Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 4 CÁ NHÂN ĐỀ NGHỊ TRUY TẶNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN!

     Bộ Quốc phòng đang lấy ý kiến đối với 7 tập thể và 4 cá nhân được đề nghị xét tặng, truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân!

Danh sách tập thể, cá nhân được đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng. Việc này được thực hiện theo quy trình xét khen thưởng quy định tại Điều 46 Nghị định số 98/2023/NĐ-CP ngày 31.12.2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.

Theo đó, có 1 tập thể và 4 cá nhân được các cơ quan, đơn vị đề nghị xét phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; 6 tập thể được đề nghị xét phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới.

Tập thể được đề nghị xét phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp là Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 803, Chủ lực cơ động Liên khu V (nay là Trung đoàn 803, Sư đoàn 305, Quân khu 5).

4 cá nhân được đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân có 3 cá nhân thời kỳ kháng chiến chống Pháp và 1 cá nhân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

3 cá nhân thời kỳ kháng chiến chống Pháp được đề nghị truy tặng đó là:
Đồng chí Nguyễn Lựu, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 803, Chủ lực cơ động Liên khu V (sau này là Đại tá, nguyên Tư lệnh Pháo binh, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 350, Quân khu Tả Ngạn);

Liệt sĩ Nguyễn Bá Dương, nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1, Đại đội 6, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 803, Chủ lực cơ động Liên khu V;

Liệt sĩ Trần Xưng, nguyên Trung đội trưởng, Đại đội 5, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 803, Chủ lực cơ động Liên khu V.

1 cá nhân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đó là: Liệt sĩ Trương Hồng Anh, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90, Trung đoàn 1, Sư đoàn 2, Quân khu 5.

Cũng trong danh sách lấy ý kiến đề nghị xét tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới có 6 tập thể. Đó là: Tổng cục Công nghiệp quốc phòng; Ban Cơ yếu Chính phủ; Lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An, Quân khu 4; Vùng 4, Quân chủng Hải quân; Khoa Vô tuyến điện tử, Học viện Kỹ thuật quân sự; Viện Hàng không Vũ trụ Viettel, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội.

Thời gian lấy ý kiến đối với các tập thể, cá nhân trên từ ngày 27.5 - 6.6.2024./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN:

     Chú trọng thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế
Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích kỹ lưỡng tình hình trong nước và thế giới, đồng thời nêu rõ cần phải tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đúc kết, trong đó nhấn mạnh phải nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Bản chất của chế độ xã hội ở Việt Nam là dân chủ; bảo đảm mọi người dân được thực hành dân chủ, đồng thời duy trì kỷ cương, thượng tôn pháp luật, nghiêm trị hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng chỉ rõ: “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm... Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là một trong những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và xử lý tốt trong giai đoạn tới. Bởi đây là mối quan hệ rất quan trọng trong các mối quan hệ lớn, nó phản ánh bản chất của chế độ ta, là thuộc tính tự nhiên của Nhà nước pháp quyền XHCN. Tăng cường pháp chế đồng nghĩa với việc tăng cường xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, quản lý và điều hành xã hội bằng pháp luật để bảo đảm mọi lĩnh vực, mọi người dân đều được thực hiện quyền dân chủ theo quy định của pháp luật.

Thời gian qua, việc thực hành dân chủ của hệ thống chính trị có nhiều đổi mới. Các cấp ủy, chính quyền tích cực lắng nghe, tăng cường đối thoại với nhân dân. Dân chủ trong Đảng, Nhà nước, trong các tổ chức xã hội được mở rộng, nâng cao. Hoạt động giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên được chú trọng...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội đang gặp phải một số khó khăn, thách thức và hạn chế. Hệ thống pháp luật còn cồng kềnh, thiếu ổn định; chất lượng của một số văn bản pháp luật chưa cao, chưa phù hợp với thực tiễn. Cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật hiệu quả chưa xây dựng được đầy đủ. Kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ và trong đời sống xã hội còn lỏng lẻo.

Ý thức tôn trọng pháp luật chưa trở thành thói quen của các tổ chức, cá nhân. Trong xã hội vẫn còn tình trạng coi thường pháp luật. Thực tiễn vẫn còn không ít hành vi vi phạm, cản trở hoặc hạn chế quyền làm chủ của nhân dân; lợi ích chính đáng của nhân dân nhiều lúc chưa được bảo vệ một cách đầy đủ. Trong khi đó, các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc phức tạp để kích động phong trào “bất tuân dân sự” hòng chuyển hóa mâu thuẫn, xung đột dân sự thông thường thành hành vi chống phá, đối đầu với chính quyền…

Vì vậy, để thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, chúng ta cần khẩn trương có giải pháp khắc phục hiệu quả những khó khăn, hạn chế nêu trên, nhất là cần chú ý tới một bộ phận nhân dân chưa ý thức đầy đủ, chưa nâng cao năng lực thực hành dân chủ của mình; trong khi đó năng lực thực thi pháp luật của một số cán bộ cũng còn hạn chế.

Đồng thời, chúng ta cần phải tăng cường nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng và vai trò của mối quan hệ thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; chú trọng việc nêu gương tuân thủ pháp luật, thực hành dân chủ XHCN của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tổ chức thực hiện tốt việc nhân dân tham gia góp ý kiến vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia từ khâu nêu sáng kiến, phản biện, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện nhằm bảo đảm những quyết định được đưa ra xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm quyền thực hành dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân. Cùng với đó, đổi mới công tác dân vận nhằm phát huy trách nhiệm của nhân dân tham gia ngày càng tốt hơn, nhiều hơn vào các phong trào thi đua yêu nước, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; tích cực rà soát nhằm hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật; tiếp tục cải cách tư pháp gắn với nâng cao năng lực thực thi pháp luật; xây dựng cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước./.
Môi trường ST.

NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, VIÊN CHỨC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM!

     Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những điều kiện tiên quyết của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ trong thời gian tới!

Yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong Nhà nước pháp quyền
Theo quan niệm phổ biến, ý thức pháp luật là hệ thống tri thức, quan điểm, học thuyết về pháp luật thể hiện qua nhận thức, tư tưởng, ý chí, tình cảm, niềm tin, thái độ, sự đánh giá của con người (cá nhân, tổ chức, xã hội) về sự cần có của pháp luật, về bản chất và giá trị, tính đúng đắn, hợp lý, công bằng của pháp luật trong quá khứ, của pháp luật hiện hành và pháp luật cần phải có, về các mối quan hệ giữa pháp luật với hành vi của các chủ thể pháp luật trong các quan hệ pháp luật cụ thể(1). Ý thức pháp luật phản ánh quan điểm, trình độ nhận thức, sự hiểu biết, hệ thống tri thức về pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật cũng như thái độ, phản ứng của chủ thể đối với việc thực hiện pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác. Ý thức pháp luật bao gồm tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Tư tưởng pháp luật phản ánh thông qua quan điểm, quan niệm, sự hiểu biết, nhận thức của cá nhân về pháp luật. Tâm lý pháp luật biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác(2).

Để Nhà nước tổ chức và hoạt động, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật (khoản 1, Điều 8, Hiến pháp năm 2013), ngoài yêu cầu phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thì đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần hội đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân vì sự phát triển bền vững của đất nước; tôn trọng pháp luật, có tình cảm và thái độ đúng đắn đối với pháp luật, tự giác và nghiêm túc chấp hành, tuân thủ, bảo vệ pháp luật, có tinh thần đấu tranh chống lại các hành vi coi thường và vi phạm pháp luật, thể hiện tâm lý pháp luật tích cực. Ngược lại, nếu cán bộ, công chức, viên chức không có niềm tin, không đồng tình với pháp luật hoặc không ủng hộ giải quyết vấn đề theo pháp luật thì sẽ phản ứng tiêu cực bằng cách không hành động hoặc phản đối, không tôn trọng pháp luật, người đại diện có thẩm quyền thực thi pháp luật. Nếu thiếu kiến thức pháp luật thì cán bộ, công chức, viên chức khó có thể hướng dẫn, tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân.

Ý thức pháp luật đối với người lãnh đạo, quản lý rất quan trọng. Người càng có nhiều mối quan hệ xã hội thì càng bị ràng buộc bởi nhiều quy tắc xử sự. Quyền hạn càng nhiều thì trách nhiệm càng lớn. Đằng sau mỗi quyết sách chính trị, công vụ là sự ràng buộc, trách nhiệm và rủi ro pháp lý. An toàn pháp lý trong quản lý chỉ có được khi người quản lý hành động và quyết định một cách hợp pháp. Việc xử lý hậu quả sẽ phức tạp và mất thời gian hơn nhiều so với thực hiện pháp luật ngay từ đầu một cách hợp pháp. Hơn nữa, khi vi phạm, người cán bộ bị giảm sút uy tín và mất niềm tin của nhân dân. Vì vậy, muốn tránh được các rủi ro pháp lý thì người cán bộ, công chức, viên chức phải có ý thức pháp luật, tôn trọng, nghiêm túc thực hiện, chấp hành và tuân thủ pháp luật.

Thực trạng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
Một là, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Tư tưởng pháp luật là tiền đề, ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Xây dựng pháp luật bao gồm nhiều bước với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của họ về nội dung của chính sách, về cách thức và kỹ thuật xây dựng pháp luật, về nội dung điều chỉnh của pháp luật và sử dụng các nguồn luật. Hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay ngày càng được hoàn thiện, do ý thức pháp quyền ngày càng nâng cao và sự nỗ lực của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tích cực tham gia xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng pháp luật cũng còn một số hạn chế nhất định, như một số nội dung trong chủ trương của Đảng về công tác cán bộ chưa được thể chế hóa kịp thời; một số quy định trong hệ thống pháp luật thiếu thống nhất với nhau, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn... Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm nêu trên, trong đó có sự nhận thức chưa sâu sắc, thiếu thống nhất một số chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng còn hạn chế…(3).

Hai là, ý thức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện pháp luật.
Ý thức thi hành (chấp hành), áp dụng, sử dụng, tuân thủ pháp luật là nội dung quan trọng nhất trong ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Ý thức pháp luật thấp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiệu quả thực hiện pháp luật thấp. Thông qua hành động thực hiện pháp luật của họ, pháp luật đã hiện thực và phát huy vai trò trong cuộc sống. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức nhận thức rõ nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, có ý thức tổ chức kỷ luật. Ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong thời gian qua đã có chuyển biến tích cực. Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội. Điều này góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương, phép nước có nơi còn bị xem nhẹ. Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời. Ý thức chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật vẫn còn hạn chế. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp. Một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước(4).

Ba là, ý thức bảo vệ pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức.
Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước đều hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, có ý thức bảo vệ pháp luật. Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của tổ chức, cá nhân. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, hạn chế các trường hợp khởi tố oan và bỏ lọt tội phạm là đáng ghi nhận. Qua đó cho thấy, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, tạm giữ, tạm giam, thi hành án ngày càng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật(5). An ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Những kết quả đó phản ánh sự cố gắng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, của đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp trong công tác bảo vệ pháp luật.

Cùng với các thành tựu nêu trên, cũng còn một số hạn chế trong ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ pháp luật. Đó là việc xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Công tác tuyên truyền, phòng ngừa tội phạm một số nơi còn hình thức. Một số cán bộ thực thi pháp luật có ý thức kỷ luật kém, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Vẫn còn một số quyết định không khởi tố vụ án bị hủy, quyết định khởi tố vụ án thiếu căn cứ pháp luật, bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung do vi phạm tố tụng. Một số trường hợp oan, kháng nghị phúc thẩm có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận. Những khuyết điểm nêu trên một phần do nhận thức, đánh giá không đúng về hành vi, mức độ phạm tội, sai sót trong áp dụng pháp luật và do cố ý, với động cơ vụ lợi của một số cán bộ tư pháp.  

Tiếp tục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
Ý thức pháp luật hình thành từ sự tự giác của cán bộ, công chức, viên chức; nhưng tiền đề, điều kiện để xây dựng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh. Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền; nâng cao năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra(6). Cùng với nâng cao năng lực xây dựng thể chế, cần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong thực thi chức trách, nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải giữ vững nguyên tắc luật định, có kỹ năng sử dụng pháp luật, chọn lọc, tiếp thu và phản biện, vận dụng sáng tạo và áp dụng linh hoạt pháp luật để vừa đạt được mục đích trong giải quyết công việc nhưng vẫn bảo đảm tính hợp pháp của quá trình ra quyết định.

Cần bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật để công lý và trật tự pháp quyền được thực thi; bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Pháp luật nghiêm minh tạo niềm tin và sự tôn trọng của cán bộ, công chức, viên chức đối với pháp luật; đồng thời răn đe, phòng ngừa làm cho họ không dám vi phạm pháp luật. Sự nghiêm minh của pháp luật đòi hỏi các hành vi vi phạm cần được xử lý kịp thời, triệt để, xác định đúng người, đúng hành vi vi phạm, không có ngoại lệ và vùng cấm, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho cán bộ, công chức, viên chức.
Để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, cán bộ, công chức, viên chức phải tự trang bị cho mình kiến thức, tri thức nền tảng, trong đó có tri thức, hiểu biết về pháp luật, kiến thức, tri thức theo ngành, lĩnh vực chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ được giao. Đổi mới giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý theo yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, có ý thức trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tôn trọng và chấp hành pháp luật. Nhiệm vụ giảng dạy pháp luật, bồi dưỡng pháp lý không chỉ giúp người học hiểu rõ, hiểu đúng pháp luật mà còn trang bị cho người học phương pháp, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề pháp lý, cách tư duy lôgic, hệ thống, sáng tạo và liên ngành. Thu hút sự tham gia giảng dạy của các nhà khoa học, luật sư, luật gia, người làm thực tiễn. Trong nội dung đào tạo pháp luật cần tăng hàm lượng tri thức về pháp luật quốc tế, cung cấp cho người học tư duy sáng tạo ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng phó với biến đổi xã hội do tác động của đại dịch COVID-19 và chủ động định hình quá trình chuyển đổi của xã hội, chuyển đổi số. Chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội, tôn trọng và chấp hành pháp luật, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ, công chức, viên chức. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại, đồng thời chú trọng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của hoạt động bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp(7).

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng chính trị và ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”, sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, đảng viên. Ngoài ra, để tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức thì cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
Phong cách lãnh đạo, quản lý, điều hành, đạo đức, văn hóa ứng xử của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Nếu người đứng đầu biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến tham mưu, tư vấn đúng pháp luật, những ý kiến phản biện hợp lý có tính xây dựng, biết đánh giá đúng năng lực, sở trường của cán bộ, công chức, viên chức, biết động viên, khích lệ, tạo thuận lợi cho họ cống hiến, quan tâm lợi ích và công bằng trong đãi ngộ thì sẽ phát huy được năng lực, sở trường của họ; ngược lại sẽ khiến giảm sút động lực phấn đấu. Nếu người đứng đầu tôn trọng và làm việc đúng pháp luật thì sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho cộng sự và cả hệ thống giúp việc. Vì vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong tôn trọng, chấp hành, tuân thủ và bảo vệ pháp luật, duy trì kỷ luật lao động, nội quy cơ quan, văn hóa công sở.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa công sở văn minh, lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn.
Văn hóa tác động rất lớn đến tâm lý pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng môi trường làm việc văn minh, lành mạnh, kỷ luật, dân chủ, đoàn kết, chân thành, thân thiện, mọi người tự giác làm việc, tôn trọng, tin cậy, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ giá trị và phấn đấu vì mục tiêu chung giúp cho cán bộ, công chức, viên chức có tâm lý thoải mái, yên tâm công tác, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Ngược lại, nếu trong cơ quan có cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật lao động, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, không còn uy tín đối với quần chúng nhưng không bị xử lý kịp thời thì sẽ gây ra phản ứng tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức, giảm niềm tin vào sự nghiêm minh của pháp luật và ảnh hưởng không tốt đến tâm lý pháp luật của họ.

Nhà nước pháp quyền cần có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có ý thức thượng tôn pháp luật. Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân thủ pháp luật vừa là trách nhiệm, sự rèn luyện của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của các cấp ủy, chính quyền các cấp. Việc xây dựng và thực hiện Chiến lược hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, chiến lược pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới cần rất quan tâm nội dung về tăng cường ý thức pháp luật nói chung, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức nói riêng./.
Yêu nước ST.

 

“Không dám tham nhũng” khi toàn dân tham gia chống tiêu cực

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tới việc phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm,” cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân.

Cử tri thành phố Hải Dương kiến nghị nhiều vấn đề về phòng, chống tham nhũng với các đại biểu Quốc hội. 

Nghị quyết 168/NQ-CP của Chính phủ ngày 11/10/2023 về Chiến lược Quốc gia Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực đến năm 2030 đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có việc nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đây là sự cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng như lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Toàn quốc tổng kết 10 năm công tác Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực giai đoạn 2012-2022 (ngày 30/6/2022): Đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để "không thể," "không dám," "không muốn," "không cần" tham nhũng.

Tiến tới “không dám tham nhũng”

Bất kể ở một thể chế nào thì quyền lực nhà nước phải đi đôi với sự kiểm soát quyền lực nhà nước.

Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các phương thức bên trong như giám sát tối cao từ phía quốc hội (nghị viện) đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; thanh tra, kiểm tra trong bộ máy hành pháp; giám sát, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới; giám đốc thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án...

Chỉ có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong thì chưa đủ, chưa hiệu quả mà cần có cả sự kiểm soát từ bên ngoài (kiểm soát xã hội) gồm các tổ chức chính trị-xã hội, báo chí, người dân, doanh nghiệp.

Việc thu hút đông đảo quần chúng tham gia kiểm soát xã hội là cần thiết và có tác dụng tích cực, nhất là trong việc chống tham nhũng.

Ở nước ta, để nâng cao hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng thì rất cần có sự kiểm soát xã hội với sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, báo chí, doanh nghiệp, ban thanh tra nhân dân và đặc biệt là đông đảo quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam coi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí-thông tấn, các doanh nghiệp và nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tại Hội nghị Toàn quốc tổng kết 10 năm công tác Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực giai đoạn 2012-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tới việc phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm,” cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân, lắng nghe dân.

Để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thông qua thực hiện quyền tố cáo thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì cần phải đề cao trách nhiệm và có những biện pháp thiết thực bảo vệ người tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo để tránh việc trù dập, trả thù của người bị tố cáo.

Nhà nước cần nghiên cứu quy định cụ thể về nguồn kinh phí và những cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động bảo vệ người tố cáo trong trường hợp cần thiết của các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan khác có liên quan.

Nhằm tạo thuận lợi cho nhân dân thực hiện quyền tố cáo, tố giác, cung cấp kịp thời thông tin về tham nhũng, tiêu cực cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì ngoài hai hình thức tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp theo quy định của Luật Tố cáo, cần phải mở rộng thêm các hình thức phản ánh, tố cáo bằng điện thoại thông qua đường dây nóng hoặc trên mạng xã hội.

Khi tiếp nhận tố cáo, tin báo tố giác của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực, cơ quan có thẩm quyền phải phân loại, xem xét, đánh giá.

Những đơn tố cáo, tố giác có cơ sở để xác minh, kết luận thì phải khẩn trương kiểm tra, xác minh theo quy định của Luật Tố cáo và Luật Phòng, chống tham nhũng.

Theo Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra (Thanh tra Nhà nước), nhiều vụ tham nhũng tầm cỡ trong thời gian qua bị “lộ sáng” là do các cơ quan báo chí-thông tấn phát hiện và người dân tố giác.

Việc mở rộng dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là biện pháp phòng ngừa tham nhũng mang lại hiệu quả to lớn.

Cơ chế giám sát dân chủ, giám sát trực tiếp của nhân dân là một trong các kênh giám sát đối với cán bộ, công chức bên cạnh các kênh giám sát thông qua thực thi pháp luật, sự kiểm tra của tổ chức Đảng.

Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của người dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam luôn được coi là một trong những biện pháp cơ bản, hiệu quả nhằm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chúng ta cần lấy người dân làm trung tâm, phát huy sức mạnh cộng đồng trong phản biện, giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tuyên truyền để người dân nhận thức được đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm công dân của mình.

Nhân dân thực hiện quyền giám sát quyền lực nhà nước thông qua giám sát cán bộ, công chức nhà nước, góp ý xây dựng chính sách pháp luật, giám sát việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước.

Nhân dân còn thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đối với việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân được nhà nước trao quyền, với các tổ chức đảng các cấp và mỗi đảng viên trong cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước.

Trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng có một số điểm mới về việc động viên, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tố cáo hành vi tham nhũng.

Để làm được điều này thì phải có cơ chế hiệu quả bảo vệ những người tố cáo hành vi tham nhũng tránh sự trả thù hoặc trù dập.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực.

Trước đó, ngày 10/1/2019, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền phải nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ người tố cáo thuộc phạm vi mình phụ trách.

Cần xác định rõ việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan chức năng ở các cấp.

Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người tố cáo.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành quy định liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo theo hướng cụ thể, đồng bộ, có chế tài xử lý nghiêm khắc, chú trọng các biện pháp phòng ngừa; làm rõ những biểu hiện của hành vi trả thù, trù dập người tố cáo dưới mọi hình thức để làm cơ sở nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý đối với các hành vi này.

Pháp luật Việt Nam cũng có nhiều quy định bảo vệ người tố cáo tham nhũng như giữ bí mật thông tin của người tố cáo, đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo và người thân của họ nhằm ngăn chặn các hành vi trả thù người tố cáo.

Việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí được quy định trong Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định số 22/2019/NĐ-CP ngày 25/2/2019 của Chính phủ về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an Nhân dân, Thông tư 145/2020/TT-BCA của Bộ Công an bảo vệ người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí, Thông tư số 03/2020/TT-BNV của Bộ Nội vụ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức...

Theo lời Tổng Bí thư, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho thấy, có ba lực lượng quan trọng, trở thành trụ cột vững vàng đó là nhân dân, cơ quan pháp luật và báo chí truyền thông.

Ở đâu người dân tích cực tố cáo và tố cáo đúng, được bảo vệ một cách hiệu quả về hành vi dũng cảm của mình thì ở đó tệ nạn tham nhũng giảm bởi đã xuất hiện một yếu tố quan trọng - các đối tượng tha hóa bớt “dám tham nhũng.”

Kinh nghiệm nước ngoài bảo vệ người tố cáo

Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Thúy (Trường Cán bộ Thanh tra, Thanh tra Chính phủ) cho biết các báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng không công bố tỷ lệ các vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý từ sự tố cáo, phản ánh của người dân.

Nhưng qua thực tế chúng ta có thể thấy, phần lớn các vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện là qua thanh, kiểm tra.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Thúy, sở dĩ người dân chưa mạnh dạn tố cáo tham nhũng là vì những lý do sau: Nhiều người chưa hiểu biết về các quy định của pháp luật trong bảo vệ người tố cáo tham nhũng; chính một bộ phận người dân cố tình tiếp tay cho tham nhũng khi muốn được giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, giảm phiền hà nên đã bỏ tiền ra “bôi trơn” để được việc.

Khi người dân chủ động tố giác tham nhũng thì lại thiếu các chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội nên cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường không thụ lý để giải quyết - có trường hợp người dân có chứng cứ nhưng lại không tiết lộ danh tính, tức là tố cáo nặc danh thì cũng thuộc trường hợp không được thụ lý giải quyết.

Bên cạnh đó, có rất nhiều trường hợp người tố cáo tham nhũng bị trù dập như chuyển công tác, bị nhắn tin đe dọa, gây thương tích hoặc khủng bố tinh thần người tố cáo và những người thân của người tố cáo.

Một số chuyên gia pháp lý cho rằng pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền của người tố cáo nói chung và người tố cáo tham nhũng nói riêng tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật nhìn chung chỉ mang tính nguyên tắc, chỉ định tính mà không định lượng, chưa cụ thể và nằm phân tán trong nhiều văn bản với hiệu lực pháp lý khác nhau.

Chúng ta có quá nhiều cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng trong khi thẩm quyền của các cơ quan này còn hạn chế và chồng chéo, không có cơ quan chuyên biệt bảo vệ người tố cáo nói chung và người tố cáo tham nhũng nói riêng.

Theo ông Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII, trong việc khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của người dân trong lĩnh vực tố giác tham nhũng thì nước ta có thể tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới.

Một số quốc gia đã lập đường dây nóng tố cáo tham nhũng hoạt động suốt ngày đêm và có hiệu quả như Colombia, Brasil, Singapore, Australia...

Còn Thái Lan, Singapore cũng như nhiều nước khác chấp nhận giải quyết cả đơn tố cáo nặc danh.

Các nước có biện pháp bảo vệ người tố giác rất chặt chẽ như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Singapore, Australia: giữ bí mật lời khai, chuyển chỗ ở cho người dân để tránh bị phát hiện, trả thù.

Một số nước khen thưởng người tố giác bằng vật chất giá trị cao. Tại Hàn Quốc người tố giác tham nhũng mà mang lại lợi ích về tài sản cho xã hội hoặc giúp tránh được thiệt hại thì được thưởng ít nhất 10% giá trị tăng thêm hoặc giá trị tài sản đáng lẽ bị thiệt hại.

Trung Quốc đã mở trang web 12388.gov.cn để người dân thuận tiện phản ánh mọi trường hợp vi phạm, cung cấp thông tin cho Ủy ban Kiểm tra-Kỷ luật và cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.

Bộ Giám sát, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao, Ban Tổ chức Trung ương còn mở đường dây điện thoại nóng đặc biệt hoạt động suốt ngày đêm để nhân dân trong cả nước tố cáo tham nhũng, tiêu cực.

Bộ Tài chính Trung Quốc treo giải thưởng 15.000 USD (gần 370 triệu đồng) cho người cung cấp thông tin có giá trị về quỹ đen của các cơ quan, đơn vị và thưởng 10% giá trị tài sản của vụ án tham nhũng cho người tố cáo.

CĐ, VS (st)

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN

     Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kế thừa những giá trị tinh hoa trong truyền thống văn hóa dân tộc, vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Theo Người, để quần chúng nhân dân thực hiện được vai trò cách mạng của mình thì cần thực hiện công tác dân vận. “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”; đồng thời, để thực hiện tốt công tác dân vận, mỗi chủ thể tiến hành công tác dân vận phải có phương pháp dân vận cụ thể, dân vận khéo, bởi “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận biểu hiện ở những nội dung sau:

    Thứ nhất, phương pháp dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “lấy dân làm gốc”. Đây là nét đặc sắc tạo nên giá trị, cốt cách trong tư tưởng, đạo đức, phong cách dân vận Hồ Chí Minh. Bản chất phương pháp “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện công tác dân vận là để làm lợi cho dân và để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng. Phương pháp “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán với quan điểm nhân dân là chủ thể tổ chức và chủ thể hành động cách mạng; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân”. Người khẳng định, phương pháp “lấy dân làm gốc” là phải dựa chắc vào nhân dân, vì nhân dân luôn là chủ thể và gốc rễ của mọi thành công, cội nguồn sức mạnh làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”.

    Thứ hai, phương pháp phát huy dân chủ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nước ta là nước dân chủ”. Dân là gốc của nước, là chủ thể của mọi hoạt động sáng tạo lịch sử, là chủ vận mệnh của nước nhà, do đó, dân chủ là tiền đề để thực hiện dân vận. Phát huy dân chủ trong công tác dân vận chi phối thái độ, hành vi, phương pháp ứng xử của người làm dân vận trong quan hệ với nhân dân và là điều kiện, nguyên tắc, mục đích của toàn bộ hoạt động dân vận. Thực chất phương pháp này là thực hành dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc và đều hướng đến dân, tất cả vì dân, nhân dân được tham gia xây dựng và kiến thiết nước nhà. Do vậy, trong nhận thức và thực hành công tác dân vận, các chủ thể tiến hành dân vận cần phát huy tốt vai trò của nhân dân, huy động mọi nguồn lực ở nơi dân, xây dựng môi trường dân chủ thực sự, bằng nhiều hình thức để nhân dân mạnh dạn đóng góp ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Thứ ba, phương pháp tập hợp, tổ chức, lãnh đạo quần chúng. Để cách mạng thắng lợi thực sự, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải có phương pháp tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân trong công tác dân vận. Đó là tổ chức sắp xếp thành hệ thống trình tự các công việc và phụ trách các bước công việc cụ thể, hợp lý, khoa học, mang lại hiệu quả cao. Bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải có kế hoạch; kiên quyết phê phán cách tổ chức công việc tùy tiện, làm lấy lệ, làm không đến nơi, đến chốn. Để phương pháp tổ chức thực sự khoa học thì người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy”. Đứng trước những vấn đề phát sinh của thực tiễn khách quan luôn vận động, biến đổi và nảy sinh những vấn đề khó lường, cán bộ phải đặt câu hỏi: “Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”, có nghĩa là phải nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể, rõ ràng, đưa ra quyết định chính xác và tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn. Bởi vì, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bất cứ công việc gì, nhất là công tác dân vận: “Nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn”, không ăn khớp gì hết”. Do đó, không nên tùy tiện ra quyết định khi chưa nắm chắc thông tin, chưa có kế hoạch rõ ràng và như vậy sẽ không tổ chức, lãnh đạo được quần chúng. Đồng thời, Người nhấn mạnh, muốn tập hợp, tổ chức quần chúng thì phải thông qua phong trào yêu nước, phong trào hoạt động thực tiễn ở đơn vị.

    Thứ tư, phương pháp kiểm tra, giám sát, rút kinh nghiệm. Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị cho đúng, mà điều quan trọng là phải tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra”. Do đó, kiểm tra, giám sát là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng, có tính chất quyết định đến công tác dân vận, điều này “sơ sài” chắc chắn sẽ “hỏng việc”.

    Để thực hiện tốt phương pháp kiểm tra, giám sát, trước hết phải xác định đối tượng, nhất là kiểm tra việc và kiểm tra người. Hai là, phương pháp kiểm tra có hiệu quả phải phụ thuộc rất lớn vào cán bộ phụ trách dân vận. Về điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín”. Đó là những cán bộ có đạo đức cách mạng, chuyên môn, nghiệp vụ phải vững vàng, đồng thời phải thật sự bản lĩnh, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Để nâng cao hiệu quả phương pháp kiểm tra, giám sát, cần phát huy vai trò của quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia, hỗ trợ cán bộ trong thi hành nhiệm vụ, bởi vì: “Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết”. Ba là, phương pháp kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên; phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra phải “mắt thấy, tai nghe”, thực hiện đúng phương châm minh bạch; dân chủ gắn liền với kỷ luật; đi đúng đường lối của quần chúng. Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong công tác dân vận nhất thiết là phải: “Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” và “Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm”. Theo Người, kinh nghiệm đó bao gồm kinh nghiệm chung và riêng của từng cán bộ, địa phương, bao hàm cả kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rút kinh nghiệm rồi thì tổng kết lại và phổ biến những kinh nghiệm đó đến tất cả cán bộ, tất cả địa phương.

    Thứ năm, phương pháp nêu gương. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu và thiết thực. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người cán bộ làm công tác dân vận phải là những tấm gương sống: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

    Để thực hiện tốt phương pháp này, mỗi chủ thể cần phải tu dưỡng, rèn luyện thái độ ứng xử với dân, phải thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, điều đó sẽ giúp cho kết quả tuyên truyền lên gấp bội. Do vậy, Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận phải là kiểu mẫu về phẩm chất, đạo đức, lối sống trong mọi lúc, ở mọi nơi; nói phải đi đôi với làm, để quần chúng noi theo, tức là phải nêu gương bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể, làm mực thước cho quần chúng noi theo. Đó là tác phong quần chúng biểu hiện ở sự bám sát thực tiễn, gần gũi nhân dân, thực hành dân chủ, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, cán bộ dân vận phải là người có đạo đức hành động và nêu gương, bởi “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC VIỆC TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY

     Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xem xét nguyện vọng và cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu đối với một số cán bộ cấp cao. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về bản chất vấn đề nhằm gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    Trên các trang nhóm phản động “Việt Tân”, “Dân làm báo”, “RFA”,… thường xuyên đăng tải các bài viết có luận điệu xuyên tạc, hướng lái sự việc theo chiều hướng tiêu cực khi cho rằng, đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”, “bất ổn chính trị”... Thông qua việc dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, bọn chúng muốn hạ thấp uy tín, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân, từ đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Mục đích của các đối tượng này là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Sau quá trình bị tác động bởi những thông tin xấu một cách thụ động thì người dân đã tìm đến các thông tin này một cách chủ động. Đây là việc cực kỳ nguy hiểm trong tình hình hiện nay.

    Vấn đề miễn nhiệm, từ chức đã được đặt ra trong các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và được luật hóa trong hệ thống pháp luật nhà nước, cụ thể tại Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Mục tiêu của việc miễn nhiệm cán bộ vừa đáp ứng nguyện vọng của cá nhân, vừa góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, quản lý, sử dụng cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và đảm bảo đúng quy định.

    Hay tại Thông báo số 20-TB/TW ngày 8/9/2022 thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nêu rõ: “Việc bố trí công tác đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nhằm thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Quy định của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, thực hiện phương châm "có vào, có ra, có lên, có xuống" trong công tác cán bộ, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ bị kỷ luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện; góp phần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định…”. Qua chủ trương này cho thấy chính sách nhân văn, đạo đức của Đảng, Nhà nước ta khi tạo ra một hướng mở cho cán bộ vi phạm có cơ hội sửa chữa, phấn đấu rèn luyện.

    Như vậy, miễn nhiệm, từ chức là việc hết sức bình thường, Đảng và Nhà nước ta thực hiện miễn nhiệm, từ chức trong cán bộ theo đúng quy định, nguyên tắc. Người dân cần nhận thức rõ quan điểm này để từ đó giữ vững lập trường chính trị, không để các thế lực xấu dẫn dắt, lợi dụng để cố tình xuyên tạc, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Những luận điệu cho rằng đó là việc “củng cố quyền lực” hay “thâu tóm quyền lực cá nhân” chỉ là một chiêu trò của một số cá nhân chống phá nhằm bôi nhọ danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và hạ thấp uy tín của Đảng. Một khi toàn Đảng đã thống nhất, lòng dân đã thuận thì không một thế lực nào, một thủ đoạn nào có thể làm thay đổi được ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁO CHÍ VÀ BÀI HỌC TỪ 12 CHỮ “PHÊ BÌNH” CỦA BÁC!

     Cách đây 62 năm, vào tháng 9/1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài nói chuyện quan trọng mang tính định hướng cả trong tư duy lẫn nghiệp vụ đối với những nhà báo. Sau hơn nửa thế kỷ, vấn đề Bác đặt ra với người làm báo cũng như với báo chí cách mạng Việt Nam vẫn còn nguyên tính thời sự. Đặc biệt là vấn đề phê bình và tự phê bình của báo chí!

12 chữ phê bình của Bác
Bài nói chuyện của Bác Hồ tại Đại hội III ngắn gọn nhưng vừa khái quát được chức năng, nhiệm vụ, vai trò và sứ mệnh của báo chí cách mạng vừa cụ thể về công việc, “bếp núc” của người làm báo.

Bác lấy “tư cách một đồng chí có ít nhiều kinh nghiệm về báo chí” nói về vấn đề phê bình và tự phê bình.

Tổng cộng Bác dùng 12 chữ “phê bình”.

Đầu tiên về vai trò của phê bình, Bác dùng hai từ “phê bình”: “Phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và rất sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”.

Tiếp đến, Bác nói về phương pháp phê bình của báo chí. Trong đoạn nói ngắn gọn, bác dùng ba từ “phê bình”. Bác chỉ ra, báo chí “phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng, “trị bệnh cứu người”. Chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”.

Mở rộng ra, Bác nói về đối tượng tiếp nhận phê bình, Bác nhấn mạnh với bốn từ “phê bình”: “Những người (bất kỳ ở địa vị nào) và những cơ quan được phê bình phải có thái độ thật thà, khiêm tốn. Phê bình đúng thì phải đăng báo nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Nếu phê bình sai thì đăng báo giải thích. Không được “phớt” lời phê bình, không “trù” người phê bình”.

Bác dùng cụm từ “được phê bình” chứ không phải “bị phê bình” cho thấy quan điểm và tính nhân văn trong quá trình nhận sai và sửa sai.

Chữ “phê bình” thứ 10, Bác nói về “căn bệnh” sợ phê bình của một vài cán bộ cơ quan: “Có một vài cán bộ, cơ quan, vì sợ phê bình mà chẳng những không giúp đỡ người viết báo lại còn có thái độ không tốt đối với họ, thậm chí đi kiện họ trước tòa án”.

Chữ “phê bình” thứ 11, Bác đề nghị các báo “khuyến khích quần chúng giúp ý kiến và phê bình báo mình để tiến bộ mãi”.

Chữ “phê bình” thứ 12, Bác đã “xung phong” phê bình các báo. Bác đặt ra mấy vấn đề:

“Bài báo thường quá dài, dây cà ra dây muống, không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng.

Thường nói một chiều, đôi khi thổi phồng các thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức các khó khăn, khuyết điểm của ta.

Đưa tin hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng.

Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài, nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau.

Lộ bí mật.

Có khi quá lố bịch.

Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không chuẩn…”

Đó là những vấn đề quá đúng và quá trúng không chỉ với báo chí thời điểm đó mà cho đến nay vẫn là những bài học cơ bản của báo chí.

Đây chính là phê bình trên tinh thần xây dựng, giúp báo chí “sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Việc phê bình báo chí được Bác khéo léo đưa ra như một ví dụ chính xác về phê bình và người tiếp nhận cảm thấy “được phê bình” chứ không phải “bị phê bình”.

Không chỉ phê bình, với báo chí, Bác còn gợi mở cách để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Cũng trong bài nói chuyện ấy, bác đưa ra kinh nghiệm của mình:

“Mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc. Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm”.

Chỉ mấy câu ngắn gọn của Bác có giá trị hơn rất nhiều giáo trình. Đó là khi viết báo phải xác định ngay đối tượng, mục đích sau đó mới đến cách thể hiện và cuối cùng là lời dạy về sự khiêm tốn, cần chịu khó học hỏi trong nghề báo, của người làm báo.

12 chữ “phê bình” của Bác trong một bài nói chuyện 62 năm về trước có giá trị và sức sống lâu bền. Cho dù báo chí, công nghệ có phát triển đến đâu thì những lời dạy của Bác vẫn là những bài học quý giá.

Tiếp thu phê bình để phát huy vai trò “đi trước, mở đường” của báo chí
62 năm qua, kể từ bài nói chuyện của Bác tại Đại hội III Hội Nhà báo, lực lượng báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển hùng hậu, cùng dân tộc và đất nước đi qua nhiều thành công. Người làm báo đã thực hiện đúng những mong mỏi của Bác “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế đi sâu vào quần chúng lao động”.

Báo chí cũng làm tốt công tác phê bình. Đó là phê bình những thói hư tật xấu, đặc biệt là phê bình, làm rõ hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong xã hội góp phần vào thành quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, được nhân dân ủng hộ.

Tuy nhiên, vẫn có những việc, những điều mà báo chí cũng như người làm báo cần soi lại mình, cần tiếp tục tự phê bình.

Một số tồn tại, hạn chế của báo chí hiện nay đã được đồng chí Võ Văn Thương, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thẳng thắn chỉ ra tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2025, đó là: “Một bộ phận nhà báo còn thiếu tính chuyên nghiệp; thiếu tinh thần tự học, tự bồi dưỡng; thậm chí có tình trạng chữ nghĩa vụng về, cẩu thả; trình độ tin học, ngoại ngữ, hiểu biết thông lệ, luật pháp quốc tế và giao lưu quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông kỹ thuật số. Số lượng nhà báo được đào tạo để ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động báo chí chưa nhiều.

Một số cơ quan báo chí và người làm báo chạy theo thị hiếu tầm thường, lợi ích cá nhân, sa đà vào thông tin mặt trái của xã hội, thiếu tính nhân văn, phản giáo dục, thậm chí làm sai lệch bản chất sự việc. Công tác quản lý báo chí chưa theo kịp thực tiễn, chưa đáp ứng sự phát triển của báo chí. Số lượng cơ quan báo chí tăng nhanh; nhiều cơ quan chủ quản buông lỏng quản lý, phó mặc cơ quan báo chí; tôn chỉ mục đích bị xem nhẹ”.

Báo chí là công việc đòi hỏi người làm báo phải có tư duy nhạy bén, có sự nhạy cảm và bản lĩnh chính trị vững vàng; có năng lực phân tích, đánh giá đúng và trúng những vấn đề đang diễn ra và dự báo xu hướng vận động trong đời sống xã hội; người làm báo phải nhận thức được vai trò, trách nhiệm, sứ mệnh nghề nghiệp, có khả năng thích ứng với thời cuộc, nắm bắt và làm chủ công nghệ làm báo hiện đại, tiệm cận với báo chí, truyền thông quốc tế, nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của người làm báo cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo chí Việt Nam cần đội ngũ những người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, có ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức phục vụ Đảng, phục vụ đất nước và nhân dân; có dũng khí đấu tranh với cái sai, bảo vệ cái đúng; biết vượt qua cám dỗ, loại bỏ được sự vô cảm, tính vị kỷ, thói hưởng thụ, lòng tham và sự giả dối, thực sự tâm huyết, công tâm, khách quan trong thực thi nhiệm vụ, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân và danh dự của cá nhân trên từng trang viết.

Bản lĩnh và tâm thế của người làm báo hôm nay còn phải được thể hiện ở tinh thần tự phê bình, quyết tâm sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, tồn tại. Có như vậy mới xứng đáng vai trò tiên phong trong ổn định tư tưởng, tâm trạng xã hội, phát huy vai trò “đi trước, mở đường”. Có như vậy, người làm báo mới thực sự đảm nhận được trách nhiệm của một “chiến sĩ cách mạng” như Bác Hồ từng căn dặn./.
Yêu nước ST.

PHẢN BÁC RFA XUYÊN TẠC NHÂN QUYỀN VIỆT NAM

     Mới đây, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra báo cáo nhân quyền năm 2023 trong đó có những nhận định phiến diện, sai thực tế đã bị Việt Nam và nhiều tổ chức quốc tế phản đối. Tiếp theo đó, RFA và nhiều trang mạng khác phát tán thêm nhiều tin bài khuếch trương, điều đáng nói là những tin bài đó đều ra sức xuyên tạc, thêu dệt dù không có một bằng chứng thực tế nào. Trong phần đầu của báo cáo này đã trắng trợn đưa ra những thông tin hoàn toàn sai thực tế. Chúng không ngần ngại vu cáo Việt Nam “… hạn chế nghiêm trọng tự do biểu đạt và tự do báo chí, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, ra các luật về hành vi phỉ báng mang tính chất hình sự. Hạn chế nghiêm trọng tự do Internet; can thiệp đáng kể vào quyền tự do hội họp hòa bình và tự do lập hội; bao gồm các luật hạn chế quá mức đối với việc tổ chức, tài trợ hoặc hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự; hạn chế tự do đi lại, trong đó có việc cấm xuất cảnh đối với các nhà hoạt động…”, “Những gì mà nội dung bản báo cáo phản ánh, trong thực tế còn khắc nghiệt hơn. Thời gian vừa qua nhà cầm quyền Việt Nam tăng cường đàn áp, bắt bớ những người bất đồng qua điểm, quấy nhiễu gia đình người tù chính trị và tăng cường đàn áp tù nhân chính trị trong trại giam”… Rồi đi đến quy kết: Nội dung báo cáo không có gì bất ngờ, vấn đề của nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tồn tại hàng chục năm qua, từ khi cộng sản nắm quyền cai trị đất nước. Nhân quyền và dân quyền không được thực thi!…

    Trên diễn đàn quốc tế, đầu tháng 5/2024, tại Trụ sở LHQ, đoàn đại biểu nước ta đã tham gia tích cực Phiên đối thoại theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền LHQ. Tại diễn đàn này, cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao thành tựu về nhân quyền của Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Kể từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Hiến pháp, pháp luật, nhiều chính sách nâng cao quyền con người, thể hiện rõ nét ở những thay đổi trên thực tế, đời sống vật chất, tinh thần của mọi người dân không ngừng được cải thiện.

    Về đời sống kinh tế – xã hội, chỉ tính từ năm 1993, hơn 40 triệu người đã thoát cảnh đói nghèo. Và kể từ năm 2005, tỷ lệ nghèo đa chiều đã giảm hơn một nửa. Nước ta từ vị thế bị bao vây cấm vận, kinh tế khủng hoảng, đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, và góp phần vào duy trì an ninh lương thực trong khu vực và thế giới. Trong hơn 20 năm qua, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp 40 lần. Những kết quả này được nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận.

    Về phát huy dân chủ, quyền tiếp cận thông tin, Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và nhiều luật, quy định liên quan, nhiều chương trình giảm nghèo thông tin, xây dựng các thiết chế, cơ sở vật chất, từng bước làm giàu đời sống thông tin tinh thần người dân. Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội ở Việt Nam đã tạo nên sự phát triển vượt trội về tự do báo chí, tự do ngôn luận, mọi người dân đều có thể truy cập nhiều mạng xã hội, tạo nên các tài khoản trên mạng xã hội, tiếp cận thông tin nhanh chưa từng, trong đó có những mặt trái thông tin sai lệch, thông tin chưa kiểm chứng…. Số lượng người sử dụng internet ở ta tăng nhanh đạt hơn 78 triệu người dùng, có 25 triệu thuê bao di động được đăng ký mới, và mạng 4G đã bao phủ xấp xỉ 99,8% dân số.

    Các quyền tự do lập hội, an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bình đẳng giới, phát triển bền vững… được phát huy. Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 72.000 hội đang hoạt động và có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, các chương trình của nhà nước, các gói an sinh xã hội trị giá gần 88.000 tỷ đồng, chiếm 1% GDP quốc gia, đã được phân bổ hiệu quả cho các nhóm cụ thể…

    Theo chính UNDP, Việt Nam có chỉ số phát triển con người tiếp tục tăng từ hạng 115 lên 107, được xếp trong nhóm có chỉ số cao. Về chỉ số bình đẳng giới, nếu năm 2021 chỉ số của Việt Nam xếp thứ 87/146, nay đã xếp thứ 72/146, tăng lên 15 bậc. Những kết quả trên đây cho thấy những nỗ lực không ngừng nghỉ của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người.

    Tuy nhiên với thái độ thù địch, thiếu thiện chí, nhằm thực hiện mưu đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng sự kiện Việt Nam thực hiện Báo cáo quốc gia theo Cơ chế UPR chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc để không ngừng tấn công, đưa thông tin sai lệch về quyền con người ở Việt Nam.

    Điều nực cười là các đối tượng hùa theo phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc thù địch mà không hề biết thực hư thông tin như thế nào. Ví dụ như gần đây, Việt Tân tổ chức cuộc biểu tình livestream trên mạng xã hội. Dễ dàng nhận thấy mục tiêu của cuộc biểu tình này không chỉ để xuyên tạc nhân quyền trong nước mà còn là chống phá Đảng, Nhà nước, hạ thấp uy tín của Việt Nam. Các yêu sách đưa ra vẫn quen thuộc và vẫn vô căn cứ, yêu sách đòi nhà cầm quyền “ngưng bắt bớ, đàn áp người dân”, “trả tự do cho những người bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm”. Những người được nhóm biểu tình xướng tên như Lê Đình Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Thúy Hạnh… Nhưng khi chúng hô vang tên Lê Thị Công Nhân, chính người dẫn dắt livetreams còn gọi nhầm là Phạm Công Nhân, song cả đám “vẹt” vẫn đồng loạt hô theo! Những đối tượng mà nhóm biểu tình nêu tên đó đều đã khá “nổi tiếng” nhờ các tội trạng đóng góp cho hoạt động chống phá và đã được xét xử theo pháp luật. Như Lê Đình Lượng đã có hành vi lôi kéo người khác vào tổ chức khủng bố Việt Tân, lợi dụng mạng xã hội đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, y đã được Tòa án tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” năm 2018 với hình phạt 20 năm tù. Nguyễn Thúy Hạnh, năm 2021 đã bị khởi tố, tạm giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”…

    Dù Việt Nam có phát triển như thế nào, dù những kết quả về nhân quyền đã đạt được đáng ghi nhận, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao ra sao, thì các đối tượng thù địch, phản động vẫn luôn không ngừng hoạt động, âm mưu, thủ đoạn chống phá. Nhưng chúng không thể đổi trắng thay đen. Bởi thực tế sừng sững về những thành tựu phát triển tự do ngôn luận, tự do thông tin, Internet, mạng xã hội cũng như những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi mặt. Nhân dân Việt Nam vẫn trên con đường phát triển, Việt Nam tiếp tục không ngừng thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đề ra, nâng cao khả năng thụ hưởng các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa cho mọi người dân…/.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP, TÁCH RỜI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Thời gian gần đây lại rộ lên nhiều bài viết, video clip tán phát trên các trang báo nước ngoài bằng tiếng Việt, mạng xã hội... với luận điệu cho rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời” và đưa ra lời khuyên:

“Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng là đủ”, phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Luận điệu này nhằm xuyên tạc, chống phá, hòng đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Nhận diện, vạch trần thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Vạch trần bản chất, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc

“Đến hẹn lại lên”, cứ mỗi khi Đảng ta làm công tác chuẩn bị văn kiện cho đại hội đảng các cấp, các hội, nhóm, cộng đồng chống cộng, phản động lưu vong, cơ hội chính trị như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các trung tâm truyền thông đối lập... lại gia tăng các bài viết xuyên tạc, chống phá, trong đó tập trung mũi nhọn đánh phá vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận vai trò nền tảng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng ta.

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng gần đây chính là đánh tráo khái niệm, phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng”. Để chứng minh cho điều đó, cuối năm 2023, đầu năm 2024, trên trang BBC tiếng Việt và các trang mạng xã hội của Việt Tân... đã đưa ra nhiều bài viết, video clip với các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, xuyên tạc và vô lối khi cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của mình (?!).

Khi nói xấu, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh không thành, với bản chất “tiền hậu bất nhất”, “đổi trắng thay đen” của những kẻ phản động, trơ trẽn, họ lại quay ra sử dụng bộ mặt giả tạo, ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị và hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!), đây chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thậm chí họ còn cho rằng phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin” để Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thành nền tảng tư tưởng chủ yếu của Đảng. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, biện bạch rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, không phù hợp với văn hóa và thực tiễn Việt Nam. Họ còn vin vào cái cớ về “yếu tố địa lý” khi cho rằng: Nước Đức, nước Nga-quê hương của C.Mác và V.I.Lênin-ở phương Tây. Sự ra đời Chủ nghĩa Mác-Lênin ở bên ấy, cần cho bên ấy, còn Việt Nam ở phương Đông, cách nhau nửa vòng trái đất nên không phù hợp.

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam

Những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Đây thực chất là những quan điểm sai trái, xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Các quan điểm đó tưởng như là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự dọn đường cho ý thức hệ tư sản xâm nhập vào Việt Nam; gián tiếp phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin; cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản; đồng thời là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, Chủ nghĩa Mác-Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Xét về góc độ lịch sử, chính Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp nhất quyết định sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, có sự thống nhất về mặt cơ sở phương pháp luận với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này chính thức bác bỏ những quan điểm xuyên tạc cho rằng giữa hai học thuyết, tư tưởng này có sự đối lập và tách rời nhau. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của nhân loại... Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn nguyên giá trị ở Việt Nam khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, trở thành nền tảng lý luận xuyên suốt của Đảng ta, thấm sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc, cội nguồn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay”. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 15-7-1969, trong bài trả lời phỏng vấn cuối cùng trước phóng viên Sáclơ Phuốcniô của Báo L’Humanité (Pháp), Bác đã nói: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn.

Bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện mối quan hệ “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Những luận điệu xuyên tạc trên đều là sai lầm, mục đích chính cũng là phủ nhận, tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, trong suốt quá trình đổi mới, các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và trong quá trình đổi mới nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng rút ra bài học số một sau 15 năm đổi mới là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó văn kiện khẳng định vị trí quan trọng của Cương lĩnh năm 1991: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh, một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Điều này chứng tỏ luận điệu của các thế lực phản động cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập và tách rời với Chủ nghĩa Mác-Lênin”... chỉ là một sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.