Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ MỚI, CON NGƯỜI MỚI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

     Mỗi thời kỳ khác nhau đặt ra những yêu cầu mới trong xây dựng nền văn hóa, con người. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam; tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh...

    1- Văn hóa hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của con người và xã hội loài người, là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần con người tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu trong quá trình sinh sống. Trong quá trình đó, văn hóa cũng tác động trở lại, góp phần định hình bản sắc của mỗi dân tộc, nhân cách của mỗi con người. Trong từng thời kỳ lịch sử, mỗi khu vực, vùng, miền có những nền văn hóa khác nhau, với những đặc điểm khác nhau và sự phát triển của mỗi nền văn hóa đều kế thừa những giá trị truyền thống và sự tiếp biến văn hóa của dân tộc khác.

    Sự tiếp biến giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác được diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau. Hội nhập quốc tế là một hình thức thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tiếp biến văn hóa. Đây là“quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/ vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/ vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm”.

    Nhận thức được tính tất yếu khách quan cũng như tầm quan trọng của hội nhập quốc tế, kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, Đảng ta luôn đề cao vai trò của hội nhập. Đại hội IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. 

    Từ quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, qua các kỳ đại hội, vấn đề hội nhập sâu rộng ngày càng được Đảng ta đề cao, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà cả trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế,… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”(3). Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia… Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực xã hội, môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch và các lĩnh vực khác”.

    Như vậy, quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện và đầy đủ, từ chỗ chỉ là “hội nhập kinh tế quốc tế” đến “đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”. Quan điểm đó cho thấy tầm quan trọng của hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa, đối với sự phát triển đất nước.

    Hội nhập quốc tế đã mang lại cho Việt Nam những kết quả quan trọng. Hiện nay, nước ta có quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam đã thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, mở ra những thị trường xuất khẩu tiềm năng, đóng góp vào việc tăng kim ngạch thương mại từ 2,9 tỷ USD (năm 1986) lên trên 500 tỷ USD (năm 2019)(5). Việt Nam hiện là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021…

    Văn hóa Việt Nam đã được lan tỏa đến nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều lễ hội văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam ở nước ngoài được tổ chức… Trong quá trình hội nhập, chúng ta tham dự, chia sẻ các giá trị văn hóa chung; tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế; góp phần đấu tranh cho hòa bình, phát triển. Quá trình hội nhập quốc tế “góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc đổi mới; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Cũng nhờ tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, văn hóa và con người Việt Nam đã tiếp thu, bổ sung được những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại; xuất hiện các loại hình văn hóa mới làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của con người Việt Nam; hình thành những con người hiện đại với những phẩm chất mới, phù hợp với thời đại.

    Quá trình hội nhập quốc tế cho thấy được sức hấp dẫn, vai trò của văn hóa và chính những giá trị văn hóa là một cầu nối quan trọng để Việt Nam hội nhập quốc tế thành công, làm cho Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút đối với bạn bè quốc tế.

    Tuy nhiên, hội nhập quốc tế hiện nay cũng đặt ra không ít thách thức cần giải quyết, như tư tưởng, thái độ sùng ngoại một cách lệch lạc; sự mai một bản sắc văn hóa, nhất là bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số; một số lối sống không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc… Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Đạo đức, lối sống trong gia đình, học đường, xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, gây bức xúc cho xã hội… Môi trường văn hóa có những mặt chưa thực sự lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa dân tộc”(7).

    2- Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện tốt việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức của toàn xã hội trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

    Mỗi cá nhân, tổ chức, cộng đồng cần nhận thức đúng về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong hội nhập quốc tế là “xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(và “phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại”(9). Các cấp ủy, chính quyền nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện tốt các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế, về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Quyết định số 40/QĐ-TTg, ngày 7-1-2016, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030”…

    Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

    Trong quá trình hội nhập quốc tế, cần xử lý tốt mối quan hệ giữa việc giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam với tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại. Để thực hiện được điều này, cần có sự đánh giá tổng thể hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam; qua đó, rút ra được những cái hay, cũng như những điểm chưa phù hợp với tiến trình xây dựng, phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Mặt khác, cũng cần nghiên cứu những giá trị văn hóa của thế giới, những yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế; trên cơ sở đó, nghiên cứu lựa chọn, tiếp thu những giá trị phù hợp. Việc xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị, văn hóa con người Việt Nam cần tính đến sự lựa chọn và lan tỏa của giá trị cốt lõi cần xây dựng là yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, sáng tạo, hiện đại…

    Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.

Giáo dục có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Giáo dục chính là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai. Nhờ có giáo dục, mỗi cá nhân, mỗi thế hệ mới nhận thức sâu sắc, kế thừa những di sản, những giá trị văn hóa đáng tự hào mà cha ông để lại. Cũng nhờ có giáo dục, mỗi cá nhân có thể tiếp thu được tri thức của nhân loại để hòa nhập vào đời sống xã hội, phát triển toàn diện năng lực của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của giáo dục: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,/ Phần nhiều do giáo dục mà nên”(10), “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”.

    Giáo dục là nền tảng cơ bản giúp xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong quá trình này, cần chú ý xây dựng triết lý giáo dục phù hợp; “xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo”(12), “tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế”, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo nhằm thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước…, để qua đó, “đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục và đào tạo ở khu vực, bắt kịp với trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế”.

    Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh.

    Môi trường văn hóa có vai trò quan trọng trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong hội nhập quốc tế. Một môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh sẽ hình thành nên những quan hệ văn hóa lành mạnh. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh là tạo điều kiện để những giá trị văn hóa tốt đẹp được nảy nở, phát huy; làm cho văn hóa Việt Nam có khả năng “đề kháng” với những tác động phản văn hóa từ bên ngoài, giữ vững những giá trị và bản sắc bên trong. Sức đề kháng đó chỉ có được khi bản thân nền văn hóa, con người Việt Nam, các yếu tố cấu thành nên môi trường văn hóa có được sức mạnh, bản lĩnh nội tại. Cần xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh từ trong gia đình, nhà trường đến toàn xã hội; “xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý…, xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn… Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”

TƯ DUY MỚI VỀ TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG, AN NINH, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

     Quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIII là những định hướng chiến lược xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, sức mạnh, phương thức, giải pháp thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, có sự kế thừa từ các kỳ Đại hội trước và được Đại hội XIII bổ sung, phát triển, làm sâu sắc thêm nhiều nội dung quan trọng.

    Trong tổng thể đường lối phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, việc tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là “kim chỉ nam” trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tư duy về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện, là nguyên nhân chủ yếu góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo nên vị thế, uy tín, tiềm lực, sức mạnh mới cho đất nước. Đó còn là kết quả của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Mặt khác, tư duy đó hình thành trên cơ sở nhận định, đánh giá, dự báo chính xác, khách quan, khoa học sự vận động phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế và phát triển đất nước.

    Xuyên suốt chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đã không ngừng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội, kể từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ để thảo luận, thống nhất giải quyết một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn, tiếp tục khẳng định rõ hơn; đồng thời, bổ sung và phát triển nhiều nội dung quan trọng, trực tiếp hoàn thiện tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tập trung ở những vấn đề cơ bản:

    Một là, tiếp tục khẳng định rõ vị trí, vai trò trọng yếu, thường xuyên của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa quan điểm từ các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” (1). Sự khẳng định vị trí này là định hướng chính trị đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Mặt khác, đó là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn xã hội, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, chống phá, mưu toan hạ thấp vai trò quốc phòng, an ninh của các thế lực thù địch. Cùng với sự khẳng định đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (2). Đây là căn cứ để định vị mối quan hệ và mức độ ưu tiên giải quyết đối với từng lĩnh vực. Theo đó, trong những năm tới, phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên nhưng không vì thế mà xem nhẹ nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì củng cố quốc phòng, an ninh trực tiếp tạo lập môi trường hòa bình, ổn định chính trị, là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển, thế và lực của đất nước được nâng lên mới có đủ các điều kiện cần thiết để đầu tư, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Đây cũng chính là nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng, phát triển đất nước với bảo vệ Tổ quốc của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, khăng khít hơn trong tiến trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam.

    Hai là, mục tiêu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được bổ sung toàn diện hơn, cụ thể hơn và sâu sắc hơn. Kế thừa tư duy của Đảng về xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ các kỳ Đại hội trước và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (3). Như vậy, tư duy của Đảng về xác định nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc tiếp tục khẳng định và đặt các phương diện tự nhiên - lịch sử với chính trị - văn hóa, xã hội và lợi ích quốc gia - dân tộc, môi trường hòa bình, ổn định… trong một chỉnh thể thống nhất biện chứng, không tách rời nhau; thực hiện nội dung này là cơ sở, điều kiện, tiền đề, kết quả để thực hiện nội dung khác và ngược lại. Tuy nhiên, trong tình hình mới, nhằm ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang nổi lên ngày càng gay gắt, nhất là nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và bảo đảm xã hội ổn định, Đại hội XIII đã coi trọng và nhấn mạnh vấn đề bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước và trong cuộc sống của người dân. Do đó, Đại hội XIII đã bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ “an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”. Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn thời gian qua, nhất là trong ứng phó với thảm họa thiên tai, lũ lụt, phòng, chống đại dịch COVID - 19 với tinh thần “không để ai tụt lại phía sau” là những minh chứng rõ nét cho sự phát triển tư duy này.

    Ba là, phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc được bổ sung, phát triển hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tiễn. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn, thách thức trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (4). Điều này một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là luôn kiên định, giữ vững nguyên tắc chiến lược, không nhân nhượng, thỏa hiệp về độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trong bất cứ điều kiện nào, hoàn cảnh nào, với bất cứ đối tượng nào. Tuy nhiên, về sách lược luôn linh hoạt, mềm dẻo, kiên trì giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế; có đối sách thích ứng với từng đối tượng, từng tình huống cụ thể trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Đây là tư duy biện chứng, linh hoạt, sáng tạo và để thực hiện phương châm đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với đấu tranh quốc phòng, an ninh ngay trong thời bình để ngăn chặn từ sớm, đẩy lùi từ xa những nhân tố có thể dẫn đến đột biến, bất lợi mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng, tạo cớ gây xung đột, chiến tranh. Theo đó, về phương thức, phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, toàn diện, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng ta nhấn mạnh phải coi trọng phương thức đấu tranh phi vũ trang và phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ để xây dựng, xây dựng đến đâu phải tự bảo vệ và được bảo vệ vững chắc đến đó.

    Bốn là, lực lượng, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được khẳng định toàn diện, phù hợp và được quan tâm đầu tư xây dựng vững mạnh. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế” (5). Sự phát triển tư duy về lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trên không chỉ là sự kế thừa, phát triển truyền thống quý báu của dân tộc: luôn phát huy cao độ ý chí, lòng tự hào, tự tôn dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch đánh đuổi ngoại xâm, mà còn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh có những diễn biến phức tạp mới; đồng thời, đó là sự cụ thể hóa quyết tâm chính trị mà Đại hội XIII của Đảng xác định là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” (6) để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Trước hết, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ cội nguồn sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc được huy động từ nguồn lực của toàn dân, được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; xây dựng sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Trong đó, sức mạnh bên trong, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; sự quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; sự trung thành, vững mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân là những nhân tố quyết định. Kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp. Trong đó, việc khai thác nguồn lực bên ngoài và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa rất quan trọng, đặt ra yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc tích cực, chủ động triển khai đường lối, chiến lược đối ngoại nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

    Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện cả về lực lượng, tiềm lực và thế trận trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả ở trong và ngoài nước. Trong xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, coi trọng xây dựng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân. Tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh, chú trọng các tiềm lực chính trị tinh thần, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, luôn coi trọng quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” (7) tạo thành sức mạnh, thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Để giữ vững và phát huy vai trò là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,... vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” (Tập trung xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội và công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Thực hiện phương hướng đó, trong công cuộc đổi mới, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã có sự trưởng thành vững chắc, được xây dựng vững mạnh toàn diện theo đúng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến lên hiện đại. Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0), nhiều nước trong khu vực và trên thế giới gia tăng đầu tư cho quốc phòng và những diễn biến mới của tình hình đã tạo áp lực không nhỏ đối với nước ta về tăng cường quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa quân đội, công an nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng trên là đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và trình độ khoa học - công nghệ của đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài, vừa đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng và giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an và nhân dân ta.

    Cùng với xây dựng lực lượng quân đội, công an, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn nhấn mạnh: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở” (9). Đây là việc cụ thể hóa quan điểm của Đảng về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thể hiện tư duy sáng tạo, bước đột phá của Đảng, đáp ứng yêu cầu khách quan về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Năm là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống giải pháp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa theo hướng tăng tính chủ động và khả thi, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với sự thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang lớn mạnh. Chính vì vậy, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy, trị nước từ khi chưa loạn” là tư tưởng lớn và là truyền thống quý báu của dân tộc. Kế thừa kinh nghiệm, truyền thống ấy và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới thành kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tinh thần đó thể hiện tập trung trong hệ thống các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; luôn thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt, giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” (10). Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục làm sâu sắc hơn bằng việc xác định chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố có thể gây đột biến, bất lợi; đồng thời, luôn chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Như vậy, đến Đại hội XIII của Đảng, tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm nghĩa là về thời gian phải bảo vệ từ trước, chủ động phòng ngừa, tích cực chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Bảo vệ Tổ quốc từ xa nghĩa là về không gian phải chủ động bảo vệ từ bên ngoài biên giới lãnh thổ của đất nước. Do đó, phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; giải quyết tốt những vấn đề bức xúc nảy sinh trong dư luận, củng cố sự đồng thuận xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… là những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

    Sáu là, phát triển, hoàn thiện lý luận, nghệ thuật, khoa học, cơ chế, chính sách, thực hiện các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” (11). Cùng với đó, phải “xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội” (12). Đồng thời, “tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác” (13). Trong thời gian tới, cần đặc biệt coi trọng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh. Luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ để tiếp tục đổi mới, phát triển tư duy phù hợp và hiệu quả hơn nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, đào tạo nhân lực, cơ chế huy động các nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Quán triệt và thực hiện tư duy mới của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các giải pháp: Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc bất di, bất dịch, là cơ sở nền tảng để Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vững bản chất cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không chỉ biết đánh thắng kẻ thù trong chiến tranh xâm lược mà còn giỏi đấu tranh phi vũ trang, sắc bén trên mặt trận chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt chức năng và “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an. Hai là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ở từng địa phương, vùng, miền, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể. Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và cho toàn dân, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Chú trọng giáo dục, nâng cao nhận thức thống nhất về đối tác, đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có chất lượng cao và luôn sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Thường xuyên quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, công an. Năm là, tích cực, chủ động nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tăng cường hợp tác quốc phòng, quân sự với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau. Mở rộng phạm vi, quy mô tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng và các hoạt động khác./.

KHÔNG THỂ CHIA RẼ SỰ ĐOÀN KẾT GẮN BÓ GIỮA QUÂN ĐỘI VỚI CÔNG AN

 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn quan tâm, tin tưởng, giúp đỡ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đoàn kết thống nhất thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của mình. Hồ Chí Minh dạy: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính”. Đảng ta cũng thường xuyên xác định tầm quan trọng của tình đoàn kết Quân đội với Công an và luôn có những chủ trương, chính sách, biện pháp tích cực để thực hiện hiệu quả. Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cùng được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có chức năng, nhiệm vụ riêng, cụ thể, nhưng cùng chung sứ mệnh thực hiện mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Cùng với chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, các bộ, ban ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân cũng có những chính sách, cách làm tích cực để góp phần duy trì, phát triển quan hệ đoàn kết, phối hợp Quân đội với Công an. Điển hình như Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2019/NĐ-CP ngày 05-9-2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng. Nghị định này đã đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thiết thực với sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ, nghiêm túc của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

2. Gần đây, trên không gian mạng, các thế lực thù địch, thế lực xấu tung ra nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc. sai trái với mục đích chống phá, nhằm mưu đồ thâm độc “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Chúng bịa đặt: “Quân đội và Công an + sản Việt + đang đấu đá tranh chấp với nhau”. Chúng kêu gọi, kích động: “Đây là cơ hội rất tuyệt vời, để nhân dân Việt Nam nắm tay nhau để vùng lên, nổi dậy và lật đổ bọn + sản Việt +”. Chúng tung hỏa mù, hứa hẹn: “Cơ hội sẽ không đến lần thứ 2 đâu, CIA và Phản Động sẽ chơi cùng các bạn!”. Chúng cố tình sử dụng nhiều thủ đoạn lố bịch, tinh vi, cắt xén, gán ghép những hình ảnh, thông tin nhằm nói xấu Quân đội, nói xấu Công an hoặc cả hai lực lượng. Thậm chí chúng còn trắng trợn vu khống: lãnh đạo Đảng có thể đem Quân đội ra để đối phó với lãnh đạo Công an.

Nhưng sự chống phá trên đều bị thất bại bởi Quân đội và Công an cũng như nhân dân luôn kiên định, vững vàng, tỉnh táo, không mắc mưu kẻ xấu. Qua đó dư luận càng hiểu rõ bản chất xấu xa của những kẻ chống phá, càng thêm tin tưởng vào sự đoàn kết, thống nhất của Quân đội và Công an. Với bản chất ngoan cố, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sẽ còn tiếp tục chống phá, nhưng chúng ta sẽ kiên quyết, kiên trì phòng, chống và tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi của tình đoàn kết gắn bó keo sơn, giàu truyền thống của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

3. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Quân đội và công an ta hãy cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật, ra sức bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự, an ninh, ra sức tham gia phong trào sản xuất và tiết kiệm”. Thực tế đã chứng minh rất sinh động sự đoàn kết thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội và Công an. Hai lực lượng luôn đồng tâm hiệp lực hoàn thành nhiệm vụ chính trị xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Trong nhiều hoạt động phòng, chống thiên tai, dich bệnh, cứu hộ, cứu nạn… lực lượng Quân đội và Công an cùng chủ động phối hợp hành động, hăng hái, dũng cảm, vượt hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh thân mình giúp đỡ nhân dân, tô đẹp hình ảnh cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cách mạng. Điểm nổi bật là hai lực lượng luôn đoàn kết thống nhất, hỗ trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ. Hàng năm hai lực lượng duy trì ký kết phối hợp hoạt động, thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm cùng nhau đoàn kết phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chung cũng như nhiệm vụ cụ thể theo chức năng riêng của từng lực lượng. Chúng ta đã thiết thực góp phần thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh vững chắc”.

4. Nhiệm vụ của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong thời kỳ đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay rất vinh quang nhưng cũng rất nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục củng cố, duy trì, phát triển mối quan hệ đoàn kết thống nhất giữa hai lực lượng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương từng phát biểu chỉ đạo Quân đội nhân dân: “Tiếp tục phối hợp toàn diện, chặt chẽ, có hiệu quả hơn nữa với Công an và các lực lượng trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn cả nước”.

Đó là trách nhiệm, nghĩa vụ, là tình cảm, sự tự giác, nỗ lực của hai lực lượng; sự vào cuộc, đồng hành của cả hệ thống chính trị, sự tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Chỉ có bằng sức mạnh tổng hợp đó, chúng ta mới có thể không ngừng củng cố mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, phối hợp nhịp nhàng cùng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phục vụ phát triển kinh tế đất nước theo mục tiêu, phương châm, phương pháp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân kỳ vọng: “Quân đội và Công an phải phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với nhau như hai cái cánh của một con chim trong sự nghiệp bảo vệ độc lập và giữ gìn trật tự an ninh của Tổ quốc”./.

NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, VIÊN CHỨC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những điều kiện tiên quyết của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ trong thời gian tới.

Yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong Nhà nước pháp quyền

Theo quan niệm phổ biến, ý thức pháp luật là hệ thống tri thức, quan điểm, học thuyết về pháp luật thể hiện qua nhận thức, tư tưởng, ý chí, tình cảm, niềm tin, thái độ, sự đánh giá của con người (cá nhân, tổ chức, xã hội) về sự cần có của pháp luật, về bản chất và giá trị, tính đúng đắn, hợp lý, công bằng của pháp luật trong quá khứ, của pháp luật hiện hành và pháp luật cần phải có, về các mối quan hệ giữa pháp luật với hành vi của các chủ thể pháp luật trong các quan hệ pháp luật cụ thể(1). Ý thức pháp luật phản ánh quan điểm, trình độ nhận thức, sự hiểu biết, hệ thống tri thức về pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật cũng như thái độ, phản ứng của chủ thể đối với việc thực hiện pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác. Ý thức pháp luật bao gồm tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Tư tưởng pháp luật phản ánh thông qua quan điểm, quan niệm, sự hiểu biết, nhận thức của cá nhân về pháp luật. Tâm lý pháp luật biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác(2).

Để Nhà nước tổ chức và hoạt động, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật (khoản 1, Điều 8, Hiến pháp năm 2013), ngoài yêu cầu phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thì đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần hội đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân vì sự phát triển bền vững của đất nước; tôn trọng pháp luật, có tình cảm và thái độ đúng đắn đối với pháp luật, tự giác và nghiêm túc chấp hành, tuân thủ, bảo vệ pháp luật, có tinh thần đấu tranh chống lại các hành vi coi thường và vi phạm pháp luật, thể hiện tâm lý pháp luật tích cực. Ngược lại, nếu cán bộ, công chức, viên chức không có niềm tin, không đồng tình với pháp luật hoặc không ủng hộ giải quyết vấn đề theo pháp luật thì sẽ phản ứng tiêu cực bằng cách không hành động hoặc phản đối, không tôn trọng pháp luật, người đại diện có thẩm quyền thực thi pháp luật. Nếu thiếu kiến thức pháp luật thì cán bộ, công chức, viên chức khó có thể hướng dẫn, tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân.

Ý thức pháp luật đối với người lãnh đạo, quản lý rất quan trọng. Người càng có nhiều mối quan hệ xã hội thì càng bị ràng buộc bởi nhiều quy tắc xử sự. Quyền hạn càng nhiều thì trách nhiệm càng lớn. Đằng sau mỗi quyết sách chính trị, công vụ là sự ràng buộc, trách nhiệm và rủi ro pháp lý. An toàn pháp lý trong quản lý chỉ có được khi người quản lý hành động và quyết định một cách hợp pháp. Việc xử lý hậu quả sẽ phức tạp và mất thời gian hơn nhiều so với thực hiện pháp luật ngay từ đầu một cách hợp pháp. Hơn nữa, khi vi phạm, người cán bộ bị giảm sút uy tín và mất niềm tin của nhân dân. Vì vậy, muốn tránh được các rủi ro pháp lý thì người cán bộ, công chức, viên chức phải có ý thức pháp luật, tôn trọng, nghiêm túc thực hiện, chấp hành và tuân thủ pháp luật.

Thực trạng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức

Một là, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Tư tưởng pháp luật là tiền đề, ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Xây dựng pháp luật bao gồm nhiều bước với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của họ về nội dung của chính sách, về cách thức và kỹ thuật xây dựng pháp luật, về nội dung điều chỉnh của pháp luật và sử dụng các nguồn luật. Hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay ngày càng được hoàn thiện, do ý thức pháp quyền ngày càng nâng cao và sự nỗ lực của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tích cực tham gia xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng pháp luật cũng còn một số hạn chế nhất định, như một số nội dung trong chủ trương của Đảng về công tác cán bộ chưa được thể chế hóa kịp thời; một số quy định trong hệ thống pháp luật thiếu thống nhất với nhau, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn... Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm nêu trên, trong đó có sự nhận thức chưa sâu sắc, thiếu thống nhất một số chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng còn hạn chế…(3).

Hai là, ý thức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện pháp luật.

Ý thức thi hành (chấp hành), áp dụng, sử dụng, tuân thủ pháp luật là nội dung quan trọng nhất trong ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Ý thức pháp luật thấp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiệu quả thực hiện pháp luật thấp. Thông qua hành động thực hiện pháp luật của họ, pháp luật đã hiện thực và phát huy vai trò trong cuộc sống. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức nhận thức rõ nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, có ý thức tổ chức kỷ luật. Ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong thời gian qua đã có chuyển biến tích cực. Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội. Điều này góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương, phép nước có nơi còn bị xem nhẹ. Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời. Ý thức chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật vẫn còn hạn chế. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp. Một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước(4).

Ba là, ý thức bảo vệ pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức.

Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước đều hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, có ý thức bảo vệ pháp luật. Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của tổ chức, cá nhân. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, hạn chế các trường hợp khởi tố oan và bỏ lọt tội phạm là đáng ghi nhận. Qua đó cho thấy, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, tạm giữ, tạm giam, thi hành án ngày càng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật(5). An ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Những kết quả đó phản ánh sự cố gắng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, của đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp trong công tác bảo vệ pháp luật.

Cùng với các thành tựu nêu trên, cũng còn một số hạn chế trong ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ pháp luật. Đó là việc xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Công tác tuyên truyền, phòng ngừa tội phạm một số nơi còn hình thức. Một số cán bộ thực thi pháp luật có ý thức kỷ luật kém, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Vẫn còn một số quyết định không khởi tố vụ án bị hủy, quyết định khởi tố vụ án thiếu căn cứ pháp luật, bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung do vi phạm tố tụng. Một số trường hợp oan, kháng nghị phúc thẩm có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận. Những khuyết điểm nêu trên một phần do nhận thức, đánh giá không đúng về hành vi, mức độ phạm tội, sai sót trong áp dụng pháp luật và do cố ý, với động cơ vụ lợi của một số cán bộ tư pháp.

Tiếp tục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức

Ý thức pháp luật hình thành từ sự tự giác của cán bộ, công chức, viên chức; nhưng tiền đề, điều kiện để xây dựng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh. Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền; nâng cao năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra(6). Cùng với nâng cao năng lực xây dựng thể chế, cần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong thực thi chức trách, nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải giữ vững nguyên tắc luật định, có kỹ năng sử dụng pháp luật, chọn lọc, tiếp thu và phản biện, vận dụng sáng tạo và áp dụng linh hoạt pháp luật để vừa đạt được mục đích trong giải quyết công việc nhưng vẫn bảo đảm tính hợp pháp của quá trình ra quyết định.

Cần bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật để công lý và trật tự pháp quyền được thực thi; bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Pháp luật nghiêm minh tạo niềm tin và sự tôn trọng của cán bộ, công chức, viên chức đối với pháp luật; đồng thời răn đe, phòng ngừa làm cho họ không dám vi phạm pháp luật. Sự nghiêm minh của pháp luật đòi hỏi các hành vi vi phạm cần được xử lý kịp thời, triệt để, xác định đúng người, đúng hành vi vi phạm, không có ngoại lệ và vùng cấm, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho cán bộ, công chức, viên chức.

Để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, cán bộ, công chức, viên chức phải tự trang bị cho mình kiến thức, tri thức nền tảng, trong đó có tri thức, hiểu biết về pháp luật, kiến thức, tri thức theo ngành, lĩnh vực chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ được giao. Đổi mới giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý theo yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, có ý thức trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tôn trọng và chấp hành pháp luật. Nhiệm vụ giảng dạy pháp luật, bồi dưỡng pháp lý không chỉ giúp người học hiểu rõ, hiểu đúng pháp luật mà còn trang bị cho người học phương pháp, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề pháp lý, cách tư duy lô-gíc, hệ thống, sáng tạo và liên ngành. Thu hút sự tham gia giảng dạy của các nhà khoa học, luật sư, luật gia, người làm thực tiễn. Trong nội dung đào tạo pháp luật cần tăng hàm lượng tri thức về pháp luật quốc tế, cung cấp cho người học tư duy sáng tạo ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng phó với biến đổi xã hội do tác động của đại dịch COVID-19 và chủ động định hình quá trình chuyển đổi của xã hội, chuyển đổi số. Chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội, tôn trọng và chấp hành pháp luật, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ, công chức, viên chức. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại, đồng thời chú trọng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của hoạt động bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp(7).

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng chính trị và ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”, sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, đảng viên. Ngoài ra, để tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức thì cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Phong cách lãnh đạo, quản lý, điều hành, đạo đức, văn hóa ứng xử của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Nếu người đứng đầu biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến tham mưu, tư vấn đúng pháp luật, những ý kiến phản biện hợp lý có tính xây dựng, biết đánh giá đúng năng lực, sở trường của cán bộ, công chức, viên chức, biết động viên, khích lệ, tạo thuận lợi cho họ cống hiến, quan tâm lợi ích và công bằng trong đãi ngộ thì sẽ phát huy được năng lực, sở trường của họ; ngược lại sẽ khiến giảm sút động lực phấn đấu. Nếu người đứng đầu tôn trọng và làm việc đúng pháp luật thì sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho cộng sự và cả hệ thống giúp việc. Vì vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong tôn trọng, chấp hành, tuân thủ và bảo vệ pháp luật, duy trì kỷ luật lao động, nội quy cơ quan, văn hóa công sở.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa công sở văn minh, lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn.

Văn hóa tác động rất lớn đến tâm lý pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng môi trường làm việc văn minh, lành mạnh, kỷ luật, dân chủ, đoàn kết, chân thành, thân thiện, mọi người tự giác làm việc, tôn trọng, tin cậy, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ giá trị và phấn đấu vì mục tiêu chung giúp cho cán bộ, công chức, viên chức có tâm lý thoải mái, yên tâm công tác, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Ngược lại, nếu trong cơ quan có cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật lao động, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, không còn uy tín đối với quần chúng nhưng không bị xử lý kịp thời thì sẽ gây ra phản ứng tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức, giảm niềm tin vào sự nghiêm minh của pháp luật và ảnh hưởng không tốt đến tâm lý pháp luật của họ.

Nhà nước pháp quyền cần có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có ý thức thượng tôn pháp luật. Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân thủ pháp luật vừa là trách nhiệm, sự rèn luyện của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của các cấp ủy, chính quyền các cấp. Việc xây dựng và thực hiện Chiến lược hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, chiến lược pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới cần rất quan tâm nội dung về tăng cường ý thức pháp luật nói chung, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức nói riêng./.

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC-LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

      Chú trọng thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế

    Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích kỹ lưỡng tình hình trong nước và thế giới, đồng thời nêu rõ cần phải tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đúc kết, trong đó nhấn mạnh phải nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

    Bản chất của chế độ xã hội ở Việt Nam là dân chủ; bảo đảm mọi người dân được thực hành dân chủ, đồng thời duy trì kỷ cương, thượng tôn pháp luật, nghiêm trị hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng chỉ rõ: “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm... Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

    Đại hội XIII của Đảng khẳng định mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là một trong những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và xử lý tốt trong giai đoạn tới. Bởi đây là mối quan hệ rất quan trọng trong các mối quan hệ lớn, nó phản ánh bản chất của chế độ ta, là thuộc tính tự nhiên của Nhà nước pháp quyền XHCN. Tăng cường pháp chế đồng nghĩa với việc tăng cường xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, quản lý và điều hành xã hội bằng pháp luật để bảo đảm mọi lĩnh vực, mọi người dân đều được thực hiện quyền dân chủ theo quy định của pháp luật.

    Thời gian qua, việc thực hành dân chủ của hệ thống chính trị có nhiều đổi mới. Các cấp ủy, chính quyền tích cực lắng nghe, tăng cường đối thoại với nhân dân. Dân chủ trong Đảng, Nhà nước, trong các tổ chức xã hội được mở rộng, nâng cao. Hoạt động giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên được chú trọng...

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội đang gặp phải một số khó khăn, thách thức và hạn chế. Hệ thống pháp luật còn cồng kềnh, thiếu ổn định; chất lượng của một số văn bản pháp luật chưa cao, chưa phù hợp với thực tiễn. Cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật hiệu quả chưa xây dựng được đầy đủ. Kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ và trong đời sống xã hội còn lỏng lẻo.

    Ý thức tôn trọng pháp luật chưa trở thành thói quen của các tổ chức, cá nhân. Trong xã hội vẫn còn tình trạng coi thường pháp luật. Thực tiễn vẫn còn không ít hành vi vi phạm, cản trở hoặc hạn chế quyền làm chủ của nhân dân; lợi ích chính đáng của nhân dân nhiều lúc chưa được bảo vệ một cách đầy đủ. Trong khi đó, các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc phức tạp để kích động phong trào “bất tuân dân sự” hòng chuyển hóa mâu thuẫn, xung đột dân sự thông thường thành hành vi chống phá, đối đầu với chính quyền…

    Vì vậy, để thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, chúng ta cần khẩn trương có giải pháp khắc phục hiệu quả những khó khăn, hạn chế nêu trên, nhất là cần chú ý tới một bộ phận nhân dân chưa ý thức đầy đủ, chưa nâng cao năng lực thực hành dân chủ của mình; trong khi đó năng lực thực thi pháp luật của một số cán bộ cũng còn hạn chế.

    Đồng thời, chúng ta cần phải tăng cường nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng và vai trò của mối quan hệ thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; chú trọng việc nêu gương tuân thủ pháp luật, thực hành dân chủ XHCN của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tổ chức thực hiện tốt việc nhân dân tham gia góp ý kiến vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia từ khâu nêu sáng kiến, phản biện, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện nhằm bảo đảm những quyết định được đưa ra xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân.

    Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm quyền thực hành dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân. Cùng với đó, đổi mới công tác dân vận nhằm phát huy trách nhiệm của nhân dân tham gia ngày càng tốt hơn, nhiều hơn vào các phong trào thi đua yêu nước, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; tích cực rà soát nhằm hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật; tiếp tục cải cách tư pháp gắn với nâng cao năng lực thực thi pháp luật; xây dựng cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước./.

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM VU CÁO “ĐẢNG ĐỨNG TRÊN VÀ ĐỨNG NGOÀI PHÁP LUẬT”

     Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những thủ đoạn mà các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tiến hành. Trong đó, luận điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” là hoàn toàn vô căn cứ và hết sức nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

    Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đáng chú ý ngày 12/5/2024, trên trang blog cá nhân, đối tượng Đỗ Kim Thêm tán phát bài “Chỉ số thượng tôn pháp luật năm 2023 của Việt Nam” vô căn cứ, thiếu thực tế của tổ chức “Dự án công lý thế giới - WJP”; vu cáo “Đảng đứng trên và đứng ngoài pháp luật”, chính quyền “không thực hiện” các công ước quốc tế về nhân quyền đã ký kết; đồng thời, kêu gọi Việt Nam “cải cách” hệ thống Nhà nước pháp quyền. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với Nhà nước và Nhân dân; giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Từ khi ra đời đến nay, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên địa vị làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội. Vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

    Thực tiễn lãnh đạo cách mạng và cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất Nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ban hành nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân.

    Có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã bịa đặt, rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

    Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội. Không ai có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ dã tâm của các thế lực thù địch, thường xuyên tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI DÙNG MẠNG XÃ HỘI CẦN LƯU Ý!

         Luật An ninh mạng đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2019. Người dùng mạng xã hội cần lưu ý các vấn đề sau:
1. Lưu ý các hành vi bị cấm trên mạng
- Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;
- Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế-xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;
- Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng;
- Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

2. Không đưa lên mạng xã hội bí mật Nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.
Điểm d, Khoản 1, Điều 17 của Luật An ninh mạng chỉ rõ, một trong những hành vi vi phạm trên không gian mạng là đưa lên mạng những thông tin thuộc bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trái quy định của pháp luật.
Các hành vi vi phạm này sẽ được cơ quan chủ quản hệ thống thông tin triển khai các biện pháp kỹ thuật để phát hiện, ngăn chặn và kịp thời gỡ bỏ thông tin. Do đó, người dùng mạng xã hội cũng cần lưu ý thêm thông tin này khi đăng tải các bài viết, hình ảnh.

3. Đăng tải thông tin vi phạm phải gỡ bỏ ngay khi có yêu cầu.
Khoản 9, Điều 16 của Luật An ninh mạng quy định, tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung vi phạm phải gỡ bỏ thông tin khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và chịu trách nhiệm theo quy định.
Phải xóa bỏ thông tin vi phạm chậm nhất là 24 giờ, kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách.

4. Đảm bảo đời sống riêng tư của trẻ em trên mạng xã hội
Điều 29 của Luật này quy định về việc bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Theo đó, trẻ em có quyền được giữ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác khi tham gia trên không gian mạng.
Người tham gia mạng xã hội nói chung và cha, mẹ trẻ em nói riêng cần phải đảm bảo quyền nêu trên của trẻ em, ngăn chặn các thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em.
Luật Trẻ em 2016 cũng quy định việc công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em phải được sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em; nếu trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của trẻ./.
Yêu nước ST.

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Sang giai đoạn cách mạng mới, hiện nay bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của nước ta gặp cả những thuận lợi và khó khăn thử thách đan xen chịu sự chi phối tác động của nhiều nhân tố mới!

Trong bối cảnh tình hình thế giới hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, là nguyện vọng, đồng thời là mục đích của cộng đồng quốc tế. Cục diện thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn, các nước điều chỉnh chiến lược theo hướng đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Các nước lớn đang tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh lợi ích diễn biến phức tạp, vừa mang lại cơ hội, vừa đặt các nước khác, nhất là các nước nhỏ trước nhiều khó khăn, thách thức. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Bối cảnh mới của quốc gia - dân tộc hiện đại còn mở rộng thêm các lợi ích quốc gia - dân tộc, như: hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển, tự do lưu thông hàng hóa, tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do khai thác tài nguyên phù hợp với luật pháp quốc tế. Cũng như các quốc gia - dân tộc khác, Việt Nam còn chủ động và tích cực tham gia giải quyết những vấn đề chung của nhân loại, như chống chiến tranh, ứng phó với biến đổi khí hậu, dịch bệnh; các thách thức an ninh phi truyền thống (an ninh biển, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh tiền tệ, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố...) mà không một quốc gia nào tự mình đủ sức gánh vác. Cùng với đó thế giới đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe doạ bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Môi trường chính trị, kinh tế, an ninh thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang gia tăng, tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ tài nguyên, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực với nhiều đặc điểm mới.

Do điều kiện không gian sinh tồn ngày càng bị thu hẹp, việc mở rộng lợi ích quốc gia - dân tộc của nước này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích quốc gia - dân tộc của nước khác. Để giảm thiểu các mâu thuẫn, xung đột, lợi ích quốc gia - dân tộc cho phù hợp với luật pháp quốc tế, không quốc gia nào tự đặt ra lợi ích vượt ra ngoài quy định của luật pháp quốc tế mà đe dọa đến lợi ích của quốc gia khác và ảnh hưởng đến lợi ích của toàn nhân loại. 

Khu vực Đông Nam Á và Biển Đông đang trở thành nơi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam đang đặt ra nhiều thách thức lớn, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lợi ích chiến lược biển, đảo giữa các nước trong khu vực; cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc và can dự của các nước lớn khác; an toàn, tự do hàng hải và hàng không trong khu vực ngày càng phức tạp.

Ở trong nước, những bên cạnh thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới tạo ra thế và lực mới cho công cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những năm qua, Việt Nam vẫn còn gặp những khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc đó là: Kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong công tác quản lý xã hội còn để xảy ra nhiều vụ cán bộ lãnh đạo có chức, có quyền suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, tham ô, tham nhũng, lãng phí gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Trong giai đoạn hiện nay, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc cao nhất của Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ gắn liền với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo hộ lợi ích chính đáng và hợp pháp của công dân cũng như doanh nghiệp Việt Nam trong nước và ở nước ngoài; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc...

Thực tiễn cho thấy, trên cơ sở nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, Việt Nam luôn nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà nước ta tham gia, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực và quốc tế. Đồng thời, chủ động tích cực đề xuất sáng kiến xây dựng, định hình các thể chế đa phương trên nguyên tắc cùng có lợi, với phương châm chuyển mạnh từ “tham dự” sang “chủ động tham gia”; “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, nhất là trong quá trình xây dựng và định hình các quy tắc, cơ chế hợp tác và những luật lệ mới, củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỈ THỊ CỦA BAN BÍ THƯ VỀ TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NHỜ XÃ HỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Thay mặt Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Lương Cường đã ký ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24-5-2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới. Dưới đây là toàn văn Chỉ thị:
Trong suốt quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác phát triển nhà ở cho người dân, nhất là nhà ở xã hội. Đến nay, cả nước đã hoàn thành xây dựng 195.000 căn nhà ở xã hội và có khoảng 374.000 căn nhà ở xã hội đã được chấp thuận đầu tư và khởi công, cấp phép xây dựng.

Chính sách hỗ trợ nhà ở thông qua các chương trình mục tiêu cho các đối tượng là người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo khu vực nông thôn và hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu được triển khai đồng bộ và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển nhà ở xã hội vẫn còn một số hạn chế như: Nhiều mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã không đạt được; nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế so với nhu cầu thực tế; giá nhà ở xã hội bình quân còn quá cao so với thu nhập của đối tượng thụ hưởng; công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập; tỷ lệ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội khu vực đô thị thấp; nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các chương trình tín dụng ưu đãi nhà ở xã hội còn thấp, chưa huy động được mạnh mẽ nguồn lực xã hội tham gia; còn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát, nhất là tại các vùng khó khăn, chịu nhiều ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thiếu quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển nhà ở xã hội chậm được đổi mới, hoàn thiện, thiếu sự đột phá để thu hút nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển nhà ở xã hội; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ; công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý sai phạm trong phát triển nhà ở xã hội chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả.

Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phát triển nhà ở xã hội, góp phần giải quyết cơ bản nhu cầu nhà ở cho người dân, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội quán triệt và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội về tính chất, ý nghĩa của công tác phát triển nhà ở xã hội; xác định phát triển nhà ở xã hội là quyết tâm chính trị, nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị, thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ ta; là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò và gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển nhà ở xã hội; đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm của địa phương. Phấn đấu đến năm 2030, cả nước xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; hoàn thành xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp tại khu vực đô thị; thực hiện tốt việc hỗ trợ nhà ở theo các chương trình mục tiêu, nhất là đối với người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng khó khăn về nhà ở, hộ nghèo ở tại khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo tốt về nhà ở.

2. Thực hiện quy hoạch, bố trí các dự án nhà ở xã hội độc lập, hoặc trong các dự án nhà ở thương mại tại các vị trí thuận tiện về giao thông, gắn với các trung tâm công nghiệp, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu. Nhà nước ưu tiên bố trí quỹ đất, nguồn vốn, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nhà ở xã hội; có cơ chế, chính sách ưu đãi thực chất, đủ hấp dẫn để thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư, phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng.

Phát triển đa dạng loại hình nhà ở xã hội và cơ chế, chính sách mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà lưu trú, ký túc xá cho công nhân, người thu nhập thấp khu vực đô thị, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang với giá phù hợp với khả năng chi trả của từng đối tượng thụ hưởng; tăng tỷ lệ nhà ở xã hội cho thuê; chú trọng hỗ trợ nhà ở và đất ở cho người có công với cách mạng, người nghèo và các đối tượng chính sách, bảo đảm phù hợp với quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và kế hoạch phát triển nhà ở trong từng giai đoạn của địa phương; kết hợp linh hoạt giữa các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân.

Nhà ở xã hội và nhà ở được Nhà nước hỗ trợ tại các chương trình mục tiêu, nhà lưu trú công nhân bảo đảm về chất lượng xây dựng, kiến trúc, cảnh quan, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, an ninh, an toàn, phòng cháy, chữa cháy, đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu (y tế, giáo dục, văn hóa...).

3. Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến nhà ở xã hội, nhất là về cơ chế tài chính, sử dụng nguồn lực, đất đai, đầu tư, đầu tư công, xây dựng, đấu thầu, quy hoạch đô thị và nông thôn, quản lý phát triển đô thị, quản lý và sử dụng tài sản công, chính sách thuế, quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế... Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng; nâng mức hỗ trợ nhà ở cho người có công và các đối tượng chính sách tại các chương trình mục tiêu.

Thực hiện tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ trong xác định giá nhà ở xã hội. Nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù về nhà ở xã hội cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân. Hoàn thiện pháp luật và tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia phát triển nhà ở xã hội bằng nguồn tài chính công đoàn.

Ban hành cơ chế, chính sách tạo thuận lợi và chủ động cho các địa phương trong việc dành ngân sách đầu tư xây dựng dự án nhà ở xã hội, thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư để có quỹ đất sạch làm nhà ở xã hội; đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm đồng bộ hạ tầng xã hội trong và ngoài phạm vi dự án. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội, các đối tượng thụ hưởng được tiếp cận dễ dàng với nhà ở xã hội; cắt giảm tối đa thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng, kinh doanh, mua bán, quản lý, sử dụng nhà ở xã hội.

Thực hiện trình tự thủ tục hành chính giao đất, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng, lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội... theo hướng rút gọn, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, công khai, minh bạch. Có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội theo hướng mô hình xanh, sử dụng tiết kiệm năng lượng, phát triển bền vững, phát thải các bon thấp.

4. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển nhà ở xã hội; ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước từ Trung ương và địa phương tương xứng, kịp thời để bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển nhà ở xã hội; Nhà nước tập trung phát triển nhà ở xã hội cho thuê khu vực đô thị bằng nguồn vốn đầu tư công; đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Rà soát, sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để triển khai hiệu quả chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội.

Nghiên cứu hình thành quỹ phát triển nhà ở xã hội, hoặc mô hình định chế tài chính phù hợp để phát triển nhà ở xã hội dài hạn, bền vững; mở rộng nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội từ quỹ đầu tư phát triển địa phương và nguồn vốn từ nước ngoài; khuyến khích hình thành các quỹ đầu tư, quỹ tín thác đầu tư và các hoạt động liên danh, liên kết thực hiện dự án nhà ở xã hội.

Bố trí cấp đủ nguồn vốn ngân sách cho Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chính sách hỗ trợ, cho vay phát triển nhà ở xã hội; thực hiện đầy đủ, kịp thời việc cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại được Nhà nước chỉ định để cho cá nhân và doanh nghiệp vay ưu đãi phát triển nhà ở xã hội; rà soát, đổi mới, tiếp tục mở rộng chương trình cho vay ưu đãi đối với cá nhân, hộ gia đình để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo chính sách về nhà ở xã hội.

5. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới phương thức, mô hình quản lý và phát triển nhà ở xã hội; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương trong phát triển nhà ở xã hội, đi đôi với tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm việc triển khai các dự án nhà ở xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quỹ đất phát triển nhà ở xã hội trong các dự án nhà ở thương mại đúng mục đích. Quản lý, giám sát chặt chẽ việc đầu tư, xây dựng, bán, cho thuê, sử dụng căn hộ các dự án nhà ở xã hội.

Có chế tài đủ mạnh, ngăn ngừa, kịp thời xử lý nghiêm những sai phạm, trục lợi chính sách. Đẩy nhanh hoàn thành xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản, trong đó có nhà ở xã hội. Nghiên cứu thành lập, thiết lập cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chuyên đầu tư phát triển nhà ở xã hội.

6. Tổ chức thực hiện
- Các cấp ủy đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung Chỉ thị tới cán bộ, đảng viên và nhân dân; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Chỉ thị và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện; các tỉnh ủy, thành ủy thành lập ban chỉ đạo về phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chính sách hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách.

- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến phát triển nhà ở xã hội; ưu tiên phân bổ nguồn lực cho công tác xây dựng và phát triển nhà ở xã hội và tăng cường giám sát việc tổ chức thực hiện.

- Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện Chỉ thị; rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển nhà ở xã hội và chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, có các giải pháp cụ thể tháo gỡ, giải quyết nhu cầu nhà ở đang rất bức thiết của công nhân, lực lượng vũ trang, người thu nhập thấp tại đô thị; củng cố, kiện toàn các cơ quan đầu mối có chức năng, nhiệm vụ phát triển nhà ở xã hội.

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác giám sát việc thực hiện Chỉ thị; phối hợp giám sát việc thực hiện chính sách về phát triển nhà ở xã hội và chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách.

- Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, định hướng các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền về công tác phát triển nhà ở xã hội.

- Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan tổ chức triển khai thực hiện và thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Bí thư kết quả thực hiện Chỉ thị này.
Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ./.
Yêu nước ST.