Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024
TẠO NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH HIỆN ĐẠI, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG: LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ LÀ CỐT LÕI CỦA CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH!
NHẬN DIỆN CÁC CHIÊU TRÒ “NHÂN DANH NHÂN DÂN” ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã núp
dưới chiêu bài “nhân danh nhân dân” để thực hiện các hành vi chống phá Đảng,
Nhà nước, xâm phạm những quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, hòng chia rẽ
mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ có
một số biểu hiện:
Một là,
lợi dụng hoặc núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để thực hiện nhiều âm mưu, thủ
đoạn tấn công, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua việc tuyên truyền
xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, lịch sử
vùng đất; bôi nhọ cá nhân lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp của Đảng. Lợi dụng những
sai lầm, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên; đặc biệt là lợi dụng
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, những vụ, việc cán bộ, đảng
viên bị kỷ luật do liên quan đến các vụ án tham nhũng, tiêu cực,… Thời gian
qua, các đối tượng chống phá đã quy kết rằng tham nhũng là tình trạng phổ biến,
là hệ quả của chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền (?!).
Bên cạnh đó, ra sức tán dương sự hào nhoáng của chủ nghĩa tư bản; đồng thời hạ
thấp, xuyên tạc những thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được
trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó “nhân danh nhân dân” đòi xóa bỏ
vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện
xã hội dân sự và cho rằng chỉ có như vậy mới sửa chữa được những “khuyết tật”
của chủ nghĩa xã hội (?!)
Hai là,
lợi dụng sự phát triển của internet và các phương tiện truyền thông xã
hội, các thế lực thù địch “nhân danh nhân dân” lập ra nhiều trang web, tài
khoản mạng xã hội,… rồi thông qua đó, lấy danh nghĩa là các “chuyên gia phân
tích chính trị”, các nhóm theo đuổi nhân quyền, dân chủ,… tung ra nhiều giọng
điệu xuyên tạc, nhiều thông tin giả, khai thác triệt để các thủ thuật bóp méo
sự thật,… nhằm đánh lạc hướng người dân, nhất là giới trẻ, để công kích Đảng,
Nhà nước và chế độ ta. Từ một vài sự việc, “điểm nóng” nhỏ lẻ, họ tìm cách tô
vẽ, thổi phồng, dùng các thủ đoạn kích động tâm lý để lôi kéo sự đồng cảm của
một số người thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, tạo thành các hội, nhóm tự xưng
là “đại diện nhân dân”, lấy danh nghĩa “người dân” để kích động biểu tình, lên
tiếng đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền, qua đó chống phá các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Song song với đó, họ còn lập ra các tổ chức, diễn
đàn núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để nêu ra các “yêu sách”, “kiến nghị” đối
với Đảng và Nhà nước trong giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội,
quốc phòng, an ninh, môi trường,… thực chất là để tự nâng mình lên, đồng thời
hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Hành vi “nhân danh
nhân dân” của họ không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà còn tạo ra sự sự hoang
mang, hoài nghi, ảnh hưởng đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.
Ba là,
tìm mọi cách để o bế các đối tượng bị bắt, bị pháp luật xử tội do chống phá
Đảng, Nhà nước. Những kẻ “nhân danh nhân dân” thường tung ra luận điệu cho rằng
những đối tượng này là những “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà hoạt động xã hội”
"có trách nhiệm" với Tổ quốc, là những "người dũng cảm",
dám nói lên tiếng nói của nhân dân "bị xử oan" (?!). Từ đó, họ
tìm mọi cách móc nối với các cá nhân, tổ chức lưu vong chống phá Đảng và Nhà
nước ở trong và ngoài nước, “nhân danh nhân dân” đòi “công lý”, đòi trả tự do
cho những đối tượng phạm pháp. Mặt khác, khi một số đối tượng có dấu hiệu phạm
pháp tìm đường lẩn trốn ra nước ngoài bị lực lượng chức năng của ta ngăn chặn,
những kẻ “nhân danh nhân dân” đã sử dụng nhiều phương tiện truyền thông, chủ
yếu là các phương tiện truyền thông xã hội, để kêu gọi sự bênh vực, can thiệp,
bảo lãnh từ các tổ chức nhân quyền quốc tế.
Bốn là,
nhiều đối tượng nhận viện trợ của các nhóm phản động, các thế lực thù địch để
thành lập các tổ chức xúi giục biểu tình, kiện tụng, đòi giải quyết những vụ,
việc “nóng”, dù không liên quan đến quyền lợi trực tiếp của họ. “Nhân danh nhân
dân” tạo lập nhiều tổ chức bất hợp pháp, lôi kéo nhiều người (trong đó có một
số trí thức, văn nghệ sĩ…) có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị không
vững vàng, gây dựng họ thành lực lượng chống đối cực đoan với Đảng và Nhà nước
ta. Từ những vấn đề chưa có kết luận chính thức của Đảng và Nhà nước (như những
vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế, tình hình Biển Đông,…), các đối tượng
tạo dựng tin đồn, dư luận xã hội cho rằng chính quyền giải quyết mập mờ, có dấu
hiệu làm tổn hại lợi ích quốc gia - dân tộc (?!). Lợi dụng danh nghĩa “nhân
dân”, họ lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, người thiếu thông tin
chính thống, thiếu hiểu biết thực hiện những cuộc biểu tình, đòi xóa bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng, cải tổ Nhà nước.
Năm là,
lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, các đối tượng “nhân danh nhân dân” tìm mọi
cách tấn công, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng cách lợi dụng tình
hình khó khăn ở một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa để kích động người
dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đòi “ly khai”. Hoặc lợi dụng niềm tin
tín ngưỡng, tôn giáo để mua chuộc một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo, tập
hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài đòi “tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho
người dân tộc thiểu số”; nhân danh “đồng bào dân tộc thiểu số”, “đồng bào tôn
giáo” đòi tự trị, tiến tới thành lập tôn giáo riêng và nhà nước riêng./.
XÂY DỰNG PHẨM CHẤT “DÁM LÀM” CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HIỆN NAY
Về mặt ngữ nghĩa, “dám làm” không phải
là cụm từ mới và xa lạ với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến phẩm chất “dám làm” của các lực lượng khác nhau
trong xã hội. Với đội ngũ cán bộ, Người cho rằng, “vì không hiểu biết nên không
dám làm”(11); đó là một trong những nguyên nhân dẫn
đến thiếu cán bộ. Với quần chúng nhân dân, Người cho rằng: “Quần chúng dám làm,
dám nói, do đó mà thật sự mở rộng dân chủ”(12).
Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, Người chỉ rõ nhiệm vụ của người làm tướng
là phải: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung; theo đó, phẩm chất “dám làm” được
coi như là “Dũng”, có nghĩa là “không được nhút nhát, phải can đảm, dám
làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh”(13). Người nhắc nhở, yêu cầu: “Mỗi người lao động cần có tinh
thần dám nghĩ dám làm, vươn lên hàng đầu, thành người lao động tiên tiến”(14). Như vậy, “dám làm” cũng còn có nghĩa là tự biết mình, biết
người, biết bản chất và đòi hỏi của công việc, hiểu biết lòng dân để có thể
vượt qua ranh giới của bản thân, vượt qua trạng thái tâm lý cá nhân. Đó là biểu
hiện của dũng khí, lòng quả cảm, tinh thần tiên phong, xung kích của cán bộ,
đảng viên và quần chúng nhân dân. Để đạt được phẩm chất “dám làm” thì cán bộ,
đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn,
nghiệp vụ để dám đối diện, sẵn sàng làm việc khó, dám đương đầu với khó khăn,
thử thách.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
“cả gan làm việc” được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, kế thừa và phát triển vào
điều kiện thực tiễn của Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng và được hội tụ trong
phẩm chất “dám làm” của người cán bộ trong tình hình mới. Ngay từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nêu rõ, sự khôi phục
hệ thống của Đảng là kết quả từ công tác có sáng kiến của các đảng bộ và các
chiến sĩ hạ cấp. Đến Đại hội IV, Đảng yêu cầu, cán bộ nhà nước phải có trình độ
chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, có sáng kiến, có năng lực tổ chức thực tiễn; đồng
thời, phải nhiệt tình, tận tụy, hy sinh, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức kỷ
luật, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Tại Đại hội VI của Đảng, để
đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, Đảng đặt ra nhiệm vụ xây dựng
đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực phù hợp, luôn luôn đứng vững trên lập
trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức quản
lý kinh tế, xã hội, có tính tổ chức và kỷ luật cao.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Hội nghị
Trung ương khóa VIII thống nhất thông qua Nghị quyết số 03-NQ/HNTW, ngày
18-6-1997, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Sau hơn 20 năm triển khai
thực hiện, đội ngũ cán bộ ở nước ta đã từng bước trưởng thành và phát triển.
Ngày 19-5-2018, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Về tập trung xây dựng đội
ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ”. Quan điểm của Đảng là: Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ
cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi
mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi
ích chung. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng
đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám
hành động vì lợi ích chung”(15). Thực chất đây vừa là yêu cầu, vừa là
hệ giá trị trong phẩm chất, nhân cách của người cán bộ, có quan hệ chặt chẽ với
nhau, thể hiện ở cả suy nghĩ và việc làm, trách nhiệm và nghĩa vụ trước Đảng,
Tổ quốc và nhân dân.
“Cả gan làm việc” khác với làm liều, làm bừa,
làm ẩu và thói vô trách nhiệm.
Trong bối cảnh mới hiện nay, chuẩn mực
đạo đức của người cán bộ, đảng viên được thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản,
đó là: Với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; đối với công việc; đối với bản thân,
gia đình; đối với đồng chí, đồng nghiệp; đối với các thế lực thù địch, phần tử
cơ hội chính trị. Trong đó, “dám làm” là một phẩm chất đặc biệt, là dũng khí
của người cán bộ, thể hiện năng lực, bản lĩnh, trình độ, trí tuệ, lòng kiên trì
gan góc khi đối diện với công việc, nhất là công việc khó và trong khi làm
nhiệm vụ được giao.
Phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc”
của người cán bộ là mạnh dạn, quyết định, quyết đoán thực hiện công việc, nhiệm
vụ được giao trên cơ sở đã nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu sâu sắc
về thực tiễn công việc, môi trường làm việc, phân tích và nắm chắc thuận lợi,
khó khăn trong triển khai công việc tại cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu thông
suốt về truyền thống, văn hóa, tập tục, hương ước địa phương; luôn đặt lợi ích
của tập thể nơi mình công tác lên trên hết, trước hết; chấp nhận dấn thân,
không vì lợi ích của cá nhân, người thân, gia đình mình; mạnh dạn bỏ cách nghĩ,
cách làm đã cũ, không còn phù hợp. “Dám làm” còn là dám đương đầu trực diện với
khó khăn, thử thách; có lúc phải chấp nhận rủi ro trong công việc, để chấn
chỉnh tổ chức, cá nhân về tinh thần, thái độ, trách nhiệm; không ngừng đổi mới
phương thức quản lý, cách làm, giảm thiểu phiền hà, chặn đứng tham nhũng, lãng
phí, tăng cường dân chủ, minh bạch trong công việc; tin vào suy nghĩ, việc làm
của mình, tin vào sự chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết của mọi người.
“Dám làm”, “cả gan làm việc” còn thể
hiện ở thái độ, ý thức, trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của
người cán bộ, “dám” đứng mũi chịu sào, không tranh công, đổ lỗi, dám nhận trách
nhiệm về mình và chịu trách nhiệm đến cùng với công việc. Khi đã “dám làm”, thì
tận tụy, chủ động, đổi mới sáng tạo, khoa học, trung thực, dân chủ, kỷ cương,
phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng, không ngừng học hỏi,
rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn,
kỹ năng, nghiệp vụ, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, dám
đổi mới sáng tạo, đột phá vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì
lợi ích của nhân dân. Người cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc” luôn xung phong
đi đầu, mạnh dạn, táo bạo, quyết đoán, vượt lên mọi rào cản để làm đúng, duy
trì đúng, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, đúng thực chất công việc, vì lợi
ích chung.
Ở chiều ngược lại, những cán bộ kém về
phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, kém rèn luyện, không chịu tu dưỡng đã
nhân danh tiêu chí “dám làm” và “cả gan làm việc” để có những suy nghĩ và việc
làm tiêu cực. Ở họ, suy nghĩ và việc làm đều mang nặng “lợi ích nhóm”, lợi ích
cá nhân, chỉ lo vun vén cho người thân, gia đình, cánh hẩu; vì thế mà, có bản
chất liều lĩnh, hay “làm liều”, “coi trời bằng vung”, coi thường pháp luật, tự
cho mình, “nhóm lợi ích” của mình là một “vùng cấm”, mà không ai và tổ chức nào
có quyền động chạm đến. Những đối tượng này luôn làm việc vô nguyên tắc, vô tổ
chức kỷ luật, làm theo ý muốn cá nhân, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cứ có lợi
ích cho bản thân, gia đình, người thân, phe cánh là làm./.
Quyền con người là cơ sở bảo đảm quyền cộng đồng, quyền dân tộc
Quyền con người là cơ sở bảo đảm quyền cộng đồng, quyền dân tộc
Một điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền là chú trọng thực hành mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người, quyền cộng đồng và quyền dân tộc; trong đó tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền con người là cơ sở bảo đảm quyền cộng đồng, quyền dân tộc, bởi “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Thực tế trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) cho thấy, việc thực hành quan điểm này của Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở dân chủ, dân quyền cho việc xem xét, giải quyết đúng đắn mối quan hệ qua lại giữa việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền bình đẳng, tương trợ, đoàn kết của mọi người và của các cộng đồng lớn nhỏ (giới, dân tộc, tôn giáo…) với việc bảo đảm quyền dân tộc Việt Nam theo hướng hài hòa giữa đổi mới, ổn định và phát triển.
TẠO NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH HIỆN ĐẠI, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG: HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH!
Không thể phủ nhận nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Không thể phủ nhận nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Thực tế, các quyền con người cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam; được bảo vệ, bảo đảm bởi hệ thống văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai hiệu quả trên thực tiễn. Theo đó, nhiều năm gần đây, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn nhằm bảo đảm quyền con người, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó Việt Nam là thành viên. Từ năm 2019 đến nay, Quốc hội nước ta đã thông qua 44 luật, trong đó nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Việt Nam cũng đã và đang rà soát để sửa đổi, bổ sung một số luật phù hợp với các cam kết quốc tế; đồng thời, rà soát, gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người cũng như triển khai các điều ước một cách nghiêm túc. Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia 7/9 điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, 25 công ước quốc tế về quyền lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); đàm phán và chính thức tham gia Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM).
Mặt khác, như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người”. Đến nay, sau gần 40 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã luôn luôn nhất quán chính sách “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền, quyền và nghĩa vụ của công dân”. Mọi quyết sách đều xuất phát từ con người; mọi thành quả phát triển đều hướng vào bảo đảm tốt nhất quyền con người. Chỉ tính từ năm 2019 đến nay, GDP bình quân ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm. Mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn chặt với y tế cơ sở, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 93,35% vào năm 2023; 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng…
Đặc biệt, năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 3%. Hằng năm, Việt Nam dành trung bình khoảng 3% GDP cho bảo đảm an sinh xã hội. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ gần đây, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng gần 50%, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tăng cao nhất thế giới.
Những con số khái lược nêu trên đã chứng minh rõ quyết tâm và nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình cho sự ghi nhận ấy là việc ngày 11-10-2022, Việt Nam lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 (lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016). Đây là sự công nhận vị thế của Việt Nam, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.
Đến đây, chúng ta hoàn toàn có thể thấy rõ cái gọi là “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”… được đề cập trong Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ là những nhận định thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHẨM CHẤT “CẢ GAN LÀM VIỆC” Ở NGƯỜI CÁN BỘ
“Cả gan làm việc” là quan điểm độc đáo,
đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dũng khí, bản lĩnh, phương pháp, tác phong
làm việc của người cán bộ, là yêu cầu đặc biệt, ở tầm cao về phẩm chất, nhân
cách của người cán bộ trong mối quan hệ với công việc. Phẩm chất này giúp người
cán bộ có đủ dũng khí, dám vươn lên, vượt qua khó khăn, thử thách, chiến thắng
suy nghĩ và hành động cá nhân chủ nghĩa, “có gan” đứng ra đảm nhận, phụ trách
công việc, dám dấn thân vì lợi ích chung của tập thể, cơ quan, đơn vị, địa
phương và nhân dân… Tựu trung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán
bộ “cả gan làm việc” được thể hiện ở một số nội dung sau:
Phẩm chất “cả gan làm
việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất
“cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thể hiện ở sự sáng
suốt trong lựa chọn, sử dụng và bố trí, tin dùng cán bộ, dám giao việc cho cán
bộ cấp dưới. Theo Người, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, người đứng đầu cấp
ủy, chính quyền “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán
bộ tốt”. Khi thấy rõ phẩm chất, năng lực của
cán bộ, thì phải tin tưởng và giao việc cho họ, bởi vì: “Nếu không tin cán bộ,
sợ họ làm không được, rồi việc gì mình cũng nhúng vào. Kết quả thành chứng bao
biện, công việc vẫn không xong. Cán bộ thì vơ vẩn cả ngày, buồn rầu, nản chí”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân
tài; bên cạnh đó, sử dụng cán bộ phải thật sự thận trọng: “Cất nhắc cán bộ
không nên làm như giã gạo”. Nghĩa là, trước khi cất nhắc cán bộ không xem xét
kỹ về khả năng và trình độ, khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ một cách thích
đáng, để khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên.
Người nói, một cán bộ bị “nhấc lên”, “thả xuống” ba lần như thế thì “hỏng cả
đời”.
Biểu hiện "cả gan làm
việc" của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn là ở
chỗ phải tin tưởng vào cán bộ cấp dưới, tạo điều kiện, cơ hội để khuyến khích
họ phát huy năng lực và tinh thần trách nhiệm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo,
tài to cũng hóa ra tài nhỏ. Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ
ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy
ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà
làm”. Đặc biệt, phẩm chất “cả gan làm việc”
của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn được thể hiện ở tinh thần “dám”
bứt phá, đổi mới sáng tạo, bản lĩnh, quyết đoán; mạnh dạn “chống lại những gì
đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, “dám” vứt bỏ những gì
của ngày hôm qua đã không hợp thời nữa, thay đổi cách thức công tác. Cán bộ
lãnh đạo phải coi trọng và có hình thức khen thưởng kịp thời đối với những cán
bộ cấp dưới dám nói, dám đề ra sáng kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc;
đồng thời, nghiêm khắc phê bình cán bộ có tư tưởng cầm chừng, ỷ lại, sợ trách
nhiệm... Khen phải đúng, khen để tạo động lực cho cán bộ phát huy năng lực,
tinh thần làm việc, dám nói, dám làm; đồng thời, không được khen quá mức, dễ
gây ra sự chủ quan. Người cán bộ lãnh đạo phải “thường thường kiểm tra để
giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”.
Phẩm chất “cả gan làm
việc” của người chỉ huy.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất
“cả gan làm việc” của người chỉ huy là sự quyết đoán, sắc sảo, nhạy bén, mưu
trí, táo bạo, dũng cảm, có dũng khí, gan góc, gặp việc gì cũng phải có
“gan” làm, có “gan” chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh
thắng quân thù; mưu lược, biết địch, biết ta, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ
yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến
thắng quân thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thấy khuyết điểm có gan sửa
chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa,
phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng,
cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”.
Muốn “cả gan làm việc” thì người chỉ huy phải có đầy đủ các phẩm chất Trí - Tín
- Dũng - Nhân - Liêm - Trung. Trí là phải có đầu óc sáng suốt
để nhìn mọi việc rõ ràng, để suy xét cho đúng. Tín là phải làm
cho người ta tin mình. Ví dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn có
nghĩa là tự tin vào sức mình, nhưng không phải là tự mãn, tự cao. Dũng là
không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những
trận đáng đánh. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với
họ. Đối với địch đã đầu hàng, ta phải khoan dung. Liêm là chớ
tham của, chớ tham sắc, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành
tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.
Phẩm chất “cả gan làm
việc” của người cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo
“đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. Người yêu cầu, người làm công tác tổ chức - cán bộ
phải làm tốt khâu phát hiện và lựa chọn, đào tạo cán bộ; không được thiên
tư, thiên vị, không phân biệt người trong hay người ngoài Đảng, mà phải lựa
chọn được người thật sự có đức, có tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phong trào
giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng
ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ,
nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích
vào công cuộc kháng chiến cứu nước”.
Trong sử dụng cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải
có lập trường, bản lĩnh để cán bộ cấp dưới mạnh dạn đưa ra ý kiến, có gan phụ
trách, có gan làm việc, đổi mới sáng tạo; người làm công tác cán bộ phải có gan
cất nhắc cán bộ và chịu trách nhiệm về đề xuất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho rằng, người làm công tác tổ chức - cán bộ cần phải liêm chính, trong sáng,
công tâm trong đánh giá ưu điểm của người cán bộ; đồng thời, sẵn sàng giúp đỡ
cán bộ khắc phục hạn chế, yếu kém của họ. Người nhắc nhở: “Người đời ai cũng có
chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người sửa chữa chỗ dở.
Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ
chỗ mà dùng được”. Người phê phán cách dùng người không
hợp lý làm cho cán bộ không thể hoàn thành được nhiệm vụ.
Phẩm chất “cả gan làm
việc” của người cán bộ kiểm tra.
Phẩm chất “cả gan làm việc” của người
cán bộ kiểm tra được thể hiện ở việc dũng cảm tự phê bình và phê bình, mạnh
dạn, có dũng khí, vì lợi ích chung của tập thể để nói lên hạn chế của tổ chức,
cơ quan, cá nhân mà không e ngại, sợ va chạm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người
cán bộ kiểm tra phải “cả gan nói”, tức là mạnh dạn chỉ ra khuyết điểm của cơ
quan, tổ chức, đơn vị, địa phương và của cả cấp trên, trên cơ sở khoa học, với
tinh thần xây dựng, nhằm mục đích khắc phục, sửa chữa khuyết điểm để làm việc
cho tốt hơn. Người cán bộ kiểm tra cần “cả gan” phê bình cấp trên, nhưng phải
trên nguyên tắc chân thành, đúng mực. Người cán bộ kiểm tra phải có thái độ dứt
khoát trong việc xem xét và “cả gan” xử phạt những cán bộ mắc sai lầm, khuyết
điểm với nguyên tắc không có trường hợp ngoại lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng: “Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho
bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút
gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHẬN THỨC, QUÁN TRIỆT SÂU SẮC TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC!



