Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội


Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả.

Quân đội với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội


Sự phát triển của Internet đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Đó là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu.

Đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới hiện nay

 

Ngày nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi cơ hội để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Chúng đưa ra các luận điệu sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng ta để làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đây là sự nghiệp cách mạng đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, không được chủ quan; đồng thời, phải thường xuyên đổi mới, sáng tạo trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại.

Nghiên cứu quy hoạch công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh bảo đảm tính thống nhất, khả thi.

 

Công nghiệp quốc phòng (CNQP), công nghiệp an ninh (CNAN) là hai ngành có tính đặc thù và có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng LLVT tinh nhuệ, chính quy, từng bước hiện đại (và tiến lên hiện đại vào năm 2030) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Càng đặc thù, đặc biệt, quan trọng thì càng cần phải có quy hoạch ngành để bảo đảm định hướng và tính thống nhất, tạo động lực phát triển. Tuy nhiên, Luật Quy hoạch hiện hành chưa quy định quy hoạch CNQP, quy hoạch CNAN là một loại quy hoạch ngành. Đây là một thiếu sót lớn, cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó. Do vậy, chỉ Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung Luật Quy hoạch hiện hành bằng một văn bản quy phạm pháp luật khác. Bằng việc ban hành Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp, Quốc hội có thể thiết kế 1 điều hoặc 1 khoản quy định CNQP, CNAN là quy hoạch ngành quốc gia; đồng thời dùng Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp để bổ sung quy định CNQP, CNAN vào Phụ lục I của Luật Quy hoạch. Như vậy là hoàn toàn đúng về thẩm quyền và trình tự, thủ tục.

Nghiên cứu quy hoạch công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh bảo đảm tính thống nhất, khả thi

Sản xuất sản phẩm quốc phòng tại Nhà máy Z115 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Ảnh: QĐND

Có một vấn đề có thể nảy sinh trong thực tế là giải quyết mối quan hệ giữa quy hoạch CNQP với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia.

Theo quy định của Luật Quy hoạch hiện hành, quy hoạch ngành quốc gia phải phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Trường hợp quy hoạch ngành quốc gia có mâu thuẫn với quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia hoặc các quy hoạch ngành quốc gia có mâu thuẫn với nhau thì phải điều chỉnh theo quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Như vậy, với tư cách là quy hoạch ngành, quy hoạch CNQP phải phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc gia.

Tuy nhiên, nếu do yêu cầu cấp thiết của công tác quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là khi tình hình có sự biến đổi dẫn tới phải bổ sung các quy hoạch ngành quốc gia về quân sự, quốc phòng (trong đó có quy hoạch CNQP) mà chưa kịp bổ sung quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia thì phải giải quyết như thế nào? Trường hợp này, nếu phải chờ bổ sung quy hoạch cao hơn theo đúng quy định thì có thể làm lỡ thời cơ vàng trong hoạt động bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do vậy, có lẽ chúng ta cần bổ sung quy định loại bỏ trong mối quan hệ giữa các quy hoạch theo quy định tại Điều 6 Luật Quy hoạch. Cụ thể là cần bổ sung cụm từ "trừ trường hợp vì yêu cầu cấp thiết của quân sự, quốc phòng", đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết thực hiện quy định này.

Cùng với đó, khoản 5 Điều 4 Luật Quy hoạch quy định nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại, kết nối liên thông, dự báo, khả thi, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước; bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, tính bảo tồn. Nội dung này cũng cần có quy định loại trừ quy hoạch ngành quốc gia liên quan tới quốc phòng, an ninh, bởi những quy hoạch này cần được bảo vệ theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị: Quán triệt thấu đáo, gương mẫu trong thực hiện.

 

Không phải đến bây giờ Đảng ta mới đề ra các tiêu chuẩn, quy định về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên mà vấn đề này đã được đề cập, chỉ rõ và yêu cầu người cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực hiện từ rất sớm, trong nhiều văn bản như: Tại Điều 1, Điều 2 của Điều lệ Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra cụ thể tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng.

Tuy nhiên, nhằm hiện thực hóa hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngày 9-5-2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” (Quy định 144). Đây là một bước tiến trong việc cụ thể hóa hơn nữa các quy định đối với cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã ban hành trước đó. Với 19 nội dung rất ngắn gọn, súc tích, cô đọng và cụ thể, được thể hiện trong 5 điều, nhưng đã bao hàm một cách toàn diện các nội dung quy định đối với người cán bộ, đảng viên phải thực hiện đối với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc cho đến các yêu cầu cụ thể về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

Trước thực tiễn, mặt trái cơ chế kinh tế thị trường đang diễn biến hết sức phức tạp, tác động trực tiếp trên nhiều bình diện xã hội, đã và đang là một trong những nguyên nhân dẫn tới làm tha hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Như Đảng ta đã đánh giá: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ... Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Đấu tranh với những hiện tượng này cũng chính là một cuộc đấu tranh cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường nói: Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo đức cách mạng với chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi con người phải có tính chiến đấu cao, sự nỗ lực rất lớn trong khắc phục khó khăn, thử thách và phải có sự giúp đỡ của tập thể, của tổ chức và cộng đồng, đặc biệt là vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng để giúp cho mỗi người có thêm nghị lực, niềm tin, đủ sức vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng cho thấy, ở đâu, nơi nào phát huy tốt vai trò của tổ chức đảng thì ở nơi đó kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị đạt được cao hơn; việc khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và quần chúng có kết quả tốt hơn; ngược lại, nơi nào vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng chưa được phát huy thì chất lượng, hiệu quả các mặt công tác ở đó còn hạn chế, những biểu hiện tự do, vô kỷ luật có cơ hội phát sinh, phát triển.

Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị vào thực tiễn cuộc sống và ăn sâu vào tiềm thức, trở thành trách nhiệm chính trị thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước nhân dân, cần nắm vững và thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Trước hết, đưa công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, triển khai thực hiện thành nền nếp thường xuyên. Yêu cầu hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đưa nội dung quán triệt Quy định 144 của Bộ Chính trị một cách thường xuyên vào nghị quyết lãnh đạo ở cấp mình. Các nội dung về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới phải được quán triệt đầy đủ, sâu sắc tới toàn thể cán bộ, đảng viên, xác định rõ những chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, các cấp ủy, tổ chức đảng nên lựa chọn, xác định những nội dung cụ thể trong quy định mang tính đột phá, nhằm làm chuyển biến thực chất về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Muốn vậy, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định đúng, trúng các biện pháp lãnh đạo để thực hiện tốt nội dung đột phá; phải có sự phân công phụ trách từng nội dung, từng mặt công tác rõ ràng, cụ thể, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ tới từng khâu, từng bước và phải thường xuyên rút kinh nghiệm để đưa việc quán triệt, thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên trở thành nội dung sinh hoạt thường kỳ ở mỗi cấp ủy, tổ chức đảng.

Những nội dung quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên mà liên quan đến của quần chúng nhân dân trong khi thi hành nhiệm vụ thì cấp ủy, tổ chức đảng cần nghiên cứu để xây dựng thành quy chế, quy định cụ thể mang tính bắt buộc, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải cam kết tuân thủ và phấn đấu thực hiện cho được. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải giáo dục cho mọi người thấu suốt và thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hiện những quy định đó. Chính quá trình thực hiện những quy định khắt khe, bắt buộc đó sẽ dần tạo nên thói quen tự giác cho cán bộ, đảng viên trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới theo Quy định 144 của Bộ Chính trị.

Hai là, phải xác định được mục tiêu phấn đấu cho từng loại hình cơ quan, đơn vị và từng nhóm cán bộ, đảng viên. Để các nội dung trong Quy định 144 của Bộ Chính trị đi vào thực tiễn cuộc sống, làm chuyển biến thực chất về nhận thức và hành động chuẩn mực đạo đức cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác thì các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xác định mục tiêu phấn đấu chung của tập thể cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các nội dung cụ thể về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; nhất là khi xác định mục tiêu và nội dung đột phá cần bám sát vào chức năng, nhiệm vụ, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, có sự chỉ đạo thực hiện thống nhất từ trên xuống dưới.

Ở cấp chi bộ phải xác định rõ tiêu chí phấn đấu cho từng nhóm cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị. Sau khi cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng được tiêu chí phấn đấu cho từng nhóm, cần lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn các cá nhân đối chiếu tiêu chí đó với chức trách, nhiệm vụ của mình, để tự đánh giá nhận rõ những mặt mạnh, những hạn chế trên mỗi nội dung; thông qua đánh giá ưu, khuyết điểm từng cá nhân xác định mục tiêu phấn đấu và xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện các tiêu chí đó.

Các nội dung tiêu chí phấn đấu của cá nhân được xây dựng phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và phải phù hợp với chức trách, nhiệm vụ, điều kiện công tác của từng nhóm đối tượng cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng phải thẩm định kết quả tự đánh giá và thông qua bản tự đăng ký phấn đấu về chuẩn mực đạo đức của từng người để làm căn cứ theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra việc thực hiện Quy định 144 của Bộ Chính trị.

Ba là, đề cao vai trò của cán bộ chủ trì các cấp trong thực hiện Quy định của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Chúng ta cần ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải là người mực thước cho người ta bắt chước”. Trong thực hiện nêu gương, cần áp dụng đúng nguyên tắc “trên trước, dưới sau, trong trước, ngoài sau”.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các địa phương, cơ quan, đơn vị phải luôn có sự thống nhất cao trong cả lời nói và việc làm; trong chỉ đạo thực tiễn luôn có sự phân công rõ ràng, thường xuyên trao đổi, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình; luôn có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức rèn luyện các chuẩn mực đạo đức tốt; thực sự gương mẫu, mẫu mực trong thực hiện các tiêu chí phấn đấu của địa phương, cơ quan, đơn vị đề ra, kế hoạch phấn đấu về chuẩn mực đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý phải làm trước tiên, mục tiêu phấn đấu cao hơn để làm gương cho cấp dưới. Đó là một trong những nhân tố quan trọng để đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới vào thực tiễn cuộc sống.

Bốn là, xây dựng cơ quan, đơn vị điểm về đạo đức cách mạng; xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, đội ngũ đảng viên vững mạnh nhằm đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị vào thực tiễn đời sống. Mỗi địa phương, mỗi ngành, lĩnh vực nên lựa chọn mô hình xây dựng cơ quan, đơn vị điểm về thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định 144 của Bộ Chính trị. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị được xác định làm điểm cần chủ động, tích cực trong việc xây dựng kế hoạch, xác định nội dung điểm và triển khai thực hiện quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị mình; quá trình thực hiện phải phát huy tốt vai trò chủ động, sáng tạo của các tổ chức, các lực lượng trong cơ quan, đơn vị nhằm tìm ra những cách làm hay, cách làm mới, những điển hình về chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên để nhân rộng ra toàn cơ quan, đơn vị, có như vậy mới tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất về chuẩn mực đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đối với tổ chức cơ sở đảng, cần tập trung xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh, chấp hành nghiêm nguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng. Các chi bộ đảng phải tiến hành tốt hơn nữa công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, chú ý đến tất cả mối quan hệ xã hội, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình phải gắn với công tác kiểm tra và xử lý kỷ luật, giúp phát hiện và xử lý chính xác, kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm Quy định 144 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

 Thời gian gần đây lại rộ lên nhiều bài viết, video clip tán phát trên các trang báo nước ngoài bằng tiếng Việt, mạng xã hội... với luận điệu cho rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời” và đưa ra lời khuyên: “Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng là đủ”, phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Luận điệu này nhằm xuyên tạc, chống phá, hòng đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Nhận diện, vạch trần thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Vạch trần bản chất, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc “Đến hẹn lại lên”, cứ mỗi khi Đảng ta làm công tác chuẩn bị văn kiện cho đại hội đảng các cấp, các hội, nhóm, cộng đồng chống cộng, phản động lưu vong, cơ hội chính trị như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các trung tâm truyền thông đối lập... lại gia tăng các bài viết xuyên tạc, chống phá, trong đó tập trung mũi nhọn đánh phá vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận vai trò nền tảng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng ta. Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng gần đây chính là đánh tráo khái niệm, phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng”. Để chứng minh cho điều đó, cuối năm 2023, đầu năm 2024, trên trang BBC tiếng Việt và các trang mạng xã hội của Việt Tân... đã đưa ra nhiều bài viết, video clip với các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, xuyên tạc và vô lối khi cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của mình (?!). Khi nói xấu, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh không thành, với bản chất “tiền hậu bất nhất”, “đổi trắng thay đen” của những kẻ phản động, trơ trẽn, họ lại quay ra sử dụng bộ mặt giả tạo, ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị và hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!), đây chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Thậm chí họ còn cho rằng phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin” để Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thành nền tảng tư tưởng chủ yếu của Đảng. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, biện bạch rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, không phù hợp với văn hóa và thực tiễn Việt Nam. Họ còn vin vào cái cớ về “yếu tố địa lý” khi cho rằng: Nước Đức, nước Nga-quê hương của C.Mác và V.I.Lênin-ở phương Tây. Sự ra đời Chủ nghĩa Mác-Lênin ở bên ấy, cần cho bên ấy, còn Việt Nam ở phương Đông, cách nhau nửa vòng trái đất nên không phù hợp. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam Những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Đây thực chất là những quan điểm sai trái, xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Các quan điểm đó tưởng như là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự dọn đường cho ý thức hệ tư sản xâm nhập vào Việt Nam; gián tiếp phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin; cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản; đồng thời là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, Chủ nghĩa Mác-Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Xét về góc độ lịch sử, chính Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp nhất quyết định sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, có sự thống nhất về mặt cơ sở phương pháp luận với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này chính thức bác bỏ những quan điểm xuyên tạc cho rằng giữa hai học thuyết, tư tưởng này có sự đối lập và tách rời nhau. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của nhân loại... Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn nguyên giá trị ở Việt Nam khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, trở thành nền tảng lý luận xuyên suốt của Đảng ta, thấm sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc, cội nguồn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay”. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 15-7-1969, trong bài trả lời phỏng vấn cuối cùng trước phóng viên Sáclơ Phuốcniô của Báo L’Humanité (Pháp), Bác đã nói: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn. Bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện mối quan hệ “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Những luận điệu xuyên tạc trên đều là sai lầm, mục đích chính cũng là phủ nhận, tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, trong suốt quá trình đổi mới, các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và trong quá trình đổi mới nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng rút ra bài học số một sau 15 năm đổi mới là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó văn kiện khẳng định vị trí quan trọng của Cương lĩnh năm 1991: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh, một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Điều này chứng tỏ luận điệu của các thế lực phản động cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập và tách rời với Chủ nghĩa Mác-Lênin”... chỉ là một sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới.

 Phấn đấu đến năm 2030, cả nước xoá bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; hoàn thành xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội.

Ảnh minh họa: PV 

Ngày 24/5/2024, thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới”.

Khoảng 374.000 căn nhà ở xã hội đã được chấp thuận đầu tư và khởi công

Nội dung chỉ thị khẳng định, trong suốt quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phát triển nhà ở cho người dân, nhất là nhà ở xã hội. Đến nay, cả nước đã hoàn thành xây dựng 195.000 căn nhà ở xã hội và có khoảng 374.000 căn nhà ở xã hội đã được chấp thuận đầu tư và khởi công, cấp phép xây dựng. Chính sách hỗ trợ nhà ở thông qua các chương trình mục tiêu cho các đối tượng là người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo khu vực nông thôn và hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu được triển khai đồng bộ và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Chỉ thị cũng nêu rõ, bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển nhà ở xã hội vẫn còn một số hạn chế như: Nhiều mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 không đạt được; nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế so với nhu cầu thực tế; giá nhà ở xã hội bình quân còn quá cao so với thu nhập của đối tượng thụ hưởng; công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập; tỉ lệ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội khu vực đô thị thấp; nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các chương trình tín dụng ưu đãi nhà ở xã hội còn thấp, chưa huy động được mạnh mẽ nguồn lực xã hội tham gia; còn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát, nhất là tại các vùng khó khăn, chịu nhiều ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.

Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do một số cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thiếu quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển nhà ở xã hội chậm được đổi mới, hoàn thiện, thiếu sự đột phá để thu hút nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển nhà ở xã hội; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ; công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý sai phạm trong phát triển nhà ở xã hội chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả.

Đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hộ

Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phát triển nhà ở xã hội, góp phần giải quyết cơ bản nhu cầu nhà ở cho người dân, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội về tính chất, ý nghĩa của công tác phát triển nhà ở xã hội; xác định phát triển nhà ở xã hội là quyết tâm chính trị, nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị, thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ ta; là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò và gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển nhà ở xã hội; đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm của địa phương. Phấn đấu đến năm 2030, cả nước xoá bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; hoàn thành xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp tại khu vực đô thị; thực hiện tốt việc hỗ trợ nhà ở theo các chương trình mục tiêu, nhất là đối với người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng khó khăn về nhà ở, hộ nghèo ở tại khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo tốt về nhà ở.

Nhà ở xã hội phải ở nơi thuận tiện

Ban Bí thư nêu rõ, thực hiện quy hoạch, bố trí các dự án nhà ở xã hội độc lập, hoặc trong các dự án nhà ở thương mại tại các vị trí thuận tiện về giao thông, gắn với các trung tâm công nghiệp, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu.

Nhà nước ưu tiên bố trí quỹ đất, nguồn vốn, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nhà ở xã hội; có cơ chế, chính sách ưu đãi thực chất, đủ hấp dẫn để thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư, phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng.

Phát triển đa dạng loại hình nhà ở xã hội và cơ chế, chính sách mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà lưu trú, ký túc xá cho công nhân, người thu nhập thấp khu vực đô thị, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang với giá phù hợp với khả năng chi trả của từng đối tượng thụ hưởng; tăng tỉ lệ nhà ở xã hội cho thuê; chú trọng hỗ trợ nhà ở và đất ở cho người có công với cách mạng, người nghèo và các đối tượng chính sách, bảo đảm phù hợp với quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và kế hoạch phát triển nhà ở trong từng giai đoạn của địa phương; kết hợp linh hoạt giữa các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân.

Nhà ở xã hội và nhà ở được Nhà nước hỗ trợ tại các chương trình mục tiêu, nhà lưu trú công nhân bảo đảm về chất lượng xây dựng, kiến trúc, cảnh quan, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, an ninh, an toàn, phòng cháy, chữa cháy, đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu (y tế, giáo dục, văn hoá...).

Cơ chế, chính sách đặc thù cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân

Ban Bí thư cũng yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến nhà ở xã hội, nhất là về cơ chế tài chính, sử dụng nguồn lực, đất đai, đầu tư, đầu tư công, xây dựng, đấu thầu, quy hoạch đô thị và nông thôn, quản lý phát triển đô thị, quản lý và sử dụng tài sản công, chính sách thuế, quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế... Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng; nâng mức hỗ trợ nhà ở cho người có công và các đối tượng chính sách tại các chương trình mục tiêu. Thực hiện tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ trong xác định giá nhà ở xã hội. Nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù về nhà ở xã hội cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân. Hoàn thiện pháp luật và tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia phát triển nhà ở xã hội bằng nguồn tài chính công đoàn.

Ban hành cơ chế, chính sách tạo thuận lợi và chủ động cho các địa phương trong việc dành ngân sách đầu tư xây dựng dự án nhà ở xã hội, thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư để có quỹ đất sạch làm nhà ở xã hội; đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm đồng bộ hạ tầng xã hội trong và ngoài phạm vi dự án. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội, các đối tượng thụ hưởng được tiếp cận dễ dàng với nhà ở xã hội; cắt giảm tối đa thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng, kinh doanh, mua

bán, quản lý, sử dụng nhà ở xã hội. Thực hiện trình tự thủ tục hành chính giao đất, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng, lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội... theo hướng rút gọn, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, công khai, minh bạch. Có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội theo hướng mô hình xanh, sử dụng tiết kiệm năng lượng, phát triển bền vững, phát thải cácbon thấp.

Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn

Ban Bí thư cũng yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển nhà ở xã hội; ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước từ Trung ương và địa phương tương xứng, kịp thời để bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển nhà ở xã hội; Nhà nước tập trung phát triển nhà ở xã hội cho thuê khu vực đô thị bằng nguồn vốn đầu tư công; đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Rà soát, sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để triển khai hiệu quả chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội. Nghiên cứu hình thành quỹ phát triển nhà ở xã hội, hoặc mô hình định chế tài chính phù hợp để phát triển nhà ở xã hội dài hạn, bền vững; mở rộng nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội từ quỹ đầu tư phát triển địa phương và nguồn vốn từ nước ngoài; khuyến khích hình thành các quỹ đầu tư, quỹ tín thác đầu tư và các hoạt động liên danh, liên kết thực hiện dự án nhà ở xã hội.

Bố trí cấp đủ nguồn vốn ngân sách cho Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chính sách hỗ trợ, cho vay phát triển nhà ở xã hội; thực hiện đầy đủ, kịp thời việc cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại được Nhà nước chỉ định để cho cá nhân và doanh nghiệp vay ưu đãi phát triển nhà ở xã hội; rà soát, đổi mới, tiếp tục mở rộng chương trình cho vay ưu đãi đối với cá nhân, hộ gia đình để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo chính sách về nhà ở xã hội…/.

XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

     Xây dựng Đảng về tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là tiến hành công tác tư tưởng trong quân đội, làm cho quân đội trung thành vô hạn với Đảng, Nhà nước và nhân dân; cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng...

Lịch sử xây dựng, trưởng thành, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND) luôn gắn liền với sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay khi thành lập Đội Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân QĐND Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền”. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của quân đội: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội quyết định mục tiêu chiến đấu, bản chất cách mạng, nguyên tắc tổ chức, cơ chế lãnh đạo, chế độ chỉ huy và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị. Bởi thế, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ là vấn đề then chốt nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta”. Đó chính là xây dựng Đảng về tư tưởng trong quân đội trong suốt gần 80 năm qua.

Xây dựng Đảng về tư tưởng trong QĐND Việt Nam thực chất là tiến hành công tác tư tưởng trong quân đội, làm cho quân đội trung thành vô hạn với Đảng, Nhà nước và nhân dân; cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm chính trị cao của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự nỗ lực của các cấp ủy, tổ chức đảng, Đảng bộ Quân đội đã có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có xây dựng Đảng về tư tưởng; góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương để quân đội luôn xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nổi bật là:
Thứ nhất, đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng.
Quân ủy Trung ương (QUTW), Bộ Quốc phòng (BQP) đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo các cơ quan, đơn vị đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng; tăng cường giáo dục nhiệm vụ, giáo dục truyền thống; phổ biến, giáo dục pháp luật, kỷ luật; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030, Quy chế giáo dục chính trị và Quy chế quản lý tư tưởng quân nhân, nắm, định hướng dư luận trong toàn quân; chủ động thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác rèn luyện, tu dưỡng; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên và tiêu chuẩn xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” cho cán bộ, chiến sĩ.

Công tác giáo dục chính trị, nhất là việc thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” đạt kết quả tốt. Đã có nhiều đổi mới về chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy cũng như đảm bảo cơ sở vật chất. Các cấp đã đổi mới về nội dung, phương pháp, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền thống dân tộc, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; tích cực đổi mới việc học tập, quán triệt các nghị quyết của Trung ương. Các cơ quan báo chí trong toàn quân mở chuyên trang, chuyên mục về “Xây dựng Đảng”, “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Nhận diện sự thật” đã kịp thời định hướng cho cán bộ, đảng viên; nhận diện đúng, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn. Qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất của các cấp uỷ, tổ chức đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ.

Bên cạnh đó là làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước cụ thể hóa Cương lĩnh, Nghị quyết của Đảng, hoạch định đường lối đổi, ban hành các chiến lược về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; các quy định về tổ chức đảng, tổ chức cơ quan chính trị, chính sách, pháp luật về công tác quốc phòng, quân sự, về đối sách xử lý các tình huống, nhất là các vấn đề trên biển và các hoạt động kinh tế biển, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

BQP đã phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng và ban hành “Chương trình phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Quốc phòng giai đoạn 2021-2025”. Nội dung phối hợp tập trung định hướng tư tưởng, hướng dẫn tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về quan điểm, đường lối nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhất là các chiến lược, nghị quyết, kết luận, đề án quan trọng về quân sự, quốc phòng trong tình hình mới; phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thực hiện pháp luật về quân sự, quốc phòng; cung cấp, định hướng thông tin, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin giả, sai sự thật về chức năng, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam.

Năng lực cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng của QUTW, BQP, của các cấp ủy, tổ chức đảng chuyển biến tích cực; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương trong triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, gắn với phát triển kinh tế, xã hội trên phạm vi cả nước; đã ban hành các nghị quyết, kết luận, chương trình hành động triển khai thực hiện trong Đảng bộ Quân đội, bảo đảm giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội.

Thứ hai, nắm, dự báo, đánh giá, định hướng giải quyết tư tưởng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, chiến sĩ.
QUTW, các cấp ủy, tổ chức đảng có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác tư tưởng, rèn luyện kỷ luật. Tổng cục Chính trị đã ban hành và triển khai Quy chế quản lý tư tưởng quân nhân, nắm và định hướng dư luận trong QĐND Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị đã có nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn, phù hợp, kịp thời giải quyết các vấn đề tư tưởng nảy sinh. Cùng với tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, các cấp đã coi trọng phát huy dân chủ gắn với hoàn thiện cơ chế, quy chế trên các mặt công tác để nắm, quản lý tình hình đơn vị, chất lượng các tổ chức, diễn biến tư tưởng của bộ đội; kết hợp chặt chẽ giáo dục nhận thức với các phong trào, các cuộc vận động để quản lý quân nhân; duy trì có nền nếp các khâu, các bước - từ quản lý, dự báo, định hướng, đấu tranh đến giải quyết tư tưởng. Đảm bảo cho cán bộ, đảng viên trong toàn quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định với nền tảng tư tưởng, mục tiêu và đường lối đổi mới của Đảng, giữ vững bản chất giai cấp; phát huy tốt vai trò hạt nhân chính trị, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Thứ ba, luôn coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.
QUTW đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học nhằm tiếp tục làm sáng tỏ một số vấn đề về cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và sự nghiệp quốc phòng; chiến lược quân sự, chiến lược quốc phòng; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ, trọng tâm là tiềm lực chính trị tinh thần; chủ trương kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình tiến hành sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN...

Thực hiện tốt chương trình phối hợp giữa Tổng cục Chính trị với Hội đồng lý luận Trung ương nghiên cứu, khảo sát những vấn đề lý luận, thực tiễn về quốc phòng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận của Đảng.

Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho các đối tượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng hệ thống chương trình đào tạo các môn khoa học xã hội nhân văn cho các đối tượng, biên soạn nhiều tài liệu giáo dục chính trị bảo đảm cho việc nghiên cứu, học tập trong toàn quân.

Thứ tư, chăm lo xây dựng đội ngũ tiến hành công tác tư tưởng.
Đội ngũ cán bộ tiến hành công tác tư tưởng ở các cơ quan, đơn vị luôn sâu sát cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ.

Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thứ năm, tích cực, trách nhiệm, gương mẫu, kiên quyết trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; có các biện pháp cụ thể bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự vững vàng về chính trị, tư tưởng, phát huy tốt vai trò trách nhiệm trong đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị.

Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các đề tài, chuyên đề về công tác xây dựng Đảng; phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 94 (nay là Ban Chỉ đạo 35) và L.ự.c http://l.xn--yia.xn--jmg.ng/ 47 ở các cấp, chủ động đấu tranh, phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và không gian mạng; kịp thời phát hiện, xử lý có hiệu quả những vấn đề nảy sinh, không để bị động, bất ngờ. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 của QUTW đã ký kết nhiều chương trình phối hợp nhằm cung cấp thông tin, chia sẻ kinh nghiệm; phối hợp tuyên truyền, giáo dục; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng trong Đảng bộ Quân đội thời gian qua vẫn còn những hạn chế, bất cập. Điều này có nguyên nhân từ sự tác động, ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; luật pháp, cơ chế, chính sách có nội dung còn bất cập... Song chủ yếu do một số cấp ủy, chỉ huy đơn vị chưa quyết liệt trong triển khai thực hiện, đề ra chủ trương nhưng thiếu biện pháp cụ thể, đồng bộ, hiệu quả; kiểm tra, đôn đốc không thường xuyên. Chất lượng thực hiện các chế độ ở một số cơ quan, đơn vị có lúc chưa tốt, còn biểu hiện bệnh thành tích, giấu giếm khuyết điểm. Có cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, nói chưa đi đôi với làm; cá biệt có cán bộ ý thức tổ chức kỷ luật kém, vi phạm kỷ luật và pháp luật...

Trong bối cảnh mới, trước tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đạo đức nói chung và xây dựng Đảng về tư tưởng nói riêng tiếp tục tập trung một số vấn đề sau:
Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong toàn quân.
Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về “Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị.

Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn.

Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính...

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận quân nhân và tập thể quân nhân theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ, tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường quân đội...

Ba là, đổi mới hơn nữa nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng.
Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng.

Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.
Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động trong toàn quân bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội...

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong QĐND Việt Nam.
Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống.

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.

Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.   

Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng về tư tưởng trong quân đội sẽ tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; giúp cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức chính trị, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam;
phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng bộ Quân đội, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng QĐND Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống./.


___________________
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2021, t.3, tr.539.
(2) Hồ Chi Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.217.
(3) Hồ Chi Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.37.
(4) Tổng kết 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; Tổng kết nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa từ Đại hội XII đến nay./.
Yêu nước ST.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHO RẰNG “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CƯỚP CHÍNH QUYỀN CỦA “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM”, ĐƯA ĐẤT NƯỚC VÀO HAI CUỘC CHIẾN CHỐNG PHÁP, MỸ KHỐC LIỆT!

     Hiện nay trên không gian mạng xuất hiện những bài viết ca ngợi “Đế quốc Việt Nam”; các tổ chức phản động cho rằng “Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Đế Quốc Việt nam được thành lập với Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Tuy thân Nhật, nhưng đây là một chính phủ mới được thành lập nhằm mục đích đón nhận nền độc lập được trao tay từ quân Nhật mà không phải qua chiến tranh đổ máu. Đây là nước đi vô cùng khôn khéo của vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim. Nhưng tiếc thay, nó đã bị Cộng sản phá nát và dẫn đến hệ quả là xuất hiện 2 cuộc chiến thả,m khốc sau này”!

Ý đồ rất rõ, họ muốn lái dư luận và đầu độc thế hệ trẻ, phủ nhận công lao của Đảng và nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh tráo khái niệm một cách tinh vi, xảo trá. Xin có đôi lời như sau:

ĐẾ QUỐC VIỆT NAM là cái tên mỹ miều và có vẻ hùng mạnh mà Đế Quốc Nhật đặt cho khi “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Nó chỉ tồn tại trong vài tháng, từ tháng 3 đến tháng 8, 1945 thì bị chính quyền cách mạng khai tử vì bản chất phản động, tay sai của nó. Ngày 9/3/1945, Nhật “đảo chánh” Pháp và “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Sau đó Bảo Đại và Trần Trọng Kim lần lượt được người Nhật đưa lên ngồi trên 2 chiếc ghế gọi là “Quốc trưởng” và “Thủ tướng”. Nhật đuổi Pháp chỉ để thực hiện mục đích là khai thác tài nguyên, bắt phu bắt lính phục vụ cho ý đồ thôn tính thế giới của chủ nghĩa Phát xít. Cái gọi là “Đế quốc Việt Nam” do một tay người Nhật dựng lên, do người Nhật quyết định để hợp thức hóa việc xâm lược nước ta. Các “bộ” được thành lập nhưng cái quan trọng nhất là quân đội thì “Đế quốc Việt Nam” lại không được Nhật cho phép thành lập; nghĩa là quân đội do người Nhật nắm để phục vụ ý đồ họ, chống lại dân tộc Việt Nam. Bảo Đại và Trần Trọng kim trơ mắt nhìn người Nhật tà,n sá,t dân lành, cướ;p bóc, hã;m hiế;p gây ra tội á;c tày trời với nước ta.

Với chính sách bạ;o tàn và phi nhân tính, người Nhật bắt các tỉnh miền Bắc bỏ lúa để trồng đay, thu gom lúa gạo để chở về chính quốc đã gây ra cái chế;t oan nghiệt, đau thương của 2 triệu đồng bào miền Bắc và Bắc Trung bộ. Thái Bình là vựa lúa của miền Bắc nhưng dân Thái Bình chết do nạn đói 1945 lại cao nhất cả nước, tất cả cũng chỉ vì chính sách này. Bảo Đại và Trần Trọng Kim không dám lên tiếng khi mà các kho thóc của Nhật đầy ắp lúa gạo nhưng để nhân dân ta chế;t đói thảm thương. Người miền Bắc chỉ được cứu khi cách mạng tháng 8 diễn ra, Việt Minh phá kho thóc Nhật để cứu dân ta.  

Dân thì chế;t đói thê thảm, Hoàng Đế Bảo Đại lại nói Việt Nam tin cậy vào Nhật, sẽ đem tài lực giúp cho Đế Quốc Đại Đông Á của Nhật, sẽ quyết chí đem hết tài sản đất nước Việt Nam “hợp tác” với Nhật. Vậy “Đế quốc Việt Nam” đã thực sự bán nước cho Nhật rồi còn gì.

 “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung. Vậy Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên” (Bảo Đại, “Tuyên Ngôn Độc Lập” 11/3/1945). 

Trần Trọng Kim thì tuyên bố: “Quốc dân phải gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thực hợp tác với nước Đại Nhật Bản trong sự kiến thiết nền Đại Đông Á, vì cuộc thịnh vượng chung của Đại Đông Á có thành thì sự độc lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoáng qua”. 

Hy sinh nhiều hơn nữa ư? 2 triệu nhân mạng của người Việt để đổi lấy một “chính phủ” bù nhìn, vô thưởng vô phạt ấy, và sẽ còn cao hơn nữa nếu như Nhật không bị đồng minh đánh bại. Khi đó, Bảo Đại và Trần Trọng Kim lại vinh thân phì gia trên không biết bao xươn;g má;uu của nhân dân ta nữa.

Những có kẻ đổ lỗi cho sự sụp đổ của “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” là do Việt Minh cướp “chính quyền”, nếu không thì Việt Nam đã có độc lập và không có chiến tranh là những kẻ không hề có trái tim và khối óc! Việt minh đuổi Nhật giành chính quyền về tay nhân dân chứ không phải là từ Pháp hay “đế quốc Việt Nam” vì bản chất “đế quốc Việt Nam” chỉ là đám ôm gối người Nhật, có quyền hành gì đâu mà bảo là cướ;p? Tuyên Bố Cairo ngày 27/11/1943 của phe Đồng minh đã nói rõ : Sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế Quốc Nhật thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Như vậy, “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” của Hoàng Đế Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim chắc chắn sẽ không có tư cách pháp lý nào để tồn tại và sẽ bị phe đồng minh giải thể khi Nhật đầu hàng. 

Muốn lấy lại quyền làm chủ vận mệnh thực sự của dân tộc thì chắc chắn chỉ người Việt Nam mới giành và giữ được chính quyền của dân tộc mình. Cụ Hồ và Đảng ta không bao giờ muốn chiến tranh, gây đau thương, mất mát nên đã nhân nhượng khi Pháp trở lại Việt Nam. Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp lại càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa” vì lý do đó nên người Việt “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Đó là nguyên nhân để chúng ta phải chiến đấu với Pháp. 

Mỹ thay Pháp để thực hiện chia cắt nước ta, vi phạm Hiệp định Giơnevơ và dựng lên cái gọi là “đệ nhất cộng hòa” của Diệm và “đệ nhị cộng hòa của Thiệu” để biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đó là nguyên nhân mà cụ Hồ kêu gọi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!” Đó là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với một bên là đế quốc Mỹ, chư hầu. VNCH cũng như Đế quốc Việt Nam về bản chất là giống nhau, chỉ khác một bên là tay sai của Nhật còn một bên là tay sai của Mỹ. 

Từ những lẽ trên, có thể nói, luận điệu cho rằng: “Đế Quốc Việt nam được thành lập với Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Tuy thân Nhật, nhưng đây là một chính phủ mới được thành lập nhằm mục đích đón nhận nền độc lập được trao tay từ quân Nhật mà không phải qua chiến tranh đổ máu. Đây là nước đi vô cùng khôn khéo của vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim. Nhưng tiếc thay, nó đã bị Cộng sản phá nát nà dẫn đến hệ quả là xuất hiện 2 cuộc chiến thảm khốc sau này” là luận điệu xuyên tạc lịch sử, mục đích cuối cùng là phủ nhận công lao to lớn của Đảng, của Bác Hồ Vĩ đại và của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đương nhiên những lập luận đó sẽ bị người Việt Nam bác bỏ vì nó vốn là sản phẩm của các thế lực thù địch.

Cách mạng tháng Tám thành công và thành quả vĩ đại mà nó mang đến chính là ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân Việt Nam anh hùng đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đây đất nước ta đã đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược; bảo vệ độc lập, tự do và phẩm giá của người Việt Nam. Đất nước ta rũ bùn đứng dậy sáng loà và có cơ đồ, vị thế, uy tín trên trường quốc tế như hôm nay đều nhờ trí tuệ, tâm huyết, máu xương của cha anh. Thời đại Hồ Chí Minh bất diệt! Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những kẻ phản bội tổ quốc, đi ngược lợi ích của quốc gia, dân tộc như Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu...đều có kết cục chung là thảm bại. Hào khí Việt Nam sẽ nhấn chìm những kẻ bán nước cầu vinh./.

Yêu nước ST.