Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 3 BẢNG LƯƠNG QUÂN ĐỘI, CÔNG AN ĐƯỢC BỔ SUNG TIỀN THƯỞNG TRONG QUỸ LƯƠNG TỪ 1.7!

         Khi cải cách tiền lương từ 1.7, cơ cấu tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức sẽ có 3 khoản là lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng. Vậy 3 bảng lương của quân đội, công an có được bổ sung tiền thưởng vào tổng quỹ lương không?

Tại Nghị quyết 104/2023/QH15 nêu rõ sẽ thực hiện cải cách tổng thể chính sách tiền lương theo Nghị quyết 27-NQ/TW từ 1.7.2024.

Theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW thì khi cải cách tiền lương cơ cấu tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang trong đó có quân đội, công an sẽ gồm có 3 khoản là lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng.

Theo đó, công thức tính lương của quân đội, công an như sau:

Lương = Lương cơ bản + Phụ cấp (nếu có) + Tiền thưởng (nếu có). Trong đó: Lương cơ bản chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương. Các khoản phụ cấp chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương.

Tiền thưởng: quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp.

Như vậy, bảng lương mới khi cải cách tiền lương 2024 theo vị trí việc làm của quân đội, công an xây dựng khoản tiền thưởng là khoản bổ sung trong cơ cấu tiền lương mới trên cơ sở đảm bảo quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp.

3 bảng lương lực lượng vũ trang, trong đó quân đội, công an gồm:

Bảng lương sĩ quan quân đội, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ công an (theo chức vụ, chức danh và cấp bậc quân hàm hoặc cấp hàm).

Bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật công an.

Bảng lương Bảng lương công nhân quốc phòng, công nhân công an (trong đó giữ tương quan tiền lương của lực lượng vũ trang so với công chức hành chính như hiện nay)./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỀ XUẤT RÚT NGẮN THỜI GIAN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI ĐỂ PHÙ HỢP ĐẶC THÙ!

         Sáng 27-5, khi thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), đại biểu Châu Chắc (đoàn An Giang) đề xuất nam quân nhân đóng bảo hiểm xã hội 20 năm, nữ đóng bảo hiểm xã hội 15 năm thì được hưởng chế độ lương hưu 45%!

Góp ý kiến vào dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), đại biểu Châu Chắc bày tỏ quan tâm đến chế độ hưu trí của các đối tượng phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đại biểu cho biết: Qua triển khai, tổng kết Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam cho thấy, có nhiều ý kiến về chế độ hưu trí liên quan đến quân nhân. Đó là từ năm 2022 trở đi, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội đủ 35 năm, nữ tham gia bảo hiểm xã hội đủ 30 năm mới được hưởng lương hưu mức tối đa là 75%.

Đại biểu Châu Chắc nêu rõ: Xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động quân sự (thời gian sử dụng ngắn, tiện dụng khó, hoạt động khó, hoạt động trong môi trường khắc nghiệt…), các đối tượng phục vụ trong Quân đội cần đáp ứng các yêu cầu cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như yêu cầu khắt khe về tuổi đời, sức khỏe; đặc biệt ở nhóm đối tượng thực hiện nhiệm vụ ở một số chuyên ngành, lĩnh vực đặc thù như: Đặc công, Phòng không - Không quân, Hải quân, Hóa học, Tăng thiết giáp, Radar, tàu ngầm…

"Có những lĩnh vực chỉ sử dụng đến không quá 40 tuổi; ví dụ chiến đấu viên đặc công hay thủy thủ tàu ngầm", đại biểu Châu Chắc nêu thực tế. 

Mặt khác, đại biểu cũng dẫn chứng quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng cho thấy: Hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan cấp úy là 46 tuổi, cấp Thiếu tá là 49 tuổi, cấp Trung tá là 51 tuổi, cấp úy QNCN là 52 tuổi… Khi hết tuổi phục vụ, nếu nhóm đối tượng này không được bố trí thêm nhiệm vụ hoặc không được điều động vào vị trí có trần quân hàm cao hơn thì phải nghỉ chế độ hưu để tuyển chọn, bổ sung lực lượng mới thay thế để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Theo quy định về cách thức, mức hưởng lương hưu của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và quy định tại Điều 70 của dự thảo luật lần này, để đạt được tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75% thì nam phải có đủ 35 năm công tác đóng bảo hiểm xã hội, nữ phải đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội.

Do đó, đại biểu Châu Chắc cho rằng, nhóm đối tượng đã nêu ở trên khi nghỉ hưu sẽ có mức lương hưu thấp, không đạt mức tối đa 75% do thời gian đóng bảo hiểm xã hội không đủ 35 năm đối với nam và 30 năm đối với nữ.

"Thực tiễn áp dụng, quy định, cách thức, mức hưởng lương hưu của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thời gian vừa qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi bảo hiểm xã hội khi nghỉ hưu của các đối tượng, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đời sống của người hưởng lương và gia đình, hậu phương của họ, nhất là hậu phương trong Quân đội, làm giảm sức thu hút nguồn nhân lực công tác trong Quân đội, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng Quân đội theo nghị quyết của Đảng", đại biểu nhấn mạnh. 

Ngoài ra, đại biểu cũng cho biết thêm, những nhóm đối tượng này thường sống xa gia đình, đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện sinh hoạt khó khăn.

Từ những phân tích trên, đại biểu Châu Chắc đề nghị, để tiếp tục thể hiện sự quan tâm, ưu đãi của Đảng, Nhà nước trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội với Quân đội, phù hợp với đặc thù quân sự thì cần xem xét bổ sung một khoản vào Điều 70 của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội lần này.

Đó là: Đối với đặc thù của Quân đội, quy định nam 20 năm, nữ 15 năm tham gia đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng chế độ lương hưu ở mức 45%. Từ năm thứ 21 trở đi đối với nam và năm thứ 16 đối với nữ, mỗi năm được hưởng thêm 3% đến tối đa là 75%.

Trường hợp không quy định như trên thì dự thảo luật cần quy định nội dung này tại Điều 70 và giao Chính phủ quy định chi tiết./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG!

         Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp cuối 1940, CỜ ĐỎ SAO VÀNG xuất hiện đầu tiên, tung bay ở nhiều địa phương, và sau đó trờ thành lá cờ của Việt Minh. Người có công vẽ ra lá CỜ ĐỎ SAO VÀNG đầu tiên là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến!

Tháng 5/1941 Mặt trận Việt Minh thành lập, trong Chương trình Việt Minh ghi rõ: “ Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ ngôi sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đó là văn bản đầu tiên nói về Quốc kỳ nước ta. 

Trung tuần tháng 8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào ( thuộc tỉnh Tuyên Quang ) quyết định lấy cờ Việt Minh ( CỜ ĐỎ SAO VÀNG 5 cánh) lá cờ khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

Năm 1976, sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam khóa VI đã lấy cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với vài thay đổi nhỏ so với mẫu cờ nguyên thủy./.
Yêu nước ST.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Đấu tranh bảo vệ mặt trận tư tưởng là một nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; là đấu tranh không ngừng nghỉ giữa tư tưởng, lý luận vô sản và tư tưởng, lý luận phi vô sản. Cuộc đấu tranh này luôn diễn ra quyết liệt, phức tạp và liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, trong bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng được đặt lên hàng đầu và được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm.

Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường tấn công vào đối tượng thanh niên (TN) nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại tương lai của dân tộc, phá hoại niềm tin, sự kỳ vọng của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân dành cho thế hệ tương lai của nước nhà. Các thế lực thù địch chọn đối tượng này để tập trung tấn công vì TN là lực lượng dễ tiếp cận thông tin và sử dụng thành thạo các thiết bị công nghệ hiện đại, các mạng xã hội; TN nhạy bén nhưng chưa dày dạn kinh nghiệm, một bộ phận TN chưa đủ năng lực nhận diện các chiêu trò của các thế lực thù địch. Chúng tuyên truyền, cổ xúy lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỷ, coi trọng các giá trị vật chất,... nhằm làm cho lực lượng TN dễ bị lôi kéo, mua chuộc, dễ lãng quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đánh đổi lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “TN là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các TN”. Vì vậy, Đảng ta luôn coi trọng vai trò và huy động sức mạnh của TN, coi TN là “chủ nhân tương lai của đất nước”, “là mùa xuân của dân tộc”,... Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong và ngoài nước, lực lượng TN phải phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo tham gia bảo vệ vững chắc quốc gia, đặc biệt là trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Thời gian qua, đoàn viên, TN thường xuyên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn nhiều tin giả và các tài khoản Facebook đăng tải thông tin sai sự thật, điển hình là cuộc đấu tranh không mệt mỏi với các tổ chức phản động như Việt Tân, RFA, VOA,...; đấu tranh chống lại các thông tin chưa được kiểm chứng liên quan đến cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay của Đảng, Nhà nước ta,...; đấu tranh với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, các đối tượng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chủ động chống lại tình trạng “nhạt Đảng, phai Đoàn, xa rời chính trị”. Mỗi TN phải là một “chiến binh” “chuẩn về thông tin, vững về kiến thức” để tham gia phản bác các quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch dưới góc nhìn của TN.
Với tinh thần chủ động, sáng tạo, xung kích, nhạy bén về công nghệ thông tin của tuổi trẻ, đoàn viên, TN được xác định là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy hơn nữa vai trò xung kích, sáng tạo của tổ chức Đoàn và cán bộ, đoàn viên, TN trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong thời gian tới, cần thực hiện tốt các vấn đề sau:
Trước hết, cần nâng cao trách nhiệm, vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ Đoàn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Mỗi đoàn viên, TN phải thường xuyên bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, học tập nâng cao trình độ về công nghệ thông tin, mạng xã hội, nhiệm vụ, vai trò của lực lượng TN trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tích cực cập nhật những kỹ năng nhận diện và đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mạng xã hội và các kênh truyền thông khác; tỉnh táo, bản lĩnh trước các thông tin xấu, độc, những thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch; có trách nhiệm khi tương tác trên mạng xã hội.
Bên cạnh đó, cần phát huy tối đa hiệu quả của hệ thống fanpage Facebook, Zalo của Đoàn TN các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là phục vụ công tác tuyên truyền, định hướng, kịp thời cung cấp thông tin chính thống đến quần chúng Nhân dân. Huy động toàn lực lượng đoàn viên, TN tham gia viết bài, bình luận phản bác các thông tin xấu, độc; chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực đến cộng đồng mạng.
Nhiệm vụ của mỗi đoàn viên, TN khi tham gia công tác đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch là chủ động nắm tình hình trên không gian mạng, kịp thời phát hiện các tin, bài có nội dung xấu, độc, sai trái, thù địch; sử dụng tài khoản mạng xã hội cá nhân như một kênh tuyên truyền nhằm nâng cao cảnh giác cho người thân, bạn bè, không để họ vi phạm pháp luật trên không gian mạng, không nghe theo lời xúi giục, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử xấu, các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng và huy động người thân cùng tham gia công tác đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc. Đồng thời, mỗi đoàn viên, TN phải tập trung nắm tình hình dư luận xã hội, dư luận TN trên địa bàn để từ đó định hướng tư tưởng cho TN; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của TN trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay./.

ĐẶT TÊN CON

 Ngày chúng tôi ra đi chống Mỹ cứu nước, đa số còn rất trẻ, chưa có vợ con. Được tham gia những trận chiến đấu căng thăng quyết liệt. Một số đã bỏ lại tuổi trẻ nơi chiến trường, số lớn còn lại đến ngày thống nhất non sông, gặp nhau vui mừng khôn xiết. Kể chuyện với nhau về thời kỳ hoạt động của mỗi người nơi chiến trường, có nhân dân vùng chiến sự rất tình cảm thắm thiết hơn cả ruột thịt và bàn chuyện tương lai. Nay xin kể 2 chuyện đặt tên con của chúng tôi.

Chuyện thứ nhất: NẾU SINH CON GÁI
Tôi với Nguyễn Trung Dung quê ở Nghệ Tĩnh cùng nhập ngũ. Cùng bổ sung vào một đơn vị tham gia chiến đấu nhiều trận đầy gian khổ quyết liệt với quân thù ở mặt trận Trị Thiên năm 1966. Đơn vị tôi có tổ chức kết nghĩa hợp đồng tác chiến với một trung đội du kích xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, phía nam sông Bến Hải gần đồn Cồn Tiên. Mỗi người dân quân nam, nữ trong trung đội này đều chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, lập nhiều chiến công vang dội, làm nức lòng cả nước. Trong đó, có một cô gái tên là Đinh Thị Ngọc Diệp, tuổi 16 - 17, kém chúng tôi vài tuổi, nhưng cô đã anh dũng kiên cường, chịu đựng gian khổ. Để cùng quân dân quyết tâm giải phóng quê hương. Hàng ngày Diệp nhanh nhẹn, bình tĩnh dẫn chúng tôi luôn rừng xuyên núi vào sát tận đồn địch, bắn tỉa từng tên giặc. Trong mưa bom bão đạn, cô giúp đỡ bộ đội, hậu cần, dẫn đường, băng bó, khiêng cáng thương binh.... Diệp dũng cảm, bình tĩnh đến lạ thường mà chúng tôi phải học tập. Nhưng rồi cô cũng hy sinh khi đi công tác ở huyện đoàn Gio Linh, Quảng Trị năm 1972.
Năm 1967, tôi bị thương ở tay. Dung bị địch bắt làm tù binh, biền biệt tin nhau. Đến sau ngày thống nhất tôi đang an dưỡng ở Đoàn 200 Quân khu 4 gần nhà. Một hôm, trên đường đi về với gia đình. Tôi gặp Dung bên đường. Chúng tôi ôm nhau xúc động, làm mọi người bên đường chú ý - ngồi lại quán nước. Anh với tôi kể cho nhau nghe nhiều chuyện từ thời gian xa cách. Bỗng dưng anh hỏi tôi:
- Có nhớ Diệp ở Gio An nữa không?
Tôi trả lời anh - Với Diệp làm sao tôi quên được.
Rồi anh nói: mình đã có vợ, nếu sau này vợ mình sinh con gái, mình sẽ đặt tên con là Diệp, để kỷ niệm một thời Quảng Trị. Và tôi cũng hứa với anh tôi cũng sẽ như vậy.
Gần một năm sau, tôi gặp anh từ huyện đội Hưng Nguyên. Lúc anh mang quân hàm Thiếu úy. Anh đã khoe với tôi rằng anh đã có con gái được đặt tên Diệp rồi.
Anh cho con gái Diệp ăn học tử tế, với biết bao tình thương yêu của vợ chồng nay thì Diệp - con anh đã đúng 50 tuổi- làm Giám đốc của một Công ty Bảo hiểm nhân thọ nổi tiếng mấy chục năm nay.
Gặp anh, tôi chúc mừng sức khoẻ và tôi lại luôn nhớ về đồng đội nơi chiến trường xưa cùng cô du kích anh hùng, bất khuất ở Quảng Trị.
Chuyện thứ hai: NẾU VỢ SINH CON TRAI
Do bị thương ở cánh tay trái, tôi phải xa đơn vị phía Nam. Lúc anh điều dưỡng tưởng sẽ bị phục viên về với quê hương khi Tổ quốc chưa hết bóng quân thù. Bỗng quân lực của Trung đoàn 284 bộ đội phòng không nhận tôi về làm pháo thủ cho Đại đội 10, Tiểu đoàn 15. Vậy là tôi lại được chiến đấu cùng đồng đội nhưng khác binh chủng. Ở đơn vị mới, tôi lại có thêm nhiều đồng đội yêu quý giúp đỡ. Trong đó có anh Trần Xuân Đường quê ở Nhân Nghĩa, Lý Nhân, Hà Nam. Anh luôn vui vẻ giúp đỡ tôi nhanh chóng tiếp cận kỹ thuật, thao tác hợp đồng để giành giật từng giây với không quân Mỹ- nhằm bảo vệ các yếu địa và vùng trời được giao tại Quân khu 4. Ngoài nhiệm vụ chính là tập trung cho đơn vị chiến thắng. Anh còn rất yêu văn hóa nghệ thuật. Đã có lúc anh với tôi tham gia tích cực vào đội văn nghệ của Tiểu đoàn. Tôi hát một số ca khúc, còn anh thường đệm nhạc. Tôi nhớ, cùng thời gian này bản nhạc (vì miền Nam) của nhạc sỹ Huy Thục, được phổ biến rộng rãi. Anh rất yêu thích bản nhạc này. Lúc đó, tôi chưa hiểu về nhạc lý. Tôi hình dung nhạc sỹ viết (vì miền Nam) dạng giao hưởng cho dàn nhạc dân tộc, lấy âm thanh của Đàn bầu làm chủ đạo. Nhưng tôi thấy anh cầm Măng đô lin cũng gãy (vì miền Nam) giòn giã. Có khi anh rải hợp âm (vì miền Nam) bằng đàn guitar. Bài nhạc ( vì miền Nam) như đi trong máu, thịt của chúng tôi vậy.
Sau một thời gian dài, đơn vị bảo vệ phía tây hệ thống vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Lập được nhiều chiến công xuất sắc. Được Đảng, Nhà nước Tuyên dương tập thể đại đội anh hùng các lực lượng vũ trang ngày mùng 01/10/1971.
Bỗng đơn vị được lệnh, hợp đồng cùng các quân binh chủng quyết tâm giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972. Cuối tháng 5 năm đó, anh được cấp trên điều động đi thành lập đơn vị mới. Anh bàn giao chức đại đội phó cho tôi. Lúc chia tay anh ôm tôi thắm thiết. Cả hai chúng tôi đầy xúc động, rồi anh nói:
"Chúng ta đang trên đà giải phóng miền Nam, nếu sau cuộc chiến, hai thằng còn sống sót trở về. Chúng ta sẽ xây dựng tổ ấm, lấy vợ có con. Dù trai hay gái hãy đặt tên con là Nam, Ngọc nhé!
Tôi hỏi tại sao lại chỉ đặt tên con là Nam. Anh trả lời: “Vì chúng ta đang ở Nam và quyết tâm giải phóng miền Nam mà”! Anh rời đơn vị chưa được bao lâu thì chúng tôi phải tham gia chiến dịch bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Cuộc chiến đấu này vô cùng ác liệt. Cuối tháng 7 tôi lại bị thương nặng phải rời đại đội anh hùng. Khi biết được mình may mắn sống sót, không biết đơn vị ai còn, ai mất. Đầu năm 1976 vết thương tạm ổn, trước lúc tổ chức cưới vợ tôi đã đi tìm anh ở Nhân Nghĩa, Lý Nhân, Nam Hà. Thân nhân họ tộc và chính quyền địa phương vui vẻ tự hào nói với tôi. Ở đây có anh Trần Xuân Đường đấy, nay là trung tá đang tại chức, chỉ huy một đơn vị Hải quân để bảo vệ chủ quyền biển đảo tại vùng 1. Tôi đã xin hòm thư về tới nhà là biên thư cho anh ngay. Vậy là chúng tôi vui sướng viết thư cho nhau liên tục, chứ không có điện thoại như ngày nay. Anh báo cho tôi anh đã cưới vợ, vợ anh tên là chị Lê Thị Bé, cán bộ dược phẩm ở Quảng Yên, Yên Hưng, Quảng Ninh. Đã sinh con trai đầu, anh vui mừng đặt tên Trần Xuân Nam như lời hẹn với tôi tại Quảng Trị. Đứa con trai thứ hai anh đặt tên Trần Nam Thắng. Rồi anh hứa sẽ đưa vợ con thăm tôi vào dịp sớm nhất. Nhưng sau bức thư ấy, được chừng một tháng. Người thân ở đó đã báo cho tôi biết anh Trần Xuân Đường đã qua đời do vết thương tái phát.
Ở thế giới người hiện. Anh có biết tôi luôn nhớ anh không? Tôi cũng đã có con trai, cũng đặt tên con là Nam đấy. Rồi cũng tự nghĩ, có ai đặt tên con để nhớ một thời đi bảo vệ Tổ quốc đầy gian khổ ác liệt làm kỷ niệm cho dòng đời./.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

 Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách của người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại - thật toàn bích, toàn vẹn, có tầm vóc vĩ đại mà rất bình dị. Trong đó được thể hiện ở đức dày; tâm lành sáng, năng lực dồi dào, thông tuệ; có ý chí, nghị lực phi thường, không ngừng phấn đấu hoàn thiện bản thân, vươn tới chân, thiện, mỹ; suốt đời đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Nhân cách Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa Hồ Chí Minh, được kết tinh từ nhiều yếu tố: truyền thống gia đình, quê hương, đất nước; hoàn cảnh của thời cuộc; tư chất, năng lực cá nhân cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện của bản thân; sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của các học thuyết, tư tưởng tiến bộ; sự tiếp thu, học hỏi các nhà hoạt động chính trị tiến bộ, nhà văn hóa trên thế giới. Nhân cách Hồ Chí Minh được hình thành, bồi đắp, hoàn thiện, thể hiện đậm nét và tỏa sáng suốt cả cuộc đời đấu tranh kiên cường, bền bỉ cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân... Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ có thể đề cập được một số khía cạnh trong tổng thể nhân cách Hồ Chí Minh vĩ đại.
Thứ nhất, nhân cách Hồ Chí Minh là lòng yêu nước gắn liền với yêu dân, thương dân, lấy nguyện vọng, nhu cầu của người dân làm nguyện vọng, ham muốn của mình. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ lo cho dân, cho nước từ những việc lớn đến việc nhỏ là trách nhiệm, bổn phận của người lãnh tụ của dân tộc. Người đau nỗi đau chia cắt đất nước, vui, buồn cùng với nhân dân, sẵn sàng hy sinh cuộc sống riêng tư. Người nói: “Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi... Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” (Trả lời phóng viên báo Granma - Cu Ba - ngày 14/7/1969).
Thứ hai, một trong những nội dung cốt lõi trong nhân cách Hồ Chí Minh là tình thương bao la đối với nhân loại cần lao. Khác với các nhân sĩ, trí thức phong kiến, tình thương của Hồ Chí Minh không phải là tình thương chung chung, mơ hồ và cũng không phải là lòng thương hại; mà là tình thương thực sự dành cho tất cả những người lao động trong nước cũng như trên thế giới, từ người nô lệ, người tù đến người nông dân, công nhân cùng khổ dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đặc biệt là đối với những lớp người yếu đuối, bị nhiều tổn thương như người bị tàn tật, phụ nữ, trẻ em... và đó là sự tôn trọng đối với con người, cảm thông với số phận những “người cùng khổ”. Điều đó được minh chứng bằng chính cuộc đời hoạt động của Người vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam và nhân dân lao động trên thế giới. Chính vì thương dân còn nghèo, vì “chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, nên dù đã ở cương vị lãnh tụ của đất nước, của một Đảng cầm quyền nhưng cuộc sống của Bác vẫn rất khiêm tốn, bình dị, trong sáng với chỉ một nếp nhà sàn nhỏ bằng gỗ, một đôi dép cao su, hai bộ quần áo kaki bạc màu.
Thứ ba, nhân cách Hồ Chí Minh là sự tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền và sự đấu tranh quyết liệt với kẻ thù chà đạp lên nhân phẩm con người. Điều đó không chỉ dừng lại ở mức độ chia sẻ cảm thông sâu sắc với nỗi khổ cực của người dân, mà cao hơn là bằng hành động bôn ba khắp năm châu bốn biển, vượt qua mọi hiểm nghèo để tìm đường cứu nước, giành lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; dũng cảm lên tiếng vạch trần, tố cáo thực dân, đế quốc dùng mọi thủ đoạn khốc liệt để bóc lột, chà đạp lên nhân phẩm của người dân lao động nói chung, người dân bản xứ nói riêng, qua đó đấu tranh đòi thực hiện công lý (Bản yêu sách gửi đến Hội nghị Véc-xây - 1919, Bản án chế độ thực Pháp - 1925...); là ở cách xử thế, ở lối sống trong đời sống hằng ngày.
Thứ tư, nhân cách Hồ Chí Minh là tấm gương cao đẹp về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo Hồ Chí Minh, cần là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, kiên trì, bền bỉ, dẻo dai trong mọi công việc; đồng thời phải tăng năng suất lao động, là làm việc có kết quả tốt. Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí; việc gì đáng chi phải chi, việc gì chưa đáng chi thì hoãn lại, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Liêm là liêm khiết, trong sạch, không tham lam. Chính là thẳng thắn, không tà, việc gì tốt thì dù nhỏ cũng cố làm, việc gì xấu thì dù nhỏ cũng cố tránh. Hồ Chí Minh còn cho rằng, tự mình phải chính trước thì mới giúp được người khác chính; mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Còn chí công vô tư là hết mực công bằng, công tâm; không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị. Muốn có chí công vô tư phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân; bởi cuộc sống bị chủ nghĩa cá nhân hoành hành thì đạo đức bị xuống cấp một cách nghiêm trọng. Đây là một yêu cầu đối với nhân cách của người cách mạng, nó trái ngược với chủ nghĩa cá nhân.
Thứ năm, nhân cách Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở bình diện nhận thức, mà còn được thể hiện bằng hành động để đạt mục đích, là sự thống nhất cao độ giữa đạo đức và thực hành đạo đức. Đây là điểm nổi bật, nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người, là điểm khác biệt với nhiều nhà hiền triết phương Đông, làm nên sự vĩ đại của Hồ Chí Minh. Đối với Hồ Chí Minh, ngoài yêu cầu đạo đức của con người xã hội, Người còn đòi hỏi rất cao về đạo đức cách mạng là phải đủ cả bốn đức: Cần kiệm liêm chính, thiếu một đức thì không thành người. Đặc biệt, mặt hành động trong nhân cách Hồ Chí Minh không chỉ vì hạnh phúc con người, mà còn là sự tự hoàn thiện bản thân: Hoàn thiện về lối sống, cách ứng xử và đặc biệt là trí tuệ. Vì vậy, Hồ Chí Minh không chỉ nêu lên yêu cầu về đạo đức, mà Người còn gương mẫu thực hành để làm gương cho mọi người noi theo.
Hồ Chí Minh vĩ đại bởi mặc dù là một lãnh tụ thiên tài được UNESCO vinh danh “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất nhân loại”, được nhân dân Việt Nam và thế giới tôn vinh, ngưỡng mộ như một bậc thánh nhân, nhưng Người lại là một con người hết sức giản dị, không siêu thực mà ở ngay trong lòng dân, giữa cuộc sống của nhân dân. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về Người: Giản dị là đặc trưng nổi bật cho lối sống và phong cách của Người. Người giản dị chứ không giản đơn. Bởi thực sự vĩ đại, nên giản dị ở Người như một lẽ tự nhiên, hồn nhiên làm lay động mỗi tấm lòng. Đó là giản dị của bậc vĩ nhân, hiền triết. Thực sự vĩ đại nên Người giản dị thực sự, tất cả đều toát lên sự gần gũi thân thương của con người giữa đời thường. Phải trải nghiệm cuộc sống vô cùng phong phú, sâu sắc, thành ra cốt cách, bản lĩnh văn hóa mới đạt tới sự giản dị ấy - lão thực và hiền minh. Đã từng có một danh ngôn: Giản dị là nỗ lực cao nhất và cuối cùng của bậc thiên tài./.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP, TÁCH RỜI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MÌNH

 Thời gian gần đây lại rộ lên nhiều bài viết, video clip tán phát trên các trang báo nước ngoài bằng tiếng Việt, mạng xã hội… với luận điệu cho rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời” và đưa ra lời khuyên:

“Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng là đủ”, phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Luận điệu này nhằm xuyên tạc, chống phá, hòng đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Nhận diện, vạch trần thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
Vạch trần bản chất, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc
“Đến hẹn lại lên”, cứ mỗi khi Đảng ta làm công tác chuẩn bị văn kiện cho đại hội đảng các cấp, các hội, nhóm, cộng đồng chống cộng, phản động lưu vong, cơ hội chính trị như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các trung tâm truyền thông đối lập… lại gia tăng các bài viết xuyên tạc, chống phá, trong đó tập trung mũi nhọn đánh phá vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận vai trò nền tảng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng ta.
Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng gần đây chính là đánh tráo khái niệm, phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng”. Để chứng minh cho điều đó, cuối năm 2023, đầu năm 2024, trên trang BBC tiếng Việt và các trang mạng xã hội của Việt Tân… đã đưa ra nhiều bài viết, video clip với các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, xuyên tạc và vô lối khi cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của mình (?!).
Khi nói xấu, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh không thành, với bản chất “tiền hậu bất nhất”, “đổi trắng thay đen” của những kẻ phản động, trơ trẽn, họ lại quay ra sử dụng bộ mặt giả tạo, ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị và hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản…”(!), đây chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thậm chí họ còn cho rằng phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin” để Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thành nền tảng tư tưởng chủ yếu của Đảng. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, biện bạch rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, không phù hợp với văn hóa và thực tiễn Việt Nam. Họ còn vin vào cái cớ về “yếu tố địa lý” khi cho rằng: Nước Đức, nước Nga-quê hương của C.Mác và V.I.Lênin-ở phương Tây. Sự ra đời Chủ nghĩa Mác-Lênin ở bên ấy, cần cho bên ấy, còn Việt Nam ở phương Đông, cách nhau nửa vòng trái đất nên không phù hợp.
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam
Những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Đây thực chất là những quan điểm sai trái, xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Các quan điểm đó tưởng như là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự dọn đường cho ý thức hệ tư sản xâm nhập vào Việt Nam; gián tiếp phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin; cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản; đồng thời là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, Chủ nghĩa Mác-Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Xét về góc độ lịch sử, chính Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp nhất quyết định sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, có sự thống nhất về mặt cơ sở phương pháp luận với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này chính thức bác bỏ những quan điểm xuyên tạc cho rằng giữa hai học thuyết, tư tưởng này có sự đối lập và tách rời nhau. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của nhân loại… Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn nguyên giá trị ở Việt Nam khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, trở thành nền tảng lý luận xuyên suốt của Đảng ta, thấm sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc, cội nguồn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay”. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 15-7-1969, trong bài trả lời phỏng vấn cuối cùng trước phóng viên Sáclơ Phuốcniô của Báo L’Humanité (Pháp), Bác đã nói: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn.
Bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện mối quan hệ “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Những luận điệu xuyên tạc trên đều là sai lầm, mục đích chính cũng là phủ nhận, tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, trong suốt quá trình đổi mới, các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và trong quá trình đổi mới nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng rút ra bài học số một sau 15 năm đổi mới là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó văn kiện khẳng định vị trí quan trọng của Cương lĩnh năm 1991: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh, một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Điều này chứng tỏ luận điệu của các thế lực phản động cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập và tách rời với Chủ nghĩa Mác-Lênin”… chỉ là một sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.

NGƯỜI PHÁ BOM TỪ TRƯỜNG

 Ở Ban Tuyên huấn, ngoài việc vẽ bản đồ, trang trí hội trường, quản lý, cấp phát vật phẩm văn hóa, tôi còn kiêm thêm việc biên tập bản tin theo tuần của Binh trạm. Vì vậy hằng ngày, thông tin chiến sự từ các đơn vị đầu mối báo về, tôi đều nắm được. Hôm nào nhiều tin thắng lợi, ngồi ghi chép tin mà như muốn hát thành lời ca. Ngược lại, khi nhận tin đồng đội hy sinh, nhất là đồng đội trong chính đơn vị cũ của mình thì đau xót vô cùng, cảm thấy như chính người thân của mình ra đi. Sáng 22-7-1970 là một ngày như vậy.

Tin báo về đêm hôm qua, trên đường di chuyển đến chỗ ở mới, xe chở vật dụng nhà bếp C4 có Trung đội trưởng Hoàng Văn Hưng cùng y tá Vũ Tiệm và 10 cán bộ, chiến sĩ đang sốt hoặc vừa cắt sốt, không đủ sức đi bộ, được ưu tiên đi ô tô, khi qua đèo Long đã bị máy bay Mỹ phát hiện đuổi đánh. Một quả bom phát quang rơi trúng thùng xe. 13 người, kể cả lái xe đều hy sinh. Đây là cái tang lớn nhất, tổn thất đau đớn nhất của Đại đội từ khi tôi về Binh trạm này.
Anh Hưng, một trung đội trưởng dũng cảm, tài trí, nổi tiếng với hàng chục lần lặn sông Bạc trục vớt phà chìm giữa bom đạn Mỹ những năm 1966, 1967, từ dạo tôi chưa vào C4. Khi tôi làm tổ trưởng tổ 3 người ở trạm barie bắc Bạc, một lần nhánh đường B bị tắc vì vướng 3 quả bom từ trường nằm rải rác trên đoạn đường chừng 200m, Đại đội trưởng tin tưởng điều động anh Hưng chỉ huy nhóm 5 người đến giải quyết mấy quả bom đó, gồm tổ barie 3 người của tôi và hai chiến sĩ nhanh nhẹn của trung đội anh.
Muốn phá loại bom này phải cho vật gì bằng sắt hoặc có pha sắt như thép, gang chuyển động qua chỗ bom nằm. Theo chỉ đạo của anh, chúng tôi khẩn trương chế tạo 3 “trái mồi”. Trước hết dùng dụng cụ cắt phá vỏ phuy xăng, cuốn tròn lại thành ống hình trụ, đường kính khoảng một gang, dài chừng hai gang, hai đầu ống tóp nhọn lại thành một quả trám khổng lồ bằng sắt rỗng, đó là những “trái mồi”, dùng để kích nổ bom từ trường. Hai đầu nhọn của "trái mồi" được đục lỗ để có thể sẵn sàng buộc dây. Tiếp theo, anh phân công nhóm của anh đi tìm cắt dây rừng, nhóm tôi chia nhau đi chặt 30 cọc tre lẫn gỗ, vót nhọn một đầu. Ngoài ra, khi đến đây, nhóm anh Hưng đã mang theo hai chiếc vồ gỗ to. Vật liệu, dụng cụ được tập kết về điểm cách quả bom chừng 100m.
Anh Hưng bảo chúng tôi ngồi chờ ở đó, rồi anh ôm một "trái mồi", khoác mấy cuộn dây, tiến về phía quả bom từ trường đang xòe cánh nằm nghiêng lộ thiên bên ta-luy dương. Đến cách quả bom khoảng 40m, anh thận trọng nằm xuống, vừa nhoài người vừa từ từ đẩy "trái mồi" đến gần quả bom từ trường thêm chừng 20m nữa. Tiếp theo, anh đứng dậy, thản nhiên rải một cuộn dây từ chỗ "trái mồi" ngược về phía sau chừng 20m, rồi rải tiếp cuộn dây thứ hai cũng từ chỗ "trái mồi" tiến lên phía trước, qua sát quả bom từ trường, đi tiếp chừng 15m tới một hầm hàm ếch ở cùng phía ta-luy dương. Xong việc, anh quay lại chỗ "trái mồi", nằm xuống, thận trọng lần lượt xỏ hai đầu dây phía trước và phía sau vào hai đầu "trái mồi", nút chặt lại.
Sở dĩ phải buộc dây cả hai đầu "trái mồi" là đề phòng khi kéo dây phía trước cho nó băng qua sát quả bom từ trường mà bom không nổ thì lại phải lui về tìm cách dùng dây phía sau kéo nó chuyển động ngược lại. Làm các thao tác đặt "trái mồi", rải và buộc dây xong, anh về điểm tập kết, lấy một cái vồ gỗ, điều một chiến sĩ của tổ anh vác theo 10 chiếc cọc. Đến khu vực gần quả bom, chiến sĩ hai tay giữ cọc, anh bình thản quai vồ đóng xuống đất lần lượt 10 cọc từ vị trí "trái mồi" tới chỗ quả bom, nhằm định hướng cho "trái mồi" đi sát quả bom, bảo đảm từ trường đủ mạnh để kích cho bom nổ. Khi đã chắc chắn nhìn rõ chiến sĩ giữ cọc quay lại điểm tập kết, anh mới về hầm hàm ếch, cuốn nhanh dây phía trước để kéo "trái mồi" tiến lên. Cũng may buổi sáng hôm đó, "thằng" OV-10 chỉ lảng qua đường B một lần rồi mải miết trinh sát, bắn cối chỉ điểm phía đèo Long, chắc nó yên trí vì đang có mấy quả bom từ trường án ngữ gây tắc đường này rồi. Chúng tôi hồi hộp căng mắt, nín thở chờ đợi.
Chỉ chừng hai phút, một ánh chớp lóe lên cùng với tiếng nổ đanh xé toạc không gian. Nghe tiếng đất đá, mảnh bom bay ào ào, rồi anh Hưng tươi cười giơ cao nắm tay phải xuất hiện sau làn khói bom mù mịt, chúng tôi cùng nhảy lên reo hò:
- Hoan hô! Xong một “thằng” rồi!
Cũng bằng những thao tác tương tự, có thay đổi cách đóng cọc định hướng "trái mồi" do hai quả bom tiếp theo, một nằm gần giữa tim đường, một chui xuống lề đường phía ta-luy âm, và người vác, giữ cọc thay đổi qua chiến sĩ thứ hai rồi đến tôi. Tính ra mất hai tiếng rưỡi, bằng phương tiện thủ công, vật dụng tự tạo tại chỗ, anh Hưng bình tĩnh, tự tin kích nổ phá gọn 3 quả bom, giải phóng tắc đường. Chúng tôi làm nốt việc nhổ cọc còn sót trên mặt đường, san lấp hố bom.
Khi phá quả bom cuối cùng, tôi giữ cọc cho anh nện vồ để cọc cắm sâu xuống đất, anh tâm sự:
- Chính ra tớ không muốn điều cậu đến gần mấy quả bom, đề phòng bất trắc, nhỡ bom nổ, tớ bị thì có cậu chỉ huy thay làm tiếp công việc. Phải đến quả này (quả thứ ba), nó chui xuống phía ta-luy âm, tảng đá để núp kéo dây ở chân ta-luy dương đối diện. Tớ đặt "trái mồi" dưới kia (anh chỉ về hướng chân dốc ta-luy âm), việc đóng cọc hơi khó khăn một chút (vì dốc), nhưng nếu bom từ trường tự nhiên bất ngờ phát nổ (là đề phòng trục trặc kỹ thuật, chứ thực ra tôi chưa chứng kiến hoặc nghe thấy trường hợp nào như vậy) thì chỉ có thể lúc đóng mấy cái cọc gần bom bị ảnh hưởng thôi (vì bom nổ trên dốc, đa số mảnh bay ngang và bay lên, người dưới dốc thường an toàn).
Hóa ra, anh Hưng trong lúc phá bom vẫn tính toán giữ tôi làm chân dự bị thay thế khi mình bị thương vong. Chính từ kinh nghiệm của anh, chỉ sau đó 9 ngày, tôi đã chỉ huy tổ barie phá 2 quả bom từ trường án ngữ trên đường Ngang cạnh bờ sông Bạc nối giữa ngầm A và ngầm B. Anh Hưng cũng trở nên nổi tiếng vì tháo thành công kíp quả bom nổ chậm cỡ 600kg chui sâu vào chân ta-luy dương khúc cua tay áo chênh vênh giữa đỉnh đèo, là trọng điểm ác liệt trên Đường 12 cua.
Có lần nói chuyện với tôi, hai anh em bình luận về việc bom đạn Mỹ luôn được cải tiến, cứ vài ba tháng chúng lại phát minh ra một loại vũ khí mới để đánh phá đường, gây thương vong cho bộ đội Trường Sơn, mà vũ khí sau bao giờ cũng ác hiểm, dã man hơn gấp nhiều lần vũ khí trước. Thế nhưng cuối cùng anh vẫn kết luận: "Bộ đội ta vốn chịu khó, thông minh, dũng cảm nên chúng nó có phá hoại, làm đường tắc thì rồi đường lại thông, xe vẫn cứ đi, quân ta vẫn cứ vào là vì thế"...
Qua thực tế mấy năm làm công binh Trường Sơn, tôi thấy nhận xét của anh quả là tinh tường, sắc sảo. Tôi được biết thời ấy, Tiểu đoàn và Binh trạm đang xây dựng anh trở thành anh hùng. Vậy mà, không may vì sốt rét chưa khỏi, khi di chuyển chỗ ở trên chuyến xe ấy đã khiến anh vĩnh viễn ra đi.
Trong 13 người trên xe bị trúng bom cùng anh Hưng còn có em Chắc, quê ở Hà Tĩnh, trẻ nhất-mới 18 tuổi, từ Đoàn 500 bổ sung vào sau, rồi về cùng tổ barie, làm quân của tôi. Tôi và em cũng có rất nhiều kỷ niệm vui buồn cùng nhau vượt qua khó khăn, gian khổ trên con đường Trường Sơn huyền thoại. Giờ thì đã xa nhau mãi mãi...
Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh-Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19-5-1959 / 19-5-2024), bài viết này như một nén tâm nhang tưởng nhớ anh Hưng, Trung đội trưởng; y tá Vũ Tiệm; em Chắc với đồng chí lái xe cùng các đồng đội C4 dũng cảm, thân thương của tôi.

NHỮNG HOẠT ĐỘNG LỆCH CHUẨN CỦA MỘT SỐ NGHỆ SĨ VIỆT

     Trước đây, những ca sĩ hải ngoại thì hát nhạc ngụy, mặc áo ngụy để phục vụ cho con dân cờ ba sọc là điều dễ hiểu. Nhưng thời gian gần đây một số ca sĩ Việt, ăn cơm Việt, sống trong sự thống nhất, hoà bình lại hát lại những bài hát uỷ mị của chế độ ngụy quyền trước đây, khoác trên mình màu áo lính ngụy với những huân huy chương của chế độ cộng hoà. Vấn đề này cần được nhìn nhận và định hướng, xử lý như thế nào cho phù hợp?

    Cụ thể như: ca sĩ Lê Minh Trung, Á quân Solo cùng Bolero (2014), Quán quân Ngôi sao phương Nam (2015) ra hẳn tuyển tập những bài nhạc lính hải ngoại được yêu thích với những bài hát, những lần thay đổi trang phục mang đầy màu sắc ngụy quân. Ca sĩ Lâm Hùng, cũng được biết đến với dòng nhạc trẻ năm 2000, giờ cũng rền rĩ với tấm áo ngụy trong ca khúc “trên bốn vùng chiến thuật” với những ca từ đầy phẫn uất khi nói về quân giải phóng như “Gio linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá”. Gần đây, trong liveshow "Ngày em thắp sao trời" diễn ra tối 4/5/2024, một trong những bộ đồ diễn của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng gây tranh cãi trên các trang mạng xã hội. Theo đó, một số ý kiến cho rằng, Đàm Vĩnh Hưng đã cài chiếc huy hiệu "Biệt công bội tinh" - một loại huy chương của chế độ cũ trước năm 1975. "Biệt công bội tinh" là một huân chương của chế độ ngụy quyền Việt Nam cộng hòa được phát hành từ những năm 1950 đến 1974. Huân chương này được trao tặng cho quân nhân nào có công với chính quyền ngụy…

    Điều đáng nói những ca khúc, những trang phục biểu diễn này đều được dựng ở Việt Nam, được lan toả trên các nền tảng mạng xã hội. Nguy hiểm hơn rất nhiều khi họ biểu diễn, ăn mặc những trang phục như vậy nhưng không biết nguồn gốc, tác hại của việc họ đang làm. Với những nghệ sỹ có tầm ảnh hưởng lớn đến đông đảo công chúng thì những việc làm đó lại càng nguy hiểm hơn rất nhiều đến đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới trẻ.

    Hiện nay các cơ quan chức năng đang vào cuộc, xem xét, xử lý các trường hợp nêu trên. Bởi những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị chân - thiện - mỹ. Vì vậy, cần phải có những cách thức phù hợp để đấu tranh với những biểu hiện sai trái, lệch lạc đó nhằm bảo vệ giá trị đích thực của văn hoá, văn nghệ đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

Làm tốt công tác định hướng dư luận

 Phát huy tinh thần chủ động của mọi tầng lớp nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch, kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, trước tình hình chống phá ác liệt của các thế lực thù địch đối với công tác nhân sự của Đảng nhất là trên không gian mạng, yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống chính trị đó là phải giữ vững thế trận lòng dân, làm chủ trận địa thông tin, làm tốt công tác định hướng dư luận. Kịp thời thông tin, tuyên truyền về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, cũng như thông tin về các vấn đề, vụ việc nhạy cảm để nhân dân nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng. Cần chú trọng việc đổi mới nội dung, phương thức thông tin tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiếp tục làm tốt công tác dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kịp thời định hướng dư luận xã hội. Song song đó cần phân tích, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động để người dân nhận diện, chủ động phòng tránh cũng như có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân tán phát thông tin sai trái, xấu độc; kịp thời phát hiện và nghiêm trị các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, phản động. Đồng thời các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo, nâng cao sức đề kháng, không để bản thân bị lôi kéo hoặc tiếp tay cho đối tượng xấu, không lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, tin bịa đặt sai sự thật xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước. Khi bị đề cao cảnh giác, tẩy chay, không ai đọc, không ai quan tâm phát tán, lan truyền thì các thông tin xấu độc sẽ không còn cơ hội để phát tán, gieo rắc mầm độc hại trong cộng đồng. Dân tin Đảng, quyết tâm bảo vệ Đảng thì không kẻ thù nào có thể làm suy yếu được sức mạnh của Đảng, của đất nước, không thể cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ SUY THOÁI TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CÁN BỘ ĐẾN “TỰ CHUYỂN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” HIỆN NAY

     Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên đã và đang trở thành một căn bệnh “man y”, nội dung cấp bách, trở thành mệnh lệnh cuộc sống nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nhận diện, chỉ rõ và đề ra các giải pháp khắc phục hữu hiệu, coi đây là vấn đề vừa mang tính cấp bách, lâu dài vừa mang tính sống còn đối với Đảng, chế độ ta. Một trong những giải pháp hiểu hiệu nhất, đó là bằng ý chí, quyết tâm chính trị và tinh thần trách nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

    Suy thoái là sự yếu kém, hư hỏng, làm mất dần đi cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm quá trình phát triển dẫn đến sự thoái hóa và biến chất của sự vật, hiện tượng, quá trình hay chính bản thân con người và tổ chức xã hội của con người. Sự suy thoái này theo thời gian, dần trở thành một căn bệnh trong xã hội - “Bệnh suy thoái”. “Bệnh suy thoái” là sự giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động về chính trị, sa sút phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống khác với những băn khoăn, lo lắng, bức xúc, có lúc thiếu lòng tin; khác với vi phạm một số khuyết điểm, chấp hành không nghiêm một số quy định của Hiến pháp, pháp luật. Sự suy thoái này tất yếu sẽ làm hư hỏng, làm biến chất cán bộ, đảng viên và làm hỏng mọi việc của cá nhân và tổ chức.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Trong thế giới cái gì cũng biến hóa, tư tưởng con người cũng biến hoá. Có cái thì biến hóa tiến bộ lên, tức là phát triển; có cái thì biến hóa lạc hậu đi, tức là suy thoái” . Đó “khuynh hướng chật hẹp và bao biện”, “lạm dụng hình phạt”, “hủ hóa”, “kéo bè kéo cánh”, “kiêu ngạo”... Những khuyết điểm đó tiếp tục được Người chỉ rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Với bút danh X.Y.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những khuyết điểm phát triển thành “căn bệnh rất nguy hiểm” mà cán bộ, đảng viên mắc phải,

    Từ nhận diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn sâu sát quy trình diễn tiến của “bệnh” suy thoái. Tại Đại hội II (2-1951), Đảng ta đã chỉ ra một số biểu hiện suy thoái như: “bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi, bệnh công thần”. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, Đảng ta đã đề cập tới vấn đề suy thoái tư tưởng chính trị: “Trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng” . Các kỳ Đại hội IX, X, XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định tình trạng suy thoái là nghiêm trọng. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức - lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ . Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” còn diễn biến phức tạp” .

    Hiện nay, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống biểu hiện tính chất, mức độ khác nhau, diễn ra ở các đối tượng khác nhau, từ đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý - đảng viên thường, đến đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp, kể cả cán bộ cao cấp. Vấn đề đặt ra cấp bách là cần nhận diện đúng sự suy thoái đang diễn ra ở những đối tượng nào? Có thể chia thành hai nhóm đối tượng: sự suy thoái của bộ phận cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, kể cả cán bộ cao cấp và sự suy thoái của bộ phận đảng viên không giữ chức vụ trong Đảng và chính quyền.

    Sự suy thoái của nhóm cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền, trong đó có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý cấp cao, kể cả cấp Trung ương. Nhóm này có nguy cơ suy thoái cao và có nguy hại lớn, vì sự liên quan lớn hơn đến quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền lực xã hội của họ. Suy thoái về tư tưởng chính trị biểu hiện ở bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền này là tự cho mình đứng ngoài sự quản lý, giám sát của tổ chức, coi thường kỷ luật, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, cũng như quy định của cơ quan, đơn vị; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, có tư tưởng bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; coi thường nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Trong quan hệ trực tiếp với nhân dân có biểu hiện quan cách, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân; có các hành vi vô đạo đức trong quan hệ gia đình và quan hệ giữa cá nhân với xã hội; đạo đức nghề nghiệp sa sút, đặc biệt trong những lĩnh vực được xã hội tôn vinh; mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc, của cha ông; một số có biểu hiện vọng ngoại hoặc sa vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ đó, dẫn tới độc đoán, chuyên quyền, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, coi thường tập thể, trở thành “quan cách mạng”.

    Sự suy thoái của bộ phận đảng viên không giữ chức vụ trong Đảng và chính quyền. Đảng viên không giữ cương vị chức trách trong Đảng và chính quyền là những đảng viên chưa hoặc không được giao các chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, chỉ chịu trách nhiệm cá nhân khi thực hiện các nhiệm vụ đảng viên. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị của nhóm đối tượng này là phai nhạt lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, thậm chí muốn từ bỏ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phai nhạt lý tưởng, hoài nghi về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhận thức chưa sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; mơ hồ, mất cảnh giác, làm lộ, lọt thông tin, tài liệu bí mật quân sự, bí mật quốc gia; ngại học tập lý luận chính trị và tham gia các phong trào cách mạng; không thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, lối sống trong sáng, chính trực, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, vụ lợi, cơ hội, buông thả, thực dụng, hưởng thụ, tính toán thiệt hơn; sa sút ý chí chiến đấu, trung bình chủ nghĩa, ý chí đấu tranh tự phê bình và phê bình, dĩ hòa vi quý, nói dựa, lấy lòng nhau, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; nói không đi đôi với làm, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”; không làm tròn nhiệm vụ người đảng viên. Nhiều người không thấm nhuần tư tưởng và tiêu biểu về phẩm chất: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

    Đối với quân đội, biểu hiện những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, chính sách, quản lý tài chính, vật tư, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị; bệnh hình thức, thành tích; ý thức tổ chức kỷ luật kém, vi phạm nguyên tắc, chế độ quy định, kỷ luật, pháp luật, những điều đảng viên không được làm; quan liêu, tham nhũng, lãng phí; vi phạm đạo đức, lối sống, mất đoàn kết nội bộ và đoàn kết quân - dân; tinh thần cảnh giác, chất lượng huấn luyện, giáo dục và khả năng sẵn sàng chiến đấu chưa cao; lúng túng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn tiêu cực, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; ngại học tập, nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trung bình chủ nghĩa, né tránh phê bình, thiếu trách nhiệm với công việc, hiệu quả công tác thấp, thậm chí có cán bộ, chiến sĩ không hoàn thành nhiệm vụ.

    Hiện nay, toàn Đảng, với tinh thần quyết tâm, nhận rõ trách nhiệm lịch sử và ý nghĩa thiêng liêng, trọng đại của vấn đề xây dựng Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt và khắc phục bệnh suy thoái, cần phải nhận diện đúng, trúng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là những nội dung cấp bách, trở thành mệnh lệnh của cuộc sống. Với ý chí quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao, thời gian qua, Đảng ta không chỉ ban hành nhiều nghị quyết, các cuộc vận động mà còn bằng việc làm cụ thể thiết thực đã từng bước đẩy lùi, ngăn chặn con “vi rút” suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo cấp cao nói riêng. Điều đó đã củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ, “ý Đảng hợp với lòng dân” sẽ tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn - nền tảng vững chắc thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội XIII đề ra.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG ÂM MƯU BÔI NHỌ TÂN CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM

     Những ngày qua, nóng nhất không phải thời tiết mùa hè mà là những thông tin xoay quanh chính trường Việt Nam. Như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin, đồng chí Tô Lâm chính thức giữ chức chủ tịch nước và thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an. Các thế lực phản động nhanh chóng nắm bắt cơ hội tung tin bịa đặt, xuyên tạc nhằm hạ bệ, bôi nhọ danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Tích cực nhất trong đó có tổ chức khủng bố Việt Tân.

    Việc đồng chí Tô Lâm được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ chức chủ tịch nước đã được các nhà nghiên cứu dự đoán từ trước. Cùng với đó, Quốc hội cũng nhất trí miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Công an để đồng chí Tô Lâm tập chung vào công việc của chủ tịch nước trong bối cảnh chính trường nước ta còn rất nhiều công việc phải làm. Có thể nói trong nhiệm kỳ Bộ trưởng Bộ Công an của mình, đồng chí Tô Lâm đã hoàn thành rất tốt chức trách nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao phó. Do đó, Quốc hội tín nhiệm bầu đồng chí Tô Lâm làm chủ tịch nước là hoàn toàn hợp lý.

     Tuy vậy, xung quanh việc đồng chí Tô Lâm giữ chức chủ tịch nước, các thế lực phản động thường xuyên tung tin xuyên tạc, bịa đặt nhằm hạ bệ uy tín và bôi nhọ danh dự. Những luận điệu mà chúng thường tuyên truyền là:

     Thứ nhất, chúng tuyên truyền rằng trong vòng 5 năm đã thay 3 chủ tịch nước khác nhau, tiếp theo sẽ là ông Tô Lâm hay ông Tô Lâm được bầu làm chủ tịch nước thực chất là cuộc đấu đá nội bộ. Đây là một luận điểm hết sức phản động và vô cùng nguy hiểm đối với những người nhẹ dạ cả tin. Việc từ chức của những đời chủ tịch nước tiền nhiệm đã cho thấy đã có bước đột phá mạnh mẽ trong “văn hóa từ chức” của cán bộ, đảng viên; theo đó, những người cảm thấy bản thân không thể hoàn thành tốt công việc hoặc chưa làm hết trách nhiệm thì chủ động xin từ chức để nhường chỗ cho những người thực sự có năng lực và trách nhiệm. Đây hoàn toàn không phải là đấu đá nội bộ hay lợi ích phe nhóm mà là vì lợi ích chung của quốc gia dân tộc.

     Thứ hai, có sự mâu thuẫn giữ tân chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Luận điệu này hoàn toàn là bịa đặt một cách trắng trợn. Bởi vì, trong công cuộc “đốt lò” mà bác Trọng phát động, Bộ Công an dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Tô Lâm chính là thanh bảo kiếm sắc bén đã đưa nhiều quan tham ra trước công lý. Đó chính là ví dụ rõ nhất về sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chứ không hề có mâu thuẫn, đấu đá quyền lực như bọn phản động vẫn hay tuyên truyền.

     Tóm lại, chống phá Việt Nam chính là lý do duy nhất để những tổ chức phản động này tồn tại. Mục đích cuối cùng của bọn chúng không hề muốn canh tân hay phát triển đất nước, mà hoàn toàn là trục lợi cá nhân, kiếm tiền tài trợ từ nước ngoài hoặc mị dân để kiếm tiền từ xương máu đồng bào. Thủ đoạn của bọn chúng vô cùng xảo quyệt và nham hiểm; do đó cần hết sức cảnh giác tránh để bị bọn phản động dắt mũi.

PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

      Liên quan đến vụ cháy nhà tại phố Trung Kính (Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội), ngày 26/5/2024 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã gửi thư khen hành động dũng cảm cứu nạn nhân mắc kẹt trong đám cháy. Trong thư, Thủ tướng có viết: Tôi rất xúc động khi được biết, các anh: Phạm Quốc Luật, Nguyễn Kim Long, Hoàng Anh Tuấn, Đồng Văn Tuấn đã dũng cảm, không quản ngại khó khăn, nguy hiểm, dùng thang leo lên tầng cao và sử dụng búa tạ để đập tường kịp thời giải cứu các nạn nhân trong vụ cháy". Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương, khen ngợi hành động mưu trí, dũng cảm của các anh. Đây là tấm gương sáng điển hình về tinh thần quả cảm, nghĩa hiệp, yêu thương của con người Việt Nam; thể hiện nghĩa cử cao đẹp, truyền thống nhân ái của dân tộc ta, như câu ca dao "Dẫu xây chín bậc phù đồ, chẳng bằng làm phúc cứu cho một người".

    Trước đó, ngày 25.5, UBND quận Cầu Giấy đã khen thưởng đột xuất 4 cá nhân không quản nguy hiểm, cứu các nạn nhân bị mắc kẹt trong đám cháy. Đây là việc làm cần thiết và kịp thời, góp phần lan tỏa nhiều hơn nữa những gương người tốt việc tốt.

    Vào khoảng 0h15 ngày 24/5, căn nhà nằm ở địa chỉ số 1, ngách 43/98/31, phố Trung Kính bất ngờ xảy ra hỏa hoạn. Theo những nhân chứng có mặt tại hiện trường, ngọn lửa xuất phát từ sân tầng một, nơi kinh doanh và sửa chữa xe đạp điện. Ngọn lửa sau đó nhanh chóng lan rộng và tỏa khói đen bao phủ gần như toàn bộ ngôi nhà. Vụ cháy khiến 14 người thiệt mạng. Bên cạnh những thiệt hại nặng nề, dư luận cũng không ngừng quan tâm đến những khoảnh khắc ấm lòng, trong đó phải kể đến giây phút những thanh niên đã xả thân đập tường để cứu người mắc kẹt trong đám cháy. Các anh đã không sợ nguy hiểm, bỏ lại sự an toàn của bản thân để tìm mọi cách cứu các nạn nhân khỏi đám cháy. Hình ảnh các anh đứng trên thang cầm búa tạ đập tường để cứu người là những hình đẹp nhất trong những ngày qua và nó có sức lan tỏa lớn lao, tạo ra hiệu ứng tốt đẹp trong xã hội.

    Đáng chú ý, trong những “anh hùng” đó có anh Hoàng Anh Tuấn là người đã cùng trèo lên bức tường cùng anh Đồng Văn Tuấn, sau đó 2 người cùng kéo thang lên gờ của bức tường để tiếp tục trèo thang tiếp lên cửa sổ tầng 2, nơi có người đang ở trong phòng và sau đó đã cứu được 3 nạn nhân khỏi đám cháy.

    Trả lời phóng viên báo Dân Trí ngày 24/5, anh Hoàng Anh Tuấn cho biết mình là bộ đội xuất ngũ nên được rèn luyện và học cách phòng cháy chữa cháy quá quen rồi. Anh cũng chia sẻ thêm, thấy hoàn cảnh gặp nạn, ai cũng sẽ hành động như anh, sẵn sàng giúp đỡ chứ không suy nghĩ xa xôi gì, lúc đó mình không sợ và cũng không nghĩ gì cả, cứ làm thôi.

    Hành động quên mình cứu người của anh Hoàng Anh Tuấn thể hiện sự dũng cảm, quyết tâm và mạnh mẽ, mưu trí của một người đã được rèn luyện qua môi trường quân đội, hành động đó đã làm toát lên và tô thắm thêm phẩm chất của người “Bộ đội cụ Hồ”, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không quản nguy hiểm để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

    Hành động của anh Hoàng Anh Tuấn, Đồng Văn Tuấn, Phạm Quốc Luật, Nguyễn Kim Long là tấm gương tiêu biểu để các thanh niên hiện nay noi theo và học tập, hãy bỏ qua những hành vi “sống ảo”, những việc làm “câu like”, “câu view” bằng những clip vô giá trị trên mạng xã hội, thay vào đó là hãy làm những việc tốt đẹp, mang ý nghĩa nhân văn để lan tỏa những giá trị tốt đẹp ra toàn xã hội./.