Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch

 Nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta kiên quyết đấu tranh với các tổ chức, cá nhân có hành vi lan truyền, tiếp tay, cổ súy những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ. Đồng thời, những biểu hiện thờ ơ, vô cảm, né tránh không dám đấu tranh với các quan điểm xấu, độc cũng cần được nhận diện và lên án vì những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.

0:00/0:00
0:00
Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên về lòng yêu nước.
Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên về lòng yêu nước.

Lâu nay, trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, các cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân luôn nêu cao ý thức trách nhiệm và tinh thần chủ động, tích cực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin xấu, độc để bảo vệ tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ những thành quả của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm giữ vững con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tuy vậy, bên cạnh đó vẫn còn tình trạng một số người thiếu ý thức, trách nhiệm có hành vi lan truyền, dung túng, tiếp tay những quan điểm sai trái, thù địch, thậm chí tán phát các thông tin xấu, độc chống phá chế độ, gây bất ổn xã hội cần phải được đấu tranh, lên án.

Tuy nhiên, còn có một tình trạng nguy cơ nguy hại không kém là những người có biểu hiện bàng quan, vô cảm, vô trách nhiệm trước thông tin sai sự thật, thấy đúng không bảo vệ, lan tỏa, nhân rộng; thấy điều sai trái, thông tin xấu, độc chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc không dám đấu tranh, phản bác. Đáng lo ngại trong số này có cả những cán bộ, đảng viên đang công tác tại các cơ quan nhà nước. Biểu hiện dễ nhận thấy ở những người này đó là sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, né tránh đấu tranh, sống ích kỷ, suy nghĩ hẹp hòi, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, không quan tâm đến các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội đang diễn ra chung quanh; thờ ơ với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, không quan tâm đến việc đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thông tin xấu, độc. Thậm chí những người này còn cố tình biện minh rằng đó không phải trách nhiệm của mình.

Với quan điểm và lối sống như vậy, những cá nhân này ngày càng trở nên chây ỳ, lười biếng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trốn tránh học tập lý luận chính trị, bỏ bê việc rèn luyện đạo đức cách mạng, xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thậm chí coi thường nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Do đó dù mang danh là “công bộc, đầy tớ” của nhân dân nhưng những cán bộ, đảng viên này không những không gương mẫu đi đầu trong đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của đất nước, của nhân dân mà còn sống kiểu “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”, “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, không quan tâm đến điều gì khác ngoài việc thu vén cho lợi ích cá nhân mình, thờ ơ với tất cả chỉ miễn sao lợi ích của mình không bị tổn hại.

Đồng thời trong xã hội cũng xuất hiện một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có không ít người trẻ lựa chọn cách sống vị kỉ, chỉ sống vì mình, cho mình, không quan tâm những thứ ngoài bản thân mình. Vì thế những cá nhân này trong cuộc sống ngày thường, cũng như khi tham gia mạng xã hội, dù thường xuyên bắt gặp những luận điệu sai trái, thù địch, những thông tin xấu, độc xuyên tạc chế độ, bôi nhọ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ Đảng, chính quyền, bôi nhọ lịch sử của dân tộc, phủ nhận những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, bịa đặt những thông tin sai trái liên quan việc thực hiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam… nhưng họ đã chọn cách mặc kệ, không quan tâm, không bày tỏ ý kiến. Nhiều người cho rằng, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, bảo vệ chủ nghĩa xã hội là việc của Đảng, của Nhà nước, của cơ quan chức năng chứ không phải là nhiệm vụ của người dân cho nên từ chối can dự vào để “tránh phiền phức”.

Hầu hết những người này quan niệm rằng, chỉ cần mình im lặng, không hùa theo những quan điểm sai trái, thù địch, không tham gia lan truyền những thông tin xấu, độc, không cung cấp thông tin hoặc tiếp tay cho người khác hay trực tiếp có những hành vi cụ thể chống phá Đảng, chính quyền là đã làm đúng phận sự.

Tuy nhiên, đây là nhận thức chưa đúng đắn bởi chính sự lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm, không lên tiếng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vô hình trung đã tạo cơ hội cho những quan điểm xấu, độc ngày càng lan rộng, giúp các đối tượng chống phá có điều kiện để hướng lái, dẫn dắt dư luận, gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong một số trường hợp, chính sự bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho hành vi chống phá Đảng, chống phá chính quyền của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước tại nhiều địa phương chưa được phát hiện sớm để kịp thời ngăn chặn, xử lý, từ đó để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Thực tế này cho thấy sự bàng quan, vô cảm, vô trách nhiệm trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là có lỗi với đất nước, với nhân dân. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng: “Sự im lặng của những người tốt còn nguy hiểm hơn sự tàn nhẫn của những kẻ xấu”.

Đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên, sự bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng bởi tước đi sự nhiệt tình, hăng hái và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên; làm suy giảm uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, hiệu lực, hiệu quả điều hành, quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội. Từ đây cũng khiến những cán bộ, đảng viên này trở thành tấm gương xấu nằm trong hệ thống chính trị, tác động tiêu cực đến nhận thức của nhân dân và sự phát triển lành mạnh của xã hội.

Những cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm chẳng khác gì người “tự lấy tay che mắt mình”, “tự lấy bông bịt tai mình”, “tự lấy băng dính dán miệng mình”, tự mình chặt đứt sợi dây kết nối cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, với tổ chức, cơ quan, đơn vị, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ đã tự gạt mình ra khỏi đội ngũ của Đảng, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động.

Cho nên đây có thể xem là những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta chỉ rõ; đồng thời cũng chính là những điều mà đảng viên không được làm theo Quy định về những điều đảng viên không được làm (số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021) của Ban Chấp hành Trung ương: “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

Để trị tận gốc căn bệnh bàng quan, vô cảm, vô trách nhiệm, né tránh không dám đấu tranh với các thông tin sai trái, xấu, độc, chống phá Đảng, Nhà nước hiện nay đòi hỏi cần triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp như sau: Trước hết, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để mỗi người nhận thức rõ, đúng, đầy đủ trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ; phải thường xuyên quán triệt cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không ngừng nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chủ nghĩa xã hội vì đây chính là nhằm bảo vệ cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, cơ hội phát triển toàn diện và tương lai tốt đẹp cho mỗi người. Do đó, đây không phải là trách nhiệm của riêng tổ chức, cơ quan, lực lượng chức năng nào mà cần phải xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Cùng với đó, cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt, lan tỏa rộng rãi các tấm gương sáng, những cách làm hay trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực”; làm tốt hơn nữa công tác thi đua, khen thưởng kịp thời, xứng đáng những điển hình tiên tiến từ đó sẽ có tác dụng khuyến khích, động viên và tạo động lực để mỗi người có sự quyết tâm và cố gắng đóng góp nhiều hơn nữa vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngoài ra cần hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám lên tiếng tố cáo và đấu tranh mạnh mẽ với những quan điểm thù địch, những thông tin xấu, độc, những hành vi sai trái chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Riêng đối với cán bộ, đảng viên, để triệt phá tận gốc căn bệnh bàng quan, thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên về mọi mặt nhất là rèn luyện về lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị, đạo đức cách mạng; đẩy mạnh công tác phê bình và tự phê bình, công khai đánh giá, nhận xét, phân loại cán bộ để kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất.

Không ngừng nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ

 Đảng, Nhà nước ta không ngừng nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó thực hiện quyền chính trị được coi là thước đo quan trọng nhất của bình đẳng giới. Thời gian qua, việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên vẫn còn không ít rào cản, khó khăn, đòi hỏi cần có thêm những giải pháp đồng bộ, cũng như sự kết nối chặt chẽ từ các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể nhằm góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030.

0:00/0:00
0:00
Thủ tướng Phạm Minh Chính với các đại biểu dự Hội nghị phụ nữ. Ảnh: TRẦN HẢI
Thủ tướng Phạm Minh Chính với các đại biểu dự Hội nghị phụ nữ. Ảnh: TRẦN HẢI

Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị được hiểu là quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước. Đặt trong các tiêu chí về bình đẳng giới thì quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền con người quan trọng nhất của phụ nữ.

Trong những thập kỷ gần đây, thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, trong đó có quyền chính trị là một trong những vấn đề được Liên hợp quốc quan tâm và ưu tiên. Tại Việt Nam, vấn đề bình đẳng giới và bảo đảm quyền chính trị cho người dân, nhất là đối với phụ nữ luôn được Đảng, Nhà nước ta coi trọng, trên cơ sở phù hợp các quy định của pháp luật cũng như các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia.

Về cơ bản, hiện nay, phụ nữ đã có vị trí và vai trò ngang bằng với nam giới, được thụ hưởng những thành quả của đời sống xã hội, được tạo cơ hội để phát triển toàn diện, được tham gia nhiều hoạt động chính trị. Dù vậy, thực tế có lúc có nơi vẫn còn tồn tại những khoảng cách chênh lệch giữa nam giới và nữ giới trong việc thực hiện các quyền được quy định trong pháp luật.

Do nhiều lý do khách quan và chủ quan, mặc dù tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đã tăng nhưng chưa thật bền vững. Tại nhiều nơi, tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy đảng còn thấp; tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt còn thấp; việc hoạch định và thực thi chính sách đối với nữ giới còn hạn chế do sự thiếu hụt cán bộ nữ trong một số lĩnh vực quan trọng. Một số lãnh đạo nữ khi thực hiện quyền được trao vẫn còn thụ động, chưa phát huy được năng lực của bản thân.

Trong số những nguyên nhân dẫn đến việc bảo đảm quyền chính trị cho phụ nữ chưa thật sự hiệu quả cần đề cập đến vấn đề nhận thức của một bộ phận người dân về vai trò của phụ nữ trong xã hội. Các định kiến về giới, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại. Không ít người vẫn giữ quan niệm phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc nội trợ chăm sóc con cái, gắn chặt họ với thiên chức của người mẹ, người vợ, không nên tham chính, đảm nhận các vị trí lãnh đạo vì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.

Bên cạnh đó là định kiến về năng lực lãnh đạo của phụ nữ khi cho rằng phụ nữ thiếu kiên quyết, dứt điểm trong việc ra quyết định khiến họ ít được ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn. Đáng nói, những định kiến này không chỉ đến từ xã hội mà hiện diện trong nhiều gia đình và từ chính quan niệm, nhận thức của một bộ phận nữ giới về khả năng cũng như giá trị của bản thân. Điều này vô hình trung tạo ra những áp lực và trở ngại không hề nhỏ trong việc thực hành các quyền của phụ nữ, trong đó bao gồm cả quyền chính trị.

Mặt khác, tại một số cơ quan, doanh nghiệp đang trả lương “phân biệt đối xử” khi nam giới luôn có mức lương cao hơn nữ giới cho dù cùng một vị trí công việc và mức độ đóng góp công sức như nhau; hoặc những quy định ngặt nghèo đối với phụ nữ khi đảm nhận một số công việc nhất định phải cam kết không kết hôn hoặc sinh con...

Cùng với đó, nhiều hành vi phân biệt đối xử về mặt giới tính vẫn đang xảy ra trong xã hội song thiếu những chế tài xử phạt nghiêm khắc. Chính vì vậy nhiều phụ nữ buộc phải lựa chọn giữa gia đình hoặc thăng tiến trong công việc. Chưa kể, những chính sách bảo đảm quyền cho phụ nữ và trẻ em gái đã được Đảng và Nhà nước ban hành song việc thực hiện trên thực tế vẫn chưa thật sự đồng bộ, nhất là với các đối tượng ở khu vực vùng sâu, vùng xa việc tiếp cận các cơ hội học tập, phát triển nghề nghiệp, tham gia hoạt động xã hội vẫn còn hạn chế.

Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch, tổ chức phản động ra sức phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm bình đẳng giới nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng. Các đối tượng đưa ra những thông tin sai sự thật, thổi phồng một số vụ việc hiện tượng để vu cáo Việt Nam không có bình đẳng giới, phân biệt đối xử với phụ nữ, phụ nữ “bị bỏ rơi”… Các đối tượng xuyên tạc rằng, dưới chế độ “đảng trị”, phụ nữ bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế và “Đảng chỉ đưa ra những chính sách mị dân, lừa bịp chị em”. Đây rõ ràng là những nhận định thiếu khách quan, thiếu thiện chí nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Cần khẳng định thành tựu và nỗ lực của Đảng, Chính phủ Việt Nam trong vấn đề bình đẳng giới nói chung và bảo đảm quyền chính trị cho phụ nữ nói riêng là không thể phủ nhận. Ngay khi mới thành lập, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã quy định rõ: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều thứ 6), “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều thứ 9). Đến Hiến pháp năm 2013, nội dung này được tiếp tục hoàn thiện: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt.

Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 26). Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ; xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”.

Từ định hướng chỉ đạo sáng suốt của Đảng, thời gian qua, Việt Nam liên tục bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý làm cơ sở giải quyết các vấn đề về bình đẳng giới như: Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 2013, 7 bộ luật, 161 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 15 pháp lệnh, trong đó có khoảng 45 bộ luật, luật có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; Chính phủ ban hành 1.413 nghị định; xem xét lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngày 3/3/2021, Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới sớm ký Công ước xóa bỏ phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) vào 29/7/1980 và phê chuẩn vào 27/11/1981.

Theo Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (tháng 6/2023), Việt Nam đã tăng 11 bậc về bình đẳng giới so với năm 2022, từ hạng 83 lên 72 trong 146 nước tham gia xếp hạng. Đặc biệt, trong lĩnh vực chính trị, Việt Nam tăng 17 bậc so với năm 2022, xếp từ thứ hạng 106 lên thứ hạng 89, trong đó, tỷ lệ nữ tham chính xếp hạng 53.

Báo cáo về kết quả thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới năm 2022 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cũng cho thấy, Việt Nam có tỷ lệ nữ tham gia chính trị thuộc nhóm đứng đầu thế giới. Bà Tatiana Pugh Moreno, Đại sứ Venezuela tại Việt Nam đánh giá cao Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đã thật sự tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước.

Hiện nay nhiều quốc gia nỗ lực thực hiện quyền chính trị của phụ nữ, coi đó là thước đo quan trọng nhất của bình đẳng giới. Năm 2022, New Zealand lần đầu trong lịch sử có một quốc hội với 60 nữ nghị sĩ, 59 nghị sĩ nam. Đây không chỉ là cột mốc đặc biệt của New Zealand mà còn đưa số quốc gia có tỷ lệ cân bằng giới hoặc nữ nhiều hơn nam trong quốc hội tăng lên 6 nước, gấp đôi so với năm 2020.

Tại Phần Lan, Nhà nước đã rất chú trọng việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy chuyên trách trong Chính phủ về bình đẳng giới. Còn tại châu Á, Thái Lan là một quốc gia gặp nhiều rào cản trong việc thực hiện bình đẳng giới, tuy nhiên, chính phủ nước này đã chú trọng xây dựng chế độ vận hành hiệu quả cơ chế bảo đảm quyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng, gồm: Thanh tra Quốc hội, Ủy ban Quyền con người quốc gia, Bộ Phát triển xã hội và An ninh con người.

Từ thực tiễn nhiều quốc gia cũng như của Việt Nam có thể thấy việc tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị là rất cần thiết, không chỉ bảo đảm tiếng nói đại diện, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của nữ giới mà còn khẳng định, nếu không có sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống thì xã hội không thể có được phát triển bền vững.

Trong lĩnh vực chính trị, Chiến lược bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 của Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Để đạt được mục tiêu này, việc thực hiện bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực chính trị cần thực chất và hiệu quả hơn nữa; đẩy mạnh vai trò trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong tạo lập môi trường thuận lợi để phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị hiệu quả hơn; đồng thời, tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; tăng cường nguồn lực từ ngân sách, từ xã hội hóa để tạo cơ hội cho phụ nữ làm chủ về kinh tế, có điều kiện được đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực tham chính…

Cùng với việc trao quyền cho phụ nữ thì chính chị em cũng cần nâng cao nhận thức về quyền và giá trị của bản thân, chuẩn bị tâm thế, năng lực để đón nhận và thực hiện quyền chính trị được trao một cách hiệu quả nhất.

Khơi dậy, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết

 Xây dựng “thế trận lòng dân”, nhằm củng cố, giữ vững mặt trận tư tưởng trong quần chúng nhân dân luôn có ý nghĩa rất quan trọng, được xem là một trong những giải pháp vừa có tính cấp bách vừa có tính bền vững, lâu dài trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Theo đó mục tiêu cần đạt được đó là củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quy tụ, tập hợp, khơi dậy, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trên cơ sở đó phát huy tinh thần chủ động của mọi tầng lớp nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch, kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước tình hình chống phá ác liệt của các thế lực thù địch đối với công tác nhân sự của Đảng nhất là trên không gian mạng, yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống chính trị đó là phải giữ vững thế trận lòng dân, làm chủ trận địa thông tin, làm tốt công tác định hướng dư luận. Kịp thời thông tin, tuyên truyền về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, cũng như thông tin về các vấn đề, vụ việc nhạy cảm để nhân dân nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng. 

Cần chú trọng việc đổi mới nội dung, phương thức thông tin tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiếp tục làm tốt công tác dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kịp thời định hướng dư luận xã hội. 

Song song đó cần phân tích, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động để người dân nhận diện, chủ động phòng tránh cũng như có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân tán phát thông tin sai trái, xấu độc; kịp thời phát hiện và nghiêm trị các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, phản động. 

Đồng thời các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo, nâng cao sức đề kháng, không để bản thân bị lôi kéo hoặc tiếp tay cho đối tượng xấu, không lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, tin bịa đặt sai sự thật xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước. Đề cao cảnh giác, tẩy chay, không đọc, không quan tâm phát tán, lan truyền thì các thông tin xấu độc sẽ không còn cơ hội để phát tán, gieo rắc mầm mống độc hại trong cộng đồng. 

Nhân dân tin vào Đảng, quyết tâm bảo vệ Đảng thì không kẻ thù nào có thể làm suy yếu được sức mạnh của Đảng, của đất nước, không thể cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 

Cảnh giác trước những luận điệu giả danh phản biện xã hội

 Phản biện xã hội là một hình thức thể hiện tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến một cách có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ và ý thức trách nhiệm của công dân. Ở Việt Nam, phản biện xã hội ngày càng được mở rộng nhằm thúc đẩy việc xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, cũng như phát huy trí tuệ cộng đồng. Tuy nhiên một số tổ chức, cá nhân đã và đang lợi dụng quyền này để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước gây bức xúc dư luận, đòi hỏi cần phải kịp thời vạch trần và lên án.

Hội nghị phản biện xã hội đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
Hội nghị phản biện xã hội đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Việc khuyến khích phản biện xã hội, tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân là để hoàn thiện thể chế, chính sách phục vụ nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, hiện nay, bên cạnh những đóng góp tích cực, có tính xây dựng của các tầng lớp nhân dân cũng đã xuất hiện một số đối tượng lợi dụng phản biện xã hội, quyền tự do dân chủ để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong thời gian gần đây, một số đối tượng (chủ yếu là các phần tử đối lập, chống phá cực đoan, phản động), đã lợi dụng việc Đảng và Nhà nước kêu gọi lấy ý kiến của nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện, các dự thảo luật để đưa ra quan điểm, ý kiến trái chiều với mục đích không trong sáng.

Các đối tượng đội lốt phản biện xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau như đóng góp ý kiến, bày tỏ quan điểm dưới danh nghĩa khoa học song thực chất biến việc làm này thành những diễn đàn công khai đưa ra các ý kiến trái chiều, cực đoan, đối lập, xuyên tạc, công kích chống đối chính quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trong thời gian gần đây, một số đối tượng (chủ yếu là các phần tử đối lập, chống phá cực đoan, phản động), đã lợi dụng việc Đảng và Nhà nước kêu gọi lấy ý kiến của nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện, các dự thảo luật để đưa ra quan điểm, ý kiến trái chiều với mục đích không trong sáng.

Chẳng hạn, lợi dụng chủ trương lấy ý kiến góp ý của nhân dân về Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các đối tượng đã lập một số trang mạng xã hội, làm blog, vlog... trên đó đưa những hình ảnh, thông tin tiêu cực, sai sự thật. Với danh nghĩa góp ý vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), gợi ý, đề xuất các phương án để giải quyết những vướng mắc về vấn đề đất đai; vấn đề thu hồi, bồi thường đất phục vụ quy hoạch; sử dụng đất công; tranh chấp đất đai..., các đối tượng đã lồng ghép những tư tưởng phản động, xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các đối tượng cố tình đánh tráo bản chất, làm cho người dân hiểu sai nội dung “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”, từ đây gây ra những phản ứng tiêu cực trong xã hội.

Các đối tượng còn bịa đặt, xuyên tạc rằng việc sửa luật nhằm tạo “lợi ích nhóm”, từ đó cố tình kích động hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Nhân việc góp ý Luật An ninh mạng, các phần tử bất mãn, thù địch lợi dụng danh nghĩa đóng góp ý kiến, nói lên tâm tư, nguyện vọng của người dân song mục đích là kích động người dân bằng những luận điệu sai sự thật như: Luật An ninh mạng vi phạm các điều ước quốc tế, làm hạn chế quyền sử dụng mạng của các tổ chức, cá nhân; Luật An ninh mạng là bịt miệng dân...

Tương tự, các đối tượng cố tình xuyên tạc nội dung cho thuê đất 99 năm trong dự thảo Luật Đặc khu là “bán nước”, biến nội dung đang thảo luận thành nội dung đã được Quốc hội và Chính phủ thông qua, từ đó kích động những người dân thiếu thông tin hoặc nhẹ dạ, cả tin biểu tình, bạo loạn, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Mặt khác, một số đối tượng mượn danh nghĩa phản biện, nêu ý kiến riêng thông qua “thư ngỏ”, “thư kiến nghị” của cá nhân có tên hoặc nặc danh để gửi lên các cấp, ban, ngành, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời đăng tải, lan truyền trên mạng xã hội.

Về hình thức, nội dung các văn bản này thể hiện ra như là những ý kiến rất tâm huyết, những đóng góp mang tính khoa học liên quan đến những chủ trương, chính sách; hay sự phản biện về quan điểm, tư tưởng, góp ý về lối sống, đời tư của một số cán bộ cấp cao nhưng không ít trường hợp các đối tượng lồng ghép trong đó những tư tưởng phản động, nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Một số khác lại đưa những tư tưởng tiêu cực, cái nhìn phiến diện của cá nhân nhưng mang danh nghĩa đại diện cho tập thể. Các đối tượng không ngừng thổi phồng những bất cập, hạn chế trong xã hội, quy chụp đó là do “bản chất của chế độ”, do sự yếu kém trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và năng lực của cán bộ...

Về hình thức, nội dung các văn bản này thể hiện ra như là những ý kiến rất tâm huyết, những đóng góp mang tính khoa học liên quan đến những chủ trương, chính sách; hay sự phản biện về quan điểm, tư tưởng, góp ý về lối sống, đời tư của một số cán bộ cấp cao nhưng không ít trường hợp các đối tượng lồng ghép trong đó những tư tưởng phản động, nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Đồng thời, một số cá nhân lợi dụng phản biện xã hội, lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do đóng góp ý kiến để nêu quan điểm đòi “đa nguyên đa đảng”, cổ xúy, hình tượng hóa, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự”...

Với vỏ bọc là góp tiếng nói đòi quyền dân chủ cho nhân dân, một số phần tử xúi giục người dân viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập các đảng phái chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật; đòi đa nguyên, đa đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngoài ra, có một số cá nhân là người từng có vị trí trong xã hội nhưng vì lợi ích của bản thân hay vì mâu thuẫn riêng cho nên bất mãn, dễ dàng bị lôi kéo, kích động… Từ đó họ dùng danh nghĩa “nhà khoa học”, “nhà lý luận”, lợi dụng phản biện xã hội, lấy cớ góp ý kiến với Đảng, Nhà nước để truyền bá quan điểm cực đoan, phản động về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; hay đưa ra những lập luận, nhận thức sai lệch, phiến diện để phủ nhận những giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhen lên tư tưởng chống đối trong xã hội, chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước.

Thực tiễn đã cho thấy, những hiện tượng lợi dụng phản biện xã hội như trên chính là “biến tướng”, “núp bóng” phản biện xã hội, để phục vụ mục đích cá nhân, phục vụ âm mưu “diễn biến hòa bình”. Điều này gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; làm giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ; làm cản trở sự phát triển của đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn.

Với những tác động tiêu cực từ việc lợi dụng phản biện xã hội cùng những biểu hiện đa dạng, phức tạp như hiện nay, vấn đề quan trọng là phải nhận diện chính xác đâu là phản biện xã hội đích thực và đâu là những hoạt động “núp bóng” phản biện xã hội để chống phá. Từ đó, phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ của phản biện xã hội là nhằm xây dựng đất nước, chế độ; đồng thời kiên quyết lên án, đấu tranh chống lại những hiện tượng giả danh phản biện xã hội.

Cần khẳng định, phản biện xã hội khi được thực hiện trên nền tảng tri thức, cơ sở khoa học đúng đắn, khách quan, trung thực, với mục đích tốt đẹp thì sẽ đem lại lợi ích to lớn đối với xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả của các chủ trương, chính sách cũng như khuyến khích thực hành dân chủ trong đời sống.

Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng phản biện xã hội, khuyến khích người dân tích cực tham gia phản biện xã hội trên tinh thần xây dựng, ý thức trách nhiệm, góp phần chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, nguyên nhân, giải pháp để hoàn thiện các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do phản biện của các tầng lớp nhân dân. Tại Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội xác định rõ mục đích, tính chất của phản biện xã hội đó là: “Phản biện xã hội nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội”.

Việc lấy ý kiến của nhân dân góp ý vào chủ trương, chính sách là những hoạt động mang tính cầu thị của Đảng, Nhà nước, thể hiện rõ quyền làm chủ của nhân dân nhằm phát huy trí tuệ cộng đồng chứ không phải chỉ mang tính hình thức, “chiếu lệ”, “bịt mắt” nhân dân như các thế lực thù địch cố tình rêu rao. Điều này đã được chứng minh rõ nét trong thực tiễn.

Trong giai đoạn từ năm 2018-2022, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiến hành 14 hội nghị phản biện xã hội với quy mô đại biểu tham gia tương đối lớn và phản biện có chiều sâu; đã tập trung phản biện vào 42.051 văn bản dự thảo, trong đó có các dự án luật, đề án... liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân, đóng vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội và được nhân dân quan tâm.

Ở địa phương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố đã chủ trì tổ chức 23.869 hội nghị phản biện, trong đó cấp tỉnh 827 cuộc, cấp huyện 3.488 cuộc; cấp xã 19.554 cuộc...

Song song đó, cũng cần hết sức tỉnh táo phân biệt, nhận diện được việc lợi dụng phản biện xã hội để chống phá và có những biện pháp ngăn chặn kịp thời. Cần phân biệt rõ giữa xây dựng và phá hoại bởi nếu không tỉnh táo nhận diện, có thể sẽ bị dẫn dắt theo định hướng, nhận thức xuyên tạc, dẫn tới những quyết sách sai lầm.

Nếu không có nhận thức đúng, người dân sẽ dễ dàng tin theo, hiểu theo những phản biện sai trái, phản động, hiểu sai về chủ trương, chính sách, về bản chất của chế độ XHCN. Do đó, không chỉ đội ngũ cán bộ, đảng viên mà mọi người dân đều cần nâng cao nhận thức chính trị, cảnh giác, tỉnh táo trước những luận điệu giả danh phản biện xã hội. Đồng thời cần có những chế tài pháp luật để xử lý, nghiêm trị những hành vi lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối, xâm phạm lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Việt Nam thể hiện vai trò tiên phong trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

 Sau hơn một năm đảm nhiệm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong lĩnh vực quyền con người được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Những dấu ấn đó là động lực để Việt Nam tiếp tục vững tin thực hiện các trọng trách trong Hội đồng Nhân quyền trong thời gian tới.

Được thành lập vào năm 2006, Hội đồng Nhân quyền với tư cách là cơ quan liên chính phủ quan trọng nhất của Liên hợp quốc chịu trách nhiệm về nhân quyền đã khẳng định được vai trò của mình. Với mong muốn “tất cả quyền con người cho tất cả mọi người”, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền từ khi cơ quan này chính thức hoạt động.

Vì thế, trong lần thứ hai là thành viên của Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2023-2025), Việt Nam coi đây vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn lao. Để xứng đáng với sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam không ngừng nỗ lực phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người không chỉ phạm vi trong nước mà còn trên bình diện thế giới.

Ngay tại Khóa 52 mở đầu nhiệm kỳ Hội đồng Nhân quyền, đoàn Việt Nam đã giới thiệu sáng kiến về Kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA). Từ đây tái khẳng định tầm quan trọng của những nguyên tắc chính về nhân quyền của hai văn kiện lịch sử UDHR và VDPA; góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc.

Trên cơ sở này, Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam đã trực tiếp triển khai soạn thảo, tham vấn, thương lượng dự thảo Nghị quyết. Đến ngày 3/4/2023, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua Nghị quyết này với sự đồng thuận của 121 nước là minh chứng cụ thể cho nỗ lực và trách nhiệm kịp thời của Việt Nam khi tham gia các vấn đề quan tâm của cộng đồng quốc tế.

Sau thành công trên, Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò tiên phong trong xây dựng chuỗi nghị quyết hằng năm về bảo đảm quyền con người trong biến đổi khí hậu. Tại Khóa 53 Hội đồng Nhân quyền (tháng 6-7/2023), Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với việc hiện thực hóa đầy đủ quyền lương thực.

Qua đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết các lỗ hổng trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền phụ nữ và trẻ em gái trong bối cảnh biến đổi khí hậu; khẳng định vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định và ban hành chính sách về biến đổi khí hậu; kêu gọi các quốc gia thực hiện thỏa thuận tài trợ, theo quyết định tại COP 27. Từ đó, hỗ trợ các nước đang phát triển ngăn chặn và giải quyết các tổn thất do biến đổi khí hậu gây ra.

Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam, Bangladesh và Philippines tiến hành đề xuất, soạn thảo nội dung, tham vấn xây dựng Nghị quyết 2023 về Biến đổi khí hậu về quyền con người với chủ đề “Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với sinh kế và ảnh hưởng của những tác động này đối với quyền con người”. Ngày 12/7/2023, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua Nghị quyết này và 80 quốc gia đã tham gia đồng bảo trợ. Cũng trong kỳ họp này, Việt Nam cùng Hoa Kỳ và Argentina đồng tổ chức Tọa đàm quốc tế về chống phân biệt đối xử, bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc.

Mới đây, tại Khóa 55 Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã tích cực phát biểu tại nhiều phiên họp, thảo luận về bảo đảm các quyền cụ thể như quyền môi trường trong lành, bền vững; quyền lương thực; quyền văn hóa; quyền của người khuyết tật; quyền trẻ em… Việt Nam cũng nhấn mạnh các ưu tiên của Việt Nam khi tham gia Hội đồng Nhân quyền, trong đó có bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chuyển đổi số và quyền con người.

Đến nay, Việt Nam đã tích cực thực hiện nhiệm vụ của thành viên Hội đồng Nhân quyền trong công tác tham vấn, bỏ phiếu thông qua 32 dự thảo nghị quyết và 2 quyết định của Hội đồng Nhân quyền. Bên cạnh những kết quả này, Việt Nam đã nộp Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, trong đó đã thực hiện hoàn toàn gần 90% số khuyến nghị nhận được năm 2019. Đồng thời Việt Nam cũng thúc đẩy đối thoại và hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền, tiếp cận với những vấn đề còn nhiều khác biệt như quan hệ giữa phát triển và nhân quyền, sức khỏe sinh sản và giáo dục giới tính,...

Những đóng góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền trong thời gian qua đã góp phần giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về nỗ lực của nước ta trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế với Việt Nam còn được thể hiện qua việc ngày 9/4, Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) đã nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027. Đây là cơ hội để Việt Nam sát cánh với các thành viên trong UN Women tham gia xây dựng các chiến lược nhằm xóa bỏ nạn phân biệt, kỳ thị phụ nữ và trẻ em gái, bảo đảm sự công bằng giữa phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực phát triển.

Những thành tựu nêu trên đã cho thấy một Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì quyền con người. Thế nhưng vẫn có một số cá nhân, tổ chức không thiện chí cố tình phủ nhận những đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền.

Thời gian gần đây, các hoạt động chống phá có xu hướng gia tăng với mục đích là ngăn cản Việt Nam ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền 2026-2028. Nhân danh “đấu tranh” cho các quyền tự do, dân chủ, các đối tượng, tổ chức nêu trên thường xuyên lợi dụng các diễn đàn báo chí quốc tế để xuyên tạc, bôi đen tình hình nhân quyền ở Việt Nam bằng nhiều cáo buộc vô căn cứ. Điển hình là phát ngôn mới đây của đại diện của Liên minh xã hội dân sự toàn cầu (CIVISUS) cho rằng Việt Nam “đã không thực thi nhiều khuyến nghị do Hội đồng Nhân quyền đưa ra trong kỳ Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) gần nhất vào năm 2019”.

Hay tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vốn lâu nay thường xuyên thể hiện bản chất cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam còn đưa ra những luận điệu vu cáo, định kiến với ý đồ xấu như: “Việt Nam là một thảm họa không thể giải quyết được với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, tiến hành cuộc đàn áp quy mô lớn đối với các nhóm xã hội dân sự và các nhà hoạt động ở trong nước, đồng thời tích cực dung túng những hành vi vi phạm nhân quyền của các quốc gia khác được đưa ra trước Hội đồng. Khó có thể tìm ra thành viên nào tồi tệ hơn trong Hội đồng, vì vậy chiến dịch tái tranh cử của Hà Nội phải bị bác bỏ tuyệt đối”.

Từ đây cho thấy các thế lực chống phá thù địch đang cố tình phớt lờ việc Việt Nam đã nộp báo cáo UPR chu kỳ IV và thực thi đến gần 90% số khuyến nghị do các bên đưa ra. Theo đánh giá của bà Ramla Khalidi, Quyền Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam tại Hội thảo quốc tế tham vấn dự thảo Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ IV của Việt Nam diễn ra vào ngày 24/11/2023: “Việt Nam đã thể hiện vai trò tiên phong trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”.

Đáng lên án hơn, một số tổ chức nhân quyền tự xưng như “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”, “Người Bảo vệ Nhân quyền” và “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” còn xây dựng nhiều báo cáo không khách quan, sai sự thật về việc thực thi các công ước về quyền con người của Việt Nam nhằm gây sức ép lên Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc tại phiên họp kiểm điểm việc thực thi Công ước ICCPR của Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hầu hết cáo buộc của các cá nhân, tổ chức này không hề mới, đã bị người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và các cơ quan báo chí trong nước bác bỏ thông qua những dẫn chứng, số liệu cụ thể. Đáng tiếc là một vài cơ quan, cơ chế thực thi nhân quyền và một số quốc gia vẫn dựa vào những thông tin sai lệch để đưa ra các nhận định có tính quy kết về công tác bảo đảm và bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam mà không hề có sự tham khảo, chọn lọc, đánh giá thông tin một cách nghiêm cẩn, khách quan. Điều này không chỉ phủ nhận công sức của toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền mà còn tạo ra những rào cản trong quá trình hiểu biết lẫn nhau và thiết lập hướng đi chung cho lĩnh vực này.

Dù vẫn còn một nửa nhiệm kỳ ở phía trước, với nhiều khó khăn, thách thức nhưng có thể khẳng định Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền 2023-2025 với nhiều dấu ấn cụ thể.Được thành lập vào năm 2006, Hội đồng Nhân quyền với tư cách là cơ quan liên chính phủ quan trọng nhất của Liên hợp quốc chịu trách nhiệm về nhân quyền đã khẳng định được vai trò của mình. Với mong muốn “tất cả quyền con người cho tất cả mọi người”, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền từ khi cơ quan này chính thức hoạt động.

Vì thế, trong lần thứ hai là thành viên của Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2023-2025), Việt Nam coi đây vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn lao. Để xứng đáng với sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam không ngừng nỗ lực phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người không chỉ phạm vi trong nước mà còn trên bình diện thế giới.

Ngay tại Khóa 52 mở đầu nhiệm kỳ Hội đồng Nhân quyền, đoàn Việt Nam đã giới thiệu sáng kiến về Kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA). Từ đây tái khẳng định tầm quan trọng của những nguyên tắc chính về nhân quyền của hai văn kiện lịch sử UDHR và VDPA; góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc.

Trên cơ sở này, Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam đã trực tiếp triển khai soạn thảo, tham vấn, thương lượng dự thảo Nghị quyết. Đến ngày 3/4/2023, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua Nghị quyết này với sự đồng thuận của 121 nước là minh chứng cụ thể cho nỗ lực và trách nhiệm kịp thời của Việt Nam khi tham gia các vấn đề quan tâm của cộng đồng quốc tế.

Sau thành công trên, Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò tiên phong trong xây dựng chuỗi nghị quyết hằng năm về bảo đảm quyền con người trong biến đổi khí hậu. Tại Khóa 53 Hội đồng Nhân quyền (tháng 6-7/2023), Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với việc hiện thực hóa đầy đủ quyền lương thực.

Qua đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết các lỗ hổng trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền phụ nữ và trẻ em gái trong bối cảnh biến đổi khí hậu; khẳng định vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định và ban hành chính sách về biến đổi khí hậu; kêu gọi các quốc gia thực hiện thỏa thuận tài trợ, theo quyết định tại COP 27. Từ đó, hỗ trợ các nước đang phát triển ngăn chặn và giải quyết các tổn thất do biến đổi khí hậu gây ra.

Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam, Bangladesh và Philippines tiến hành đề xuất, soạn thảo nội dung, tham vấn xây dựng Nghị quyết 2023 về Biến đổi khí hậu về quyền con người với chủ đề “Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với sinh kế và ảnh hưởng của những tác động này đối với quyền con người”. Ngày 12/7/2023, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua Nghị quyết này và 80 quốc gia đã tham gia đồng bảo trợ. Cũng trong kỳ họp này, Việt Nam cùng Hoa Kỳ và Argentina đồng tổ chức Tọa đàm quốc tế về chống phân biệt đối xử, bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc.

Mới đây, tại Khóa 55 Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã tích cực phát biểu tại nhiều phiên họp, thảo luận về bảo đảm các quyền cụ thể như quyền môi trường trong lành, bền vững; quyền lương thực; quyền văn hóa; quyền của người khuyết tật; quyền trẻ em… Việt Nam cũng nhấn mạnh các ưu tiên của Việt Nam khi tham gia Hội đồng Nhân quyền, trong đó có bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chuyển đổi số và quyền con người.

Đến nay, Việt Nam đã tích cực thực hiện nhiệm vụ của thành viên Hội đồng Nhân quyền trong công tác tham vấn, bỏ phiếu thông qua 32 dự thảo nghị quyết và 2 quyết định của Hội đồng Nhân quyền. Bên cạnh những kết quả này, Việt Nam đã nộp Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, trong đó đã thực hiện hoàn toàn gần 90% số khuyến nghị nhận được năm 2019. Đồng thời Việt Nam cũng thúc đẩy đối thoại và hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền, tiếp cận với những vấn đề còn nhiều khác biệt như quan hệ giữa phát triển và nhân quyền, sức khỏe sinh sản và giáo dục giới tính,...

Những đóng góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền trong thời gian qua đã góp phần giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về nỗ lực của nước ta trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế với Việt Nam còn được thể hiện qua việc ngày 9/4, Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) đã nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027. Đây là cơ hội để Việt Nam sát cánh với các thành viên trong UN Women tham gia xây dựng các chiến lược nhằm xóa bỏ nạn phân biệt, kỳ thị phụ nữ và trẻ em gái, bảo đảm sự công bằng giữa phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực phát triển.

Những thành tựu nêu trên đã cho thấy một Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì quyền con người. Thế nhưng vẫn có một số cá nhân, tổ chức không thiện chí cố tình phủ nhận những đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền.

Thời gian gần đây, các hoạt động chống phá có xu hướng gia tăng với mục đích là ngăn cản Việt Nam ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền 2026-2028. Nhân danh “đấu tranh” cho các quyền tự do, dân chủ, các đối tượng, tổ chức nêu trên thường xuyên lợi dụng các diễn đàn báo chí quốc tế để xuyên tạc, bôi đen tình hình nhân quyền ở Việt Nam bằng nhiều cáo buộc vô căn cứ. Điển hình là phát ngôn mới đây của đại diện của Liên minh xã hội dân sự toàn cầu (CIVISUS) cho rằng Việt Nam “đã không thực thi nhiều khuyến nghị do Hội đồng Nhân quyền đưa ra trong kỳ Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) gần nhất vào năm 2019”.

Hay tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vốn lâu nay thường xuyên thể hiện bản chất cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam còn đưa ra những luận điệu vu cáo, định kiến với ý đồ xấu như: “Việt Nam là một thảm họa không thể giải quyết được với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, tiến hành cuộc đàn áp quy mô lớn đối với các nhóm xã hội dân sự và các nhà hoạt động ở trong nước, đồng thời tích cực dung túng những hành vi vi phạm nhân quyền của các quốc gia khác được đưa ra trước Hội đồng. Khó có thể tìm ra thành viên nào tồi tệ hơn trong Hội đồng, vì vậy chiến dịch tái tranh cử của Hà Nội phải bị bác bỏ tuyệt đối”.

Từ đây cho thấy các thế lực chống phá thù địch đang cố tình phớt lờ việc Việt Nam đã nộp báo cáo UPR chu kỳ IV và thực thi đến gần 90% số khuyến nghị do các bên đưa ra. Theo đánh giá của bà Ramla Khalidi, Quyền Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam tại Hội thảo quốc tế tham vấn dự thảo Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ IV của Việt Nam diễn ra vào ngày 24/11/2023: “Việt Nam đã thể hiện vai trò tiên phong trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”.

Đáng lên án hơn, một số tổ chức nhân quyền tự xưng như “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”, “Người Bảo vệ Nhân quyền” và “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” còn xây dựng nhiều báo cáo không khách quan, sai sự thật về việc thực thi các công ước về quyền con người của Việt Nam nhằm gây sức ép lên Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc tại phiên họp kiểm điểm việc thực thi Công ước ICCPR của Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hầu hết cáo buộc của các cá nhân, tổ chức này không hề mới, đã bị người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và các cơ quan báo chí trong nước bác bỏ thông qua những dẫn chứng, số liệu cụ thể. Đáng tiếc là một vài cơ quan, cơ chế thực thi nhân quyền và một số quốc gia vẫn dựa vào những thông tin sai lệch để đưa ra các nhận định có tính quy kết về công tác bảo đảm và bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam mà không hề có sự tham khảo, chọn lọc, đánh giá thông tin một cách nghiêm cẩn, khách quan. Điều này không chỉ phủ nhận công sức của toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền mà còn tạo ra những rào cản trong quá trình hiểu biết lẫn nhau và thiết lập hướng đi chung cho lĩnh vực này.

Dù vẫn còn một nửa nhiệm kỳ ở phía trước, với nhiều khó khăn, thách thức nhưng có thể khẳng định Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền 2023-2025 với nhiều dấu ấn cụ thể.

Theo đánh giá của Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt: “Năm 2024 là năm bản lề của nhiệm kỳ thành viên Hội đồng Nhân quyền 2023-2025, với nhiều hoạt động trọng tâm như trình bày và đối thoại về Báo cáo quốc gia theo Cơ chế UPR chu kỳ IV, tiếp tục thúc đẩy các sáng kiến, ưu tiên, nhất là sáng kiến về biến đổi khí hậu và quyền con người, kết hợp với công tác vận động các nước tiếp tục ủng hộ Việt Nam lần đầu tiên tái ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026-2028”.

Với quyết tâm cao nhất cùng sức mạnh từ sự đoàn kết, trên dưới một lòng của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng tại Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền khác của Liên hợp quốc, ASEAN. Bằng những hành động thiết thực, Việt Nam đang đi đúng hướng trên tiến trình thúc đẩy đoàn kết quốc tế và phát triển bao trùm, bền vững.

Theo đánh giá của Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt: “Năm 2024 là năm bản lề của nhiệm kỳ thành viên Hội đồng Nhân quyền 2023-2025, với nhiều hoạt động trọng tâm như trình bày và đối thoại về Báo cáo quốc gia theo Cơ chế UPR chu kỳ IV, tiếp tục thúc đẩy các sáng kiến, ưu tiên, nhất là sáng kiến về biến đổi khí hậu và quyền con người, kết hợp với công tác vận động các nước tiếp tục ủng hộ Việt Nam lần đầu tiên tái ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026-2028”.

Với quyết tâm cao nhất cùng sức mạnh từ sự đoàn kết, trên dưới một lòng của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng tại Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền khác của Liên hợp quốc, ASEAN. Bằng những hành động thiết thực, Việt Nam đang đi đúng hướng trên tiến trình thúc đẩy đoàn kết quốc tế và phát triển bao trùm, bền vững.