Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 4 CÁ NHÂN ĐỀ NGHỊ TRUY TẶNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN:
NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, VIÊN CHỨC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM!
“Không dám tham nhũng” khi toàn dân tham gia chống tiêu cực
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tới việc phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm,” cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân.

Nghị quyết 168/NQ-CP của Chính phủ ngày 11/10/2023 về Chiến lược Quốc gia Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực đến năm 2030 đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có việc nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đây là sự cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng như lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Toàn quốc tổng kết 10 năm công tác Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực giai đoạn 2012-2022 (ngày 30/6/2022): Đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để "không thể," "không dám," "không muốn," "không cần" tham nhũng.
Tiến tới “không dám tham nhũng”
Bất kể ở một thể chế nào thì quyền lực nhà nước phải đi đôi với sự kiểm soát quyền lực nhà nước.
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các phương thức bên trong như giám sát tối cao từ phía quốc hội (nghị viện) đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; thanh tra, kiểm tra trong bộ máy hành pháp; giám sát, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới; giám đốc thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án...
Chỉ có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong thì chưa đủ, chưa hiệu quả mà cần có cả sự kiểm soát từ bên ngoài (kiểm soát xã hội) gồm các tổ chức chính trị-xã hội, báo chí, người dân, doanh nghiệp.
Việc thu hút đông đảo quần chúng tham gia kiểm soát xã hội là cần thiết và có tác dụng tích cực, nhất là trong việc chống tham nhũng.
Ở nước ta, để nâng cao hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng thì rất cần có sự kiểm soát xã hội với sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, báo chí, doanh nghiệp, ban thanh tra nhân dân và đặc biệt là đông đảo quần chúng nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam coi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí-thông tấn, các doanh nghiệp và nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Tại Hội nghị Toàn quốc tổng kết 10 năm công tác Phòng, Chống Tham nhũng, Tiêu cực giai đoạn 2012-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tới việc phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm,” cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân, lắng nghe dân.
Để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thông qua thực hiện quyền tố cáo thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì cần phải đề cao trách nhiệm và có những biện pháp thiết thực bảo vệ người tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo để tránh việc trù dập, trả thù của người bị tố cáo.
Nhà nước cần nghiên cứu quy định cụ thể về nguồn kinh phí và những cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động bảo vệ người tố cáo trong trường hợp cần thiết của các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan khác có liên quan.
Nhằm tạo thuận lợi cho nhân dân thực hiện quyền tố cáo, tố giác, cung cấp kịp thời thông tin về tham nhũng, tiêu cực cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì ngoài hai hình thức tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp theo quy định của Luật Tố cáo, cần phải mở rộng thêm các hình thức phản ánh, tố cáo bằng điện thoại thông qua đường dây nóng hoặc trên mạng xã hội.
Khi tiếp nhận tố cáo, tin báo tố giác của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực, cơ quan có thẩm quyền phải phân loại, xem xét, đánh giá.
Những đơn tố cáo, tố giác có cơ sở để xác minh, kết luận thì phải khẩn trương kiểm tra, xác minh theo quy định của Luật Tố cáo và Luật Phòng, chống tham nhũng.
Theo Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra (Thanh tra Nhà nước), nhiều vụ tham nhũng tầm cỡ trong thời gian qua bị “lộ sáng” là do các cơ quan báo chí-thông tấn phát hiện và người dân tố giác.
Việc mở rộng dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là biện pháp phòng ngừa tham nhũng mang lại hiệu quả to lớn.
Cơ chế giám sát dân chủ, giám sát trực tiếp của nhân dân là một trong các kênh giám sát đối với cán bộ, công chức bên cạnh các kênh giám sát thông qua thực thi pháp luật, sự kiểm tra của tổ chức Đảng.
Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của người dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam luôn được coi là một trong những biện pháp cơ bản, hiệu quả nhằm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chúng ta cần lấy người dân làm trung tâm, phát huy sức mạnh cộng đồng trong phản biện, giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tuyên truyền để người dân nhận thức được đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm công dân của mình.
Nhân dân thực hiện quyền giám sát quyền lực nhà nước thông qua giám sát cán bộ, công chức nhà nước, góp ý xây dựng chính sách pháp luật, giám sát việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước.
Nhân dân còn thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đối với việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân được nhà nước trao quyền, với các tổ chức đảng các cấp và mỗi đảng viên trong cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước.
Trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng có một số điểm mới về việc động viên, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tố cáo hành vi tham nhũng.
Để làm được điều này thì phải có cơ chế hiệu quả bảo vệ những người tố cáo hành vi tham nhũng tránh sự trả thù hoặc trù dập.

Trước đó, ngày 10/1/2019, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền phải nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ người tố cáo thuộc phạm vi mình phụ trách.
Cần xác định rõ việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan chức năng ở các cấp.
Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người tố cáo.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành quy định liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo theo hướng cụ thể, đồng bộ, có chế tài xử lý nghiêm khắc, chú trọng các biện pháp phòng ngừa; làm rõ những biểu hiện của hành vi trả thù, trù dập người tố cáo dưới mọi hình thức để làm cơ sở nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý đối với các hành vi này.
Pháp luật Việt Nam cũng có nhiều quy định bảo vệ người tố cáo tham nhũng như giữ bí mật thông tin của người tố cáo, đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo và người thân của họ nhằm ngăn chặn các hành vi trả thù người tố cáo.
Việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí được quy định trong Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định số 22/2019/NĐ-CP ngày 25/2/2019 của Chính phủ về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an Nhân dân, Thông tư 145/2020/TT-BCA của Bộ Công an bảo vệ người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí, Thông tư số 03/2020/TT-BNV của Bộ Nội vụ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức...
Theo lời Tổng Bí thư, kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho thấy, có ba lực lượng quan trọng, trở thành trụ cột vững vàng đó là nhân dân, cơ quan pháp luật và báo chí truyền thông.
Ở đâu người dân tích cực tố cáo và tố cáo đúng, được bảo vệ một cách hiệu quả về hành vi dũng cảm của mình thì ở đó tệ nạn tham nhũng giảm bởi đã xuất hiện một yếu tố quan trọng - các đối tượng tha hóa bớt “dám tham nhũng.”
Kinh nghiệm nước ngoài bảo vệ người tố cáo
Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Thúy (Trường Cán bộ Thanh tra, Thanh tra Chính phủ) cho biết các báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng không công bố tỷ lệ các vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý từ sự tố cáo, phản ánh của người dân.
Nhưng qua thực tế chúng ta có thể thấy, phần lớn các vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện là qua thanh, kiểm tra.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Thúy, sở dĩ người dân chưa mạnh dạn tố cáo tham nhũng là vì những lý do sau: Nhiều người chưa hiểu biết về các quy định của pháp luật trong bảo vệ người tố cáo tham nhũng; chính một bộ phận người dân cố tình tiếp tay cho tham nhũng khi muốn được giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, giảm phiền hà nên đã bỏ tiền ra “bôi trơn” để được việc.
Khi người dân chủ động tố giác tham nhũng thì lại thiếu các chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội nên cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường không thụ lý để giải quyết - có trường hợp người dân có chứng cứ nhưng lại không tiết lộ danh tính, tức là tố cáo nặc danh thì cũng thuộc trường hợp không được thụ lý giải quyết.
Bên cạnh đó, có rất nhiều trường hợp người tố cáo tham nhũng bị trù dập như chuyển công tác, bị nhắn tin đe dọa, gây thương tích hoặc khủng bố tinh thần người tố cáo và những người thân của người tố cáo.
Một số chuyên gia pháp lý cho rằng pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền của người tố cáo nói chung và người tố cáo tham nhũng nói riêng tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Tuy nhiên, các quy định pháp luật nhìn chung chỉ mang tính nguyên tắc, chỉ định tính mà không định lượng, chưa cụ thể và nằm phân tán trong nhiều văn bản với hiệu lực pháp lý khác nhau.
Chúng ta có quá nhiều cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng trong khi thẩm quyền của các cơ quan này còn hạn chế và chồng chéo, không có cơ quan chuyên biệt bảo vệ người tố cáo nói chung và người tố cáo tham nhũng nói riêng.
Theo ông Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII, trong việc khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của người dân trong lĩnh vực tố giác tham nhũng thì nước ta có thể tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới.
Một số quốc gia đã lập đường dây nóng tố cáo tham nhũng hoạt động suốt ngày đêm và có hiệu quả như Colombia, Brasil, Singapore, Australia...
Còn Thái Lan, Singapore cũng như nhiều nước khác chấp nhận giải quyết cả đơn tố cáo nặc danh.
Các nước có biện pháp bảo vệ người tố giác rất chặt chẽ như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Singapore, Australia: giữ bí mật lời khai, chuyển chỗ ở cho người dân để tránh bị phát hiện, trả thù.
Một số nước khen thưởng người tố giác bằng vật chất giá trị cao. Tại Hàn Quốc người tố giác tham nhũng mà mang lại lợi ích về tài sản cho xã hội hoặc giúp tránh được thiệt hại thì được thưởng ít nhất 10% giá trị tăng thêm hoặc giá trị tài sản đáng lẽ bị thiệt hại.
Trung Quốc đã mở trang web 12388.gov.cn để người dân thuận tiện phản ánh mọi trường hợp vi phạm, cung cấp thông tin cho Ủy ban Kiểm tra-Kỷ luật và cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.
Bộ Giám sát, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao, Ban Tổ chức Trung ương còn mở đường dây điện thoại nóng đặc biệt hoạt động suốt ngày đêm để nhân dân trong cả nước tố cáo tham nhũng, tiêu cực.
Bộ Tài chính Trung Quốc treo giải thưởng 15.000 USD (gần 370 triệu đồng) cho người cung cấp thông tin có giá trị về quỹ đen của các cơ quan, đơn vị và thưởng 10% giá trị tài sản của vụ án tham nhũng cho người tố cáo.
CĐ, VS (st)
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kế thừa những giá trị tinh hoa trong truyền thống văn hóa dân tộc, vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Theo Người, để quần chúng nhân dân thực hiện được vai trò cách mạng của mình thì cần thực hiện công tác dân vận. “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”; đồng thời, để thực hiện tốt công tác dân vận, mỗi chủ thể tiến hành công tác dân vận phải có phương pháp dân vận cụ thể, dân vận khéo, bởi “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận biểu hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, phương pháp dân vận của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là “lấy dân làm gốc”. Đây là nét đặc sắc tạo nên giá trị, cốt cách trong
tư tưởng, đạo đức, phong cách dân vận Hồ Chí Minh. Bản chất phương pháp “lấy
dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện công tác dân vận là để
làm lợi cho dân và để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng.
Phương pháp “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán với quan
điểm nhân dân là chủ thể tổ chức và chủ thể hành động cách mạng; cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn
đều vì dân”. Người khẳng định, phương pháp “lấy dân làm gốc” là phải dựa chắc
vào nhân dân, vì nhân dân luôn là chủ thể và gốc rễ của mọi thành công, cội
nguồn sức mạnh làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta: “Chúng ta phải ghi
tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn
mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”.
Thứ hai, phương pháp phát huy dân chủ. Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, “Nước ta là nước dân chủ”. Dân là gốc của nước, là chủ thể
của mọi hoạt động sáng tạo lịch sử, là chủ vận mệnh của nước nhà, do đó, dân
chủ là tiền đề để thực hiện dân vận. Phát huy dân chủ trong công tác dân vận
chi phối thái độ, hành vi, phương pháp ứng xử của người làm dân vận trong quan
hệ với nhân dân và là điều kiện, nguyên tắc, mục đích của toàn bộ hoạt động dân
vận. Thực chất phương pháp này là thực hành dân chủ và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc và đều hướng đến dân, tất cả
vì dân, nhân dân được tham gia xây dựng và kiến thiết nước nhà. Do vậy, trong
nhận thức và thực hành công tác dân vận, các chủ thể tiến hành dân vận cần phát
huy tốt vai trò của nhân dân, huy động mọi nguồn lực ở nơi dân, xây dựng môi
trường dân chủ thực sự, bằng nhiều hình thức để nhân dân mạnh dạn đóng góp ý
kiến, bày tỏ quan điểm của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, phương pháp tập hợp, tổ chức, lãnh đạo quần
chúng. Để cách mạng thắng lợi thực sự, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải có
phương pháp tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân trong công tác dân vận. Đó là
tổ chức sắp xếp thành hệ thống trình tự các công việc và phụ trách các bước
công việc cụ thể, hợp lý, khoa học, mang lại hiệu quả cao. Bất kỳ việc to, việc
nhỏ đều phải có kế hoạch; kiên quyết phê phán cách tổ chức công việc tùy tiện,
làm lấy lệ, làm không đến nơi, đến chốn. Để phương pháp tổ chức thực sự khoa
học thì người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc
chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp
việc nào, làm việc ấy”. Đứng trước những vấn đề phát sinh của thực tiễn khách
quan luôn vận động, biến đổi và nảy sinh những vấn đề khó lường, cán bộ phải
đặt câu hỏi: “Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải
suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm
vậy”, có nghĩa là phải nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể, rõ ràng, đưa ra quyết định
chính xác và tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn. Bởi vì, theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong bất cứ công việc gì, nhất là công tác dân vận: “Nếu không biết rõ
tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn”, không ăn
khớp gì hết”. Do đó, không nên tùy tiện ra quyết định khi chưa nắm chắc thông
tin, chưa có kế hoạch rõ ràng và như vậy sẽ không tổ chức, lãnh đạo được quần
chúng. Đồng thời, Người nhấn mạnh, muốn tập hợp, tổ chức quần chúng thì phải thông
qua phong trào yêu nước, phong trào hoạt động thực tiễn ở đơn vị.
Thứ tư, phương pháp kiểm tra, giám sát, rút kinh
nghiệm. Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là việc đề ra chủ trương, đường lối,
chính sách, nghị quyết, chỉ thị cho đúng, mà điều quan trọng là phải tổ chức
thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó
là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra”. Do
đó, kiểm tra, giám sát là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng, có tính
chất quyết định đến công tác dân vận, điều này “sơ sài” chắc chắn sẽ “hỏng
việc”.
Để thực hiện tốt phương pháp kiểm tra, giám sát,
trước hết phải xác định đối tượng, nhất là kiểm tra việc và kiểm tra người. Hai
là, phương pháp kiểm tra có hiệu quả phải phụ thuộc rất lớn vào cán bộ phụ
trách dân vận. Về điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Không thể gặp ai
cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ
kinh nghiệm và oai tín”. Đó là những cán bộ có đạo đức cách mạng, chuyên môn,
nghiệp vụ phải vững vàng, đồng thời phải thật sự bản lĩnh, dám nói, dám làm,
dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Để nâng cao hiệu quả phương
pháp kiểm tra, giám sát, cần phát huy vai trò của quần chúng, tạo điều kiện để
nhân dân tham gia, hỗ trợ cán bộ trong thi hành nhiệm vụ, bởi vì: “Nhân dân có
hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể
biết”. Ba là, phương pháp kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên;
phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra
phải “mắt thấy, tai nghe”, thực hiện đúng phương châm minh bạch; dân chủ gắn
liền với kỷ luật; đi đúng đường lối của quần chúng. Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ trong công tác dân vận nhất thiết là phải: “Khi thi hành xong phải
cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”
và “Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm”. Theo Người, kinh nghiệm đó bao
gồm kinh nghiệm chung và riêng của từng cán bộ, địa phương, bao hàm cả kinh
nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rút kinh nghiệm rồi thì tổng kết lại
và phổ biến những kinh nghiệm đó đến tất cả cán bộ, tất cả địa phương.
Thứ năm, phương pháp nêu gương. Trong tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân
dân hữu hiệu và thiết thực. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần
chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp
cách mạng, thì người cán bộ làm công tác dân vận phải là những tấm gương sống:
“Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm
gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Để thực hiện tốt phương pháp này, mỗi chủ thể cần
phải tu dưỡng, rèn luyện thái độ ứng xử với dân, phải thực sự trọng dân, gần
dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, điều đó sẽ giúp cho kết quả
tuyên truyền lên gấp bội. Do vậy, Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên làm công
tác dân vận phải là kiểu mẫu về phẩm chất, đạo đức, lối sống trong mọi lúc, ở
mọi nơi; nói phải đi đôi với làm, để quần chúng noi theo, tức là phải nêu gương
bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể, làm mực thước cho quần chúng
noi theo. Đó là tác phong quần chúng biểu hiện ở sự bám sát thực tiễn, gần gũi
nhân dân, thực hành dân chủ, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, cán
bộ dân vận phải là người có đạo đức hành động và nêu gương, bởi “nếu chúng ta
làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng
nhất định làm được”.
CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC VIỆC TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY
Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xem xét nguyện vọng và cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu đối với một số cán bộ cấp cao. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về bản chất vấn đề nhằm gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trên các trang nhóm phản động “Việt Tân”, “Dân làm
báo”, “RFA”,… thường xuyên đăng tải các bài viết có luận điệu xuyên tạc, hướng
lái sự việc theo chiều hướng tiêu cực khi cho rằng, đây là kết quả của việc
“tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”, “bất ổn chính trị”... Thông qua
việc dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, bọn
chúng muốn hạ thấp uy tín, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với
dân, từ đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp
tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Mục đích của các đối tượng này
là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của
chúng ta. Sau quá trình bị tác động bởi những thông tin xấu một cách thụ động
thì người dân đã tìm đến các thông tin này một cách chủ động. Đây là việc cực
kỳ nguy hiểm trong tình hình hiện nay.
Vấn đề miễn nhiệm, từ chức đã được đặt ra trong các
nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và
được luật hóa trong hệ thống pháp luật nhà nước, cụ thể tại Quy định số
41-QĐ/TW ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị về miễn nhiệm, từ chức đối với cán
bộ. Mục tiêu của việc miễn nhiệm cán bộ vừa đáp ứng nguyện vọng của cá nhân,
vừa góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, quản lý, sử dụng cán bộ, đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và đảm bảo đúng quy định.
Hay tại Thông báo số 20-TB/TW ngày 8/9/2022 thông
báo Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ
thuộc diện Bộ Chính trị, Ban bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nêu rõ: “Việc bố
trí công tác đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ
luật nhằm thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Quy định của Bộ Chính
trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; kịp thời thay thế những cán bộ
bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết
thời hạn bổ nhiệm, thực hiện phương châm "có vào, có ra, có lên, có
xuống" trong công tác cán bộ, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ bị kỷ
luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng,
rèn luyện; góp phần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm
tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. Khuyến khích cán
bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự
nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét
miễn nhiệm theo quy định…”. Qua chủ trương này cho thấy chính sách nhân văn,
đạo đức của Đảng, Nhà nước ta khi tạo ra một hướng mở cho cán bộ vi phạm có cơ
hội sửa chữa, phấn đấu rèn luyện.
Như vậy, miễn nhiệm, từ chức là việc hết sức bình
thường, Đảng và Nhà nước ta thực hiện miễn nhiệm, từ chức trong cán bộ theo
đúng quy định, nguyên tắc. Người dân cần nhận thức rõ quan điểm này để từ đó
giữ vững lập trường chính trị, không để các thế lực xấu dẫn dắt, lợi dụng để cố
tình xuyên tạc, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Những
luận điệu cho rằng đó là việc “củng cố quyền lực” hay “thâu tóm quyền lực cá
nhân” chỉ là một chiêu trò của một số cá nhân chống phá nhằm bôi nhọ danh dự
của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và hạ thấp uy tín của Đảng. Một khi
toàn Đảng đã thống nhất, lòng dân đã thuận thì không một thế lực nào, một thủ
đoạn nào có thể làm thay đổi được ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁO CHÍ VÀ BÀI HỌC TỪ 12 CHỮ “PHÊ BÌNH” CỦA BÁC!
PHẢN BÁC RFA XUYÊN TẠC NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
Mới đây, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra báo cáo nhân quyền năm 2023 trong đó có những nhận định phiến diện, sai thực tế đã bị Việt Nam và nhiều tổ chức quốc tế phản đối. Tiếp theo đó, RFA và nhiều trang mạng khác phát tán thêm nhiều tin bài khuếch trương, điều đáng nói là những tin bài đó đều ra sức xuyên tạc, thêu dệt dù không có một bằng chứng thực tế nào. Trong phần đầu của báo cáo này đã trắng trợn đưa ra những thông tin hoàn toàn sai thực tế. Chúng không ngần ngại vu cáo Việt Nam “… hạn chế nghiêm trọng tự do biểu đạt và tự do báo chí, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, ra các luật về hành vi phỉ báng mang tính chất hình sự. Hạn chế nghiêm trọng tự do Internet; can thiệp đáng kể vào quyền tự do hội họp hòa bình và tự do lập hội; bao gồm các luật hạn chế quá mức đối với việc tổ chức, tài trợ hoặc hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự; hạn chế tự do đi lại, trong đó có việc cấm xuất cảnh đối với các nhà hoạt động…”, “Những gì mà nội dung bản báo cáo phản ánh, trong thực tế còn khắc nghiệt hơn. Thời gian vừa qua nhà cầm quyền Việt Nam tăng cường đàn áp, bắt bớ những người bất đồng qua điểm, quấy nhiễu gia đình người tù chính trị và tăng cường đàn áp tù nhân chính trị trong trại giam”… Rồi đi đến quy kết: Nội dung báo cáo không có gì bất ngờ, vấn đề của nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tồn tại hàng chục năm qua, từ khi cộng sản nắm quyền cai trị đất nước. Nhân quyền và dân quyền không được thực thi!…
Trên diễn đàn quốc tế, đầu tháng 5/2024, tại Trụ sở
LHQ, đoàn đại biểu nước ta đã tham gia tích cực Phiên đối thoại theo Cơ chế rà
soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền LHQ. Tại diễn đàn
này, cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao thành tựu về nhân quyền của Việt Nam.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ
cộng hòa, trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Kể từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước Việt
Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Hiến pháp, pháp luật, nhiều chính
sách nâng cao quyền con người, thể hiện rõ nét ở những thay đổi trên thực tế,
đời sống vật chất, tinh thần của mọi người dân không ngừng được cải thiện.
Về đời sống kinh tế – xã hội, chỉ tính từ năm 1993,
hơn 40 triệu người đã thoát cảnh đói nghèo. Và kể từ năm 2005, tỷ lệ nghèo đa
chiều đã giảm hơn một nửa. Nước ta từ vị thế bị bao vây cấm vận, kinh tế khủng
hoảng, đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới,
và góp phần vào duy trì an ninh lương thực trong khu vực và thế giới. Trong hơn
20 năm qua, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp 40 lần. Những kết
quả này được nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Về phát huy dân chủ, quyền tiếp cận thông tin, Việt
Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và nhiều luật, quy định liên quan,
nhiều chương trình giảm nghèo thông tin, xây dựng các thiết chế, cơ sở vật
chất, từng bước làm giàu đời sống thông tin tinh thần người dân. Trước sự phát
triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội ở Việt Nam
đã tạo nên sự phát triển vượt trội về tự do báo chí, tự do ngôn luận, mọi người
dân đều có thể truy cập nhiều mạng xã hội, tạo nên các tài khoản trên mạng xã
hội, tiếp cận thông tin nhanh chưa từng, trong đó có những mặt trái thông tin
sai lệch, thông tin chưa kiểm chứng…. Số lượng người sử dụng internet ở ta tăng
nhanh đạt hơn 78 triệu người dùng, có 25 triệu thuê bao di động được đăng ký
mới, và mạng 4G đã bao phủ xấp xỉ 99,8% dân số.
Các quyền tự do lập hội, an sinh xã hội, xóa đói,
giảm nghèo, bình đẳng giới, phát triển bền vững… được phát huy. Hiện nay ở Việt
Nam có khoảng 72.000 hội đang hoạt động và có những đóng góp tích cực vào quá
trình phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, các chương trình của nhà nước,
các gói an sinh xã hội trị giá gần 88.000 tỷ đồng, chiếm 1% GDP quốc gia, đã
được phân bổ hiệu quả cho các nhóm cụ thể…
Theo chính UNDP, Việt Nam có chỉ số phát triển con
người tiếp tục tăng từ hạng 115 lên 107, được xếp trong nhóm có chỉ số cao. Về
chỉ số bình đẳng giới, nếu năm 2021 chỉ số của Việt Nam xếp thứ 87/146, nay đã
xếp thứ 72/146, tăng lên 15 bậc. Những kết quả trên đây cho thấy những nỗ lực
không ngừng nghỉ của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người.
Tuy nhiên với thái độ thù địch, thiếu thiện chí,
nhằm thực hiện mưu đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số tổ chức, cá
nhân đã lợi dụng sự kiện Việt Nam thực hiện Báo cáo quốc gia theo Cơ chế UPR
chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc để không ngừng tấn công, đưa
thông tin sai lệch về quyền con người ở Việt Nam.
Điều nực cười là các đối tượng hùa theo phát tán
thông tin sai lệch, xuyên tạc thù địch mà không hề biết thực hư thông tin như
thế nào. Ví dụ như gần đây, Việt Tân tổ chức cuộc biểu tình livestream trên
mạng xã hội. Dễ dàng nhận thấy mục tiêu của cuộc biểu tình này không chỉ để
xuyên tạc nhân quyền trong nước mà còn là chống phá Đảng, Nhà nước, hạ thấp uy
tín của Việt Nam. Các yêu sách đưa ra vẫn quen thuộc và vẫn vô căn cứ, yêu sách
đòi nhà cầm quyền “ngưng bắt bớ, đàn áp người dân”, “trả tự do cho những người
bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm”. Những người được nhóm biểu tình xướng
tên như Lê Đình Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Thúy Hạnh… Nhưng khi chúng
hô vang tên Lê Thị Công Nhân, chính người dẫn dắt livetreams còn gọi nhầm là
Phạm Công Nhân, song cả đám “vẹt” vẫn đồng loạt hô theo! Những đối tượng mà
nhóm biểu tình nêu tên đó đều đã khá “nổi tiếng” nhờ các tội trạng đóng góp cho
hoạt động chống phá và đã được xét xử theo pháp luật. Như Lê Đình Lượng đã có
hành vi lôi kéo người khác vào tổ chức khủng bố Việt Tân, lợi dụng mạng xã hội
đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân, y đã được Tòa án tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Hoạt động nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân” năm 2018 với hình phạt 20 năm tù. Nguyễn Thúy Hạnh,
năm 2021 đã bị khởi tố, tạm giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên
truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”…
Dù Việt Nam có phát triển như thế nào, dù những kết
quả về nhân quyền đã đạt được đáng ghi nhận, được cộng đồng quốc tế đánh giá
cao ra sao, thì các đối tượng thù địch, phản động vẫn luôn không ngừng hoạt
động, âm mưu, thủ đoạn chống phá. Nhưng chúng không thể đổi trắng thay đen. Bởi
thực tế sừng sững về những thành tựu phát triển tự do ngôn luận, tự do thông
tin, Internet, mạng xã hội cũng như những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
trên mọi mặt. Nhân dân Việt Nam vẫn trên con đường phát triển, Việt Nam tiếp
tục không ngừng thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đề
ra, nâng cao khả năng thụ hưởng các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa cho mọi
người dân…/.
PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP, TÁCH RỜI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Thời gian gần đây lại rộ lên nhiều bài viết, video clip tán phát trên các trang báo nước ngoài bằng tiếng Việt, mạng xã hội... với luận điệu cho rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời” và đưa ra lời khuyên:
“Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ Chủ nghĩa
Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng
là đủ”, phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua
việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Luận điệu này nhằm xuyên tạc,
chống phá, hòng đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế
độ hiện hành trên đất nước ta. Nhận diện, vạch trần thủ đoạn này là một nội dung
căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
Vạch trần bản chất, thủ đoạn của các luận điệu
xuyên tạc
“Đến hẹn lại lên”, cứ mỗi khi Đảng ta làm công tác
chuẩn bị văn kiện cho đại hội đảng các cấp, các hội, nhóm, cộng đồng chống
cộng, phản động lưu vong, cơ hội chính trị như Việt Tân, Chính phủ quốc gia
Việt Nam lâm thời, các trung tâm truyền thông đối lập... lại gia tăng các bài
viết xuyên tạc, chống phá, trong đó tập trung mũi nhọn đánh phá vào nền tảng tư
tưởng của Đảng, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận vai trò nền tảng của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng ta.
Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch
thường sử dụng gần đây chính là đánh tráo khái niệm, phủ nhận sự tồn tại của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của
Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn
chứ không phải là nhà tư tưởng”. Để chứng minh cho điều đó, cuối năm 2023, đầu
năm 2024, trên trang BBC tiếng Việt và các trang mạng xã hội của Việt Tân... đã
đưa ra nhiều bài viết, video clip với các luận chứng mang tính chủ quan, khiên
cưỡng, xuyên tạc và vô lối khi cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản
phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền
lãnh đạo của mình (?!).
Khi nói xấu, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh không
thành, với bản chất “tiền hậu bất nhất”, “đổi trắng thay đen” của những kẻ phản
động, trơ trẽn, họ lại quay ra sử dụng bộ mặt giả tạo, ra vẻ ca tụng, đề cao tư
tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị và hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho
rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí
Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân
tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!), đây chính là sự khác biệt giữa
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy
tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư
tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và vì thế, cần
loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thậm chí họ còn cho rằng phải đưa tư tưởng Hồ Chí
Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa
Mác-Lênin” để Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thành nền tảng tư tưởng chủ yếu của Đảng.
Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, biện bạch rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã
lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, không phù hợp với
văn hóa và thực tiễn Việt Nam. Họ còn vin vào cái cớ về “yếu tố địa lý” khi cho
rằng: Nước Đức, nước Nga-quê hương của C.Mác và V.I.Lênin-ở phương Tây. Sự ra
đời Chủ nghĩa Mác-Lênin ở bên ấy, cần cho bên ấy, còn Việt Nam ở phương Đông,
cách nhau nửa vòng trái đất nên không phù hợp.
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam
Những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù
địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Đây thực chất là những quan điểm
sai trái, xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ gắn bó mật thiết,
hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Các quan điểm đó tưởng
như là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những công lao, cống hiến của
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm
tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; âm mưu phủ
định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa
Mác-Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của
tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ
định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự dọn đường cho
ý thức hệ tư sản xâm nhập vào Việt Nam; gián tiếp phủ nhận vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và
khoa học, giá trị và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu
sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Nguyễn
Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin;
cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, tham gia
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản; đồng thời là
người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo
“hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã
khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, Chủ
nghĩa Mác-Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là
“mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Xét về góc độ lịch sử, chính Chủ nghĩa Mác-Lênin là
nguồn gốc lý luận trực tiếp nhất quyết định sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh; tư
tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, có sự thống nhất về mặt cơ sở phương pháp luận
với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này chính thức bác bỏ những quan điểm xuyên tạc
cho rằng giữa hai học thuyết, tư tưởng này có sự đối lập và tách rời nhau. Chủ
nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho
Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
đồng thời đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan
điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã tiếp
thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của
nhân loại... Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn nguyên giá trị ở Việt Nam khi
được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, trở thành
nền tảng lý luận xuyên suốt của Đảng ta, thấm sâu vào đời sống tinh thần của
dân tộc, cội nguồn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin
để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng
của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực
tế Việt Nam ngày nay”. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng
Hồ Chí Minh. Ngày 15-7-1969, trong bài trả lời phỏng vấn cuối cùng trước phóng
viên Sáclơ Phuốcniô của Báo L’Humanité (Pháp), Bác đã nói: “Chúng tôi giành
được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng
tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế
được là Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc
khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa” của V.I.Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô
hạn.
Bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện mối quan hệ “tuy hai mà một, tuy
một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí
Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Những luận điệu xuyên tạc trên đều là sai lầm, mục
đích chính cũng là phủ nhận, tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận
cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, trong suốt quá
trình đổi mới, các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò của Chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và
trong quá trình đổi mới nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
của Đảng rút ra bài học số một sau 15 năm đổi mới là: Trong quá trình đổi mới
phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó văn kiện khẳng định vị trí quan
trọng của Cương lĩnh năm 1991: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của
sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định
hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và
nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã
hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng đã nhấn mạnh, một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là một vấn đề mang tính nguyên
tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta,
không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin
đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Điều
này chứng tỏ luận điệu của các thế lực phản động cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh
đối lập và tách rời với Chủ nghĩa Mác-Lênin”... chỉ là một sự xuyên tạc, bóp
méo lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.



