Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả.
Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024
Quân đội với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội
Sự phát triển của Internet đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Đó là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu.
Đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới hiện nay
Ngày nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi cơ hội để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Chúng đưa ra các luận điệu sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng ta để làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đây là sự nghiệp cách mạng đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, không được chủ quan; đồng thời, phải thường xuyên đổi mới, sáng tạo trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại.
Nghiên cứu quy hoạch công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh bảo đảm tính thống nhất, khả thi.
Công nghiệp quốc phòng (CNQP), công nghiệp an ninh (CNAN) là hai ngành có tính đặc thù và có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng LLVT tinh nhuệ, chính quy, từng bước hiện đại (và tiến lên hiện đại vào năm 2030) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Càng đặc thù, đặc biệt, quan trọng thì càng cần phải có quy hoạch ngành để bảo đảm định hướng và tính thống nhất, tạo động lực phát triển. Tuy nhiên, Luật Quy hoạch hiện hành chưa quy định quy hoạch CNQP, quy hoạch CNAN là một loại quy hoạch ngành. Đây là một thiếu sót lớn, cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời.
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó. Do vậy, chỉ Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung Luật Quy hoạch hiện hành bằng một văn bản quy phạm pháp luật khác. Bằng việc ban hành Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp, Quốc hội có thể thiết kế 1 điều hoặc 1 khoản quy định CNQP, CNAN là quy hoạch ngành quốc gia; đồng thời dùng Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp để bổ sung quy định CNQP, CNAN vào Phụ lục I của Luật Quy hoạch. Như vậy là hoàn toàn đúng về thẩm quyền và trình tự, thủ tục.
![]() |
Sản xuất sản phẩm quốc phòng tại Nhà máy Z115 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Ảnh: QĐND |
Có một vấn đề có thể nảy sinh trong thực tế là giải quyết mối quan hệ giữa quy hoạch CNQP với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia.
Theo quy định của Luật Quy hoạch hiện hành, quy hoạch ngành quốc gia phải phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Trường hợp quy hoạch ngành quốc gia có mâu thuẫn với quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia hoặc các quy hoạch ngành quốc gia có mâu thuẫn với nhau thì phải điều chỉnh theo quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Như vậy, với tư cách là quy hoạch ngành, quy hoạch CNQP phải phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc gia.
Tuy nhiên, nếu do yêu cầu cấp thiết của công tác quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là khi tình hình có sự biến đổi dẫn tới phải bổ sung các quy hoạch ngành quốc gia về quân sự, quốc phòng (trong đó có quy hoạch CNQP) mà chưa kịp bổ sung quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia thì phải giải quyết như thế nào? Trường hợp này, nếu phải chờ bổ sung quy hoạch cao hơn theo đúng quy định thì có thể làm lỡ thời cơ vàng trong hoạt động bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do vậy, có lẽ chúng ta cần bổ sung quy định loại bỏ trong mối quan hệ giữa các quy hoạch theo quy định tại Điều 6 Luật Quy hoạch. Cụ thể là cần bổ sung cụm từ "trừ trường hợp vì yêu cầu cấp thiết của quân sự, quốc phòng", đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết thực hiện quy định này.
Cùng với đó, khoản 5 Điều 4 Luật Quy hoạch quy định nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại, kết nối liên thông, dự báo, khả thi, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước; bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, tính bảo tồn. Nội dung này cũng cần có quy định loại trừ quy hoạch ngành quốc gia liên quan tới quốc phòng, an ninh, bởi những quy hoạch này cần được bảo vệ theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
Thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị: Quán triệt thấu đáo, gương mẫu trong thực hiện.
Không phải đến bây giờ Đảng ta mới đề ra các tiêu chuẩn, quy định về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên mà vấn đề này đã được đề cập, chỉ rõ và yêu cầu người cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực hiện từ rất sớm, trong nhiều văn bản như: Tại Điều 1, Điều 2 của Điều lệ Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra cụ thể tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng.
Tuy nhiên, nhằm hiện thực hóa hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngày 9-5-2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” (Quy định 144). Đây là một bước tiến trong việc cụ thể hóa hơn nữa các quy định đối với cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã ban hành trước đó. Với 19 nội dung rất ngắn gọn, súc tích, cô đọng và cụ thể, được thể hiện trong 5 điều, nhưng đã bao hàm một cách toàn diện các nội dung quy định đối với người cán bộ, đảng viên phải thực hiện đối với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc cho đến các yêu cầu cụ thể về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên.
Trước thực tiễn, mặt trái cơ chế kinh tế thị trường đang diễn biến hết sức phức tạp, tác động trực tiếp trên nhiều bình diện xã hội, đã và đang là một trong những nguyên nhân dẫn tới làm tha hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Như Đảng ta đã đánh giá: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ... Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Đấu tranh với những hiện tượng này cũng chính là một cuộc đấu tranh cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường nói: Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo đức cách mạng với chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi con người phải có tính chiến đấu cao, sự nỗ lực rất lớn trong khắc phục khó khăn, thử thách và phải có sự giúp đỡ của tập thể, của tổ chức và cộng đồng, đặc biệt là vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng để giúp cho mỗi người có thêm nghị lực, niềm tin, đủ sức vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng cho thấy, ở đâu, nơi nào phát huy tốt vai trò của tổ chức đảng thì ở nơi đó kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị đạt được cao hơn; việc khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và quần chúng có kết quả tốt hơn; ngược lại, nơi nào vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng chưa được phát huy thì chất lượng, hiệu quả các mặt công tác ở đó còn hạn chế, những biểu hiện tự do, vô kỷ luật có cơ hội phát sinh, phát triển.
Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị vào thực tiễn cuộc sống và ăn sâu vào tiềm thức, trở thành trách nhiệm chính trị thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước nhân dân, cần nắm vững và thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Trước hết, đưa công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, triển khai thực hiện thành nền nếp thường xuyên. Yêu cầu hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đưa nội dung quán triệt Quy định 144 của Bộ Chính trị một cách thường xuyên vào nghị quyết lãnh đạo ở cấp mình. Các nội dung về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới phải được quán triệt đầy đủ, sâu sắc tới toàn thể cán bộ, đảng viên, xác định rõ những chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, các cấp ủy, tổ chức đảng nên lựa chọn, xác định những nội dung cụ thể trong quy định mang tính đột phá, nhằm làm chuyển biến thực chất về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Muốn vậy, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định đúng, trúng các biện pháp lãnh đạo để thực hiện tốt nội dung đột phá; phải có sự phân công phụ trách từng nội dung, từng mặt công tác rõ ràng, cụ thể, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ tới từng khâu, từng bước và phải thường xuyên rút kinh nghiệm để đưa việc quán triệt, thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên trở thành nội dung sinh hoạt thường kỳ ở mỗi cấp ủy, tổ chức đảng.
Những nội dung quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên mà liên quan đến của quần chúng nhân dân trong khi thi hành nhiệm vụ thì cấp ủy, tổ chức đảng cần nghiên cứu để xây dựng thành quy chế, quy định cụ thể mang tính bắt buộc, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải cam kết tuân thủ và phấn đấu thực hiện cho được. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải giáo dục cho mọi người thấu suốt và thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hiện những quy định đó. Chính quá trình thực hiện những quy định khắt khe, bắt buộc đó sẽ dần tạo nên thói quen tự giác cho cán bộ, đảng viên trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới theo Quy định 144 của Bộ Chính trị.
Hai là, phải xác định được mục tiêu phấn đấu cho từng loại hình cơ quan, đơn vị và từng nhóm cán bộ, đảng viên. Để các nội dung trong Quy định 144 của Bộ Chính trị đi vào thực tiễn cuộc sống, làm chuyển biến thực chất về nhận thức và hành động chuẩn mực đạo đức cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác thì các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xác định mục tiêu phấn đấu chung của tập thể cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các nội dung cụ thể về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; nhất là khi xác định mục tiêu và nội dung đột phá cần bám sát vào chức năng, nhiệm vụ, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, có sự chỉ đạo thực hiện thống nhất từ trên xuống dưới.
Ở cấp chi bộ phải xác định rõ tiêu chí phấn đấu cho từng nhóm cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị. Sau khi cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng được tiêu chí phấn đấu cho từng nhóm, cần lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn các cá nhân đối chiếu tiêu chí đó với chức trách, nhiệm vụ của mình, để tự đánh giá nhận rõ những mặt mạnh, những hạn chế trên mỗi nội dung; thông qua đánh giá ưu, khuyết điểm từng cá nhân xác định mục tiêu phấn đấu và xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện các tiêu chí đó.
Các nội dung tiêu chí phấn đấu của cá nhân được xây dựng phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và phải phù hợp với chức trách, nhiệm vụ, điều kiện công tác của từng nhóm đối tượng cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng phải thẩm định kết quả tự đánh giá và thông qua bản tự đăng ký phấn đấu về chuẩn mực đạo đức của từng người để làm căn cứ theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra việc thực hiện Quy định 144 của Bộ Chính trị.
Ba là, đề cao vai trò của cán bộ chủ trì các cấp trong thực hiện Quy định của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Chúng ta cần ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải là người mực thước cho người ta bắt chước”. Trong thực hiện nêu gương, cần áp dụng đúng nguyên tắc “trên trước, dưới sau, trong trước, ngoài sau”.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các địa phương, cơ quan, đơn vị phải luôn có sự thống nhất cao trong cả lời nói và việc làm; trong chỉ đạo thực tiễn luôn có sự phân công rõ ràng, thường xuyên trao đổi, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình; luôn có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức rèn luyện các chuẩn mực đạo đức tốt; thực sự gương mẫu, mẫu mực trong thực hiện các tiêu chí phấn đấu của địa phương, cơ quan, đơn vị đề ra, kế hoạch phấn đấu về chuẩn mực đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý phải làm trước tiên, mục tiêu phấn đấu cao hơn để làm gương cho cấp dưới. Đó là một trong những nhân tố quan trọng để đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới vào thực tiễn cuộc sống.
Bốn là, xây dựng cơ quan, đơn vị điểm về đạo đức cách mạng; xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, đội ngũ đảng viên vững mạnh nhằm đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị vào thực tiễn đời sống. Mỗi địa phương, mỗi ngành, lĩnh vực nên lựa chọn mô hình xây dựng cơ quan, đơn vị điểm về thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định 144 của Bộ Chính trị. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị được xác định làm điểm cần chủ động, tích cực trong việc xây dựng kế hoạch, xác định nội dung điểm và triển khai thực hiện quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị mình; quá trình thực hiện phải phát huy tốt vai trò chủ động, sáng tạo của các tổ chức, các lực lượng trong cơ quan, đơn vị nhằm tìm ra những cách làm hay, cách làm mới, những điển hình về chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên để nhân rộng ra toàn cơ quan, đơn vị, có như vậy mới tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất về chuẩn mực đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đối với tổ chức cơ sở đảng, cần tập trung xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh, chấp hành nghiêm nguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng. Các chi bộ đảng phải tiến hành tốt hơn nữa công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, chú ý đến tất cả mối quan hệ xã hội, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình phải gắn với công tác kiểm tra và xử lý kỷ luật, giúp phát hiện và xử lý chính xác, kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm Quy định 144 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024
Thời gian gần đây lại rộ lên nhiều bài viết, video clip tán phát trên các trang báo nước ngoài bằng tiếng Việt, mạng xã hội... với luận điệu cho rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời” và đưa ra lời khuyên: “Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng là đủ”, phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Luận điệu này nhằm xuyên tạc, chống phá, hòng đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Nhận diện, vạch trần thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Vạch trần bản chất, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc “Đến hẹn lại lên”, cứ mỗi khi Đảng ta làm công tác chuẩn bị văn kiện cho đại hội đảng các cấp, các hội, nhóm, cộng đồng chống cộng, phản động lưu vong, cơ hội chính trị như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các trung tâm truyền thông đối lập... lại gia tăng các bài viết xuyên tạc, chống phá, trong đó tập trung mũi nhọn đánh phá vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận vai trò nền tảng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng ta. Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng gần đây chính là đánh tráo khái niệm, phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng”. Để chứng minh cho điều đó, cuối năm 2023, đầu năm 2024, trên trang BBC tiếng Việt và các trang mạng xã hội của Việt Tân... đã đưa ra nhiều bài viết, video clip với các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, xuyên tạc và vô lối khi cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của mình (?!). Khi nói xấu, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh không thành, với bản chất “tiền hậu bất nhất”, “đổi trắng thay đen” của những kẻ phản động, trơ trẽn, họ lại quay ra sử dụng bộ mặt giả tạo, ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị và hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!), đây chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Thậm chí họ còn cho rằng phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin” để Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thành nền tảng tư tưởng chủ yếu của Đảng. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, biện bạch rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, không phù hợp với văn hóa và thực tiễn Việt Nam. Họ còn vin vào cái cớ về “yếu tố địa lý” khi cho rằng: Nước Đức, nước Nga-quê hương của C.Mác và V.I.Lênin-ở phương Tây. Sự ra đời Chủ nghĩa Mác-Lênin ở bên ấy, cần cho bên ấy, còn Việt Nam ở phương Đông, cách nhau nửa vòng trái đất nên không phù hợp. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam Những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Đây thực chất là những quan điểm sai trái, xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Các quan điểm đó tưởng như là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự dọn đường cho ý thức hệ tư sản xâm nhập vào Việt Nam; gián tiếp phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin; cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản; đồng thời là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, Chủ nghĩa Mác-Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Xét về góc độ lịch sử, chính Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp nhất quyết định sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, có sự thống nhất về mặt cơ sở phương pháp luận với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này chính thức bác bỏ những quan điểm xuyên tạc cho rằng giữa hai học thuyết, tư tưởng này có sự đối lập và tách rời nhau. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của nhân loại... Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn nguyên giá trị ở Việt Nam khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, trở thành nền tảng lý luận xuyên suốt của Đảng ta, thấm sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc, cội nguồn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay”. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 15-7-1969, trong bài trả lời phỏng vấn cuối cùng trước phóng viên Sáclơ Phuốcniô của Báo L’Humanité (Pháp), Bác đã nói: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn. Bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện mối quan hệ “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Những luận điệu xuyên tạc trên đều là sai lầm, mục đích chính cũng là phủ nhận, tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, trong suốt quá trình đổi mới, các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và trong quá trình đổi mới nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng rút ra bài học số một sau 15 năm đổi mới là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó văn kiện khẳng định vị trí quan trọng của Cương lĩnh năm 1991: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh, một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Điều này chứng tỏ luận điệu của các thế lực phản động cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập và tách rời với Chủ nghĩa Mác-Lênin”... chỉ là một sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới.
Phấn đấu đến năm 2030, cả nước xoá bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; hoàn thành xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội.
![]() |
| Ảnh minh họa: PV |
Ngày 24/5/2024, thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới”.
Khoảng 374.000 căn nhà ở xã hội đã được chấp thuận đầu tư và khởi công
Nội dung chỉ thị khẳng định, trong suốt quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phát triển nhà ở cho người dân, nhất là nhà ở xã hội. Đến nay, cả nước đã hoàn thành xây dựng 195.000 căn nhà ở xã hội và có khoảng 374.000 căn nhà ở xã hội đã được chấp thuận đầu tư và khởi công, cấp phép xây dựng. Chính sách hỗ trợ nhà ở thông qua các chương trình mục tiêu cho các đối tượng là người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo khu vực nông thôn và hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu được triển khai đồng bộ và đạt được nhiều kết quả tích cực.
Chỉ thị cũng nêu rõ, bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển nhà ở xã hội vẫn còn một số hạn chế như: Nhiều mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 không đạt được; nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế so với nhu cầu thực tế; giá nhà ở xã hội bình quân còn quá cao so với thu nhập của đối tượng thụ hưởng; công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập; tỉ lệ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội khu vực đô thị thấp; nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các chương trình tín dụng ưu đãi nhà ở xã hội còn thấp, chưa huy động được mạnh mẽ nguồn lực xã hội tham gia; còn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát, nhất là tại các vùng khó khăn, chịu nhiều ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do một số cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thiếu quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển nhà ở xã hội chậm được đổi mới, hoàn thiện, thiếu sự đột phá để thu hút nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển nhà ở xã hội; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ; công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý sai phạm trong phát triển nhà ở xã hội chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả.
Đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hộ
Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phát triển nhà ở xã hội, góp phần giải quyết cơ bản nhu cầu nhà ở cho người dân, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội về tính chất, ý nghĩa của công tác phát triển nhà ở xã hội; xác định phát triển nhà ở xã hội là quyết tâm chính trị, nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị, thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ ta; là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò và gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển nhà ở xã hội; đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm của địa phương. Phấn đấu đến năm 2030, cả nước xoá bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; hoàn thành xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp tại khu vực đô thị; thực hiện tốt việc hỗ trợ nhà ở theo các chương trình mục tiêu, nhất là đối với người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng khó khăn về nhà ở, hộ nghèo ở tại khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo tốt về nhà ở.
Nhà ở xã hội phải ở nơi thuận tiện
Ban Bí thư nêu rõ, thực hiện quy hoạch, bố trí các dự án nhà ở xã hội độc lập, hoặc trong các dự án nhà ở thương mại tại các vị trí thuận tiện về giao thông, gắn với các trung tâm công nghiệp, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu.
Nhà nước ưu tiên bố trí quỹ đất, nguồn vốn, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nhà ở xã hội; có cơ chế, chính sách ưu đãi thực chất, đủ hấp dẫn để thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư, phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng.
Phát triển đa dạng loại hình nhà ở xã hội và cơ chế, chính sách mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà lưu trú, ký túc xá cho công nhân, người thu nhập thấp khu vực đô thị, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang với giá phù hợp với khả năng chi trả của từng đối tượng thụ hưởng; tăng tỉ lệ nhà ở xã hội cho thuê; chú trọng hỗ trợ nhà ở và đất ở cho người có công với cách mạng, người nghèo và các đối tượng chính sách, bảo đảm phù hợp với quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và kế hoạch phát triển nhà ở trong từng giai đoạn của địa phương; kết hợp linh hoạt giữa các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân.
Nhà ở xã hội và nhà ở được Nhà nước hỗ trợ tại các chương trình mục tiêu, nhà lưu trú công nhân bảo đảm về chất lượng xây dựng, kiến trúc, cảnh quan, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, an ninh, an toàn, phòng cháy, chữa cháy, đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu (y tế, giáo dục, văn hoá...).
Cơ chế, chính sách đặc thù cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân
Ban Bí thư cũng yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến nhà ở xã hội, nhất là về cơ chế tài chính, sử dụng nguồn lực, đất đai, đầu tư, đầu tư công, xây dựng, đấu thầu, quy hoạch đô thị và nông thôn, quản lý phát triển đô thị, quản lý và sử dụng tài sản công, chính sách thuế, quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế... Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng; nâng mức hỗ trợ nhà ở cho người có công và các đối tượng chính sách tại các chương trình mục tiêu. Thực hiện tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ trong xác định giá nhà ở xã hội. Nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù về nhà ở xã hội cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân. Hoàn thiện pháp luật và tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia phát triển nhà ở xã hội bằng nguồn tài chính công đoàn.
Ban hành cơ chế, chính sách tạo thuận lợi và chủ động cho các địa phương trong việc dành ngân sách đầu tư xây dựng dự án nhà ở xã hội, thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư để có quỹ đất sạch làm nhà ở xã hội; đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm đồng bộ hạ tầng xã hội trong và ngoài phạm vi dự án. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội, các đối tượng thụ hưởng được tiếp cận dễ dàng với nhà ở xã hội; cắt giảm tối đa thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng, kinh doanh, mua
bán, quản lý, sử dụng nhà ở xã hội. Thực hiện trình tự thủ tục hành chính giao đất, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng, lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội... theo hướng rút gọn, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, công khai, minh bạch. Có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội theo hướng mô hình xanh, sử dụng tiết kiệm năng lượng, phát triển bền vững, phát thải cácbon thấp.
Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
Ban Bí thư cũng yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển nhà ở xã hội; ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước từ Trung ương và địa phương tương xứng, kịp thời để bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển nhà ở xã hội; Nhà nước tập trung phát triển nhà ở xã hội cho thuê khu vực đô thị bằng nguồn vốn đầu tư công; đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Rà soát, sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để triển khai hiệu quả chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội. Nghiên cứu hình thành quỹ phát triển nhà ở xã hội, hoặc mô hình định chế tài chính phù hợp để phát triển nhà ở xã hội dài hạn, bền vững; mở rộng nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội từ quỹ đầu tư phát triển địa phương và nguồn vốn từ nước ngoài; khuyến khích hình thành các quỹ đầu tư, quỹ tín thác đầu tư và các hoạt động liên danh, liên kết thực hiện dự án nhà ở xã hội.
Bố trí cấp đủ nguồn vốn ngân sách cho Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chính sách hỗ trợ, cho vay phát triển nhà ở xã hội; thực hiện đầy đủ, kịp thời việc cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại được Nhà nước chỉ định để cho cá nhân và doanh nghiệp vay ưu đãi phát triển nhà ở xã hội; rà soát, đổi mới, tiếp tục mở rộng chương trình cho vay ưu đãi đối với cá nhân, hộ gia đình để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo chính sách về nhà ở xã hội…/.






