Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

THỰC HIỆN QUY ĐỊNH SỐ 144-QĐ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ: QUÁN TRIỆT THẤU ĐÁO, GƯƠNG MẪU TRONG THỰC HIỆN

     Không phải đến bây giờ Đảng ta mới đề ra các tiêu chuẩn, quy định về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên mà vấn đề này đã được đề cập, chỉ rõ và yêu cầu người cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực hiện từ rất sớm, trong nhiều văn bản như: Tại Điều 1, Điều 2 của Điều lệ Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra cụ thể tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng.

    Tuy nhiên, nhằm hiện thực hóa hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngày 9-5-2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” (Quy định 144). Đây là một bước tiến trong việc cụ thể hóa hơn nữa các quy định đối với cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã ban hành trước đó. Với 19 nội dung rất ngắn gọn, súc tích, cô đọng và cụ thể, được thể hiện trong 5 điều, nhưng đã bao hàm một cách toàn diện các nội dung quy định đối với người cán bộ, đảng viên phải thực hiện đối với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc cho đến các yêu cầu cụ thể về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

    Trước thực tiễn, mặt trái cơ chế kinh tế thị trường đang diễn biến hết sức phức tạp, tác động trực tiếp trên nhiều bình diện xã hội, đã và đang là một trong những nguyên nhân dẫn tới làm tha hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Như Đảng ta đã đánh giá: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ... Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

    Đấu tranh với những hiện tượng này cũng chính là một cuộc đấu tranh cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường nói: Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo đức cách mạng với chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi con người phải có tính chiến đấu cao, sự nỗ lực rất lớn trong khắc phục khó khăn, thử thách và phải có sự giúp đỡ của tập thể, của tổ chức và cộng đồng, đặc biệt là vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng để giúp cho mỗi người có thêm nghị lực, niềm tin, đủ sức vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

    Thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng cho thấy, ở đâu, nơi nào phát huy tốt vai trò của tổ chức đảng thì ở nơi đó kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị đạt được cao hơn; việc khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và quần chúng có kết quả tốt hơn; ngược lại, nơi nào vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng chưa được phát huy thì chất lượng, hiệu quả các mặt công tác ở đó còn hạn chế, những biểu hiện tự do, vô kỷ luật có cơ hội phát sinh, phát triển.

    Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị vào thực tiễn cuộc sống và ăn sâu vào tiềm thức, trở thành trách nhiệm chính trị thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước nhân dân, cần nắm vững và thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

    Trước hết, đưa công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, triển khai thực hiện thành nền nếp thường xuyên. Yêu cầu hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đưa nội dung quán triệt Quy định 144 của Bộ Chính trị một cách thường xuyên vào nghị quyết lãnh đạo ở cấp mình. Các nội dung về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới phải được quán triệt đầy đủ, sâu sắc tới toàn thể cán bộ, đảng viên, xác định rõ những chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, các cấp ủy, tổ chức đảng nên lựa chọn, xác định những nội dung cụ thể trong quy định mang tính đột phá, nhằm làm chuyển biến thực chất về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Muốn vậy, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định đúng, trúng các biện pháp lãnh đạo để thực hiện tốt nội dung đột phá; phải có sự phân công phụ trách từng nội dung, từng mặt công tác rõ ràng, cụ thể, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ tới từng khâu, từng bước và phải thường xuyên rút kinh nghiệm để đưa việc quán triệt, thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên trở thành nội dung sinh hoạt thường kỳ ở mỗi cấp ủy, tổ chức đảng.

    Những nội dung quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên mà liên quan đến của quần chúng nhân dân trong khi thi hành nhiệm vụ thì cấp ủy, tổ chức đảng cần nghiên cứu để xây dựng thành quy chế, quy định cụ thể mang tính bắt buộc, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải cam kết tuân thủ và phấn đấu thực hiện cho được. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải giáo dục cho mọi người thấu suốt và thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hiện những quy định đó. Chính quá trình thực hiện những quy định khắt khe, bắt buộc đó sẽ dần tạo nên thói quen tự giác cho cán bộ, đảng viên trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới theo Quy định 144 của Bộ Chính trị.

    Hai là, phải xác định được mục tiêu phấn đấu cho từng loại hình cơ quan, đơn vị và từng nhóm cán bộ, đảng viên. Để các nội dung trong Quy định 144 của Bộ Chính trị đi vào thực tiễn cuộc sống, làm chuyển biến thực chất về nhận thức và hành động chuẩn mực đạo đức cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác thì các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xác định mục tiêu phấn đấu chung của tập thể cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các nội dung cụ thể về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; nhất là khi xác định mục tiêu và nội dung đột phá cần bám sát vào chức năng, nhiệm vụ, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, có sự chỉ đạo thực hiện thống nhất từ trên xuống dưới.

    Ở cấp chi bộ phải xác định rõ tiêu chí phấn đấu cho từng nhóm cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị. Sau khi cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng được tiêu chí phấn đấu cho từng nhóm, cần lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn các cá nhân đối chiếu tiêu chí đó với chức trách, nhiệm vụ của mình, để tự đánh giá nhận rõ những mặt mạnh, những hạn chế trên mỗi nội dung; thông qua đánh giá ưu, khuyết điểm từng cá nhân xác định mục tiêu phấn đấu và xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện các tiêu chí đó.

    Các nội dung tiêu chí phấn đấu của cá nhân được xây dựng phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và phải phù hợp với chức trách, nhiệm vụ, điều kiện công tác của từng nhóm đối tượng cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng phải thẩm định kết quả tự đánh giá và thông qua bản tự đăng ký phấn đấu về chuẩn mực đạo đức của từng người để làm căn cứ theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra việc thực hiện Quy định 144 của Bộ Chính trị.

    Ba là, đề cao vai trò của cán bộ chủ trì các cấp trong thực hiện Quy định của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Chúng ta cần ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải là người mực thước cho người ta bắt chước”. Trong thực hiện nêu gương, cần áp dụng đúng nguyên tắc “trên trước, dưới sau, trong trước, ngoài sau”.

    Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các địa phương, cơ quan, đơn vị phải luôn có sự thống nhất cao trong cả lời nói và việc làm; trong chỉ đạo thực tiễn luôn có sự phân công rõ ràng, thường xuyên trao đổi, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình; luôn có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức rèn luyện các chuẩn mực đạo đức tốt; thực sự gương mẫu, mẫu mực trong thực hiện các tiêu chí phấn đấu của địa phương, cơ quan, đơn vị đề ra, kế hoạch phấn đấu về chuẩn mực đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý phải làm trước tiên, mục tiêu phấn đấu cao hơn để làm gương cho cấp dưới. Đó là một trong những nhân tố quan trọng để đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới vào thực tiễn cuộc sống.

    Bốn là, xây dựng cơ quan, đơn vị điểm về đạo đức cách mạng; xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, đội ngũ đảng viên vững mạnh nhằm đưa Quy định 144 của Bộ Chính trị vào thực tiễn đời sống. Mỗi địa phương, mỗi ngành, lĩnh vực nên lựa chọn mô hình xây dựng cơ quan, đơn vị điểm về thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định 144 của Bộ Chính trị. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị được xác định làm điểm cần chủ động, tích cực trong việc xây dựng kế hoạch, xác định nội dung điểm và triển khai thực hiện quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị mình; quá trình thực hiện phải phát huy tốt vai trò chủ động, sáng tạo của các tổ chức, các lực lượng trong cơ quan, đơn vị nhằm tìm ra những cách làm hay, cách làm mới, những điển hình về chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên để nhân rộng ra toàn cơ quan, đơn vị, có như vậy mới tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất về chuẩn mực đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Đối với tổ chức cơ sở đảng, cần tập trung xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh, chấp hành nghiêm nguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng. Các chi bộ đảng phải tiến hành tốt hơn nữa công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, chú ý đến tất cả mối quan hệ xã hội, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình phải gắn với công tác kiểm tra và xử lý kỷ luật, giúp phát hiện và xử lý chính xác, kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm Quy định 144 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới./.

“LƯỜI LAO ĐỘNG” - CĂN BỆNH CẦN “PHƯƠNG THUỐC ĐẶC TRỊ”

 Tình trạng “lười lao động” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đang diễn ra ở không ít cơ quan, đơn vị. Đây là căn bệnh nguy hiểm, cần phải chữa ngay bằng “phương thuốc đặc trị”.

“Lười biếng là kẻ địch của dân tộc”

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, dám xả thân vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cơ bản đội ngũ cán bộ luôn giữ vai trò tiên phong trong chiến đấu, khắc phục mọi khó khăn, không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bước vào giai đoạn đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội, với tinh thần “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” của đội ngũ cán bộ của Đảng tích cực, hăng say làm việc, phát huy sự sáng tạo và đổi mới, tạo nên những bước phát triển mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, để đất nước ta phát triển nhanh và bền vững.

Viết về vấn đề “lười biếng”, nói cách khác là “lười lao động”, “lười làm việc”, trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính”, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người đã viết: “Lười biếng là kẻ địch của chữ cần. Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc”; một cá thể, cá nhân lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của toàn bộ tập thể cơ quan, đơn vị. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: “Bệnh lười biếng - Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết”; dẫn đến làm biếng học hỏi, lười suy nghĩ; việc gì dễ thì tranh và giành lấy cho bản thân mình; việc khó thì né tránh và đùn đẩy cho người khác; gặp việc nguy hiểm thì tìm mọi cách để thoái thác, trốn tránh. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn giải thích một cách cặn kẽ hơn: “Bệnh lười biếng - Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng”; không tức thời chuyển ngay hoặc chỉ đạo cho cấp dưới, cho đảng viên, cho cán bộ, chiến sĩ... Kết cục là: nghị quyết là thực hiện không đến nơi đến chốn, ảnh hưởng tới năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng, nặng hơn là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm sút kỷ luật, kỷ cương của Đảng .

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo thái độ lười học tập, nhất là lười học tập lý luận chính trị, trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác, Người nói: “Lười biếng: Không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ của mình về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ”. Người cũng cho rằng, lười biếng - “lười lao động”, “lười làm việc” cũng là đắc tội với nhân dân, với Tổ quốc.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh lười biếng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng giống như bệnh “kiêu ngạo”, bệnh lười biếng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên không tự nhiên sinh ra, mà cũng không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất cơ bản của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại.

Về nguyên khách quan, ngày 04 tháng 01 năm 1924 trong bài viết “Tình cảnh nông dân An Nam” đăng trên Báo La Vie Ouvrière, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người đã viết: “Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp”. Trong bài viết “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện”. Chúng đã sử dụng mọi thủ đoạn, biện pháp ác động để hủ hoá, lụi bại nhân dân chúng ta bằng nhiều thói hư, tật xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác.

Về nguyên nhân chủ quan, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: “… vì tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đẻ ra nhiều cái xấu như lười biếng, tham ô, đòi hưởng thụ, kèn cựa, địa vị”...; muốn tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa cần thiết phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cần phải tẩy sạch và gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng”.

Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến bệnh lười biếng là: “… việc giáo dục chính trị còn sơ sài, thiếu sót”[9]. Chính vì thế mà một số cán bộ và công chức, người lao động còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thái độ làm thuê, làm mướn, thiếu tinh thần làm chủ tập thể cơ quan, đơn vị. Do đó mà xuất hiện những hiện tượng xấu như: lười biếng, lười lao động, lười làm việc, kèn cựa, cục bộ, thiếu kỷ luật, kém đoàn kết, tham ô, xa hoa lãng phí.

"Thuốc đặc trị” chữa căn bệnh “lười lao động”

Trong nhiều tác phẩm nói và viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, để khắc phục bệnh “lười biếng” - “lười lao động”, “lười làm việc” này là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu quan trọng là khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để nâng cao đời sống nhân dân cả nước. Người đã nói: “Nước ta còn lạc hậu, dân ta còn nghèo, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn cải thiện đời sống, thì chúng ta càng phải “Cần”, phải “Kiệm”, phải chống lười biếng, chống lãng phí”. Quan trọng nữa, đó còn là mục tiêu của xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới; “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”.

Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đặt ra yêu cầu cho xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là phải gạt bỏ những thái độ, việc làm sai lầm như: thỏa mãn với thành tích ban đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có trước đó, đã có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng nhân dân, hoài nghi những sáng kiến bình thường của quần chúng nhân dân; lười biếng, không tích cực học tập cái mới, cái tiến bộ v.v...

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những “phương thuốc” hữu hiệu để “chữa bệnh lười biếng” đó là:

Cách chữa:

- Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc, đều phải chỉ bảo cách làm cụ thể.

- Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để lãnh đạo, chỉ đạo cho đúng.

- Khi quyết nghị việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã ban hành nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành triệt để.

Phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ mọi mặt, Hồ Chí Minh coi đó là những biện pháp hết sức rất cần thiết. Người yêu cầu: “Phải chú ý học tập”: Phải kiên quyết đấu tranh chống bệnh lười biếng, lười lao động, lười học tập, muốn nghỉ ngơi an nhàn. Do đó, muốn tiến bộ nhanh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì phải học tập các chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đồng thời, phải tích cực học tập trong quần chúng nhân dân, bởi vì: Kinh nghiệm trong nước và các nước trên thế giới chứng minh cho chúng ta biết: khi có lực lượng dân chúng ủng hộ thì việc lớn “to tát” mấy, khó khăn, gian khổ bao nhiêu thì chúng ta làm cũng được. Không có sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, thì việc gì làm cũng không xong. Quân chúng nhân dân biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, nhanh chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra, giải quyết không hiệu quả.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu trong Đảng, trong Nhà nước, trong Chính phủ, các cấp, các ngành và mọi tập thể cùng mỗi cá nhân cần phải “… cần có một cuộc vận động: Tiêu diệt lười biếng, nâng cao năng suất, củng cố kỷ luật lao động”.

Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống căn bệnh lười biếng, lười lao động, lười làm việc… không những có giá trị lịch sử to lớn, mà nó còn luôn có tính thực tiến, tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng ta hiện nay; nếu được quán triệt triệt để, vận dụng sáng tạo, triển khai thực hiện hiệu quả sẽ góp phần khắc phục “bệnh” lười biếng, lười lao động, lười làm việc của cán bộ, đảng viên, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ta “vừa hồng, vừa chuyên”, công tâm, thạo việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới.

Mới đây, phát biểu tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, trong nhiệm kỳ tới đây sẽ cương quyết không để lọt vào Ban chấp hành Trung ương khóa XIV những người: “Không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút”. Đây là lời cảnh báo với những người lười biếng.

Tóm lại, trước thực trạng “lười làm việc”, “lười lao động” trong đội ngũ cán bộ ở mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, cần tìm hiểu kỹ nguyên nhân do đâu mà có, mức độ ảnh hưởng như thế nào, hậu quả ra sao, để từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục triệt để, hiệu quả lâu dài. Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực, vừa có tính giáo dục, thuyết phục, vừa có tính kỷ luật, kỷ cương, đề cao tính nghiêm khắc để nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước trong thực thi công vụ. Đó là những chủ trương, giải pháp cơ bản nền tảng, đề nghị mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, nhất là cấp cơ sở và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nghiên cứu, quán triệt sâu kỹ, vận dụng triển khai thực hiện ở cấp mình cho phù hợp, với tinh thần quyết tâm cao nhất, thái độ quyết liệt nhất, kiên quyết không để yếu kém, khuyết điểm kéo dài. Có như vậy, “căn bệnh lười biếng” - “lười làm việc”, “lười lao động” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay mới có cơ hội chữa khỏi triệt để./.

Thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức ở nước ta hiện nay

 Xây dựng Đảng về đạo đức là vấn đề mang tính chiến lược, lâu dài, thuộc về chế định nội tại trong sự phát triển của Đảng; là nhiệm vụ cần có, phải có để Đảng luôn là Đảng của đạo đức, văn minh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nhận thức rõ điều đó, đồng thời dựa trên hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta không ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(28), theo đó Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách khoa học, thiết thực nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào uy tín, năng lực, phẩm chất của Đảng  và hệ thống chính trị(29).

Nhìn chung, thời gian qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đặc biệt quan tâm về mọi mặt, đạt được những thành tựu có ý nghĩa lớn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kết quả xây dựng nền văn hóa, trong đó có đạo đức chưa thực sự được như mong muốn. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi, bị dục vọng chi phối, có dấu hiệu suy thoái về đạo đức, lối sống,...; xuất hiện tình trạng tham nhũng, kèn cựa địa vị, tranh chức, quyền, dùng mọi thủ đoạn để tìm kiếm các mối quan hệ, liên kết “lợi ích nhóm”; dùng tiền bạc do tham nhũng để mua chức, mua danh mà bất chấp cả liêm sỉ, danh dự,...

Trong bối cảnh đó, công tác xây dựng Đảng về đạo đức trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Trách nhiệm làm cho “môi trường đạo đức” của Đảng ngày càng trong sạch không phải của riêng ai, nhưng trước hết và cơ bản nhất là của từng tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên; phải kiên quyết ngăn chặn những hậu quả nặng nề, có thể làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng. Trước tình hình đó, nhân dân luôn có mong ước, ý nguyện cũng như nghiêm khắc yêu cầu Đảng ta phải thực sự trong sạch, vững mạnh được thể hiện từ yếu tố cơ bản nhất, đó là nền tảng đạo đức thông qua những hành động thực tiễn, việc làm, ứng xử thiết thực.

LHQ-ST

BÁO CHÍ VÀ BÀI HỌC TỪ 12 CHỮ “PHÊ BÌNH” CỦA BÁC

 Cách đây 62 năm, vào tháng 9/1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài nói chuyện quan trọng mang tính định hướng cả trong tư duy lẫn nghiệp vụ đối với những nhà báo. Sau hơn nửa thế kỷ, vấn đề Bác đặt ra với người làm báo cũng như với báo chí cách mạng Việt Nam vẫn còn nguyên tính thời sự. Đặc biệt là vấn đề phê bình và tự phê bình của báo chí.

12 chữ phê bình của Bác

Bài nói chuyện của Bác Hồ tại Đại hội III ngắn gọn nhưng vừa khái quát được chức năng, nhiệm vụ, vai trò và sứ mệnh của báo chí cách mạng vừa cụ thể về công việc, “bếp núc” của người làm báo.

Bác lấy “tư cách một đồng chí có ít nhiều kinh nghiệm về báo chí” nói về vấn đề phê bình và tự phê bình.

Tổng cộng Bác dùng 12 chữ “phê bình”.

Đầu tiên về vai trò của phê bình, Bác dùng hai từ “phê bình”: “Phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và rất sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”.

Tiếp đến, Bác nói về phương pháp phê bình của báo chí. Trong đoạn nói ngắn gọn, bác dùng ba từ “phê bình”. Bác chỉ ra, báo chí “phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng, “trị bệnh cứu người”. Chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”.

Mở rộng ra, Bác nói về đối tượng tiếp nhận phê bình, Bác nhấn mạnh với bốn từ “phê bình”: “Những người (bất kỳ ở địa vị nào) và những cơ quan được phê bình phải có thái độ thật thà, khiêm tốn. Phê bình đúng thì phải đăng báo nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Nếu phê bình sai thì đăng báo giải thích. Không được “phớt” lời phê bình, không “trù” người phê bình”.

Bác dùng cụm từ “được phê bình” chứ không phải “bị phê bình” cho thấy quan điểm và tính nhân văn trong quá trình nhận sai và sửa sai.

Chữ “phê bình” thứ 10, Bác nói về “căn bệnh” sợ phê bình của một vài cán bộ cơ quan: “Có một vài cán bộ, cơ quan, vì sợ phê bình mà chẳng những không giúp đỡ người viết báo lại còn có thái độ không tốt đối với họ, thậm chí đi kiện họ trước tòa án”.

Chữ “phê bình” thứ 11, Bác đề nghị các báo “khuyến khích quần chúng giúp ý kiến và phê bình báo mình để tiến bộ mãi”.

Chữ “phê bình” thứ 12, Bác đã “xung phong” phê bình các báo. Bác đặt ra mấy vấn đề:

“Bài báo thường quá dài, dây cà ra dây muống, không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng.

Thường nói một chiều, đôi khi thổi phồng các thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức các khó khăn, khuyết điểm của ta.

Đưa tin hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng.

Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài, nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau.

Lộ bí mật.

Có khi quá lố bịch.

Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không chuẩn…”

Đó là những vấn đề quá đúng và quá trúng không chỉ với báo chí thời điểm đó mà cho đến nay vẫn là những bài học cơ bản của báo chí.

Đây chính là phê bình trên tinh thần xây dựng, giúp báo chí “sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Việc phê bình báo chí được Bác khéo léo đưa ra như một ví dụ chính xác về phê bình và người tiếp nhận cảm thấy “được phê bình” chứ không phải “bị phê bình”.

Không chỉ phê bình, với báo chí, Bác còn gợi mở cách để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Cũng trong bài nói chuyện ấy, bác đưa ra kinh nghiệm của mình:

“Mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc. Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm”.

Chỉ mấy câu ngắn gọn của Bác có giá trị hơn rất nhiều giáo trình. Đó là khi viết báo phải xác định ngay đối tượng, mục đích sau đó mới đến cách thể hiện và cuối cùng là lời dạy về sự khiêm tốn, cần chịu khó học hỏi trong nghề báo, của người làm báo.

12 chữ “phê bình” của Bác trong một bài nói chuyện 62 năm về trước có giá trị và sức sống lâu bền. Cho dù báo chí, công nghệ có phát triển đến đâu thì những lời dạy của Bác vẫn là những bài học quý giá.

Tiếp thu phê bình để phát huy vai trò “đi trước, mở đường” của báo chí

62 năm qua, kể từ bài nói chuyện của Bác tại Đại hội III Hội Nhà báo, lực lượng báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển hùng hậu, cùng dân tộc và đất nước đi qua nhiều thành công. Người làm báo đã thực hiện đúng những mong mỏi của Bác “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế đi sâu vào quần chúng lao động”.

Báo chí cũng làm tốt công tác phê bình. Đó là phê bình những thói hư tật xấu, đặc biệt là phê bình, làm rõ hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong xã hội góp phần vào thành quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, được nhân dân ủng hộ.

Tuy nhiên, vẫn có những việc, những điều mà báo chí cũng như người làm báo cần soi lại mình, cần tiếp tục tự phê bình.

Một số tồn tại, hạn chế của báo chí hiện nay đã được đồng chí Võ Văn Thương, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thẳng thắn chỉ ra tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2025, đó là: “Một bộ phận nhà báo còn thiếu tính chuyên nghiệp; thiếu tinh thần tự học, tự bồi dưỡng; thậm chí có tình trạng chữ nghĩa vụng về, cẩu thả; trình độ tin học, ngoại ngữ, hiểu biết thông lệ, luật pháp quốc tế và giao lưu quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông kỹ thuật số. Số lượng nhà báo được đào tạo để ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động báo chí chưa nhiều.

Một số cơ quan báo chí và người làm báo chạy theo thị hiếu tầm thường, lợi ích cá nhân, sa đà vào thông tin mặt trái của xã hội, thiếu tính nhân văn, phản giáo dục, thậm chí làm sai lệch bản chất sự việc. Công tác quản lý báo chí chưa theo kịp thực tiễn, chưa đáp ứng sự phát triển của báo chí. Số lượng cơ quan báo chí tăng nhanh; nhiều cơ quan chủ quản buông lỏng quản lý, phó mặc cơ quan báo chí; tôn chỉ mục đích bị xem nhẹ”.

Báo chí là công việc đòi hỏi người làm báo phải có tư duy nhạy bén, có sự nhạy cảm và bản lĩnh chính trị vững vàng; có năng lực phân tích, đánh giá đúng và trúng những vấn đề đang diễn ra và dự báo xu hướng vận động trong đời sống xã hội; người làm báo phải nhận thức được vai trò, trách nhiệm, sứ mệnh nghề nghiệp, có khả năng thích ứng với thời cuộc, nắm bắt và làm chủ công nghệ làm báo hiện đại, tiệm cận với báo chí, truyền thông quốc tế, nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của người làm báo cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo chí Việt Nam cần đội ngũ những người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, có ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức phục vụ Đảng, phục vụ đất nước và nhân dân; có dũng khí đấu tranh với cái sai, bảo vệ cái đúng; biết vượt qua cám dỗ, loại bỏ được sự vô cảm, tính vị kỷ, thói hưởng thụ, lòng tham và sự giả dối, thực sự tâm huyết, công tâm, khách quan trong thực thi nhiệm vụ, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân và danh dự của cá nhân trên từng trang viết.

Bản lĩnh và tâm thế của người làm báo hôm nay còn phải được thể hiện ở tinh thần tự phê bình, quyết tâm sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, tồn tại. Có như vậy mới xứng đáng vai trò tiên phong trong ổn định tư tưởng, tâm trạng xã hội, phát huy vai trò “đi trước, mở đường”. Có như vậy, người làm báo mới thực sự đảm nhận được trách nhiệm của một “chiến sĩ cách mạng” như Bác Hồ từng căn dặn./.

NHỚ LỜI CĂN DẶN CỦA HỒ CHỦ TỊCH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xây phải đi liền với chống, phải đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những nguy cơ dẫn đến sự suy yếu của Đảng, trong đó có nạn tham ô, tham nhũng – thứ giặc nội xâm, giặc ở trong lòng “ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng của cách mạng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, người kiến tạo Nhà nước Việt Nam dân chủ nhân dân theo thể chế cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á. Người thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng mãi mãi là một Đảng đạo đức và văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là "hạt nhân lãnh đạo" và là "người đầy tớ thật trung thành" của nhân dân.

Ngay từ những năm bôn ba tìm đường cứu nước, sử dụng ngòi bút để vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập tới vấn đề tham nhũng bằng việc dành hẳn một chương (nhan đề: Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị) trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (xuất bản năm 1925).

Với tầm nhìn sâu sắc, Người chỉ ra tham ô, tham nhũng "là những xấu xa của xã hội cũ", là những căn bệnh của quyền lực và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại tàn dư của chế độ cũ - chế độ người bóc lột người. Chính vì thế, với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thành lập sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết đặt vấn đề đấu tranh với thứ giặc rất nguy hiểm này.

Tẩy sạch nạn tham ô phải tẩy sạch bệnh quan liêu và chủ nghĩa cá nhân

Nghiên cứu các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể thấy tệ tham nhũng trong cán bộ, đảng viên được Người diễn đạt dưới thuật ngữ chung nhất là tham ô. Người chỉ ra bản chất của tham ô là hành vi "ăn cắp của công, của riêng của người ta, hay của nhân dân", "lấy của công làm của tư", là gian lận, tham lam", "là không tôn trọng của công". "Của công" chính là "mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra" để phục vụ mục đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Của công là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta. Cho nên, mọi hành vi lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư đều là tham ô, "là hành động xấu xa của con người", "là tội lỗi đê tiện trong xã hội".

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ, quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước, mà cả người dân bình thường, nếu "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế" cũng là chủ thể của hành vi tham ô: "Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế".

Trên cơ sở những biểu hiện cụ thể trong đời sống hằng ngày, những tàn dư, những tệ nạn xã hội cũ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đưa ra các dẫn chứng cụ thể hơn như: Trong lĩnh vực nông nghiệp, hành vi tham ô của các ban quản trị hợp tác xã có thể là "khi bắt đầu cày bừa cũng làm mấy con lợn để "liên hoan". Hễ có cơ hội là bày ra chè chén. Hay khi gặt về tuốt lúa dối rồi chia "rơm" cho xã viên và bà con mình đem về tuốt lại"; trong các đơn vị kinh doanh là hành vi "mua đắt, bán rẻ, khai gian, làm dối, thông đồng với những chủ thầu xấu, tham ô hàng triệu đồng của Chính phủ và của nhân dân ta"; với từng cá nhân cán bộ, đảng viên là biểu hiện "không biết tiếc, biết tôn trọng của công, không biết thương tiếc của cải do mồ hôi nước mắt đồng bào làm ra. Do đó mà đẻ ra xa xỉ. Lương bổng Chính phủ cấp cho chúng ta có hạn mà ta xa xỉ thì lấy tiền đâu? Đã có cái áo rồi còn muốn hai ba cái như thế là lãng phí. Lại muốn mua thứ này thứ khác mà thiếu tiền sinh ra tham ô".

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến một loại tham ô nữa, có rất nhiều cán bộ, đảng viên mắc phải mà không biết hoặc coi là chuyện bình thường nên không quan tâm, đó là tham ô gián tiếp. Người lấy ví dụ: "Một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương hằng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân". Đó là một biểu hiện mà chúng ta không nghĩ là tham ô nhưng thực chất nó ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công tác và tác phong, uy tín của cán bộ, công chức.

Trên cơ sở chỉ ra tham ô là gì và phân tích các biểu hiện cụ thể của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời xác định nguyên nhân của tệ nạn tham ô là từ đâu. Người kết luận: "Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra tham ô hủ hóa", "bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô lãng phí nảy nở". Như vậy, để tẩy sạch nạn tham ô thì trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu và chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là sự tham lam (tiền tài, của cải, quyền lực, thậm chí là sắc đẹp). Đã tham là "bất liêm". Đã "bất liêm" thì không là đạo đức. Chính vì lòng tham đó, trong những trường hợp nhất định, cá nhân thường sinh ra mù quáng về vật chất, "chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở" cho nên "không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra".

Đảng "đạo đức, văn minh" thì cán bộ, đảng viên phải nói không với tham nhũng

Đánh giá tác hại của tệ tham ô đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và niềm tin của quần chúng nhân dân vào vai trò của Đảng cầm quyền và tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng lưu ý, cảnh tỉnh chúng ta về mức độ nguy hiểm của loại kẻ thù này. Người nhấn mạnh: Nó là kẻ thù khá nguy hiểm vì "nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta" và dù cố ý hay không nó cũng là "bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Thực tế, tham ô là nguyên nhân trực tiếp làm thâm hụt ngân sách nhà nước, làm suy yếu các nguồn lực phát triển và là mối đe dọa đến sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Từ việc phân tích những tác hại nguy hiểm của tệ tham ô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm chỉ đạo để tẩy trừ thứ giặc nội xâm này. Trước hết, theo Người, "chống tham ô là cách mạng", "nếu tìm ra, điều tra ra những vụ tham ô, Đảng sẽ thẳng tay kỷ luật và Chính phủ sẽ thẳng tay trừng trị". Người ví tẩy sạch nạn tham ô như tiêu diệt "những con sâu mọt rút lá, cắn hoa, khoét quả" hay "muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi".

Người cũng nhấn mạnh phải học tập theo thái độ nghiêm khắc của Lenin trước sự việc tòa án Moscow xử nhẹ một vụ ăn hối lộ: "Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy, đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng". Người cũng trích dẫn quan điểm của Stalin trong xử phạt tội tham ô: "Stalin đã có lần ví bọn tham ô như những con lợn sục vào vườn rau của Nhà nước và ngoạm lấy ngoạm để một cách trơ trẽn. Làm thế nào để trừ cho hết những thứ ấy và không để một khe hở nào cho của cải dành dụm của chúng ta lọt ra ngoài?... điều quan trọng nhất - như Stalin đã nói - vẫn là phải "gây chung quanh chúng một không khí công chúng công phẫn và tẩy chay về mặt đạo đức".

Không phải ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Chính phủ lại thẳng thắn, quyết liệt như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng, đây là những lỗi lầm đặc biệt nghiêm trọng, có hại cho dân, cho nước, cần phải ra sức kiên trì sửa chữa. Đặc biệt, sự phê phán không chỉ bằng văn thư hành chính nội bộ mà còn công khai lên báo chí công luận, như để tự phê bình, tự kiểm điểm trước nhân dân. Việc chỉ ra đích danh tham ô là hành vi "trộm cướp", "phá hoại", "là mật thám, phản quốc" đủ để quần chúng thấy rõ quan điểm, thái độ của Đảng ta không chấp nhận sự tồn tại của những hành vi ấy trong đời sống chính trị của Đảng và toàn dân. Đã là một đảng "đạo đức, văn minh" thì cán bộ, đảng viên phải trong sạch, phải nói không với tham nhũng.

Đề cao trách nhiệm nêu gương, sự trong sạch, liêm khiết của người đứng đầu

Thứ hai, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "chống tham ô là dân chủ" nghĩa là phải hết sức dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ và hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Đồng thời Người nhấn mạnh, công cuộc này đòi hỏi "từ trên đến dưới phải đồng tâm hiệp lực", "chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy". Muốn vậy, chúng ta "ắt phải chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên", phải dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô; phải đánh thông tư tưởng, phải làm cho mọi người hiểu được tác hại của tham ô, tránh ý nghĩ sai lầm, coi nhẹ tác dụng xấu của tham ô...

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc tiến hành là phải làm một cách có trọng tâm, từng bước, phải nắm vững và vào sâu, phải làm từ cấp trên xuống cấp dưới, từ bộ phận chính đến bộ phận phụ. Trong đó, cán bộ cao cấp mỗi nơi phải "thật thà kiểm thảo để làm gương mẫu", "thật thà báo cáo tình hình của đơn vị mình", phải kiên quyết "nhổ cỏ" và phải nắm vững trọng điểm. Khi kiểm thảo "ai kiểm thảo đúng người khác, sẽ được khen thưởng", "ai có lỗi mà không thật thà nói ra, sẽ bị kỷ luật" và "ai ngăn cản, đe doạ người kiểm thảo mình, sẽ bị kỷ luật".

Như vậy, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao trách nhiệm nêu gương và sự trong sạch, liêm khiết của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc ngăn chặn và đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Còn nhớ, dù mới giữ cương vị Chủ tịch nước một thời gian ngắn, song trước những tồn tại, những khuyết điểm của đội ngũ cán bộ đảng viên trong các cơ quan công quyền, trước những thói hư, tật xấu, nạn tham ô, sự lãng phí của công, bệnh quan liêu, cửa quyền, sự lên mặt của những "ông quan cách mạng", Người đã viết bài báo "Tự phê bình" đăng báo Báo Cứu quốc, số 153, ngày 28/1/1946 tự phê bình và nhận trách nhiệm trước quốc dân: "Tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch… Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi. Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi".

Trong suốt quá trình lãnh đạo Đảng, Nhà nước sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thường trực nỗi lo khi đã có chính quyền rồi, có điều kiện kinh tế khác thời kháng chiến rồi, cán bộ, đảng viên dễ bị sa ngã, dễ quan liêu, tham nhũng, hư hỏng. Vì vậy, kinh tế càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì càng phải chống chủ nghĩa cá nhân, càng phải rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng. Càng phải tôn trọng và gắn bó máu thịt với nhân dân, phải giữ gìn và xứng đáng là những tấm gương để quần chúng nhân dân soi vào. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện để có được tác phong sinh hoạt giản dị, lành mạnh, trong sạch. Những tư tưởng, đạo đức cách mạng cao đẹp phải biến thành những thói quen trong cuộc sống của mỗi người. Con người ta ai cũng có ham muốn, nhưng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải hướng ham muốn cá nhân đó vào việc phấn đấu thực hiện những mục tiêu, lý tưởng của cách mạng: "Làm việc nước hay làm việc gì khác, người ta thường muốn có một chút danh hay một chút lợi về phần mình… Muốn cho danh chính, lợi chính, thì Danh, làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và Lợi, làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới".

Thiết thực góp phần vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang được Đảng ta triển khai quyết liệt, đồng bộ hiện nay, đồng thời tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về "đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh trăn trở, tâm huyết ngày nào vẫn luôn nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta. Cùng ôn lại, suy ngẫm, thấm nhuần những tâm nguyện và lời dặn lại của Người lúc sinh thời, để có thêm động lực trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, triển khai ngày càng quyết liệt hơn, bài bản hơn, hiệu quả hơn, với sự tin tưởng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đạt nhiều thành tựu to lớn, ý nghĩa hơn nữa./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên

 Từ việc phân tích sâu sắc khía cạnh đạo đức của một tổ chức, hệ thống chính trị Xô-viết và của một người cộng sản chân chính đứng đầu tổ chức đó là lãnh tụ vĩ đại V.I. Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”(2). Người coi V.I. Lê-nin là Người thầy dạy vĩ đại của cách mệnh vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt(3).

Trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam được hun đúc, vun đắp từ hàng nghìn năm lịch sử, đồng thời có sự tiếp thu tinh hoa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định và gương mẫu thực hiện những nguyên tắc xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng là cái gốc sự phát triển của cách mạng, bởi vậy trong tư duy và hành động, Người luôn kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa “pháp trị” và “đức trị”, trong đó đặc biệt đề cao hai phương diện chính: Đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên và đạo đức của tổ chức đảng.

Về đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng về đạo đức phải được bắt đầu từ công cuộc đấu tranh chống biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức của từng cán bộ, đảng viên; coi trọng đúng mức công tác giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức cách mạng đối với người lãnh đạo. Người cho rằng, đạo đức người cách mạng giống như gốc rễ của cây, như nguồn của sông suối, khi “sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(4). Người cũng nhiều lần khẳng định, đạo đức cách mạng là yếu tố không thể thiếu đối với người làm cách mạng; “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ... Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(5). Do vậy, Người coi nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức nói chung, bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên nói riêng là động lực cốt lõi làm nên những thành công của con đường cách mạng đầy gian nan.

Cho đến những năm cuối cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn miệt mài viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên toàn hệ thống chính trị. Trong Di chúc, Người chỉ rõ: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(6). Theo người, “đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”(7). Bên cạnh đó, Người cũng thường xuyên nhấn mạnh những chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng, như trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có tình nghĩa; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng, tiến bộ,... Cụ thể:

Trung với nước, hiếu với dân được xem là phẩm chất bao trùm, quan trọng nhất, giữ vai trò chi phối các phẩm chất khác, thể hiện bản lĩnh, tinh thần cống hiến của người cách mạng luôn sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thậm chí là hi sinh để hoàn thành nhiệm vụ vì dân, vì nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng khái niệm “trung” và “hiếu” trong quan niệm đạo đức truyền thống “Trung với vua, hiếu với cha mẹ” và mở rộng nội hàm, cách hiểu sang nội dung mới, rộng lớn hơn, đó là “Trung với nước, hiếu với dân” nhằm tạo nên sự chuyển biến trong nhân sinh quan nói chung và các quan điểm về đạo đức cách mạng nói riêng. Trong đó, “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên của đất nước, suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng; “Hiếu với dân” là gần dân, lấy dân làm gốc, gắn bó với dân, “hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”. Đặc biệt, Người khẳng định “Trung với nước” phải gắn liền “Hiếu với dân” bởi nước là “nước của dân”, người dân là chủ thể nắm quyền lực nhà nước; mọi lực lượng đều ở dân, còn cán bộ, đảng viên là đầy tớ của nhân dân chứ không phải là “quan
cách mạng”.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là các khái niệm đạo đức truyền thống được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc và vận dụng linh hoạt để phù hợp với yêu cầu, nội dung mới của đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ: “Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”(8). Người cũng cho rằng đây chính là một biểu hiện sinh động của phẩm chất “Trung với nước, hiếu với dân” và chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa chúng. Theo đó, “cần” và “kiệm” phải luôn đi đôi với nhau như hai chân của con người, “CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”... KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được”(9). Chữ “liêm” phải đi đôi với chữ “kiệm”, cũng như chữ “kiệm” phải đi đôi với chữ “cần”, cụ thể, “Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”(10); hay “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn”(11). Mặt khác, “cần, kiệm, liêm, chính” nhất định sẽ đi đến chí công vô tư và ngược lại.

Yêu thương, quý trọng con người cũng là một phẩm chất quan trọng trong đạo đức cách mạng và luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý, bởi đây là đức tính nền tảng để hình thành, nung nấu ý chí quyết tâm làm cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, giải phóng con người. Người xác định rõ, làm việc “chính” là người “thiện”, làm việc “tà” là người “ác”, đó là hai hạng người và loại việc cơ bản trong cuộc sống; những người bị áp bức, bóc lột, sẵn sàng làm điều thiện thì dù màu da, tiếng nói, chủng tộc, tôn giáo khác nhau thì vẫn có thể thực hành chữ “bác ái”, coi nhau như anh em một nhà trong một “thế giới đại đồng”. Người khuyên mọi người lấy thẳng thắn, chân thành để đối xử, lấy tin yêu, giúp đỡ để cảm hóa lẫn nhau; trân trọng, phát huy yếu tố tích cực trong mỗi người để hạn chế, đẩy lùi yếu tố tiêu cực, giúp tất cả cá nhân đều tiến bộ, trưởng thành, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng chung của Đảng và nhân dân, bởi “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng”(12).

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân(13), điều này có nghĩa “vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”(14), phải biết “đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”(15)Theo Người, để xây dựng Đảng về đạo đức, trước hết phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bởi chủ nghĩa cá nhân “như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(16) và “là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”(17). Mục tiêu của việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên là nhằm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, tức là dần quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Về đạo đức cách mạng của tổ chức đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có một đảng chân chính, vững mạnh, cần xác định rõ mục đích tối thượng của Đảng chính là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân mà chiến đấu và Đảng không có lợi ích riêng nào hết. Đây cũng là lý tưởng đạo đức cao đẹp của Đảng, của toàn thể cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, Người chỉ rõ, đạo đức chính là ở chỗ làm cho lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thấm sâu vào tư tưởng và hành động của từng cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(18), có ý chí, khát vọng, quyết tâm đêm ngày đều “nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại”(19). Theo đó, trong đời hoạt động cách mạng, Người luôn chú trọng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng; khuyến khích đội ngũ cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là trong những điều kiện, hoàn cảnh mà nhiều cán bộ, đảng viên có trình độ lý luận chính trị rất thấp(20). Người khẳng định, “có thể tránh được biết bao bế tắc, sai lầm và biết bao thất bại đau đớn, nếu chúng ta có thể cung cấp cho các đồng chí ấy những kiến thức tối cần thiết về lý luận soi đường, tạo điều kiện dễ dàng cho các đồng chí ấy tiến hành công tác”(20) và thường xuyên căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tích cực vận dụng và phát triển lý luận Mác - Lê-nin một cách sáng tạo, luôn bổ sung, làm giàu lý luận bằng những kiến thức thực tiễn mới, tránh giáo điều, kinh viện.

Xuất phát từ tình hình thực tế trong Đảng cũng như bối cảnh lịch sử đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”(22); Người lý giải: “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”(23). Theo đó, Người cảnh báo: “Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng(24)Từ rất sớm, Người đã chỉ ra những nguy cơ suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức vị cao: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””(25). Do đó, nếu không giữ được đạo đức cách mạng thì đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ dễ bị tha hóa, tự đánh mất mình, sa vào suy thoái, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sỹ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên... Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật”(26). Khẳng định vai trò tiên quyết của việc nêu gương, Người cho rằng lãnh đạo, người đứng đầu phải thật sự gương mẫu, làm gương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(27).

LHQ-ST

RŨ BỎ ẢO VỌNG, TRỞ VỀ SINH HOẠT TÔN GIÁO ĐÚNG PHÁP LUẬT

     Một số người dân tộc thiểu số nhẹ dạ, cả tin đã nghe theo lời lừa phỉnh, xúi giục của bọn phản động FULRO lưu vong, tham gia sinh hoạt cái gọi là "Tin lành Degar".

    Được cấp ủy, chính quyền, lực lượng Công an tỉnh Gia Lai, hệ thống chính trị cơ sở khuyên giải, thức tỉnh, những người lầm lỡ đã nhận thức được bản chất của bọn phản động FULRO, thấy được việc làm sai trái, xóa bỏ mặc cảm, tự ti, quay trở về sinh hoạt tôn giáo chính thống được pháp luật công nhận, được chính quyền tạo điều kiện để họ ổn định cuộc sống và lao động chân chính ngay trên mảnh đất quê hương.

    Người uy tín đặc biệt

    Nghe lời FULRO lưu vong về giấc mộng hão huyền thành lập "Nhà nước Degar tự trị", anh Kpă Bih (47 tuổi, trú làng Pang, xã Ia Glai, huyện Chư Sê) tỉnh Gia Lai từng thi hành án phạt tù 14 năm về tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc. Anh hối tiếc khi nhớ lại quá khứ lầm lỗi của mình: "Suốt thời gian ở tù và ngay cả khi trở về, bọn chúng chưa một lần hỏi thăm tôi. Sau hơn chục năm trời, tôi không có gì trong tay, vợ và các con phải tự bươn chải kiếm sống".

    Trở về, được sự quan tâm, hỗ trợ của lực lượng Công an và chính quyền, anh Bih đã đoạn tuyệt với FULRO, "Tin lành Degar", trở thành người có uy tín trong thôn làng, đồng hành cùng lực lượng Công an vận động những người lầm lỡ quay về sinh hoạt tôn giáo chân chính được Nhà nước công nhận. Anh còn được dân làng tin tưởng, trở thành Chấp sự trưởng của một điểm nhóm sinh hoạt Tin lành miền Nam Việt Nam với sự tham gia của hơn 200 tín đồ.

    "Những người chưa về chắc chắn sẽ quay về thôi, vì đó là con đường đúng đắn. Tôi được chính quyền địa phương, Công an quan tâm động viên, khi khó khăn đều được giúp đỡ. Vừa rồi tôi được đưa lên là người uy tín, được nhận giấy khen của huyện, bằng khen của tỉnh. Tôi cảm ơn Đảng và Nhà nước rất nhiều" - Anh Kpă Bih chia sẻ.

    Tương tự, anh Siu Bat (44 tuổi, ở cùng làng với anh Kpă Bih) trước đây từng theo "Tin lành Degar", được anh Bih và lực lượng Công an tuyên truyền, anh đã từ bỏ "Tin lành Degar", trở về sinh hoạt Tin lành miền Nam Việt Nam tại điểm nhóm do anh Kpa Bih làm Chấp sự trưởng.

    "Hiện tại, tôi rất vui mừng vì tìm lại được bình yên trong tâm trí. Giờ tôi đã bỏ "Tin lành Degar", về với Tin lành miền Nam Việt Nam. Hôm nay, chúng tôi cùng làm việc để gây quỹ cho một số hoạt động của điểm nhóm" - anh Siu Bat tâm sự.

    Luôn quan tâm hỗ trợ những người lầm lỡ

    Đến nay, huyện Đak Đoa đã vận động được hơn 50 trường hợp theo "Tin lành Degar" quay về sinh hoạt tôn giáo được pháp luật công nhận, ổn định cuộc sống.

    Bà Trương Thị Thanh Hòa - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Ia Pết chia sẻ: "Hội Phụ nữ xã đã vận động các chị có chồng, con, em hoặc bản thân trước kia tham gia "Tin lành Degar"; quan tâm đến đời sống, hỗ trợ heo giống để phát triển kinh tế; quan tâm thăm hỏi vào các ngày lễ như Tết Nguyên đán, Giáng sinh. Hội cũng phối hợp với Chi hội Phụ nữ của 2 nhóm Liên hiệp truyền giáo Việt Nam và Tin lành miền Nam Việt Nam của thôn Bia Bre để tác động đến chị em. Từ đó, một số chị em đã quay về".

    Gia đình ông Jrơt (thôn Bia Bre, xã Ia Pết, huyện Đak Đoa) trước cũng theo "Tin lành Degar". Có lần ông còn định đưa cả gia đình vượt biên nhưng được chính quyền kịp thời phát hiện, động viên quay trở lại. Ông Jrơt chia sẻ: "Được Nhà nước giúp đỡ ổn định cuộc sống, chúng tôi vui lắm. Bây giờ già rồi, chỉ nghỉ nghỉ ngơi giữ sức khỏe, khuyên răn con cháu sống và làm việc theo quy định của địa phương, pháp luật".

    Công an huyện Đak Đoa đã phối hợp với chính quyền địa phương giới thiệu việc làm cho hơn 28 trường hợp được lao động ở những công ty, doanh nghiệp trên địa bàn. Anh Thưu (22 tuổi, trú làng Bia Bre, xã Ia Pết) được gửi gắm làm công việc kiểm kê sản phẩm thu hoạch tại Công ty Nông nghiệp công nghệ cao Hưng Sơn có trụ sở tại làng, thu nhập tương đối tốt. Thưu trở thành chỗ dựa vững chắc cho mẹ và hai em nhỏ. Anh Binh (cùng làng) cho biết: "Trước đây, tôi có tham gia sinh hoạt "Tin lành Degar". Sau khi cơ quan Công an, chính quyền địa phương thuyết phục vận động, tôi nhận ra tham gia cùng họ không mang lại lợi ích gì cho bản thân mình".

    Lời giải cho bài toán khó

    Những câu chuyện kể trên và cuộc sống bình yên, bền vững hiện tại của họ là kết quả của nỗ lực bền bỉ không mỏi của cả hệ thống chính trị tại cơ sở được biết đến với tên gọi mô hình "Trở về đức tin, giữ bình yên thôn làng", bắt đầu triển khai thí điểm từ năm 2022 tại huyện Phú Thiện rồi nhân rộng tại Ia Grai, Chư Sê và Đak Đoa. Lực lượng Công an đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và hệ thống chính trị ở cơ sở triển khai hiệu quả các biện pháp vận động, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục, hỗ trợ, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng yên tâm lao động, sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, hòa nhập với cộng đồng.

    Đại tá Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Công an tỉnh Gia Lai nhấn mạnh: "Mô hình "Trở về đức tin, giữ bình yên thôn làng" đã giải quyết tốt 3 vấn đề lớn: phát huy được vai trò của lực lượng cốt cán ở cơ sở trong vận động, giáo dục, tuyên truyền, cảm hóa quần chúng nhân dân trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; giải quyết niềm tin tôn giáo nhu cầu tín ngưỡng của bà con và từng bước làm mất đi các điều kiện mà các thế lực thù địch, bọn phản động FULRO có thể lợi dụng câu móc, lôi kéo hoạt động".

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “CHÍNH TRỊ VIỆT NAM XÁO ĐỘNG”

     Vừa qua trên trang mạng “Bbctiengviet” đăng bài viết: “chính trị Việt Nam xáo động”, với luận điệu hết sức phản động, nhận xét mang tính hồ đồ, chủ quan, áp đặt, khi cho rằng: “chiến dịch “đốt lò” của Việt Nam không giải quyết được cốt lõi vấn đề”, “nỗ lực chống tham nhũng đang gây ra tình trạng tê liệt chính trị” và “chỉ có thay đổi hệ thống chính trị mới giải quyết hiệu quả được nạn tham nhũng”… Đây là những luận điệu sai trái, lạc lõng, mục đích nhằm phủ nhận thành tựu trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng, thay đổi hệ thống chính trị của Việt Nam.

    1. Khẳng định rằng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay được xem là vấn đề “nóng”, đã “trở thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra tham nhũng như “giặc nội xâm”, nhiệm vụ chống tham nhũng “cũng cần kíp như đánh giặc trên mặt trận”. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước qua gần 40 năm đổi mới, Đảng ta cũng chỉ rõ tham nhũng gây ra rất nhiều hậu quả to lớn, “trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi mới, sức chiến đấu của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ, làm tổn hại thanh danh, uy tín của Đảng, xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, Đảng ta xác định, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm.

    2. Với những nhận thức đúng đắn, sâu sắc về bản chất, hậu quả của tham nhũng, tiêu cực, Đảng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “ngày càng đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, với bước đi, lộ trình phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Những con số về xử lý kỷ luật của Đảng và xử lý hình sự trong các vụ án tham nhũng, kinh tế thời gian qua đã cho thấy quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, nói đi đôi với làm của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là tuyên ngôn, “hô khẩu hiệu” mà đã trở thành quyết tâm chính trị và hành động thực tế của cả hệ thống chính trị. Chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ sai phạm, nhất là các cán bộ cấp cao như thời gian qua. Điều đó cho thấy, việc này không phải nhằm “che mắt thế gian”, “đấu đá, thanh trừng nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, mà thực chất là răn đe, ngăn ngừa để không xảy ra sai phạm, “xử một vài người để cứu muôn người”.

    3. Đảng ta chỉ có một mục tiêu duy nhất trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vì lợi ích của Đảng, của dân tộc, của đất nước và nhân dân, không phải vì lợi ích của bất cứ cá nhân hay phe cánh nào. Chúng ta “kiên quyết không để lọt vào cấp ủy những cán bộ không đủ tiêu chuẩn, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng”, tăng cường công tác quản lý cán bộ, ban hành các quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, bảo đảm “có vào, có ra, có lên, có xuống” trong công tác cán bộ, kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút; khẳng định rõ sự đoàn kết, quyết tâm trong việc lựa chọn cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Thực tế đã chứng minh, mục tiêu của chúng ta đủ lớn, sự đoàn kết và quyết tâm cao thì chúng ta mới có thể đạt được kết quả rất quan trọng, làm cho tham nhũng từng bước được đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, kinh tế - xã hội phát triển, an ninh chính trị được giữ vững, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ngày càng nâng lên, niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa được tăng cường… Những hành động, bước đi và kết quả nêu trên của Đảng chính là minh chứng hùng hồn nhất đập tan các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch./.