Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

Bản chất cách mạng của Đảng

 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luận chứng một cách khoa học, cách mạng về xây dựng chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Đây là cơ sở lý luận gốc để bác bỏ luận điệu sai trái trên.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã soạn thảo “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” và “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản”. Sau đó C.Mác đã trực tiếp soạn thảo “Tuyên ngôn thành lập Hội Liên hiệp công nhân quốc tế” và cùng với Ph.Ăngghen soạn thảo “Điều lệ chung và các quy chế hành chính” của Quốc tế thứ nhất. Trong các văn kiện trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra và lý giải những nguyên tắc tổ chức về xây dựng đảng cộng sản nói chung, nhất là tiêu chuẩn của đảng viên nói riêng.

Đảng cộng sản là một tổ chức độc lập mang bản chất giai cấp công nhân: “Đảng công nhân phải hành động sao cho thật có tổ chức, thật thống nhất, thật độc lập nhất, nếu như nó không muốn... lại bị giai cấp tư sản lợi dụng và bám đuôi nó mà lê đi”. Đảng phải đưa các tư tưởng của CNXH khoa học vào trong các tổ chức đó, hướng hoạt động của các tổ chức đó vào quỹ đạo của cách mạng vô sản.

C.Mác và Ph.Ăngghen đòi hỏi đảng khác bộ phận còn lại của giai cấp ở chỗ: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, điều kiện tiêu chuẩn người vào Đảng nhất thiết phải là những người thừa nhận thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, hành động phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của Đảng, có nghị lực cách mạng và tích cực tuyên truyền tư tưởng của CNXH khoa học, tự giác phục tùng nghị quyết và giữ gìn bí mật của Đảng, đóng hội phí đầy đủ thì mới được kết nạp vào Đảng.

Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, V.I.Lênin khẳng định: “Đảng phải là đội tiền phong, là người lãnh đạo quảng đại quần chúng giai cấp công nhân; toàn thể (hay hầu như toàn thể) giai cấp này hành động dưới sự kiểm soát và lãnh đạo của các tổ chức đảng, nhưng họ không gia nhập tất cả và không được gia nhập tất cả vào đảng”.

Đảng là của giai cấp, đảng gắn liền, không tách rời giai cấp, nhưng đảng không phải là toàn bộ giai cấp. Không được lẫn lộn giữa đảng với giai cấp. Nếu lẫn lộn Đảng với giai cấp có nghĩa là phủ nhận vai trò của đảng là đội tiền phong của giai cấp và trên thực tế là thủ tiêu Đảng. V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Không được lẫn lộn Đảng, tức là đội tiên phong của giai cấp công nhân với toàn bộ giai cấp”. Vai trò tiên phong của Đảng thể hiện một cách toàn diện ở lý luận tiên phong, ở đường lối đúng đắn, ở năng lực lãnh đạo quần chúng cũng như ở tinh thần tận tuỵ gương mẫu, hi sinh của các tổ chức đảng và của đội ngũ đảng viên.

Về mặt tổ chức Đảng phải rất chặt chẽ, gồm những người ưu tú nhất, có giác ngộ cộng sản chủ nghĩa, có ý thức tổ chức và kỷ luật trong giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động. Các tiêu chuẩn về tư cách đảng viên, về việc lựa chọn người vào Đảng, về thời kỳ dự bị, về thủ tục kết nạp và khai trừ đảng viên, về quyền hạn và nhiệm vụ của đảng viên... đều phải thể hiện thành nguyên tắc, quy định trong Điều lệ Đảng và thực hiện trong thực tế hoạt động, sinh hoạt của Đảng.

Sự tiên phong về mặt tổ chức của Đảng còn thể hiện ở chỗ Đảng là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân. V.I.Lênin chỉ rõ: “Đảng là tổng hợp các tổ chức gắn với nhau thành một khối. Sự tổ chức của Đảng đòi hỏi người đảng viên không những phải thừa nhận cương lĩnh của Đảng mà còn phải tham gia hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đảng để phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng bằng hành động cách mạng thực tế, phải chịu sự giám sát của tổ chức đảng, phải có tính tổ chức và kỷ luật cao. V.I.Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội trên những vấn đề tổ chức, nhất là đấu tranh chống phái Men-sê-vích trong Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Quốc tế II trên vấn đề tổ chức, đã đặt cơ sở lý luận vững chắc cho việc xây dựng đảng kiểu mới về mặt tổ chức.

Đặc biệt, theo V.I.Lênin, Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng, phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng. Đảng là đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Đảng chỉ có thể làm tròn được vai trò ấy một khi trong Đảng bao gồm những chiến sĩ tiên phong. Tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng là biện pháp quan trọng để cải thiện thành phần, chất lượng của Đảng là điều kiện vô cùng quan trọng để nâng cao uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở mỗi thời kỳ của cách mạng, trong Đảng không tránh khỏi một số người không còn giữ được vai trò tiên phong, đặc biệt là trong điều kiện Đảng có chính quyền không tránh khỏi những phần tử cơ hội tìm mọi cách luồn lọt, chui vào Đảng với mưu đồ đặc quyền đặc lợi, phá hoại sự thống nhất trong nội bộ Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng đối với Đảng. V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng: “Phải đuổi cổ ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hoá, không trung thực, nhu nhược”.

Tuyệt nhiên trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không hề chấp nhận cái gọi là “đảng viên quá độ”.

Nêu cao tiêu chuẩn đảng viên

Quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ ngày thành lập đã được Hồ Chí Minh khẳng định là một Đảng kiểu mới, Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam, mang bản chất của giai cấp công nhân. Đảng luôn luôn lấy những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Trong “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh xác định: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và dựa vững vào hạng dân cày nghèo...”

Người đặt ra yêu cầu cao đối với tiêu chuẩn của đảng viên, vì vậy, trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Người viết: 

“Lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc, giải phóng giai cấp và nhân dân, là sự nghiệp rất vẻ vang nhưng rất nặng nề. Để hoàn thành sự nghiệp ấy, Đảng phải thật trong sạch, thật mạnh mẽ. Vì vậy, đảng viên cũng phải thật trong sạch, thật mạnh mẽ, tức là phải đúng những tiêu chuẩn sau đây: “Không bóc lột người - Đảng chống chế độ “người bóc lột người”... Phải luôn luôn cố gắng học tập để tiến bộ mãi. Đối với những đảng viên đúng tiêu chuẩn, thì Đảng phải bồi dưỡng thêm. Đối với những đảng viên gần đúng (và những đảng viên xuất thân từ giai cấp bóc lột), thì Đảng ra sức giáo dục, giúp đỡ để họ tiến đúng tiêu chuẩn. Đối với những đảng viên đã được giáo dục nhiều mà vẫn không tiến đúng tiêu chuẩn, thì Đảng sẽ khuyên họ rút lui, nhưng vẫn giữ cảm tình với họ”.

Luôn nhất quán với quan điểm trên, trong “Bài phát biểu tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ “bốn tốt” ở khu vực ngoại thành Hà Nội”, ngày 18-12-1964 là lần thứ 8 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra tiêu chí này, đó là: “Đảng viên phải kiên quyết và suốt đời đấu tranh cho Đảng. Luôn bồi dưỡng tư tưởng vô sản của mình, không để mắc sai lầm, tích cực sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Luôn luôn để lợi ích của Đảng lên trên lợi ích của cá nhân. Khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân không khớp nhau thì đảng viên phải để lợi ích của Đảng lên trước. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết, kỷ luật của Đảng. Mật thiết liên hệ với quần chúng. Cố gắng học tập về mọi mặt để không ngừng nâng cao trình độ của mình, thật thà tự phê bình và phê bình.

Từ khi có chính quyền, 94 năm qua, Đảng ta đã quán triệt và vận dụng đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện nhiều hình thức và biện pháp nhằm xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ đảng viên, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng. Trong đó, đặc biệt coi trọng tiêu chuẩn đảng viên.

Điểm lại lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cho thấy, ở đâu, lúc nào nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về tiêu chuẩn người đảng viên thì ở đấy, lúc đó tình hình dẫu khó khăn đến đâu Đảng vẫn vững mạnh, cách mạng cũng vượt qua. Trái lại ở đâu, lúc nào vận dụng máy móc, giáo điều, hoặc chủ quan duy ý chí, quan điểm lệch lạc, tư tưởng dao động, tác phong công tác trì trệ, nhất là chấp nhận cái gọi là “đảng viên quá độ” - tức đảng viên “trung bình” thì ở đấy, lúc đó, hiệu lực, hiệu quả thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng hạn chế; Đảng, cách mạng gặp khó khăn, tổn thất. Vì vậy, Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 23 của Trung ương Đảng, tháng 10-1974, Đảng ta chỉ rõ: “Nhưng phải nhận rằng tổ chức của Đảng có những mặt thiếu năng động, có những bộ phận không lành mạnh, trì trệ. Số tổ chức cơ sở yếu, kém, tương đối nhiều; riêng ở nông thôn (theo báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương) có khoảng 13%, những tổ chức cơ sở này không làm được vai trò hạt nhân lãnh đạo. Nhiều cấp uỷ, nhiều cơ quan mất đoàn kết nghiêm trọng. Số đảng viên không đủ tiêu chuẩn chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Nếu tính từ khi thực hiện Nghị quyết 195 thì số đảng viên bị xử trí ở những cơ sở đã thực hiện Chỉ thị 192 lên tới 15% tổng số đảng viên của những đảng bộ đó (trong đó khoảng hơn 6% bị đưa ra khỏi Đảng). Đó là chưa nói số đảng viên trình độ giác ngộ quá thấp và bộ phận đảng viên thụ động mà ta thường gọi là đảng viên "trung bình"… Tình hình trên đây đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghị quyết của Đảng”[1].  

Thực tiễn phong phú đó, nhất là thực tiễn gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng nói chung, xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng, một lần nữa chứng minh điều đó. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Mặt khác, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kì vọng của nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

Nói tóm lại, luận điệu “đảng viên quá độ”  thực chất là quan điểm sai trái về lý luận và phản động về thực tiễn, tác động hướng lái, tạo sự chuyển hoá về tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, nhận diện và đưa ra cơ sở khoa học để bác bỏ là cần thiết nhằm trực tiếp đấu tranh hiệu quả với quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phản bác luận điệu "đảng viên quá độ"

 Luận điệu “đảng viên quá độ” thực chất là quan điểm sai trái về lý luận và phản động về thực tiễn, tác động hướng lái, tạo sự chuyển hoá về tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, nhận diện và đưa ra cơ sở khoa học để bác bỏ là cần thiết nhằm trực tiếp đấu tranh hiệu quả với quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

Phản bác các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng

 Công tác cán bộ được Đảng xác định là khâu “then chốt”; là vấn đề mà nhân dân, dư luận quốc tế đặc biệt quan tâm. Việc lựa chọn, bố trí nhân sự vì thế luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng để đưa ra đồn đoán, xuyên tạc với những thông tin xuyên tạc.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

Nhận diện hoạt động chống phá

Gần đây, lợi dụng sự thay đổi về nhân sự của Đảng, các tổ chức phản động như Việt Tân, VOA tiếng Việt, Đài Á Châu tự do (RFA), Chân trời mới Media… đồng loạt đăng tải các bài viết chống phá Đảng, đặc biệt là công tác tổ chức cán bộ.

Ngày 20-3-2024, trên trang Facebook của Việt Tân đăng tải các bài viết với nội dung xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng là cuộc “đấu đá nội bộ, thanh trừng phe phái, triệt hạ lẫn nhau”; “không bảo đảm dân chủ”, “không thể lựa chọn” được người đủ năng lực và đạo đức để lãnh đạo đất nước. Chân Trời Mới Media rêu rao rằng “Đa số người dân không còn màng đến các cuộc đấu đá trong nội bộ Đảng”. Ngoài ra, một số tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan như: VOA tiếng Việt, Đài Á Châu tự do (RFA), BPSOS, Nguyễn Văn Đài, … cũng ra sức tuyên truyền xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng là mất dân chủ; ca ngợi nền dân chủ phương Tây; cổ xúy tư tưởng đa đảng, kích động người người dân biểu tình chống phá chế độ.

Không khó để nhận thấy thủ đoạn lặp đi lặp lại các thông tin bịa đặt, những “câu chuyện nhân sự” nhằm câu “view”, câu “like”, giật tít giật gân, lập lờ đánh lận con đen, thu hút sự quan tâm, theo dõi dư luận để phục vụ cho mưu đồ chống phá. Họ triệt để khai thác các tính năng của mạng xã hội như Facebook, YouTube, Instagram… với độ tương tác rộng, chia sẻ nhanh chóng, dễ tiếp cận người dùng để đăng tải, chia sẻ những thông tin, luận điệu lệch lạc. Chúng tiến hành livetream, thảo luận về công tác nhân sự của Đảng; cài cắm thông tin xấu độc với thông tin chính thống hòng tạo ra sự nhiễu loạn, làm cho người dùng khó phân biệt đâu là “thật - giả”, “đúng - sai”.

Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, trong đó cán bộ cấp cao bị xử lý kỉ luật; một số cán bộ xin thôi giữ các chức vụ trong Đảng, bộ máy Nhà nước, số đối tượng phản động, cơ hội chính trị quy kết lựa chọn cán bộ “không đủ tiêu chuẩn”, xuyên tạc công tác nhân sự là “sự áp đặt từ trên xuống”, “sai ngay từ đầu”, là “hình thức, không thực chất”.

Đối tượng mà các thế lực thù địch hướng đến là một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức, hiểu biết chính trị hạn chế, nhằm kích động tâm lý hoài nghi từ đó lôi kéo người dân hình thành tư tưởng chống đối. Tuy nhiên, cũng đã có một số nhóm người tin vào thông tin đó, có những phát ngôn thiếu ý thức xây dựng, thậm chí a dua, hùa theo.

Mục đích của các thế lực thù địch là gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, thao túng tâm lý một bộ quần quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin với Đảng; hạ bệ uy tín, dần phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xóa bỏ chế độ ở nước ta hiện nay. Mặc dù những âm mưu, thủ đoạn này không mới, nhưng hết sức thâm độc, xảo quyệt, tinh vi nếu không hiểu về công tác nhân sự của Đảng, không có chính kiến và “sức đề kháng” trước “vi rút” tin giả, xấu độc, sẽ vô hình trở thành “con tốt”, “quân bài” của các thế lực thù địch.

Khoa học, kỹ lưỡng trong công tác nhân sự

Trong quá trình tự xây dựng, tự chỉnh đốn, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng đến công tác cán bộ. Trong đó, công tác nhân sự là một bộ phận quan trọng, được thực hiện ở những thời điểm có tính quyết định, có ý nghĩa đặc biệt, đôi khi liên quan đến sự sống còn của Đảng, sự phát triển của đất nước. Do vậy công tác tuyển chọn cán bộ của Đảng, Nhà nước luôn được tiến hành một cách khoa học, kỹ lưỡng và theo quy trình nghiêm ngặt với những tiêu chuẩn cao về phẩm chất, đạo đức, năng lực và uy tín để có thể đáp ứng yêu cầu công việc, gánh vác trọng trách xây dựng, phát triển đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ mục đích cao cả của công tác cán bộ đó là: “xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, một Bộ Chính trị mạnh, một Ban Bí thư mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất cao xung quanh người đứng đầu để đủ sức gánh vác trọng trách vinh quang nhưng rất nặng nề của mình là lãnh đạo hoàn thành sứ mạng lịch sử, nhiệm vụ chính trị của mình, tổ chức toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phấn đấu, vượt mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; đất nước ta ngày càng phát triển; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong đợi của toàn Đảng, toàn dân”.

Tổng Bí thư yêu cầu, công tác nhân sự Đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, trong sáng, khách quan, đặc biệt phải

Tổng Bí thư yêu cầu, công tác nhân sự Đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, trong sáng, khách quan, đặc biệt phải "có con mắt tinh đời" trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn. Ảnh: TTXVN

Đảng ta chủ trương lựa chọn cán bộ, đảng viên xứng đáng, có đủ đức, đủ tài để gánh vác nhiệm vụ cách mạng. Việc thay đổi công tác nhân sự của Đảng là cần tiến hành đúng thời điểm với phương châm cán bộ “có vào, có ra, có lên, có xuống” nhằm đáp ứng được yêu cầu của công việc, nhiệm vụ chính trị và phẩm chất đạo đức. Phương châm này đã được thực hiện trong nhiều năm gần đây, nhận được niềm tin, kỳ vọng rất lớn của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, sự thay đổi về nhân sự của các cấp, đặc biệt là những vị trí quan trọng, cơ yếu luôn là dịp các thế lực phản động lợi dụng, vin vào chống phá một cách quyết liệt.

Thực tế công tác cán bộ đã bảo đảm được tính dân chủ, chặt chẽ, đồng bộ, khách quan, minh bạch; có nhiều nội dung đổi mới đối với từng nhóm chức danh; đồng thời, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu trong công tác giới thiệu, đề xuất và thẩm định nhân sự quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Đảng đã lựa chọn, tạo dựng nên đội ngũ cán bộ mang trong mình phẩm chất kiên trung với Đảng, tận hiếu với nước, với dân; xứng đáng là người “công bộc”, “đầy tớ” của Nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nhiều cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hy sinh vì lợi ích chung, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đội ngũ cán bộ chiến lược, giữ vị trí quan trọng ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín, trình độ chuyên môn giỏi; có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Nhiều cán bộ là tấm gương sáng, tiêu biểu trong lời nói và hành động được cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu mến, học tập và noi theo.

Cán bộ trong quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đều phải được đào tạo qua 5 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ cấp chiến lược. Đại biểu dự Đại hội XIII đều là những cán bộ tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, uy tín được bầu chọn từ các cấp. Để chuẩn bị cho Đại hội XIV, Đảng ta đã làm từ rất sớm, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (ngày 8-10-2023) đã quyết định thành lập Tiểu ban Nhân sự do đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Trưởng Tiểu ban với nhiệm vụ xây dựng Phương hướng công tác nhân sự, giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031...

Công tác lựa chọn cán bộ được tiến hành từng bước, theo quy trình khoa học, chặt chẽ, thận trọng, bài bản để chọn ra những hạt nhân tiêu biểu, có đủ phẩm chất, năng lực bầu vào các chức danh chủ chốt của Đảng; hoàn toàn không phải là một sự “sắp xếp hình thức”, “thanh trừng, đấu đá nội bộ” như sự suy đoán vô căn cứ, xuyên tạc của số đối tượng phản động, cơ hội chính trị. Việc một số cán bộ được bầu vào các chức danh của cơ quan lãnh đạo của Đảng sau này trong quá trình công tác vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đó là do cá nhân đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không thể đổ lỗi cho công tác nhân sự “sai ngay từ đầu” như những gì các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Phát biểu tại Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cảnh báo “Các phần tử xấu, cơ hội, thù địch cũng nhân dịp này tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin, tác động, chia rẽ nội bộ ta hòng phá hoại công tác nhân sự nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung của chúng ta, rất thâm độc và nguy hiểm”. Để ngăn chặn, đấu tranh với những thông tin sai trái, xuyên tạc công tác cán bộ, lựa chọn nhân sự của Đảng, Nhà nước, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, phát huy vai trò của cơ quan chức năng, truyền thông, báo chí trong tuyên truyền quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ. Kịp thời, chủ động cung cấp thông tin chính thống, chính xác định hướng dư luận, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, những vấn đề xã hội quan tâm, đáp ứng nhu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân theo quy định, tránh để thông tin giả, thông tin không chính thống lan truyền trên mạng xã hội; chủ động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thiết lập và sử dụng nhiều diễn đàn trên mạng xã hội để tuyên truyền, phản bác, loại bỏ các thông tin sai lệch, vô căn cứ.

Hai là, cần có biện pháp phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ; coi trọng công tác giáo dục tư tưởng, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực công tác tốt, dân chủ, khoa học; kiểm soát tốt quyền lực trong công tác cán bộ. Đề cao vai trò nêu gương của người cán bộ nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương; trách nhiệm càng cao càng phải gương mẫu, nêu gương mọi lúc, mọi nơi, từ suy nghĩ cho đến hành động. Từ đó, hạn chế, tiến tới triệt tiêu cơ hội các thế lực thù địch lợi dụng sai phạm của cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, chống phá.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác, tự đề kháng; không tiếp tay, không lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng. Cần phải chọn lọc thông tin chính thống, phân tích đúng sai, tránh a dua theo những thông tin xuyên tạc, bịa đặt; kiên quyết đấu tranh đẩy lùi mọi ý đồ xuyên tạc, vu khống của số đối tượng xấu.

Bốn là, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn việc tán phát những thông tin giả, tin sai sự thật và xử lý nghiêm minh các trường hợp đưa tin giả, tin sai sự thật theo đúng quy định của pháp luật.

Những cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người

 Vừa qua, tại Trụ sở Liên hiệp quốc tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ, Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu đã tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt phát biểu tại Phiên đối thoại

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt phát biểu tại Phiên đối thoại.

Tại phiên đối thoại, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt đã lần lượt nhấn mạnh những cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

Giá trị mang tính nền tảng

Mở đầu phiên đối thoại, Thứ trưởng nhấn mạnh, ngay từ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Đó cũng chính là những lời được trích từ Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ.

Những giá trị ấy và cam kết của Việt Nam đối với quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được bảo đảm trên thực tiễn và đạt được những kết quả cụ thể, đặc biệt là trong gần bốn thập kỷ Đổi mới.

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt lần lượt đưa ra các dẫn chứng như: "Đã có những chuyển biến rõ rệt trên khắp đất nước và trong cuộc sống người dân Việt Nam. Từ một quốc gia phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới và góp phần vào duy trì an ninh lương thực trong khu vực và thế giới.

Từng nằm trong nhóm các nước nghèo nhất thế giới nhưng Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất. Trong giai đoạn từ 1989 tới 2023, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 40 lần. Trong vòng 2 thập kỷ kể từ năm 1993, hơn 40 triệu người đã thoát cảnh đói nghèo. Và trong vòng 15 năm kể từ năm 2005, tỉ lệ nghèo đa chiều đã giảm một nửa. Tỉ lệ tử vong ở mẹ và trẻ em đã giảm mạnh. Tỉ lệ người dân biết chữ, khả năng tiếp cận chăm sóc y tế, giáo dục và nước sạch, cũng như tuổi thọ trung bình đã tăng rõ rệt".

Theo đánh giá của Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Antonio Guterres trong chuyến thăm Việt Nam năm 2022, những kết quả đó là “minh chứng rõ nét cho sự quật cường và nỗ lực của người dân Việt Nam và cho các chính sách lấy người dân làm trung tâm của phát triển.”

Việt Nam hết sức coi trọng cơ chế UPR

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định, với Việt Nam, UPR không đơn giản chỉ là trách nhiệm rà soát, báo cáo mà Việt Nam coi mỗi chu kỳ UPR là dịp để xác định các khó khăn, thách thức, lĩnh vực có thể làm tốt hơn và các hành động cụ thể nhằm biến các khuyến nghị thành những thay đổi thực chất trong cuộc sống của người dân.

Nhằm triển khai hiệu quả các khuyến nghị đã được chấp thuận trong Chu kỳ III, Việt Nam đã xây dựng Kế hoạch tổng thể với phân công cụ thể cho các cơ quan liên quan cũng như cơ chế rà soát tiến độ, và đánh giá kết quả.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định, Báo cáo Quốc gia của Việt Nam trong Chu kỳ IV phản ánh tiến triển đạt được trong quá trình triển khai các khuyến nghị. Báo cáo được xây dựng một cách toàn diện, bao trùm và minh bạch. Việt Nam đã tổ chức tham vấn rộng rãi với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó có các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức xã hội, các quốc gia thành viên, đối tác phát triển, và người dân. Hằng trăm các ý kiến, phản hồi đã được thu thập, và được thể hiện rõ nét trong Báo cáo này. Đến nay đã có 239/241 khuyến nghị (tương đương 99,2%) được chấp thuận đã được hoàn thành hoặc triển khai một phần.

Theo đó, Việt Nam đã có những nỗ lực quan trọng để tăng cường các khuôn khổ pháp lý nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người. Trong giai đoạn báo cáo, 45 luật và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quyền con người đã được thông qua hoặc sửa đổi, trong đó có một số luật quan trọng như: Bộ Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phòng chống Ma túy và Luật Phòng chống Bạo lực gia đình. Đồng thời, tiến trình xây dựng pháp luật ngày càng minh bạch và bao trùm với sự tham gia rộng rãi của người dân. Ví dụ, trong quá trình dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, thông qua các kênh trực tiếp và trực tuyến, đã có hơn 12 triệu lượt góp ý và phản hồi về dự thảo.

Về quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Thứ trưởng cho biết, sự phát triển nhanh chóng của truyền thông đại chúng, in-tơ-nét và mạng xã hội ở Việt Nam đã giúp tăng cường tự do báo chí, tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin. Trong giai đoạn báo cáo, số lượng người sử dụng in-tơ-nét ở Việt Nam đã tăng 21%, đạt hơn 78 triệu người dùng. 25 triệu thuê bao di động được đăng kí mới, và mạng 4G đã bao phủ xấp xỉ 99,8% dân số Việt Nam.

Việt Nam đề cao quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, đồng thời thúc đẩy sự bình đẳng giữa các tôn giáo và nghiêm cấm mọi hình thức kỳ thị, phân biệt đối xử vì lí do tôn giáo. Ở Việt Nam có sự hiện diện của các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo, Tin lành hay Hồi giáo phát triển hòa hợp với các tôn giáo nội sinh như Phật giáo Hòa Hảo hay đạo Cao Đài. Việt Nam có gần 30.000 cơ sở thờ tự và hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo. Hàng loạt các sự kiện tôn giáo quốc tế lớn đã được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak 2019, Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2023 và Xuân Yêu thương 2023, với sự tham gia của hàng ngàn chức sắc và tín đồ tôn giáo. Tháng 12 vừa qua, Tòa thánh Vatican đã bổ nhiệm Đại diện Thường trú đầu tiên và thiết lập Văn phòng đại diện thường trú tại Việt Nam, một bước tiến đáng kể trong quan hệ Việt Nam - Vatican.

Quyền tự do lập hội đã được ghi nhận từ Bản Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam, và quyền cơ bản này đã liên tục được củng cố thông qua các sửa đổi và trên thực tiễn. Hiện nay, khoảng 72.000 hội đang hoạt động ở Việt Nam, có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ cho các cộng đồng ở Việt Nam ngày càng tốt hơn.

Con người luôn là trung tâm

Tại phiên đối thoại, Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt đã đưa ra luận điểm, Việt Nam đã chịu những tác động chưa từng có của đại dịch COVID-19. Đại dịch đã cướp đi mạng sống người dân, làm gia tăng bất bình đẳng và làm giảm khả năng thụ hưởng quyền con người của người dân. Đối mặt với những thách thức như vậy, Việt Nam đã huy động toàn dân và toàn hệ thống chính trị thực hiện các biện pháp nhanh chóng, đồng bộ, coi việc bảo vệ sức khỏe và sinh kế người dân là ưu tiên cao nhất.

Các gói an sinh xã hội trị giá gần 88.000 tỉ đồng, chiếm 1% GDP quốc gia, đã được phân bổ hiệu quả cho các nhóm cụ thể, bao gồm các lao động chịu ảnh hưởng của đại dịch, và các hộ nghèo. Nhờ các biện pháp đó, cũng như nỗ lực giảm nghèo bền vững, tỉ lệ nghèo và cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều tiếp tục giảm 1,8 điểm phần trăm từ năm 2022 xuống còn 5,7% năm 2023.

Việc bảo đảm quyền sức khỏe cũng là ưu tiên hàng đầu. Việt Nam đã thực hiện chiến dịch tiêm chủng vắc-xin lớn nhất lịch sử. Chỉ trong hơn 2 năm, hơn 266 triệu liều vắc-xin COVID-19 đã được tiêm cho hầu hết người dân từ 12 tuổi trở lên.

Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng được khôi phục nhanh chóng. Hệ thống y tế dự phòng được củng cố theo hướng tự cường và thích ứng. Cuối năm 2023, bao phủ bảo hiểm y tế đã chiếm khoảng 94% dân số Việt Nam.

Về vấn đề bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, Thứ trưởng cho biết Việt Nam có nhiều bước tiến đáng kể. Năm 2023, chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam đứng thứ 72 trên 146 quốc gia, tăng từ thứ 87 năm 2021.

Gần đây, Việt Nam đã lần đầu tiên thông qua Kế hoạch Hành động Quốc gia đầu tiên về Phụ nữ, Hòa bình, và An ninh, và số lượng cán bộ nữ tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc đã vượt chỉ tiêu đề ra.

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt khẳng định, Việt Nam tin rằng thành công trong công tác thúc đẩy và bảo vệ quyền con người gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu Phát triển bền vững, nhằm “không để ai bị bỏ lại phía sau.”

Việc thực hiện các SDGs đòi hỏi phải có tăng trưởng kinh tế bền vững. Vượt qua các thách thức do đại dịch để lại, GDP Việt Nam đã khôi phục đà tăng trưởng, đạt mức kỉ lục 8% vào năm 2022, và 5% vào năm 2023.

Trong giai đoạn báo cáo, GDP bình quân đầu người Việt Nam đã tăng 25%. Theo như Báo cáo Phát triển Con người mới nhất của UNDP, xếp hạng chỉ số phát triển con người của Việt Nam tiếp tục tăng từ 115 lên 107 và Việt Nam được xếp trong nhóm có chỉ số phát triển con người cao.

Đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

Đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. 

Tiếp tục ngừng nỗ lực trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người

Thứ trưởng cho biết, là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam hiểu được mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và quyền con người. Do đó, Việt Nam cam kết mạnh mẽ với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế xanh.

Theo đó, Việt Nam ưu tiên hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương và bảo đảm khả năng tiếp cận năng lượng với giá hợp lý và việc làm bền vững. Để thực hiện các biện pháp này, cần đề cao tính minh bạch và cách tiếp cận bao trùm, công bằng và với sự tham gia đầy đủ, nhất là của các bên liên quan chịu ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi năng lượng.

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt khẳng định, Việt Nam tin rằng đối thoại và hợp tác chân thành là biện pháp hiệu quả nhất nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và thúc đẩy sự khoan dung, bao trùm, đoàn kết, và tôn trọng tính đa dạng. Việt Nam luôn hợp tác tích cực với các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền và hồi đáp yêu cầu cung cấp thông tin.

Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ và cam kết của mình trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Sau các cuộc đối thoại mang tính xây dựng với các ủy ban công ước, Việt Nam cân nhắc kỹ lưỡng tới các kết luận và khuyến nghị để xây dựng các kế hoạch hành động thực hiện những công ước trên.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhấn mạnh, việc đạt được các thành tựu này không có nghĩa là Việt Nam sẽ ngừng nỗ lực trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, vì Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Dù nhìn chung có nhiều tiến bộ trong bình đẳng giới, phụ nữ vẫn đang chủ yếu đảm nhiệm các công việc chăm sóc không được trả công và việc nhà. Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái còn được ghi nhận.

Những hạn chế về nguồn lực tài chính, công nghệ và nhân lực ở Việt Nam vẫn đang là các rào cản lớn trong nỗ lực bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho mọi người dân, bao gồm các dịch vụ chăm sóc cho các nhóm dễ bị tổn thương.

Việt Nam còn nhiều việc phải làm để cải thiện việc cung cấp các dịch vụ hành chính công, bao gồm cải thiện thái độ và năng lực của công chức và chất lượng dịch vụ. Các khuôn khổ pháp lí, chính sách về quyền con người cần phải được củng cố và triển khai hiệu quả hơn nữa nhằm đáp ứng kì vọng ngày càng tăng của người dân.

Thứ trưởng khẳng định: “Những thực tế này vừa là lời nhắc nhở, vừa là động lực để Việt Nam duy trì các nỗ lực để bảo vệ và thúc đẩy hơn nữa quyền con người. Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính công, và củng cố dân chủ ở cơ sở; tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Chúng tôi sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và hợp tác với các nước và các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, và tôn trọng Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế”.

Một lần nữa, Việt Nam khẳng định sẽ đẩy mạnh giáo dục về quyền con người, thông qua đào tạo và nâng cao năng lực cho các cán bộ, công chức, doanh nghiệp, và người dân. Nỗ lực thực hiện các SDGs và cải thiện khả năng thụ hưởng các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa cho mọi người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương. Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ sẽ tiếp tục là một ưu tiên. Việt Nam cũng sẽ nỗ lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch bao trùm, công bằng sang mô hình kinh tế xanh và kinh tế số.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết, với những giá trị và cam kết nêu trên và trong vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc và đang ứng cử làm thành viên Hội đồng nhiệm kỳ 2026 - 2028, những ưu tiên của Việt Nam là tăng cường hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, thúc đẩy quyền sức khỏe, quyền tiếp cận giáo dục chất lượng, giải quyết mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và quyền con người, và đẩy mạnh giáo dục về quyền con người.

Theo đó, tại Phiên đối thoại, Việt Nam nhận được khoảng 300 khuyến nghị với nội dung đa dạng, đề cập đến tất cả các lĩnh vực quyền con người. Sau phiên đối thoại, ngày 10-5 Nhóm công tác về UPR của Hội đồng Nhân quyền sẽ họp để xem xét thông qua Báo cáo về kết quả rà soát UPR đối với Việt Nam, trình Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc chính thức thông qua tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 57 (tháng 9 và 10-2024). Tại đây, các nước đã ghi nhận các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người cũng như việc Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị UPR đã chấp thuận. Nhiều nước hoan nghênh các thành tựu của Việt Nam về phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người, thúc đẩy quyền phụ nữ, quyền của nhóm đồng tính, song tính và chuyển giới, quyền của người dân tộc thiểu số./.


Cộng đồng quốc tế ghi nhận các chính sách, thành tựu về thúc đẩy bình đẳng giới của Việt Nam

 Trong chương trình Kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã nghe Chính phủ và cơ quan thẩm tra của Quốc hội báo cáo về kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trình bày Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023 - Ảnh: VGP

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trình bày Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023 - Ảnh: VGP

Có 55% chỉ tiêu đạt và vượt so với mục tiêu đề ra đến năm 2025

Tại nghị trường, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, lĩnh vực bình đẳng giới ngày càng nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành. Theo đó, hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới. Các văn bản quy phạm pháp luật khi được xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung đều được đánh giá tác động, thực hiện lồng ghép giới đối với những văn bản có vấn đề về giới.

Công tác truyền thông về bình đẳng giới tiếp tục được tăng cường với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương, góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân về thực hiện bình đẳng giới. Các mô hình thúc đẩy bình đẳng giới, phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới từng bước phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ đối tượng. Công tác thống kê, báo cáo kết quả thực hiện công tác bình đẳng giới nói chung và việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trong năm 2023 đạt kết quả tốt hơn so với những năm trước đây.

Tuy nhiên, bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới các cấp vẫn còn hạn chế về số lượng, đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới thường luân chuyển, thiếu ổn định, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai công tác bình đẳng giới. Nguồn kinh phí thường xuyên của các bộ, ngành, địa phương cho công tác bình đẳng giới nói chung và cho việc thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2021-2025 và Chương trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030 vẫn còn khiêm tốn.

Công tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới, bạo lực trên cơ sở giới vẫn còn gặp một số khó khăn do thiếu các công cụ theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thi hành pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới, thông tin về giới ở nhiều lĩnh vực còn thiếu và chưa đồng bộ. Một số cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa chủ động xác định vấn đề giới, trách nhiệm giới, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các dự thảo văn bản. Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thẩm định văn bản và cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong đánh giá, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo quy định.

Theo đó, đã có 55% chỉ tiêu đạt và vượt so với mục tiêu đề ra đến năm 2025, có 25% chỉ tiêu đạt 1 phần và tiệm cận so với mục tiêu đề ra, trong đó có 12 chỉ tiêu đạt kết quả tốt hơn so với năm 2022.

Với những nỗ lực đó, chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 72/146 quốc gia, tăng 11 bậc so với năm 2022. Ngày 9-4-2024, Hội đồng Kinh tế Xã hội Liên hiệp quốc đã bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hiệp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027, điều này thể hiện sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với các các chính sách, thành tựu về thúc đẩy bình đẳng giới và nỗ lực hợp tác quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực này, đồng thời tin tưởng Việt Nam sẽ đóng góp tích cực vào việc điều hành của UN Women trong thời gian tới.

9 giải pháp trọng tâm về bình đẳng giới

Về một số giải pháp trọng tâm thời gian tới, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nêu rõ: Tăng cường năng lực bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới các cấp, chú trọng bố trí đủ cán bộ chuyên trách làm công tác bình đẳng giới, tiếp tục đào tạo, nâng cao năng lực để đáp ứng việc thực hiện nhiệm vụ.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới; trong đó tập trung nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Bình đẳng giới (sửa đổi); phối hợp xây dựng, hoàn thiện Luật Chuyển đổi giới tính để trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Tiếp tục xây dựng và ban hành các văn bản, tài liệu hướng dẫn lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; lồng ghép giới trong tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình thúc đẩy bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới hiệu quả.

Đẩy mạnh việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện các chỉ tiêu còn đạt kết quả thấp. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chiến lược, chương trình, đề án về bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới. Sơ kết, đánh giá giữa kỳ việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược vào năm 2025, rà soát, đề xuất điều chỉnh, sửa đổi bổ sung đối với các mục tiêu, chỉ tiêu không còn phù hợp. Kịp thời nhận diện các vấn đề giới mới nổi để có các giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Xây dựng, lồng ghép Cơ sở dữ liệu thống kê về giới của quốc gia trong Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia. Tăng cường hợp tác, cung cấp và chia sẻ dữ liệu thống kê giới, tổ chức khảo sát, nghiên cứu để có các số liệu phục vụ cho công tác thống kê, báo cáo về bình đẳng giới.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; đẩy mạnh công tác truyền thông về bình đẳng giới.

Đẩy mạnh việc thực hiện công tác hợp tác, hội nhập quốc tế về bình đẳng giới; thực hiện tốt vai trò Thành viên Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hiệp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nhiệm kỳ 2025-2027.