh tinh thần kỳ diệu, cổ vũ toàn quân, toàn dân ta tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà.

    Hồ Chí Minh thực sự là nhà báo cách mạng và lãnh tụ báo chí vĩ đại!./.

Sưu tầm

HÀNH TRÌNH KHƠI NGUỒN NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

    Trên con đường hoạt động cách mạng, hành trình khơi nguồn dòng báo chí cách mạng Việt Nam là giai đoạn đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc hoàn thiện nhận thức về lý luận và thực tiễn con đường giải phóng cho dân tộc, chuẩn bị các bước về tư tưởng, tổ chức, con người để tiến tới thành lập một chính đảng vô sản tại Việt Nam.

    Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, khi đọc được Bản luận cương bàn về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã khẳng định chắc chắn về con đường giải phóng dân tộc. Với quan niệm, làm báo chính là để làm cách mạng, Người xuất bản tờ báo Người cùng khổ. Để giác ngộ lòng yêu nước và ý chí cách mạng của Việt Kiều đang sống và làm việc tại Pháp cũng như kêu gọi đồng bào nổi dậy đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập tự do, năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương xuất bản báo bằng tiếng Việt lấy tên là Việt Nam hồn để bí mật gửi về nước, chuẩn bị cho những bước tiếp theo của cách mạng. Tờ báo này ra đời và xuất bản chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 1/1926 - 8/1926) thì bị nhà cầm quyền Pháp cấm, sau đó được tái bản vào tháng 9 với tên Phục Quốc; đến tháng 10, toà soạn bị lục soát, ký giả bị bắt. Thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc không có điều kiện tham gia viết cho báo Việt Nam hồn vì Người đã rời Pháp sang Liên Xô.

    Sau đó, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập một chính Đảng Mácxít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ và bắt tay vào việc chuẩn bị xuất bản một tờ báo chính trị. Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã ra đời, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo.

    Nhìn lại bức tranh toàn cảnh về báo chí Việt Nam trước khi xuất hiện dòng báo chí cách mạng, tính đến năm 1922, cả nước có 96 tờ báo, tạp chí, tập san, tức là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, trong đó Bắc kỳ có 44 tờ (36 tờ tiếng Pháp, 8 tờ tiếng Việt); Nam kỳ có 39 tờ (29 tờ tiếng Pháp, 10 tờ tiếng Việt); Trung kỳ có 3 tờ (2 tờ tiếng Pháp, 1 tờ tiếng Việt). Năm 1925, cả nước có 121 tờ, trong đó Bắc kỳ có 69 tờ (56 tờ tiếng Pháp, 13 tờ tiếng Việt); Nam kỳ có 49 tờ (38 tờ tiếng Pháp, 11 tờ tiếng Việt); Trung kỳ có 3 tờ (2 tờ tiếng Pháp, 1 tờ tiếng Việt)”.

    Báo chí Việt Nam giai đoạn này phát triển rầm rộ, nội dung các tờ báo đặc biệt báo bằng tiếng Việt đã bắt đầu đề cập đến những vấn đề chính trị, kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, ở Nam Kỳ “những tờ báo thường chỉ đề cập đến những vấn đề đặc biệt. Những vấn đề chính trị chỉ được nói đến rất ít trong tờ báo”. Nói chung, loại báo này ít hay nhiều có khuynh hướng thân chính phủ. Ở Bắc Kỳ, vì là chế độ bảo hộ nên báo chí bị kiểm duyệt rất chặt chẽ, “hầu hết báo chí Bắc Kỳ chỉ nói đến những vấn đề đặc biệt như văn học, kinh tế, lịch sử... Tóm lại đó là những tờ báo không chủ trương chính trị rõ rệt, nhưng trên thực tế đường lối của nó hoặc ít, hoặc nhiều thân chính phủ”.

    Từ khi báo Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, “chúng ta mới thực sự bắt đầu có nền báo chí cách mạng Việt Nam”. “Cũng giống như cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, những trang báo Thanh Niên ngay từ những số đầu đã là cuốn sách gối đầu giường của những nhà yêu nước cách mạng, chứa đựng biết bao trí tuệ và nhiệt huyết của những người đi khai sơn phá mạch cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự ra đời của nước Việt Nam mới”. Trong đó, người đóng vai trò khơi nguồn chính là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, nhà cách mạng chân chính, nhà báo Nguyễn Ái Quốc -Hồ Chí Minh.

Sưu tầm