Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024

Phê phán quan điểm phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay.

  Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là một nội dung cơ bản, mang tính quy luật trong lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng thời, cũng là một yêu cầu, nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Dựa trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn, bài viết tập trung nhận diện và phản bác một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay, như: phủ nhận sự tồn tại tất yếu, khách quan chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; đối lập lợi ích quốc gia - dân tộc và chủ nghĩa quốc tế với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa các nước đang theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay.

 

Phê phán quan điểm phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay

Diễn đàn các đảng cộng sản và công nhân thế giới - IMCWP lần thứ 22, năm 2022, tại Cu Ba - Ảnh: tulieuvankien.dangcongsan.vn

Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân (CNQT của GCCN) còn được gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản hay chủ nghĩa quốc tế XHCN được hiểu ở nhiều góc độ tiếp cận: Đó là hệ thống quan điểm, lý luận của CNXH khoa học về sự đoàn kết, thống nhất của GCCN (thông qua đội tiền phong) nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình. Đồng thời, nó còn được hiểu là thực tiễn phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, lực lượng xã hội tiến bộ đoàn kết, giúp đỡ nhằm chống lại sự áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng thành công CNXH trên phạm vi toàn thế giới cũng như mục tiêu thời đại là hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững.

Trong lý luận mác xít, đây là nội dung mang tính nguyên tắc, quy luật trong thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN. Lý luận này cũng đã được hiện thực hóa một cách sinh động thông qua các phong trào thực tiễn của GCCN, đảng cộng sản, đảng cánh tả, lực lượng tiến bộ xã hội trong thực hiện mục tiêu của CNXH và mục tiêu thời đại.

Chính vì vậy, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN cũng như CNQT của GCCN hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự thống nhất, đoàn kết trong lực lượng cách mạng, nhất là từ khi CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Nguy hiểm hơn, nó còn xuất hiện trong chính phong trào cộng sản và công nhân, với sự hoài nghi, xét lại về CNQT của GCCN trong điều kiện mới. Có thể chỉ ra một số quan điểm như: Hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã “lỗi thời” khi ý thức hệ không còn là yếu tố chi phối quan hệ quốc tế, mà là lợi ích quốc gia - dân tộc thì thực hiện CNQT của GCCN sẽ bất lợi cho Việt Nam, và Việt Nam cần phải thực hiện chủ nghĩa quốc tế, chứ không phải CNQT của GCCN; rằng quan hệ giữa các nước đang kiên trì con đường XHCN hiện nay chỉ là quan hệ lệ thuộc...

Đây là những quan điểm sai trái, là nhận định mang tính chủ quan, phiến diện, hoặc là thuộc về chủ nghĩa xét lại khi đánh giá về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, về CNQT của GCCN hiện nay. Thực tế đã chứng minh:

1. Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân hiện nay không bị “diệt vong”, không “lỗi thời” mà luôn tồn tại khách quan và đang ngày càng phục hồi

Một là, sự đoàn kết, thống nhất về ý chí, mục tiêu của GCCN đã được hình thành và thể hiện sinh động trong thực tiễn trước khi có sự ra đời của CNXH hiện thực (đánh dấu bằng sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự phát triển của hệ thống các nước XHCN).

GCCN ra đời và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp (bắt đầu từ Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở nửa sau của thế kỷ XVIII). Và cũng chính nền đại công nghiệp - với đặc điểm nổi bật là phân công lao động, chuyên môn hóa và sự liên kết ngày càng chặt chẽ, mở rộng trong sản xuất, từ đó tất yếu dẫn đến sự liên kết giữa những người lao động không cùng xí nghiệp, không cùng quốc gia. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh những cuộc dịch chuyển lao động công nghiệp từ Anh sang Mỹ, Canađa... từ thế kỷ XIX; lịch sử cũng đã chứng kiến sự đoàn kết đấu tranh của những công nhân châu Âu, mà tiêu biểu là phong trào cách mạng 1848 -1849, Công xã Pari... Hay như những người công nhân từ các nước thuộc địa của Pháp đã đoàn kết cùng nhau phản chiến, chống lại sự tham gia của chiến hạm Pháp cùng các nước đế quốc chống lại Nhà nước Nga Xô viết non trẻ mới ra đời...

Hai là, hiện nay, nền đại công nghiệp càng phát triển do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, càng tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật thuận lợi, tất yếu cho sự đoàn kết, thống nhất trên phạm vi toàn thế giới của GCCN. Việc sản xuất và trao đổi theo các chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVCs) đã trở thành phổ biến trong liên kết quốc tế. Cùng với đó là các hình thức liên kết phong phú khác như mạng sản xuất, xuất khẩu lao động, làm việc theo nhóm chuyên gia... Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, khoảng 80% thương mại quốc tế và 60% sản xuất toàn cầu mang tính hợp tác xuyên quốc gia có sử dụng chuỗi cung ứng lao động toàn cầu xuyên biên giới; khoảng 50 tập đoàn xuyên quốc gia với gần 116 triệu công nhân nằm trong chuỗi cung ứng lao động(1). Đây cũng là cơ sở kinh tế - kỹ thuật góp phần phủ nhận luận điệu cho rằng “những người vô sản trên thế giới ngày càng bị phân tán”(2) nhằm phủ định sức mạnh thống nhất, đoàn kết của GCCN trên thế giới hiện nay.

Ba là, cơ sở chính trị - xã hội cho sự đoàn kết, thống nhất quốc tế của GCCN và đội tiền phong của mình chính là để đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột, bất công mang tính toàn cầu của chủ nghĩa tư bản cũng như thực hiện những mục tiêu tiến bộ của nhân loại. Thực tế hiện nay cho thấy, những vấn đề toàn cầu ngày càng gay gắt, phức tạp, bất công xã hội do chủ nghĩa tư bản gây ra ngày càng rõ nét và đa dạng hơn.

Trong xã hội hiện đại, chủ nghĩa tư bản càng khoét sâu hơn những mâu thuẫn xã hội, chia rẽ các tầng lớp lao động, bằng cách tạo ra sự phân biệt giàu nghèo, giới tính, màu da, sắc tộc, quốc gia. Các chủ tư bản tìm mọi cách chia rẽ tình đoàn kết của GCCN: chia rẽ người lao động nghèo và công nhân trung lưu; chia rẽ công nhân da trắng và công nhân da đen; phân biệt giới tính để khiến công nhân nam chống lại công nhân nữ; kích động những người lao động sinh ra ở Hoa Kỳ chống lại những người lao động nhập cư... Tuy nhiên, thực tế đó càng làm cho những người lao động, công nhân đoàn kết với nhau một cách mạnh mẽ hơn: công nhân Hoa Kỳ đã thể hiện tình đoàn kết với nhân dân Irắc chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ khi tháng 5 - 2008, Công đoàn Kho bãi và Cảng Quốc tế đã tổ chức cho công nhân đình công để phản đối chiến tranh ở Irắc; công nhân dọc bờ biển của Hy Lạp đã chặn đoàn xe vận chuyển vũ khí và đạn dược của Hoa Kỳ tới Ítxraen trong cuộc bao vây của Hoa Kỳ - Ítxraen trên dải Gaza vào đầu năm 2009; hàng nghìn người xuống Đại lộ Pennsylvania ở Washington, D.C trong cuộc tuần hành vì quyền phụ nữ vào tháng 1-2017...

Sự đoàn kết ấy đã diễn ra giữa công nhân và bất cứ tầng lớp lao động nào bị phân biệt đối xử, sự bất công trong xã hội, bởi lẽ, công nhân chỉ thực sự được giải phóng, khi mọi tầng lớp lao động khác đều nhận được sự công bằng, bình đẳng. Vì vậy, công nhân đoàn kết với các phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ... Từ đó, sức mạnh đoàn kết ngày càng được lan tỏa, lực lượng xã hội tham gia ngày càng được quy tụ rộng rãi trên phạm vi toàn cầu.

Hơn thế nữa, thế giới cũng đang đứng trước những vấn đề toàn cầu ngày càng gay gắt, cấp bách hơn, đòi hỏi sự đoàn kết quốc tế để đối phó và giải quyết, như vấn đề chiến tranh, xung đột dân tộc, sắc tộc, khủng bố, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh... nhằm hướng tới mục tiêu chung của nhân loại và thời đại: hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội, phát triển bền vững.

Tại các diễn đàn, hội nghị quốc tế giữa các đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng cánh tả, các tổ chức xã hội tiến bộ... trên thế giới, ngoài các chủ đề thảo luận về bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa tự do mới...), đa số các chủ đề thảo luận đều liên quan đến các vấn đề toàn cầu (Chủ đề của Diễn đàn các đảng cộng sản và công nhân thế giới - IMCWP lần thứ 22, năm 2022, tại Cu Ba: “Đoàn kết với Cuba và tất cả các dân tộc đang gặp khó khăn. Chúng ta đoàn kết mạnh hơn trong chống đế quốc đấu tranh cùng với các phong trào xã hội và quần chúng chống lại chủ nghĩa tư bản và các chính sách của nó, mối đe dọa của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh; bảo vệ hòa bình, môi trường, quyền của người lao động, đoàn kết và chủ nghĩa xã hội”; Tuyên bố chính trị của Đại hội lần thứ 22 Hội đồng Hòa bình thế giới tại Việt Nam, tháng 11-2022: “Tăng cường đoàn kết, tăng cường tập hợp các lực lượng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới để tiếp tục đấu tranh vì hòa bình, công lý, dân chủ, công bằng xã hội và phát triển bền vững, chống lại chiến tranh, chống lại áp bức, bóc lột, bất công”...

Bốn là, các chủ thể cùng đoàn kết, thống nhất tham gia thực hiện sứ mệnh toàn thế giới của GCCN hiện nay ngày càng đa dạng hơn: Không chỉ là các đảng cộng sản cầm quyền, GCCN, đảng cộng sản và đảng công nhân đang xác lập quyền lực, mà còn là các lực lượng xã hội tiến bộ đấu tranh vì mục tiêu của nhân loại hiện nay (Hội đồng hòa bình thế giới - WPC; Liên đoàn công đoàn thế giới - WFTU; Tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi chống chủ nghĩa đế quốc, phân biệt chủng tộc...); hình thức thực hiện cũng đa dạng hơn: cả song phương và đa phương (Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới - IMCWP; Diễn đàn Sao Paulo...).

2. Lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích giai cấp và lợi ích nhân loại là thống nhất

Việc đối lập giữa lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích nhân loại với CNQT của GCCN là sai lầm, bởi:

Một là, đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia - dân tộc chỉ thực sự có được, suy đến cùng, khi được gắn với thực hiện mục tiêu CNXH. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trước hết là những lợi ích cốt lõi: độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Điều 1 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Tiếp đó là những lợi ích bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội.

Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Lợi ích quốc gia - dân tộc, dù là lợi ích cốt lõi hay lợi ích phát triển, chỉ có thể được bảo đảm thực hiện khi kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH - mục tiêu cao nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; từ bỏ CNQT của GCCN, dù ở bất kỳ thời điểm nào, cũng chính là từ bỏ mục tiêu CNXH. Ở xã hội có giai cấp, lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc luôn được định hướng bởi một giai cấp cầm quyền. Đối với Việt Nam, sứ mệnh đó được nhân dân tin tưởng trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của GCCN và của toàn thể dân tộc.

Hai là, thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân góp phần thực hiện lợi ích quốc gia - dân tộc

Hiện nay, các quốc gia đều tăng cường hợp tác quốc tế để phát huy những lợi thế bên trong và bên ngoài cho sự phát triển của mỗi nước, không phân biệt chế độ chính trị. Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung tất yếu đó. Khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, cùng với đó là xác định một trong những đặc trưng về đối ngoại của CNXH mà Việt Nam xây dựng: “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên trên thế giới”. Đến nay, quan hệ đối ngoại của nước ta ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, “đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện”. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO...”(3).

Thực hiện CNQT của GCCN là thể hiện đường lối đối ngoại nhất quán, trước sau như một của Đảng. Từ chủ trương “thêm bạn”, “bớt thù”, “giúp bạn là tự giúp mình”, Đảng ta khẳng định “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại”(4). Điều đó góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Đảng, của quốc gia - dân tộc. Cho đến nay, Việt Nam có quan hệ với gần 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế(5). Mở rộng quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, tích cực thực hiện CNQT của GCCN là điều kiện để Việt Nam củng cố mối quan hệ anh em, bạn bè truyền thống; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phát triển lý luận về xây dựng CNXH trong điều kiện mới; hợp tác cùng có lợi trên mọi phương diện để thúc đẩy nhau cùng phát triển.

Ba là, chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân hiện nay luôn thống nhất

Thực hiện CNQT hiện nay cũng thống nhất mục tiêu với thực hiện CNQT của GCCN. Thực vậy, CNQT là sự thống nhất về mục tiêu và hành động của các quốc gia (không phân biệt ý thức hệ) nhằm tạo tiền đề, điều kiện cho nhau cùng phát triển cũng như cùng nhau giải quyết những vấn đề toàn cầu, vì sự phát triển chung của nhân loại. Đối với Việt Nam, thực hiện đường lối đối ngoại ngày càng chủ động, tích cực, đi vào chiều sâu, đa dạng hóa, đa phương hóa, cũng chính là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho thực hiện đến cùng mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Kiên định và xây dựng thành công CNXH ở mỗi nước cũng chính là góp phần thực hiện mục tiêu cao nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Xét ở phạm vi toàn cầu, tham gia thực hiện CNQT là cùng chung tay giải quyết các vấn đề quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội, phát triển bền vững. Đây cũng chính là những mục tiêu thời đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay. Trong điều kiện hiện nay, lợi ích giai cấp - dân tộc - nhân loại là thống nhất. Cụ thể là, 17 mục tiêu phát triển bền vững được Liên hợp quốc đưa ra tại Chương trình Nghị sự 2030 (xóa đói nghèo, bảo đảm bình đẳng, môi trường sống, hòa bình...) là những mục tiêu hướng tới của nhân loại tiến bộ, nhưng đồng thời cũng chính là bảo đảm thực hiện lợi ích của các quốc gia - dân tộc. Đồng thời, đó cũng chính là mục tiêu thời đại mà sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân hướng tới. Những vấn đề toàn cầu nảy sinh trong thế giới đương đại càng tạo ra những điều kiện tất yếu khách quan cho sự thống nhất về mục tiêu, ý chí, hành động của không chỉ giai cấp công nhân, các đảng cộng sản, đảng công nhân, mà còn của các lực lượng xã hội tiến bộ ngày càng được mở rộng. Vậy là, chính CNQT vừa thống nhất mục tiêu, vừa thúc đẩy cho sự mở rộng và phát triển CNQT của GCCN hiện nay.

Mặt khác, thực hiện hiệu quả CNQT của GCCN cũng chính là góp phần thực hiện những mục tiêu toàn cầu, tức là thực hiện CNQT.

Chủ thể tham gia thực hiện CNQT của GCCN là GCCN, các đảng cộng sản, đảng công nhân, lực lượng xã hội tiến bộ - cũng chính là một bộ phận chủ thể tham gia thực hiện CNQT; nên mối quan hệ của các chủ thể đó cũng chính là bộ phận trong hệ thống quan hệ quốc tế. Không chỉ vậy, với mục tiêu đặc thù trong hoạt động của mình, đây chính là những chủ thể tích cực trong việc phản đối những hành động đi ngược lại lợi ích chính đáng và tốt đẹp của nhân loại và luôn là lực lượng đi đầu trong ủng hộ và xây dựng những giá trị tiến bộ ở mỗi quốc gia, khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như: Các chủ đề thảo luận của Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới - IMCWP, Diễn đàn Sao Paulo... đều xoay quanh các vấn đề về bảo đảm thực hiện mục tiêu hòa bình, dân chủ, tiến bộ, phát triển bền vững; lên án các chính sách hiếu chiến của Mỹ khi phát động cuộc chiến ở Ápganixtan, Irắc... Các lực lượng xã hội tiến bộ cũng thường xuyên thể hiện sự phản đối đối với những hành động làm hủy hoại môi trường sống, như phong trào Ende Gelände của Đức, Extinction Rebellion ở Anh. Các diễn đàn, hội nghị cũng tập trung thảo luận về những vấn đề của toàn cầu hóa: Hội nghị tại Síp (tháng 12-2000) với chủ đề “Sự cần thiết và phương thức tổ chức nhằm đối phó với trật tự thế giới mới và toàn cầu hóa kinh tế” đã thu hút 60 đoàn đại biểu đảng cộng sản, công nhân tham dự, Hội thảo quốc tế tại Béclin (Đức, tháng 6-2001) với chủ đề “Toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa - các giải pháp thay thế - các lực lượng chống đối - vai trò của những người cộng sản” thu hút sự tham gia của đại biểu 33 đảng cộng sản, công nhân và phong trào thuộc 31 nước(6)...

Như vậy, tăng cường thực hiện CNQT của GCCN trong bối cảnh hiện nay, chẳng những không bất lợi, mà còn góp phần hình thành sức mạnh tổng hợp, tạo điều kiện thuận lợi để bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, CNQT và CNQT của GCCN càng thể hiện sự thống nhất, tương hỗ, chứ không bài trừ, phủ định nhau. Sự thống nhất này đòi hỏi chúng ta cần có đường lối đối ngoại phù hợp để phát huy sức mạnh quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, vì lợi ích tiến bộ chung của nhân loại.

Vì những lẽ đó, quan điểm cho rằng, hiện nay phải thực hiện CNQT, chứ không phải CNQT của GCCN là hoàn toàn sai lầm, biểu hiện của chủ nghĩa xét lại còn tồn tại trong phong trào cộng sản, nhất là từ năm 1991 đến nay.

3. Phê phán những luận điệu xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Sau khi CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các nước theo chế độ XHCN còn lại vẫn tiếp tục kiên định con đường đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của đảng mang bản chất giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước này đang là chủ thể chính và truyền cảm hứng lớn lao cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, là lực lượng nòng cốt của phong trào để xây dựng CNXH theo cách riêng của mình và chung tay cùng các đảng cộng sản, công nhân, lực lượng xã hội tiến bộ thực hiện mục tiêu chung của thời đại. Bản thân các đảng cầm quyền hiện nay cũng luôn đoàn kết, phát huy mối quan hệ đặc biệt, hữu nghị, truyền thống để tương trợ, giúp đỡ, chia sẻ, hợp tác, thúc đẩy nhau cùng tiến bộ, vì lợi ích của mỗi quốc gia cũng như vì sự nghiệp chung. Những nỗ lực đó đang ngày càng mang lại những thành tựu to lớn cho mỗi nước trên con đường phát triển của mình. Điều này càng khiến cho các thế lực thù địch, với dã tâm muốn chia rẽ khối đoàn kết ấy, điên cuồng chống phá CNXH, xuyên xuyên tạc, bóp méo bản chất tốt đẹp của những mối quan hệ này, trong đó có mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Cuba.

Với Việt Nam, mối quan hệ với các nước theo định hướng XHCN là mối quan hệ đặc biệt, vừa là quan hệ truyền thống, đồng chí, cùng nhau kiên trì mục tiêu xây dựng thành công CNXH, cùng nhau đoàn kết vì sự nghiệp chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong bối cảnh khó khăn và phức tạp hiện nay, vừa nằm trong quan hệ đối ngoại chung của môi trường hợp tác quốc tế đa dạng hóa, đa phương hóa.

Dù có những lúc thăng trầm, nhưng sự thống nhất về tư tưởng và hành động của các đảng cầm quyền (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào...) luôn là dòng chảy chủ đạo. Sự thống nhất về tư tưởng được thể hiện ở chỗ, các đảng đều lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Về hành động, đó là sự tương trợ, giúp đỡ vật chất và tinh thần; trao đổi song phương và đa phương về lý luận và kinh nghiệm quản trị đất nước (Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức định kỳ 2 năm, đến nay đã có 17 lần tổ chức); cùng tham gia và tổ chức các diễn đàn, hội nghị đa phương giữa các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các tổ chức tiến bộ hoạt động vì những mục tiêu phát triển của thời đại.

Đồng thời, quan hệ đối ngoại giữa các nước đều đang được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ là hòa bình, hữu nghị, mà cùng nhau mở rộng hợp tác, phát triển trên mọi lĩnh vực.

Trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước, đó không phải là sự “lệ thuộc”, hay “chọn bên”. Tại cuộc tiếp đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng đã nhấn mạnh: Trung Quốc cũng luôn coi trọng, mong muốn và sẵn sàng cùng với Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam tiếp tục quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện trong quá trình xây dựng CNXH, cùng nhau bước sang giai đoạn phát triển mới, với tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác thực chất hơn, nền tảng xây dựng vững chắc hơn.

Đồng thời, đó cũng không phải là sự “hạ thấp” trong quan hệ, mà đó là quá trình hiện thực hóa chủ trương đã được Đảng ta xác định: Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển; “Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng”, “ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại”. Đó là những mối quan hệ được xây dựng trên “tòa lâu đài” vững chắc của niềm tin và sự thủy chung son sắt của lịch sử, hiện tại và tương lai.

Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, CNQT của GCCN đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, bất lợi từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nhưng sự đoàn kết của các lực lượng này, vì những mục tiêu tiến bộ của thời đại cũng như sự hiện thực hóa các giá trị của CNXH, cùng với những cơ sở khách quan về kinh tế và chính trị - xã hội hiện nay, thì sự phục hồi của nó sẽ không có thế lực nào ngăn cản được. Những luận điệu sai trái, thù địch đang cố tình phủ nhận CNQT của GCCN, cũng chính là phủ nhận sức sống và giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận CNXH, và cũng chính là những thế lực đang ngăn cản sự phát triển của nhân loại.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 546 (tháng 8-2023)

Ngày nhận bài: 01-8-2023; Ngày bình duyệt: 10 -8-2023; Ngày duyệt đăng: 24-8-2023.

(1) Ronald C.Brown: Robots, new technology and Industrial 4.0 in changing workplace in Changing Workplaces. Impacts on Labor and Employment Laws, American University Business Law Review, 2018, p.355.

(2) C.Wright Mills: The Power Elite, The Oxford Handbook of Classics in Public Policy and Administration, 2016; xem tại: https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780199646135.013.15.

(3), (5) Toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc năm 2022, https://baochinhphu.vn/.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.84.

(6) https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/phong-trao-cong-san-cong-nhan-quoc-te/cac-dang-cong-san-cong-nhan/cac-dang-cong-san-cong-nhan-tren-the-gioi-quan-he-quoc-te-va-vai-tro-vi-tri-trong-doi-song-chinh-tri-xa-3388: Các đảng cộng sản, công nhân trên thế giới: Quan hệ quốc tế và vai trò, vị trí trong đời sống chính trị - xã hội các nước hiện nay.

Một số vấn đề nổi bật của cục diện thế giới hiện nay.

 Tình hình thế giới trong những năm gần đây tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường. Hòa bình, hợp tác, liên kết để phát triển vẫn là xu thế lớn của thời đại nhưng đang phải đối mặt với những thử thách nghiêm trọng. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng toàn diện, kinh tế thế giới suy giảm, an ninh phi truyền thống và các vấn đề toàn cầu cấp bách ngày càng khó đối phó, vấn đề Ucraina diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động sâu sắc tới cục diện thế giới. Bài viết phân tích làm rõ một số vấn đề nổi bật của cục diện thế giới hiện nay.

 

Một số vấn đề nổi bật của cục diện thế giới hiện nay

Khói lửa bốc lên ở khắp nơi trong lãnh thổ Ucraina_ Ảnh: Reuters

1. Hòa bình và phát triển vẫn là một xu thế của thế giới nhưng đang đối mặt với thử thách nghiêm trọng nhất kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc

Thứ nhất, trong những năm gần đây, hòa bình thế giới và sự phát triển toàn cầu đang đối mặt với thử thách nghiêm trọng nhất kể từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Sau khi đại dịch Covid-19 tạm thời được kiểm soát, xung đột Nga - Ucraina bùng phát ảnh hưởng sâu rộng đến cục diện thế giới. Khủng hoảng Ucraina trên thực tế là phần mở rộng của chấn động hậu Chiến tranh Lạnh và là kết quả trực tiếp của cuộc cạnh tranh Nga - Mỹ. Nga đã lựa chọn các biện pháp quân sự để giải quyết những mối quan ngại an ninh của mình, trực tiếp xung đột với giới hạn đỏ về lợi ích của Mỹ, NATO và EU. Nga bị trừng phạt toàn diện, hình thành thế đối đầu trận tuyến trên quy mô lớn. Mỹ và phương Tây đã lôi kéo nhiều quốc gia để thành lập một liên minh hậu thuẫn cho Ucraina, họ được coi là các bên tham gia không chính thức vì trang bị vũ khí của họ và các chuyên gia trên thực tế đã can dự rất sâu sắc. Sau khi thế trận này hình thành, cục diện chiến trường không diễn biến như dự kiến của Nga. Cuộc chiến kéo dài, các bên sẽ làm gì tiếp theo và cục diện châu Âu sẽ thay đổi như thế nào là điều đang được quan tâm nhất hiện nay. Trách nhiệm của các nước lớn là phải thiết lập cơ chế an ninh châu Âu cân bằng, hiệu quả và bền vững. Việc làm thế nào để thành lập cơ chế an ninh như vậy là vấn đề cấp bách hiện nay. Khủng hoảng Ucraina đặt ra yêu cầu thúc đẩy một thỏa thuận như vậy.

Thứ hai, môi trường hợp tác chiến lược và an ninh toàn thế giới đang trải qua những thách thức rất lớn từ chiến sự tại Ucraina. Dù cuộc chiến đến nay vẫn là đụng đầu cục bộ trên một phạm vi cụ thể nhưng sức ảnh hưởng của nó ở tầm toàn cầu, tác động rất lớn đến cục diện thế giới: (1) Đây là xung đột Đông - Tây thực chất, chứ không chỉ là xung đột Nga - Ucraina (Đông gồm Nga - Trung Quốc và các nước thuộc Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, Tây là Mỹ và các nước NATO); (2) Tạo ra một tiền lệ xấu cho môi trường hòa bình thế giới; (3) Nguồn lực vật chất của Ucraina và Nga bị suy giảm nghiêm trọng, Ucraina trở thành chiến trường nóng trong cuộc đụng độ chiến lược giữa các nước lớn, hình thành “lò lửa” chiến tranh mới khó có thể dập tắt trong ngắn hạn, thậm chí có thể tạo ra chiến tranh thế giới, nguy cơ trước mắt là có thể mở rộng thành cuộc chiến khu vực, cuộc chiến hạt nhân có thể nổ ra; (4) Không chỉ làm triệt tiêu khả năng phát triển của Ucraina, mà còn có thể đưa tới sự suy thoái toàn diện của không gian châu Âu, ảnh hưởng đến môi trường toàn cầu, đà phục hồi kinh tế thế giới trong bối cảnh hậu đại dịch, thậm chí nếu kéo dài có thể tạo ra nguy cơ khủng hoảng toàn diện đối với thế giới.

Xung đột Nga - Ucraina đã chuyển hóa cơ bản điểm nóng từ cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc sang châu Âu, phần nào tạo thời cơ cho Trung Quốc thu hẹp khoảng cách với Mỹ và bỏ xa hơn EU. Hơn nữa, khi cuộc chiến diễn ra và kéo dài, Nga đã và sẽ cần thắt chặt quan hệ và các hợp tác chiến lược với Trung Quốc, những lợi ích lớn về kinh tế có thể đạt được khi Trung Quốc trở thành nguồn cung chính nhu yếu phẩm cho cả Nga và Ucraina. Cuộc xung đột cũng có thể sẽ tạo ra cớ để Trung Quốc và Nga cùng nhau tạo ra các thiết chế, định chế, cơ chế mới, nhất là các định chế an ninh, kinh tế (cụ thể là lĩnh vực thương mại, tiền tệ) để định hình lại cuộc chơi toàn cầu, vượt qua các ảnh hưởng của các sân chơi, luật chơi của Mỹ.

Thứ ba, từ vấn đề Ucraina, khủng hoảng hạt nhân trở lại và thách thức toàn cầu. Cuộc khủng hoảng Ucraina khiến thế giới lại phải đối mặt với mối đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Động thái hậu thuẫn sâu rộng, không ngừng cung cấp vũ khí, trang thiết bị cho Ucraina để đối phó với Nga của Mỹ đã đẩy chiến sự leo thang mạnh mẽ, khó có phương án đàm phán. Mỹ cũng kích thích các bên, nhất là Ba Lan, Mônđôva chủ động thách thức Nga.

Thế giới và tất nhiên có Nga đã nhận thức rõ ràng về nguy cơ mở rộng chiến tranh thành một cuộc chiến khu vực khiến cho Nga phải tính toán lại chiến lược. Từ tháng 5-2023, Nga đã liên tục tuyên bố có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để tự vệ và tấn công các nhân tố phá hoại nền hòa bình Nga(1). Tháng 6-2023, Nga đã thông báo triển khai vũ khi hạt nhân tại Bêlarút để sẵn sàng cho việc mở rộng cuộc chiến và có thể tấn công vào bất cứ đối tượng nào thách thức, đe dọa Nga(2).

Chưa khi nào kể từ bối cảnh căng thẳng của Chiến tranh Lạnh những năm 1960 đến nay, thế giới cần phải nhìn nhận, đánh giá lại về quá trình kiểm soát và giải trừ vũ khí hạt nhân, nghiêm túc triển khai các nỗ lực ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân. Việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi chiến tranh.

Thứ tư, nhân loại đang phải đối mặt với những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chủ nghĩa khủng bố và các lực lượng cực đoan lan rộng... Mặc dù những vấn đề an ninh nghiêm trọng này cần được giải quyết khẩn cấp thông qua hợp tác quốc tế, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tiềm năng và hiệu quả hợp tác của cộng đồng quốc tế đang mờ dần. Trong thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường, nếu các quốc gia chỉ chú trọng lợi ích trước mắt của mình, nhân loại sẽ phải tiếp tục trả giá đắt.

2. Xuất hiện tình trạng chia tách về an ninh - quân sự và kinh tế - công nghệ

Thứ nhất, cuộc khủng hoảng Ucraina đã khiến thế giới xuất hiện xu hướng hình thành trạng thái phân tuyến an ninh quân sự rõ ràng.

Ở châu Âu, NATO can dự sâu vào cuộc khủng hoảng và lợi dụng cuộc khủng hoảng để gia tăng số lượng thành viên. Ngày 18-5-2022, Thụy Điển, Phần Lan (nước có chung biên giới với Nga) chính thức gửi đơn xin gia nhập NATO, ngày 04-4-2023, Phần Lan gia nhập NATO(3). Việc này sẽ giúp NATO nâng cao mức độ liên kết của thể chế tác chiến liên minh, thay đổi phương thức can thiệp quân sự, xây dựng và hoàn thiện cơ chế hợp tác và phối hợp trong các lĩnh vực khác nhau, hình thành sự đồng thuận về tăng cường mạnh mẽ can thiệp quân sự. Thậm chí, Mỹ đã công bố phương án mở rộng NATO sang các khu vực khác để xây dựng một “NATO toàn cầu”.

Để đối phó với Mỹ và NATO, Nga - Trung Quốc gắn kết chặt chẽ, thúc đẩy liên kết bền chặt hơn với các đối tác thân thiết của mình, trước hết là Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), cùng các đối tác quan trọng khác như Iran, Pakixtan, Ápganixtan, Thổ Thĩ Kỳ, Xiri... hình thành dần liên minh chiến lược an ninh - quân sự mới.

Thứ hai, cùng với diễn biến xung đột Nga - Ucraina, Mỹ gia tăng vấn đề Đài Loan để củng cố đồng minh quân sự, tăng cường hợp tác quốc phòng với những nước đồng minh và đối tác khác ở châu Á - Thái Bình Dương. Trung Quốc và những quốc gia có tranh chấp chủ quyền biển như Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á có nguy cơ tạo điểm nóng mới. Tuy nhiên, những nước có tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Quốc, nhất là các nước Đông Nam Á cơ bản có sự hợp tác kinh tế chặt chẽ và mối quan hệ lịch sử, văn hóa lâu đời với Trung Quốc nên đã hạn chế nhất định xu thế hình thành trận tuyến về quân sự mới.

Thứ ba, cuộc khủng hoảng Ucraina khiến thế giới xuất hiện xu thế tăng cường đối đầu ý thức hệ Đông - Tây ngày một rõ ràng. Sự phân tuyến Đông - Tây được đánh giá đang trở lại mạnh mẽ. Trong kiềm chế chiến lược đối với Trung Quốc, Mỹ khoét sâu hố ngăn cách ý thức hệ và con đường phát triển giữa các nước phát triển phương Tây với những quốc gia như Trung Quốc. Đến thời điểm này, có thể khẳng định phân tuyến Đông - Tây dù chưa được truyền thông quốc tế nhắc đến nhiều nhưng đang dần trở thành xu thế đối kháng toàn diện, phân tuyến sâu sắc, cạnh tranh quyết liệt, lâu dài, có thể hướng đến xung đột toàn diện các lĩnh vực (không loại trừ xung đột quân sự).

3. Kinh tế thế giới ngày càng trì trệ và đứng trước nguy cơ suy thoái

Thứ nhất, dưới tác động của nhiều yếu tố như đại dịch Covid-19, cuộc khủng hoảng Ucraina, chính sách tài khóa và tiền tệ của các quốc gia..., nền kinh tế thế giới nhanh chóng rơi vào đình trệ, lạm phát trong năm 2022.

Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh, thế giới phải đối mặt với cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái những năm 1930, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế của toàn cầu giảm xuống còn -3%, trong đó ở các nước phát triển là -4,4%, các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển là -1,9%(4).

Năm 2021, thế giới có sự phục hồi mạnh mẽ nhất sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đạt 6%, trong đó các nền kinh tế phát triển đạt 5,2%, các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển đạt 6,6%. Đến quý IV-2021, trong bối cảnh nhiều quốc gia thực thi chính sách tài khóa và tiền tệ siêu nới lỏng, mặc dù nền kinh tế được phục hồi đã kích thích nhu cầu mở rộng, nhưng không thể khắc phục kịp thời sự đứt gãy chuỗi cung ứng do dịch bệnh gây ra, thị trường xuất hiện tình trạng cung không đủ cầu nghiêm trọng, dấu hiệu lạm phát bắt đầu xuất hiện. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Mỹ, Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) và Anh lần lượt đạt 6,7%, 4,6% và 4,9%(5). Chính phủ các nước chưa thực sự quan tâm đến dấu hiệu lạm phát mới xuất hiện, nên đã bỏ lỡ cơ hội để đưa ra các biện pháp kiểm soát.

Cuộc xung đột Nga - Ucraina nổ ra vào tháng 2-2022 đã giáng một đòn nặng nề hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến mặt bằng giá cả toàn cầu tăng nhanh và liên tục lập mức cao mới. Động thái liên tục tăng lãi suất của FED và làn sóng tăng lãi suất trên toàn cầu(6) không có tác dụng kiềm chế lạm phát nhanh chóng, mà lại gây ra tác động nghiêm trọng đến sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) liên tiếp hạ dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2023(7). Dự báo mới nhất được công bố vào tháng 11-2022, tốc độ tăng trưởng toàn cầu năm 2023 ở mức 2,7%. Trong đó, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển đạt 2,4%, các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển đạt 3,7%, các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển ở châu Âu thậm chí bằng 0%. Nếu cuộc chiến Ucraina không được giải quyết, năm 2024, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của toàn cầu sẽ tiếp tục giảm xuống còn 2,5%, trong đó tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển chỉ đạt 1,1%.

Thứ hai, triển vọng kinh tế toàn cầu khó thoát khỏi tình trạng đình trệ do nhiều nguyên nhân:

(1) Không có nhiều dư địa để thực hiện chính sách vĩ mô điều tiết kinh tế cho các nước, kể cả những nước có nguồn lực tốt do sau những đợt tăng lãi suất liên tiếp, dư địa cho chính sách tiền tệ đã rất hạn hẹp; bản thân việc tăng lãi suất là “con dao hai lưỡi”, ngay cả khi có thể có tác dụng nhất định trong việc kiềm chế vật giá leo thang, thì cái giá phải trả do sự tác động nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế vẫn rất cao; Mỹ và phương Tây tăng lãi suất đã tác động nghiêm trọng đến kinh tế toàn cầu, đặc biệt là các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển(8).

(2) Dịch bệnh vẫn tiếp tục gây ra tác động đối với chuỗi cung ứng và các hoạt động kinh tế xã hội toàn cầu.

(3) Tác động địa chính trị từ cuộc khủng hoảng Ucraina khiến Mỹ và phương Tây thực hiện các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga và Nga cũng thực hiện các biện pháp đáp trả, cũng như việc Mỹ dựa vào đồng minh của mình để thực hiện sự tách rời với Trung Quốc sẽ tiếp tục tiếp diễn, từ đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi cung ứng và hoạt động kinh tế toàn cầu.

Cuối cùng, sự phối hợp quốc tế sẽ trở nên khó khăn hơn. Không chỉ các cơ chế quản trị đa phương như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và IMF vẫn chưa thể phát huy vai trò của nó; cơ chế G20 từng thể hiện tốt vai trò điều phối quốc tế sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cũng đang ngày càng bộc lộ những dấu hiệu của sự mệt mỏi.

Thứ ba, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu trì trệ, lạm phát, một số vấn đề kinh tế - xã hội sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và cần được quan tâm giải quyết. Trước tiên, sự phân hóa kinh tế toàn cầu ngày càng nghiêm trọng. Trong nội bộ các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, cuộc khủng hoảng lương thực, khủng hoảng năng lượng, tăng lãi suất ở Mỹ và phương Tây, xung đột địa chính trị đã gây ra những hậu quả tiêu cực đối với các nền kinh tế, khiến nền kinh tế bị phân hóa ngày càng nghiêm trọng. Vấn đề quản trị toàn cầu đã trở nên nghiêm trọng hơn.

Xu hướng phân hóa của nền kinh tế toàn cầu khiến việc điều phối kinh tế quốc tế trở nên khó khăn hơn, khủng hoảng năng lượng và lương thực lan rộng, gánh nặng nợ ngày càng tăng đã cản trở nghiêm trọng việc quản trị môi trường và hợp tác xóa đói giảm nghèo trên toàn cầu. Trước đây, khi đề cập đến cuộc sống nghèo khó, dường như đó chỉ là vấn đề của các nước nghèo, nhưng hiện nay ngày càng có nhiều quốc gia phát triển ở châu Âu và Mỹ cũng phải đối mặt với vấn đề đói nghèo.

Thứ tư, xét từ góc độ quy luật lịch sử, tăng trưởng kinh tế thế giới cứ sau 20-30 năm sẽ trải qua một lần điều chỉnh lớn, cứ sau khoảng 10 năm sẽ diễn ra điều chỉnh quy mô trung bình và hiện đang ở điểm cuối của đợt điều chỉnh lớn. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên cơ sở những nước phát triển phương Tây chiếm địa vị chủ đạo trong nền kinh tế thế giới, Nhóm các nền công nghiệp phát triển (G7) đã đóng vai trò lớn trong việc phối hợp, dẫn dắt sự phát triển của kinh tế thế giới. Cùng với việc động lực chính của tăng trưởng kinh tế thế giới chuyển sang nhóm các nước đang phát triển, việc chỉ dựa vào G7 là không hiệu quả. Sau khi G20 được thành lập, việc quản trị kinh tế thế giới bước sang giai đoạn mới và vai trò của các nước đang phát triển tăng lên.

Tuy nhiên, với sự quay trở lại của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Mỹ đã chuyển từ “Nước Mỹ trước tiên”(9) (hay “Nước Mỹ trên hết”) sang cạnh tranh chiến lược toàn diện với Trung Quốc, chính trị hóa và chiến lược hóa vấn đề kinh tế, làm suy yếu năng lực cùng quản trị hợp tác toàn cầu. Đặc biệt là thế giới đang phải đối mặt với thách thức nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, liên quan đến vấn đề thay đổi căn bản mô hình phát triển truyền thống, khiến cho việc điều chỉnh phát triển kinh tế thế giới trở nên phức tạp và khó khăn hơn.

Trong bối cảnh đó, kinh tế thế giới có thể bước vào thời kỳ tăng trưởng chậm trong một thời gian tương đối dài, đồng thời với đó là xung đột địa chính trị gay gắt, cạnh tranh chiến lược quyết liệt giữa các nước lớn, vấn đề xuyên quốc gia nổi cộm... Sự phát triển của Trung Quốc cũng bước sang một giai đoạn mới, tăng trưởng chậm lại, đi vào chiều sâu, cần có những điều chỉnh lớn, phần lớn dựa vào nhu cầu trong nước và đổi mới công nghệ.  

Thứ năm, báo cáo thương mại toàn cầu do WTO công bố ngày 17-6-2022 cho thấy, nền kinh tế toàn cầu trong thời gian đến năm 2025 chịu nhiều cú sốc. Tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu trong năm 2022 không mấy khởi sắc, lượng thương mại hàng hóa toàn cầu trong cả năm chỉ tăng 3,5%, cao hơn so với mức dự đoán 3,0% vào tháng 4-2022 nhưng không như mong đợi của thế giới. WTO dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu trong năm 2023 có thể chậm lại ở mức 1%, thấp hơn nhiều so với mức dự báo 3,4% năm trước đó(10). Do phải đối mặt với nhiều cú sốc, nên thương mại quốc tế đã có một số thay đổi quan trọng hoặc mang tính chuyển đổi, những thay đổi này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến môi trường thương mại quốc tế và chính sách thương mại của các nước.

Một số thay đổi quan trọng

Cùng với những thay đổi nhanh chóng về điều kiện thương mại, môi trường thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như tác động của đổi mới công nghệ đối với thương mại truyền thống, lý thuyết thương mại quốc tế hiện tại tương đối tụt hậu, cần có sự đổi mới và phát triển. Khi Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) có hiệu lực vào năm 1948, các bên ký kết đã đạt được đồng thuận cao về thúc đẩy tự do hóa và đa phương hóa thương mại.

Sau khi WTO được thành lập năm 1995, sự đồng thuận này vẫn tiếp tục duy trì và thêm vào một số nội dung ủng hộ phát triển bền vững như bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc xây dựng đồng thuận đa phương trong khuôn khổ WTO ngày càng trở nên khó khăn. Chính sách thương mại của một số nền kinh tế lớn cũng đã có sự điều chỉnh lớn, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế năm 2008, chính sách thương mại của một số nước có xu hướng bảo hộ rõ rệt, đặc biệt là nhận thức của người dân ở các nền kinh tế phát triển về toàn cầu hóa và tự do thương mại có sự thay đổi đáng kể, mối quan tâm chính của họ là tác động của thương mại tự do đối với việc làm và phúc lợi quốc gia. Do đó, tiến trình thúc đẩy mở cửa thương mại bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Về hợp tác và phát triển thương mại, các nền kinh tế lớn đã dần chuyển từ hợp tác thương mại sang cạnh tranh - hợp tác thương mại, thậm chí một số nền kinh tế chuyển từ cạnh tranh thông thường sang cạnh tranh toàn diện hoặc cạnh tranh chiến lược. Trong nhiều thời điểm, chính trị hóa thương mại đang leo thang trên toàn cầu và cân nhắc về địa chiến lược thường được đặt lên trên cân nhắc về lợi thế so sánh thương mại, từ đó ảnh hưởng đến xu hướng đa phương hóa và toàn cầu hóa thương mại.

Hiện nay, nhiều nước đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề kinh tế và mâu thuẫn xã hội. Chính sách thương mại phục vụ cho quản trị trong nước và nền kinh tế trong nước cũng tác động đáng kể đến việc lựa chọn chính sách thương mại quốc gia. Trong bối cảnh đại dịch thế kỷ, bảo đảm việc làm là ưu tiên hàng đầu của hầu hết chính phủ các quốc gia, trong thời gian tới, sức ép việc làm sẽ có tác động không thể xem thường đối với chính sách thương mại. Ngoài ra, chính phủ nhiều nước cũng can thiệp sâu trở lại vào thương mại và đầu tư.

Sự phát triển của công nghệ tiếp tục ảnh hưởng đến các lựa chọn chính sách thương mại. Thí dụ, trí tuệ nhân tạo có tác động sâu sắc đến quy mô, phương hướng và kết cấu của thương mại quốc tế. Đối với ngành sản xuất, trí tuệ nhân tạo trong ngắn hạn sẽ làm giảm số lượng việc làm trong ngành sản xuất truyền thống, nhưng về dài hạn cũng mang lại cơ hội việc làm mới, điều này sẽ có tác động mang tính chuyển đổi về kinh tế và xã hội đối với sự phục hồi, phát triển của ngành sản xuất và tiến trình công nghiệp hóa kiểu mới ở nhiều quốc gia. Hiệu ứng lan tỏa của cạnh tranh thương mại Trung Quốc - Mỹ cũng đang đạt dần đến ngưỡng gay gắt và đối kháng. Việc ngành sản xuất có hàm lượng công nghệ cao bị ảnh hưởng tương đối rõ rệt, cùng với việc chuỗi cung ứng toàn cầu được điều chỉnh và tái cấu trúc, sẽ thúc đẩy việc điều chỉnh và chuyển đổi mô hình chính sách thương mại, chính sách sản xuất của các nước, từ đó ảnh hưởng hơn nữa đến sự phân công sản xuất quốc tế và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, tác động đến lộ trình của các quốc gia tham gia mạng lưới thương mại toàn cầu.

Nhìn chung, trong thời gian tới, toàn cảnh cục diện thế giới có thể sẽ thay đổi mạnh mẽ, đòi hỏi các quốc gia nhạy bén, linh hoạt hơn trong một thế giới đầy biến động để phát triển bền vững.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 547 (tháng 9-2023)

Ngày nhận: 09-8-2023; Ngày bình duyệt: 04-9-2023; Ngày duyệt đăng: 14-9-2023.

(1) Jack Walters (2023): World War 3 fears: Russia threatens NUCLEAR attack after Vladimir Putin ‘assassination attempt’, https://www.gbnews.com/news/world-war-3-nuclear-russia-ukraine-kremlin-attack, truy cập ngày 20-7-2023.

(2) Euronew (2023): Putin says Russian tactical nuclear weapons to be deployed to Belarus next month, https://www.euronews.com/2023/06/09/putin-says-russian-tactical-nuclear-weapons-to-be-deployed-to-belarus-next-month, truy cập ngày 20-7-2023.

(3) North Atlantic Treaty Organization (2023), Finland joins NATO as 31st Ally, https://www.nato.int/cps/en/natohq/news_213448.htm, truy cập ngày 20-7-2023.

(4), (5), (7) https://www.imf.org/en/Data.

(6), (8) Benamin Curry (2023): What Happens When The Fed Raises Interest Rates?, https://www.forbes.com/advisor/investing/fed-raises-interest-rates/, truy cập ngày 20-7-2023.

(9) https://americafirstpolicy.com/.

(10) https://fta.moit.gov.vn/.

Đạo đức của Đảng, các yếu tố tác động và giải pháp bảo vệ, hoàn thiện.

 Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, được Đảng ta đề cao, thường xuyên quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Bài viết làm rõ các yếu tố tác động đến đạo đức của Đảng; đề xuất một số giải pháp bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng theo yêu cầu phát triển của thời đại. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia mã số KX.02.11/21 - 25.

 


 

Đạo đức của Đảng, các yếu tố tác động và giải pháp bảo vệ, hoàn thiện

Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh_Ảnh: dangcongsan.vn

1. Mở đầu

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức cách mạng. Đó là các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Đảng và đảng viên có tính lan tỏa, định hướng đạo đức xã hội nhằm thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng; được thấm sâu trong chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng và chính trị, tư tưởng, tổ chức phải được thực hiện, điều chỉnh một cách có đạo đức, hòa quyện một cách tự nhiên vào đạo đức. Đạo đức đó được thể hiện qua tổ chức đảng và cá nhân thành viên của Đảng (đảng viên).

2. Khái quát về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam

Về phương diện đạo đức của tổ chức: Các chuẩn mực cơ bản thể hiện đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định ngay trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết; trong tổ chức, hoạt động lãnh đạo cách mạng và kết quả trong thực tiễn của Đảng. Đó là:

Thứ nhất, về bản chất, mục đích, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ khi thành lập đến nay, Điều lệ Đảng luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.

Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”. “Đảng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới”. Đây là những vấn đề có tính cốt lõi về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân, của quốc gia, của dân tộc, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào khác. Điều đó không chỉ nằm ở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng mà được Đảng ta hiện thực hóa trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, về nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”.

Nền tảng tư tưởng đó không chỉ khẳng định bản chất giai cấp công nhân, mà còn là đạo đức, văn minh của Đảng ta. Trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với đặc điểm chính trị, văn hóa - xã hội và kinh tế Việt Nam từng giai đoạn lịch sử cách mạng; truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc được phát huy, Đảng ta đã có những đường lối, chủ trương cũng như phương pháp lãnh đạo đúng dắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác với mục tiêu hướng tới là tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, của dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân; độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ ba, tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động; kỷ luật nghiêm minh, luôn tự phê bình và phê bình trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật Nhà nước để xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, xây dựng tình thương yêu đồng chí, đồng bào

Đảng được tổ chức chặt chẽ, khoa học theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đảng viên có ý khác được bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết, cấp ủy các cấp không được phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến khác. Những nguyên tắc đó đã làm cho Đảng ta có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, có kỷ cương mà rất dân chủ, phát huy được trí tuệ tập thể và vai trò cá nhân; tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, đoàn kết vì mục đích chung, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài; phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ từ nội bộ Đảng. Đó cũng là đạo đức, văn minh trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta.

Kỷ luật nghiêm minh theo nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật Nhà nước đã tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, là yếu tố quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình sẽ loại bỏ được tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, tự cao, tự đại; phòng ngừa vi phạm khuyết điểm của bản thân mình và đồng chí mình; xây dựng, củng cố tình thương yêu đồng chí; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ngày càng hoàn thiện đạo đức cách mạng, từ đó lan tỏa tạo ra đoàn kết, đồng thuận trong xã hội, làm nòng cốt cho việc phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc. Chính vì vậy, Đảng ta có uy tín cao trong nhân dân, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối, một lòng, một dạ theo Đảng.

Thứ tư, gần dân, quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; lấy nhân dân làm trung tâm của mọi chủ trương, chính sách; tin tưởng nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Đây là đặc điểm nổi bật, quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc điểm này tiếp tục khẳng định lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân; Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị “chí công vô tư”, tổ chức, hoạt động của Đảng là vì nhân dân; mọi quyết sách của Đảng đều xuất phát từ quyền lợi của quốc gia, dân tộc và của nhân dân. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mật thiết, máu thịt; Đảng lãnh đạo nhân dân và nhân dân là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng; Đảng luôn tồn tại trong lòng nhân dân, dù bất cứ hoàn cảnh nào thì “Có dân, có Đảng đêm ngày vẫn vui”. Đó không chỉ là công tác lãnh đạo phong trào nhân dân của Đảng ta mà còn là đạo đức, đó là coi nhân dân là gốc, mọi hoạt động của Đảng đều hướng tới phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mọi hoạt động của Đảng và của cán bộ, đảng viên được đánh giá trên cơ sở sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân; Đảng dựa vào dân và nhân dân tham gia giám sát để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức.

Thứ năm, nêu gương - phẩm chất mang đậm bản sắc của một đảng cách mạng chân chính và của đạo đức cách mạng

Nêu gương là phương pháp quan trọng, hiệu quả đối với sự hình thành đạo đức xã hội nói chung và đạo đức cách mạng nói riêng; đó không chỉ là phương thức lãnh đạo mà còn là “đạo đức, văn minh” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là hầu hết các cấp ủy, tổ chức đảng và phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nêu gương đi đầu trong phong trào cách mạng, thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, có sức lan tỏa trong toàn bộ hệ thống chính trị và trong xã hội, trong nhân dân. Khi cấp ủy, tổ chức đảng cũng như cán bộ, đảng viên là tấm gương sáng vì nước, vì dân, vì sự phát triển bền vững của đất nước, của cộng đồng xã hội thì sẽ lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ trong nhân dân; đồng thời làm cho chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cũng trong sạch, vững mạnh. Điều đó không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, mà còn làm cho nhân dân tin tưởng hơn vào tổ chức Đảng, tin tưởng hơn vào đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng, từ đó đồng lòng, đồng tâm, đồng sức cùng Đảng thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Về phương diện đạo đức đảng viên: Căn cứ Khoản 1, Điều 1 và Điều 2, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các quy định trong các văn bản hiện hành của Trung ương và các quy định của pháp luật, có thể rút ra những chuẩn mực đạo đức cơ bản của người đảng viên:

Một là, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành và suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Hai là, phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt bất cứ việc gì Đảng giao trong bất cứ hoàn cảnh nào; tận tụy, sáng tạo trong lao động, công tác; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; biết sai, biết sửa sai và quyết tâm sửa sai.

Ba là, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và nói không với cục bộ, bản vị ngay trong bản thân mình và với người khác; nói không và kiên quyết đấu tranh với những việc làm sai đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những tiêu cực khác phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, có lối sống lành mạnh; ứng xử văn hóa, văn minh trong công việc cũng như trong giao tiếp xã hội; gần gũi, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là trong những công việc, lĩnh vực mình được phân công phụ trách, giải quyết.

Năm là, gương mẫu đi đầu trong các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, trong chấp hành pháp luật, pháp quy của Nhà nước, nội quy, quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị. Chấp hành nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nêu gương.

Sáu là, nghiêm túc, khách quan, trung thực, cầu thị trong tự phê bình và phê bình; tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan, địa phương; thường xuyên “tự soi, tự sửa”, biết lỗi và biết khắc phục lỗi lầm; luôn có ý thức và hành động trong xây dựng mối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị và ở khu dân cư.

Đó là yêu cầu, tiêu chuẩn, nhiệm vụ và là những phẩm chất quan trọng, cốt lõi về đạo đức cách mạng của người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Có những phẩm chất đó, người cán bộ, đảng viên sẽ phòng tránh được nguy cơ chệch hướng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vững vàng trước mọi thử thách và những cám dỗ của danh vọng, tiền tài. Người đảng viên sẽ thực sự là tiên phong, là hạt nhân dẫn dắt để “làng nước đi theo”; góp phần rất to lớn trong việc xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng, để Đảng thực hiện hoàn thành sứ mệnh của mình.

Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng với chuẩn mực đạo đức của đảng viên

Chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng là bao trùm, là cái chung định hướng cho mọi hoạt động mà mỗi đảng viên của Đảng cần nhận thức và nghiêm túc thực hiện. Ngược lại, chuẩn mực đạo đức của đảng viên có vai trò to lớn, quan trọng quyết định đạo đức của tổ chức đảng. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên không tách rời đạo đức của tổ chức đảng. Đạo đức của tổ chức đảng cũng chính là chuẩn mực chung được thể hiện qua thái độ, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng có trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức hay không phần lớn do việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức có vai trò quan trọng tác động đến ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện tốt, hiệu quả các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức thì Đảng là “đạo đức, văn minh”.

3. Các thành tố tạo nên đạo đức của Đảng

Thứ nhất, bản lĩnh chính trị

Bản lĩnh chính trị thể hiện qua sự kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành đạo đức chính trị của Đảng. Kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, trung thành với tôn chỉ, mục đích lý tưởng đặt ra; tránh được những sai lầm, chệch hướng về đường lối chính trị. Bài học quý báu trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đó là, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, đặc điểm từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những thành tựu vẻ vang của dân tộc, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Không kiên định với nền tảng tư tưởng, không trung thành với tôn chỉ, mục đích sẽ dẫn đến nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị, xa rời mục đích lý tưởng. Điều này được minh chứng rõ qua sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có những cán bộ ngả nghiêng, dao động, bên cạnh đó là chiêu bài đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp cũng đã tác động tới tâm tư của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, thậm chí gây ra sự hoài nghi đối với đường lối lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đạo đức của Đảng ta. Tại thời điểm những biến cố lịch sử xảy ra, Đảng ta vẫn vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi chông gai, thử thách; thực hiện từng bước, có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tiếp tục đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan, hợp lòng dân, vững vàng tiến bước trên con đường cách mạng XHCN với những bước đi vững chắc, thu được nhiều thành quả vẻ vang, được thế giới ghi nhận.

Thứ hai, sự tuân thủ nguyên tắc tổ chức, hoạt động và kỷ luật của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ với kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Đây là nguyên tắc cơ bản của đảng cộng sản nói chung và của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Đó là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng ta trở thành một tổ chức chính trị chặt chẽ để phát huy thế mạnh, năng lực, trí tuệ của mỗi đảng viên tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng. Nguyên tắc này chỉ đạo toàn bộ và xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng. Xa rời hoặc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là vi phạm một trong những vấn đề cốt lõi, bản chất của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm suy yếu vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, làm giảm sút uy tín của Đảng trong nhân dân. “Không thể có một đảng cách mạng chân chính nào mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì Đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, Đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu”(1). Do vậy, việc tuân thủ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” khi và chỉ khi nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng được thực hiện nghiêm túc; kỷ luật của Đảng được nghiêm minh.

Thứ ba, thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng

Nói đến sự lãnh đạo của Đảng là nói đến vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng trong định hướng, dẫn dắt, thuyết phục nhân dân và các lực lượng xã hội đi theo Đảng và thực hiện mục đích, lý tưởng của Đảng. Sự lãnh đạo đó không phải là sự cưỡng bức, bắt buộc mà thông qua việc xác định đường lối, chủ trương phù hợp nguyên vọng đại đa số nhân dân và thông qua tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên để lôi cuốn, hấp dẫn họ.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội bằng năm phương thức chủ yếu là: “1) Bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng lớn về chính sách và chủ trương lớn; 2) Bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; 3) Bằng công tác tổ chức, cán bộ và thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị; 4) Bằng công tác kiểm tra, giám sát; 5) Bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(2).

Thực hiện tốt, có hiệu quả các phương thức đó không chỉ đem đến việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra, mà còn là thực hiện chuẩn mực đạo đức của Đảng. Khi các chủ trương, nghị quyết của Đảng được xây dựng sát thực tiễn, dân chủ, phù hợp quy luật khách quan; nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng, của tập thể và cá nhân được xác định rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm; công tác thông tin, tuyên truyền được thực hiện tốt, định hướng được nhân dân, phát huy được vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân nhân; cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý, người đứng đầu các cấp; công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, sâu sát thì mục tiêu chính trị của Đảng sẽ được thực hiện thành công, hiệu quả. Ngược lại, nếu các phương thức lãnh đạo đó không được thực hiện tốt thì không chỉ niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ bị giảm sút, mà cũng sẽ dẫn tới sự hoài nghi của cán bộ, đảng viên, là cơ hội cho những kẻ thoái hóa, biến chất trong Đảng trỗi dậy, làm suy đồi đạo đức của Đảng.

4. Các yếu tố tác động đến đạo đức của Đảng

Thứ nhất, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị

Chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị là yếu tố ảnh hưởng xấu, không chỉ làm băng hoại đạo đức của cá nhân cán bộ, đảng viên mà còn làm suy yếu đạo đức của Đảng. Chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị thường có những biểu hiện cơ bản là: Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân; tham vọng quyền lực, địa vị, thành tích. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể; kén chọn chức danh, vị trí công tác; không tận tâm, tận lực với công việc chung, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Thoái thác trách nhiệm; thành tích thì nhận vào, lỗi lầm thì chối bỏ; thiếu trung thực về các khuyết điểm, sai phạm. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không dám bảo vệ”, “thấy sai không dám đấu tranh”; thiếu trung thực trong tự phê bình và phê bình, thậm chí lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau nhằm mưu cầu lợi ích cho mình. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham nhũng, nhận hối lộ; để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt công quỹ, tạo bè phái gây mất đoàn kết nội bộ. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Những biểu hiện nêu trên của cán bộ, đảng viên chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ảnh hưởng xấu đến đạo đức và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin, hội nhập văn hóa

Kinh tế thị trường là sản phẩm, thành quả của nhân loại. Bên cạnh những mặt tích cực, ưu điểm thì kinh tế thị trường cũng có những mặt trái của nó là dễ phá vỡ sự cân đối nền sản xuất xã hội; tạo sự cạnh tranh khốc liệt, độc quyền, buôn bán gian lận, lừa đảo, phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp... là một trong những nguyên nhân chính làm băng hoại đạo đức, lối sống, nhân cách con người trong xã hội.

Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên có tính quyết đoán, năng động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm; đồng thời, là điều kiện thuận lợi để mỗi người rèn luyện, hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, lối sống mới tốt đẹp; các năng lực tiềm ẩn trong nhân dân được giải phóng, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện từng bước. Qua đó, niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào sự nghiệp đổi mới được củng cố. Đó là điều kiện tốt để chúng ta xây dựng, củng cố, phát triển nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng đã gây ra những tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của đội ngũ cán bộ, đảng viên; phân hóa giàu nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội; nảy sinh những tệ nạn tham nhũng, tội phạm, bạo lực; kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý. Những vấn đề đó đã làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến đạo đức của Đảng ta.

Công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển đã đem đến nhiều lợi ích trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng đã trở thành môi trường để các thế lực thù địch ra sức truyền bá luận điệu sai trái, thông tin xấu độc, phát ngôn gây thù hận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, âm mưu xóa bỏ chế độ XHCN. Một số người lợi dụng mạng xã hội để thoả mãn cái tôi cá nhân, gây sự chú ý của cộng đồng, cố tình làm cho thông tin bị nhiễu loạn, thật giả lẫn lộn... ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Những vấn đề đó làm cho người sử dụng mạng xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên dễ sinh ra hoài nghi, giảm sút niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, dẫn đến suy thoái tư tưởng chính trị, đi ngược lại lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân.  

Hội nhập quốc tế về văn hóa cũng được Đảng ta coi trọng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Truyền thống văn hóa của dân tộc được phát huy, lan tỏa, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xây dựng ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, hội nhập về văn hóa cũng có nhiều vấn đề phức tạp, đó là sự du nhập của những văn hóa ngoại lai không lành mạnh, sự non kém trong quản lý hoạt động văn hóa và trong hội nhập văn hóa dẫn đến tình trạng xuống cấp về văn hóa, đạo đức, sự thiếu tôn trọng các chuẩn mực xã hội... Một số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêng liêng vốn có vị trí quan trọng trong hệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta có nguy cơ bị mai một và tha hóa; lối sống tình nghĩa, tương thân, tương ái bị suy giảm; lối sống hẹp hòi, ích kỷ... có xu hướng gia tăng; nhiều giá trị và phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp bị coi nhẹ. Những điều kể trên dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo đức và lối sống.

Thứ ba, sự chống phá của các thế lực thù địch

Một trong những trọng tâm mà các thế lực thù địch hướng vào chống phá công cuộc xây dựng đất nước theo con đường CNXH của Việt Nam là tìm mọi cách cổ xúy, truyền bá văn hóa, đạo đức, lối sống độc hại phương Tây để làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng tốt đẹp của Việt Nam. Gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động nhằm tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; gieo rắc lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, thích hưởng lạc, sa đọa, phi nhân tính. Xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh tụ và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước để gây hoang mang trong dư luận xã hội hòng hạ bệ uy tín đạo đức của cán bộ lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, thái độ, hiệu quả học tập, rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng viên và công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống mà được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên và qua công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức. Việc mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên có ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của người đảng viên, chấp hành tốt các quy định về nêu gương là góp phần quan trọng xây dựng, bảo vệ đạo đức của Đảng. Ngược lại, sẽ làm tổn hại thanh danh, đạo đức của Đảng. Thực tế hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, có hành vi tham nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền, chạy chức, chạy quyền đã và đang làm hoen ố thanh danh, đạo đức của Đảng.

Công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng về xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên có vị trí hết sức quan trọng. Khi công tác giáo dục được thực hiện hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì vừa phát huy tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong học tập, rèn luyện, đồng thời kịp thời phát hiện, uốn nắn những lệch lạc để việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên hiệu quả hơn, thực chất hơn.

5. Một số giải pháp cơ bản bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp, khó lường; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số; trước yêu cầu của hội nhập quốc tế sâu rộng; các nguy cơ Đảng ta chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn thì công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nói chung, xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” nói riêng là hết sức cần thiết, cấp bách. Trong đó, công tác xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của Đảng có vai trò quan trọng. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, các cấp uỷ, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Các cấp ủy, tổ chức đảng có kế hoạch cụ thể, thường xuyên giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đảng viên, nhất là làm cho đảng viên nắm được những vấn đề cốt lõi về đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, từng cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, tìm hiểu, nghiên cứu, học tập chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để củng cố bản lĩnh chính trị, kiên định, vững vàng, không dao động trước bất kỳ hoàn cảnh nào hay trước bất kỳ hành động chống phá nào của các thế lực thù địch.

Hai là, xây dựng, củng cố tổ chức đảng vững mạnh, chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh; mỗi cán bộ, đảng viên thực sự coi trọng, tự giác trong xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, xây dựng đoàn kết, nhất trí trong Đảng. Tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng và các quy định của pháp luật. Thường xuyên tự phê bình và phê bình với tinh thần cầu thị, “tự soi, tự sửa”, dũng cảm nhận sai lầm và kiên quyết khắc phục, sửa chữa lỗi lầm và với tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, xây dựng đoàn kết, nhất trí trong Đảng để lan toả ra toàn xã hội.

Ba là, xây dựng Đảng thực sự là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở phải đổi mới mạnh mẽ phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động để đạt hiệu quả thực chất trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng như trong quản lý, rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên; gắn bó mật thiết với nhân dân, cầu thị tiếp thu ý kiến của nhân dân về các hoạt động của Đảng và đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành phải thường xuyên quán triệt, tự giác thực hiện nghiêm túc các quy định về nêu gương. Định kỳ 6 tháng cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu và 1 năm đối với đảng viên cần phải được kiểm điểm trước chi bộ về kết quả thực hiện nêu gương theo quy định và theo chức trách của mình.

Bốn là, ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị trong cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự hiểu rõ, thấm nhuần và kiên quyết, kiên trì thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nói đi đôi với làm; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với mọi khó khăn, thử thách vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích của nhân dân. Đồng thời, cấp ủy đảng cũng cần có giải pháp để từng cá nhân phát triển mọi khả năng sáng tạo của mình, hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng; quan tâm tới lợi ích cá nhân nhưng kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đấu tranh không khoan nhượng và kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lộng hành, thao túng, chủ nghĩa phường hội, lợi ích nhóm, cục bộ, bản vị, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng.

Năm là, nâng cao cảnh giác cho cán bộ, đảng viên trước các âm mưu chống phá của thế lực thù địch; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan mà phải đưa thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, từ đó lan tỏa trong nhân dân, tạo thành phong trào tự giác bài trừ tư tưởng, hành động chống phá của thế lực thù địch.

Sáu là, thực hiện thường xuyên, có hiệu quả công tác rà soát, phân loại, đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng; thông tin kịp thời đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông tin thời sự và những vấn đề khác cần thiết cho đảng viên thông qua sinh hoạt chi bộ thường kỳ, chuyên đề, đột xuất. Chấn chỉnh công tác kết nạp đảng viên mới để bảo đảm chất lượng (thà ít mà tốt).

Bảy là, thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng. Các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên học tập, tu dưỡng, rèn luyện, thực hành các chuẩn mực đạo đức của Đảng. Cấp uỷ cấp trên thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới trong công tác triển khai, tổ chức thực hiện. Có giải pháp phù hợp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong giám sát hoạt động của Đảng và của cán bộ, đảng viên; đồng thời tôn trọng, cầu thị, công tâm, khách quan trong tiếp thu, xử lý các ý kiến góp ý.

6. Kết luận

Việc bảo vệ, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của Đảng là hết sức quan trọng. Xây dựng Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì vai trò, uy tín của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền được nâng cao; Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo, là ngọn cờ thiêng liêng của dân tộc ta để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phồn vinh, hạnh phúc; uy tín của Đảng ta trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ và góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình trên toàn thế giới.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 552 (tháng 2-2024)

Ngày nhận bài: 16-01-2024; Ngày bình duyệt: 24-02-2024; Ngày duyệt đăng: 27-02-2024.

(1) Đỗ Xuân Tuất: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày đăng: 17-11-2022.

(2) Trần Khắc Việt: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, http://lyluanchinhtri.vn, ngày đăng: 25-3-2022.