Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VIỆT TÂN VỀ VIỆC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

 


Sáng ngày 31/10, tại phiên thảo luận tổ ở Quốc hội, góp ý xây dựng dự thảo Nghị quyết thí điểm chính quyền đô thị tại TP Hải Phòng và việc thành lập TP Huế trực thuộc Trung ương; Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra ý kiến về bộ máy nhà nước hiện nay quá cồng kềnh, kìm hãm sự phát triển, tới đây sẽ tiếp tục tinh gọn hiệu quả. Ngay lập tức thông qua nhận định này, trên trang cá nhân của Việt tân đăng tải dòng trạng thái xuyên tạc, bịa đặt hòng bôi nhọ và chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Phát biểu ý kiến thảo luận ở tổ, Tổng Bí thư Tô Lâm Tổng Bí thư nhấn mạnh, từ Đại hội XII, nghị quyết của Trung ương đã đánh giá bộ máy nhà nước cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả, phải sắp xếp, tinh gọn. Dẫn chứng ngân sách đang chi khoảng gần 70% để trả lương, chi thường xuyên, phục vụ cho hoạt động, Tổng Bí thư cho rằng nếu điều hành ngân sách như vậy sẽ không còn tiền chi cho đầu tư phát triển. Hiện nay mới sáp nhập từ dưới lên như xã, huyện còn tỉnh chưa làm; mới thực hiện sắp xếp ở một số vụ, cục, tổng cục của bộ, ngành còn Trung ương chưa làm, đây là vấn đề rất lớn, sắp tới phải bàn. Trung ương, các ban của Đảng, Quốc hội, Chính phủ phải gương mẫu. “Không tinh gọn bộ máy không phát triển được”.

Nhân cơ hội này, Việt tân tiếp tục bới móc, chọc ngoáy, xuyên tạc chủ trương của Đảng về tinh gọn bộ máy Nhà nước hòng bôi nhọ và chống phá Đảng ta. Chúng cho rằng, tiền của nhân dân là để nuôi bộ máy cồng kềnh của Chính phủ, chứ không phải để xây dựng đất nước. Đây là một quan điểm phiến diện và thiếu hiểu biết của Việt tân về việc sử dụng “tiền của dân”.

Thuế là một nguồn thu quan trọng giúp Nhà nước có nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế và vào các lĩnh vực quan trọng khác như giáo dục, y tế, giao thông, bảo vệ môi trường, … Những lĩnh vực này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và cơ hội phát triển của người dân. Các khoản ngân sách từ thuế được dành cho các bệnh viện công, trường học và các chính sách bảo trợ xã hội nhằm hỗ trợ người nghèo, người yếu thế và người lao động. Đây là những minh chứng rõ ràng cho việc sử dụng nguồn thuế đúng mục đích và hợp lý. Thực tế, nhiều người dân, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn, đã được hưởng lợi từ các chương trình hỗ trợ về y tế, giáo dục và an sinh xã hội do ngân sách nhà nước tài trợ.

Một phần ngân sách từ thuế được dành cho việc đảm bảo quốc phòng và an ninh – yếu tố quan trọng để bảo vệ đất nước và giữ gìn môi trường ổn định cho người dân làm ăn, sinh sống. Chi phí cho quốc phòng không chỉ là bảo vệ lãnh thổ mà còn là bảo vệ lợi ích của nhân dân trước các mối đe dọa, cả từ trong và ngoài nước, từ đó tạo nên môi trường an toàn cho người dân làm ăn, sinh sống và phát triển. Việc đóng thuế không chỉ là nghĩa vụ mà còn là sự đóng góp của mỗi cá nhân, tổ chức vào sự phát triển của xã hội, để mọi người được hưởng các dịch vụ và tiện ích công cộng. Việc chỉ trích rằng “tiền của nhân dân là để nuôi các bộ máy cồng kềnh của Chính phủ” là thiếu cơ sở.

Để bảo đảm tính pháp lý, sử dụng ngân sách Nhà nước có hiệu quả, Nhà nước đã quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Tài chính… cũng như các bộ, ban, ngành trong thực hiện công tác chi ngân sách Nhà nước, mức chi ngân sách Nhà nước; lộ trình, quy định, thời gian quyết toán ngân sách Nhà nước… rất công khai, minh bạch, có căn cứ, cơ sở rõ ràng… không có chuyện ai muốn chi gì và ai muốn đề xuất chi như thế nào là được như thế, tất cả phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải theo quy định của pháp luật.

Hơn nữa, Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp mạnh mẽ nhằm cải cách hành chính, giảm bớt biên chế và tinh gọn bộ máy. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách mà còn nâng cao hiệu quả làm việc của bộ máy công quyền, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Những cải cách này là minh chứng cho thấy Chính phủ đang từng bước tối ưu hóa và sử dụng ngân sách một cách hiệu quả. Do đó, những quan điểm cho rằng bộ máy nhà nước cồng kềnh và tiêu tốn tiền thuế của dân là không phù hợp với thực tế và không nhìn nhận sự tiến bộ của hệ thống hành chính hiện nay.

Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, khi tiếp cận những thông tin trên mạng internet, mạng xã hội nói chung, thông tin về chi ngân sách Nhà nước nói riêng, hãy nêu cao tinh thần cảnh giác, biết chọn lọc thông tin, chủ động, tích cực đấu tranh, phản bác với những thông tin xấu độc… để qua đó góp phần bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân dân; hãy tin tưởng vào chính sách và đường lối của Đảng, Nhà nước ta.

SỰ KIỆN LỊCH SỬ NGÀY NÀY NĂM XƯA

 


 Cách đây 78 năm, Ngày 05/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo văn kiện quan trọng “Công việc khẩn cấp bây giờ” trong đó xác định hai nội dung quan trọng là “Kháng chiến kiến quốc” và “Trường kỳ kháng chiến”, coi đó là hai tư tưởng quán triệt toàn bộ công cuộc bảo vệ nền độc lập vào thời điểm nghiêm trọng này với những định hướng cụ thể: “Tổ chức du kích khắp nơi. Tăng gia sản xuất khắp nơi. Dù phải rút khỏi các thành phố, ta cũng không cần. Ta sẽ giữ tất cả thôn quê. Khi chỉ có hai bàn tay trắng, với một số đồng chí bí mật, le lói trong rừng, ta còn gây nên cơ sở kháng Nhật, kháng Pháp. Huống gì bây giờ, ta có quân đội, có nhân dân. Nam Bộ, địa thế khó, chuẩn bị kém, mà kháng chiến đã hơn một năm. Ta địa thế tốt, lực lượng nhiều hơn, nhất định kháng chiến được mấy năm, đến thắng lợi”.

Văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” của Bác là cơ sở quan trọng để Đảng ta đề ra đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính trong bối cảnh đất nước cực kỳ khó khăn sau khi giành được độc lập năm 1945; góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gianh thắng lợi vẻ vang.

Kỷ niệm 78 năm Ngày Bác Hồ soạn thảo văn kiện quan trọng “Công việc khẩn cấp bây giờ” (05/11/1946 - 05/11/2024), là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ tiếp tục bày tỏ lòng thành kính, tri ân, niềm tự hào, niềm tin son sắt về Đảng quang vinh, về sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dân tộc Việt Nam anh hùng; khẳng định vai trò, sứ mệnh, sự cống hiến của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc, dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bày tỏ khát vọng, lòng yêu chuộng hòa bình và quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục vượt qua khó khăn, thách thức, chung sức đồng lòng, nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; thi đua lập thành tích chào mừng đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Quân đội lần thứ XII, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

NGHỆ THUẬT DỤNG BINH THẦN TỐC, TÁO BẠO CỦA QUANG TRUNG-NGUYỄN HUỆ

 


Không ngạo nghễ như Caesar - một vị hoàng đế La Mã cổ đại - nhưng Quang Trung hoàng đế có một niềm tin mạnh mẽ vào chiến thắng cuối cùng mà đội quân của ông có thể giành được trước kẻ thù. Đó là những chiến thắng được xây dựng từ nghệ thuật dụng binh thần tốc, táo bạo và nắm chắc thời cơ.

Thế kỷ 16, Đại Việt chìm trong chia cắt: hết cuộc chiến giữa tập đoàn phong kiến Trịnh-Mạc cho đến cuộc đối đầu triền miên giữa dòng họ Trịnh-Nguyễn. Cuối thế kỷ, cục diện đàng trong đàng ngoài chính thức hình thành và kéo dài mãi từ đó đến gần hai thế kỷ sau.

Đất nước lâm nguy, vua chúa cả hai miền chỉ lo vơ vét của cải, ăn chơi hưởng lạc, khiến nhân dân lầm than. Trong bối cảnh ấy, không ít cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Tuy nhiên, chưa cuộc khởi nghĩa nào thắng lợi.

Năm 1771, trên vùng Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai ngày nay), 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Được nhân dân ủng hộ, trong vòng 12 năm, từ 1777-1789, nghĩa quân Tây Sơn liên tiếp lập nên những chiến công hiển hách: lật đổ 2 tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn; đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đè bẹp 29 vạn quân Thanh Xâm lược.

Trong suốt chặng đường chiến đấu, Nguyễn Huệ đã không chỉ chứng tỏ mình là nhà lãnh đạo chính trị xuất sắc mà còn là một nhà cầm quân tài ba. Những gì ông làm, không phải vị tướng nào cũng thực hiện được.

Táo bạo - Đòn phủ đầu không ngờ

Một trong những điểm nổi bật trong cách dụng binh của Nguyễn Huệ là sự kết hợp giữa tài chỉ huy quân sự và tính cách cá nhân: táo bạo, thần tốc và vô cùng tự tin.

Trong cuộc phản kích tiêu diệt quân Xiêm (1785), thay vì chọn khúc sông Mỹ Tho có địa hình thuận lợi cho việc phục kích như đoạn từ Cái Bè đến Bình Chánh Đông, ông lại chọn khúc Rạch Gầm - Xoài Mút - một khúc sông rộng và địa hình trắc trở hơn để đặt phục binh.

Còn trong cuộc tiến công từ Phú Xuân ra Thăng Long tiêu diệt 29 vạn quân Thanh (1789), Nguyễn Huệ - khi đó đã là vua Quang Trung - chọn cách tấn công vào Thăng Long từ phía Nam. Đó là khu vực quân Thanh bố phòng cực kỳ kỹ lưỡng. Nhưng đó cũng là hướng quân Thanh chủ quan nhất, vì chúng đinh ninh rằng mình ít có khả năng bị tấn công, thế nên ông đã quyết định ra đòn phủ đầu.

Đợt phản kích quân Thanh theo hướng này diễn ra rất chóng vánh: chỉ trong vòng 6 ngày, kể từ khi xuất binh (Đêm 30 tết) đến khi tiêu diệt hoàn toàn quân Thanh trong trận Đống Đa (ngày mồng 5 tết).

Biến thần tốc thành sức mạnh

Nhưng sự táo bạo chỉ phát huy được sức mạnh của nó nếu cuộc tấn công được triển khai nhanh chóng, thần tốc và bất ngờ.

Bốn năm sau trận chiến một ngày ở Rạch Gầm - Xoài Mút, đội quân của Nguyễn Huệ lại làm nên một điển hình mẫu mực trong lần truy diệt 29 vạn quân Thanh năm 1789.

Nếu không tính đến cuộc hành quân nhanh kỳ lạ và đến giờ vẫn còn gây nhiều tranh cãi của đội quân Tây Sơn từ Phú Xuân ra Bắc, thì chỉ nguyên cuộc phản kích quân Thanh trong vòng 6 ngày Tết Kỷ Dậu 1789 cũng đã là một bài học tuyệt vời trong kho tàng nghệ thuật quân sự.

Đêm 30 tết, quân Tây Sơn bí mật vượt sông Gián Khẩu, tiêu diệt gọn địch ở đồn tiền tiêu và cả nhóm quân do thám. Đêm mồng 3 tết, quân của ông bí mật vây đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Tây). Quân giặc bất ngờ, hoảng sợ hạ khí giới đầu hàng. Mờ sáng 5 tết, trong khi cánh quân Tây Sơn do đích thân Quang Trung chỉ huy bắt đầu tấn công đồn Ngọc Hồi (Thanh Trì, Hà Nội) thì một cánh quân Tây Sơn khác nhắm thẳng vào đồn Đống Đa (Hà Nội).

Cùng lúc với hai chiến thắng đó là hàng loạt chiến thắng khác: chiến thắng Đại Áng, chiến thắng Đầm Mực, chiến thắng Nhân Mục, chiến thắng Hạ Yên Quyết. Các cuộc tấn công trên đều diễn ra một cách nhanh chóng và dồn dập đến độ quân Thanh không kịp trở tay. Chúng không còn có thời gian để thông báo, hỗ trợ hay ứng cứu nhau.

Cách đánh bất ngờ, thần tốc này luôn là tâm điểm trong binh pháp của ông. Đó là cách để bù đắp sự chênh lệch trước những đội quân đông hơn mình gấp nhiều lần. Hơn thế nữa, không chỉ là người "nhạy cảm" với thời cơ, ông còn biết cách tạo ra thời cơ để tận dụng tối đa thế mạnh của mình.

Nắm chắc thời cơ

Cuối năm 1788, quân Thanh đưa quân vào nước ta dưới danh nghĩa giúp nhà Lê dẹp loạn. Với sự bảo trợ của vua Lê Chiêu Thống, cánh quân Thanh được nhiều nhân sĩ trung thành với nhà Lê ủng hộ, nhân dân Thăng Long chưa biết nên theo ai: Tây Sơn hay vua Lê. Tình thế hoàn toàn bất lợi cho quân Tây Sơn.

Nhận được tin Lê Chiêu Thống "mời giặc vào nhà", Nguyễn Huệ nhanh chóng làm lễ, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Ngay sau đó, ông tập hợp quân đội, Bắc tiến, diệt quân Thanh. Tất cả những chuyện lên ngôi hoàng đế, triệu tập quân đội, rồi xuất binh chỉ diễn ra trong vòng.. 1 ngày.

Với một vị tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc, hoàng đế Quang Trung đã nhìn thấy: đây là thời cơ tốt để chinh phục lòng dân và tiêu diệt địch.

Sau này, trên đường ra bắc, ông đã dừng lại ở Nghệ An để lấy thêm quân và tham khảo ý kiến La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về thời cơ và cách đánh quân Thanh. Câu trả lời của Nguyễn Thiếp khiến Nguyễn Huệ rất ưng ý. Nguyễn Thiếp nói: "Quân Thanh đến từ xa không biết tình hình quân ta mạnh hay yếu thế nào, không biết thế nên chiến hay nên thù thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp không quá 10 ngày sẽ phá tan; nếu trì hoãn một chút thì khó lòng được nó".

Hơn thế nữa, quân Thanh sẽ sớm lộ rõ âm mưu xâm lược. Đó là lúc đội quân Tây Sơn sẽ có được sự ủng hộ và giúp sức của nhân dân.

Về phía giặc, sau khi vào Thăng Long dễ dàng, quân Tây Sơn thì đã rút mãi về tận Tam Điệp (Ninh Bình) - Biện Sơn (Thanh Hóa), lại thêm được nhiều quan quân nhà Lê ủng hộ, càng gần Tết, quân Thanh càng khinh đối thủ.

Tất cả những điều đó góp phần khẳng định: đó là thời cơ tốt nhất để tận diệt quân Thanh. Cùng với việc củng cố quân đội, đốc thúc việc hành quân nhanh chóng, ông còn lưu tâm đến việc làm kiêu binh địch, khiến địch ngày càng chủ quan, tự mãn. Sự thất bại của quân thù chỉ còn là vấn đề thời gian.

Lúc tuyển thêm binh ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đã đưa lời dụ tướng sĩ:

"Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chính luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng tri hữu chủ"

Ông hối thúc ba quân hãy đánh sao cho quân thù không còn mảnh giáp, đánh sao cho chúng không còn đường về, đánh sao cho chúng nhận ra rằng nước Nam là có chủ. Và đội quân "cốt tinh, không cốt đông" của ông tiến vào Thăng Long đúng với khí thế ấy.

Hoàng Lê nhất thống chí miêu tả sự thất bại của quân Thanh: "Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết ..., thây ngổn ngang đầy đồng, máy chảy thành suối. Quân Thanh đại bại".

Những mũi tấn công sắc sảo của quân Tây Sơn luôn giáng cho quân địch những đòn chí mạng. Bởi thế, chỉ một trận Rạch Gầm - Xoài Mút mà quân Xiêm sau này "sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Còn nhà Thanh cũng tắt luôn âm mưu xâm lược nước Nam từ trận đại bại đó.

BÓC MẼ CHIÊU THỨC BÔI ĐEN HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ NHẰM MƯU ĐỒ “PHI ĐẢNG HÓA” QUÂN ĐỘI

 


Trong thời gian vừa qua, tiếp tục lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.

Đây là một trong những chiêu thức này vẫn chủ yếu là “Bổn cũ soạn lại”, cũ rích nhưng lại rất nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.

Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.

Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.

Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.

Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.

Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới.

CHÁN KHÔNG MUỐN TRẢ LỜI

 


Việt Tân đưa ra một câu hỏi thế mà mà ngay cả một giảng viên như tôi cũng cảm thấy là khá ngô nghê: "Tướng Công an làm Tổng Bí thư. Tướng Quân đội làm Chủ tịch nước. Kinh tế đất nước rồi sẽ đi về đâu?"

Như chúng ta cũng đã biết, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đã bầu đồng chí Lương Cường - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021-2026. Như vậy, tính đến thời điểm này, đất nước chúng ta có ba nhà lãnh đạo cấp cao trong tứ trụ từ lực lượng vũ trang.

Trở lại câu hỏi của Việt Tân, họ thắc mắc rằng: "Kinh tế đất nước rồi sẽ đi về đâu?". Thoạt nghe cứ tưởng họ lo cho vận mệnh của đất nước thật, nhưng hóa ra là trào lộng, châm chọc và có phần sợ hãi vì Công an, Quân đội lên lãnh đạo đất nước thì họ làm gì có cửa để "phục quốc".

Tôi không quá rành về câu chuyện chính trị, nhưng tôi biết chắc chắn chính trị phải được đặt lên hàng đầu, sau mới đến kinh tế và đất nước Việt Nam đã và đang là niềm mơ ước của rất nhiều quốc gia khác, đặc biệt là vấn đề về an ninh chính trị. Việt Nam đã trở thành niềm cảm hứng cho nhiều quốc gia khác trên thế giới noi theo.

Một đất nước mà cứ suốt ngày loạn lạc thì lấy đâu mà phát triển kinh tế được. Ở một số quốc gia trên thế giới như Ukraine, Isarel... là những minh chứng cụ thể, rõ ràng.

Còn cái việc "Kinh tế đất nước rồi sẽ đi về đâu?" thì xin lỗi tôi không cần trả lời. Tôi chỉ biết, khi chính trị đất nước ổn định thì tự khắc kinh tế sẽ phát triển.

 

MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG THỰC HIỆN 
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI  CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI


Đường lối, chính sách đối ngoại của một Nhà nước quốc gia là tổng thể các quan điểm xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo các hoạt động đối ngoại mà quốc gia đó thể hiện trong quan hệ với các Nhà nước quốc gia và các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích thực hiện thắng lợi những lợi ích của quốc gia dân tộc và của giai cấp cầm quyền trong từng giai đoạn lịch sử. 
Đối với Việt Nam, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước là hệ thống quan điểm về mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp, phương châm chỉ đạo hoạt động của nước ta với bên ngoài nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc chân chính, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của Nhân dân thế giới vì mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Gần 40 năm đổi mới đã chứng mjnh công tác đối ngoại đã góp phần đưa đất nước đi đúng xu thế của thời đại, góp phần kết nối sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Với các nước lớn, Việt Nam đã xây dựng được các khuôn khổ quan hệ ổn định, cùng có lợi, phù hợp với lợi ích của đất nước về lâu dài. Các nước lớn cũng đặt Việt Nam ở vị trí ngày càng cao trong chiến lược của họ ở khu vực và trên thế giới. Với các nước láng giềng, chúng ta đã giữ được phên dậu, giữ được hòa hiếu, đã tìm ra hướng đi chung với láng giềng, kể cả trong những lĩnh vực nhạy cảm (ví dụ như trong vấn đề Mê-công với Lào). Với các cơ chế đa phương, Việt Nam đã mở ra không gian rộng lớn hơn để có thể tham gia ngày càng sâu rộng, chủ động hơn, có thể đóng vai trò lớn hơn, đóng góp thực chất hơn, đồng thời phục vụ thiết thực với việc bảo vệ lợi ích quốc gia. Công tác đối ngoại đã đồng đều hơn và có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các lĩnh vực (ngoại giao chính trị, kinh tế, văn hóa) trên các kênh (ngoại giao Đảng, Nhà nước, Quốc hội, đối ngoại nhân dân).
Tính đến thời điểm hiện nay, mạng lưới đối tác chiến lược/đối tác toàn diện chiếm 59% dân số, 61% GDP, 68% thương mại toàn cầu, đóng vai trò quan trọng đối với an ninh và phát triển của ta. Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu; 76,7% tổng lượng du khách; đóng góp 74% FDI tại Việt Nam.. Về trung và dài hạn, Việt Nam được dự báo là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, trở thành nền kinh tế có mức thu nhập trung bình cao vào khoảng 2030. Theo dự báo của OECD, Việt Nam có khả năng gia nhập nhóm các nước phát triển OECD vào khoảng 2050. 
Từ thực tiễn hoạt động đối ngoại gần 40 năm qua với những thành tựu và hạn chế, có thể rút ra một số bài học sau:
Thứ nhất, mục tiêu hàng đầu của đối ngoại là vì lợi ích quốc gia – dân tộc.
Thứ hai, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dân tộc với quốc tế.
Thứ ba, giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với hội nhập quốc tế.
Thứ tư, kiên định về nguyên tắc chiến lược nhưng mềm dẻo, cơ động, linh hoạt, sáng tạo trong xử lý tình huống theo tinh thần “ngoại giao cây tre”.
Thứ năm, triển khai hoạt động đối ngoại một cách toàn diện.
Trong thế giới ngày nay, quá trình toàn cầu hóa tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới và khu vực đã đặt ra những hoàn cảnh mới của việc chúng ta theo đuổi lợi ích quốc gia – dân tộc. Hoạt động đối ngoại sẽ diễn ra trên mọi lĩnh vực, đòi hỏi những vấn đề mới đối với việc hoạch định và triển khai công tác đối ngoại.. Do vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp trên mặt trận đối ngoại dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của Nhà nước./.

Hoàng Sâm - Người đội trưởng mưu lược, quyết đoán

 

Thiếu tướng Hoàng Sâm tên thật là Trần Văn Kỳ - là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người cộng sản kiên trung, mẫu mực, người con ưu tú của dân tộc ta. Qua nhiều cương vị lãnh đạo, chỉ huy, chiến đấu và công tác, ông luôn tập trung tinh thần, trí tuệ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó.

Thiếu tướng Hoàng Sâm là “một cán bộ chính trị, quân sự song toàn, có đạo đức, có tài năng, một đảng viên ưu tú của Đảng Lao động Việt Nam, một cán bộ chỉ huy giỏi của Quân đội ta”(1) thời đại Hồ Chí Minh. Ông là người được Bác đặt cho bí danh này và cũng được Bác chọn lựa, chỉ định làm Đội trưởng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Mưu lược, tài chỉ huy vô cùng khéo léo, quyết đoán của ông khi còn làm Đội trưởng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã được thực tiễn lịch sử khẳng định, không thể phủ nhận.

Thứ nhất, dẫn đầu và chỉ huy một đội quân 34 người, kể cả ông trong điều kiện thiếu thốn về vũ khí trang bị, đạn dược ít, khó khăn về lương thực, thực phẩm; lại hầu như chưa được huấn luyện bài bản về kỹ chiến thuật chiến đấu; chỉ sau hai ngày thành lập mà liên tiếp giành được thắng lợi trong hai trận Phai Khắt, Nà Ngần trước một đội quân được huấn luyện bài bản hơn, đông hơn, được vũ khí trang bị tốt hơn do những viên sĩ quan Pháp của quân đội nhà nghề trực tiếp chỉ huy.

Quân ta đã thắng địch bằng mưu trí, chứ không hoàn toàn dựa vào sức mạnh của vũ khí, đạn dược. Trong điều kiện thực lực quân ta chưa mạnh, vũ khí, đạn dược ít, lại phải đối mặt đánh với đội quân được huấn luyện bài bản, vũ khí trang bị hơn gấp bội mà giành được thắng lợi. Tiếp đó, dưới sự chỉ huy tài tình, khéo léo của ông, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân không chỉ duy trì, bảo tồn được thực lực mà còn không ngừng phát triển, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Xứng đáng “là đội quân đàn anh… Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(2) đúng như kỳ vọng của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Vũ khí ngày đầu thành lập, Đội chỉ có 2 khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường, 14 khẩu súng kíp. Ngoài ra, có 1 khẩu súng tiểu liên Mỹ Sub Machine-gun, 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp bom nổ chậm, 5.000 đồng Đông Dương.

Điều kiện con người, vật chất chỉ có vậy; trong khi Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Ra quân trận đầu nhất định phải thắng”, nên áp lực của “thành công” phụ thuộc vào tài chọn phương án tác chiến phù hợp với khả năng và sát tình thế. Ông cùng lãnh đạo Đội chọn tập kích là hình thức tác chiến chính vào hai đồn Phai Khắt, Nà Ngần. Tuy nhiên, nhấn mạnh phải thật bí mật, bất ngờ.

Mưu trí của Ban Chỉ huy Đội là sử dụng trinh sát đồn Phai Khắt - một thiếu niên tên Hồng chỉ mới 12 tuổi, lợi dụng công việc mang bánh, rượu cho tên đồn trưởng, tránh cho tên đồn trưởng và đội quân đồn Phai Khắt không nghi ngờ, mất cảnh giác để nắm sát tình hình địch, ra báo cáo đúng, kịp thời với Ban Chỉ huy đội. Tài cải trang, nghi binh lừa địch của Đội cũng đạt tới nghệ thuật. Toàn Đội cải trang thành lính dõng và một số lính tập mang theo Giấy đi tuần giả do đồng chí Võ Nguyên Giáp đánh máy bên Tòa soạn báo Việt Nam Độc lập chia thành ba toán xâm nhập đồn địch trót lọt, không gặp bất cứ trở ngại nào. Giấy này có dấu giả, chữ ký khéo bắt chước tới mức, quân địch không hề nghi ngờ gì.

Tuy nhiên, để bảo đảm yếu tố bí mật và thành công cho trận đánh đồn Nà Ngần, sự linh hoạt trong công tác cải trang đã được chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đổi khác nhanh chóng. Ba du kích quân đóng giả người Dao bị quân du kích bắt được, trói giải lên đồn. Khi quân ta bằng giấy giả lọt được vào đồn trót lọt thì tên quản khố đỏ đã dậy sớm ngồi vào bàn làm việc, bị bắt đầu hàng, nhưng y sử dụng súng ngắn kháng cự lại và bị đồng chí Thu Sơn dùng tiểu liên tiêu diệt, bốn tên lính kháng cự cũng bị quân ta tiêu diệt bằng sáu viên đạn súng trường. Phương thức tác chiến của Đội khi đánh đồn Nà Ngần vẫn là cải trang thành lính địch đi tuần, tập kích bất ngờ, binh vận, dụ hàng, chỉ diệt địch khi cần. Nếu ở Phai Khắt, quân ta chỉ bất ngờ nổ súng diệt viên sĩ quan đồn trưởng Pháp, thì ở Nà Ngần, tình thế đã buộc quân ta phải nổ súng diệt một tên sĩ quan và bốn lính kháng cự. Trận đánh đồn Nà Ngần diễn ra vẻn vẹn trong dăm phút. Toàn Đội rút lui an toàn. Hàng binh địch xin trở về quê hương làm ăn được trợ cấp lộ phí.

Nhờ mưu trí tổ chức trinh sát mục tiêu và cải trang lừa địch hiệu quả; công tác chuẩn bị khoa học, chu đáo, chặt chẽ đã tạo cho Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thế tiến công địch hoàn toàn bất ngờ để đột nhập đồn, diệt địch, thu vũ khí. Tiểu đội trưởng Thu Sơn mặc bộ kaki lính tập, xách tiểu liên đi đầu, đưa “giấy đi tuần”. Một tiểu đội đi theo tiến thẳng vào kho súng. Tiểu đội khác nhanh chóng tỏa ra bao vây đồn Phai Khắt. Đồng chí Thu Sơn hô tiếng Pháp “Rátsămmăng” (tập hợp). 17 lính và 1 cai tập hợp lại. Các chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân chĩa súng, buộc địch đầu hàng. Trong lúc đó, tên đồn trưởng Pháp đang trên đường Nguyên Bình - Phai Khắt về đồn, bị một chiến sĩ ta nổ súng tiêu diệt. Sau khi thu chiến lợi phẩm, động viên nhân dân, Đội tổ chức rút lui an toàn. Toàn đội đã thực hiện đúng căn dặn của Lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với Đội khi tiễn đồng chí Võ Nguyên Giáp trở về tổng Hoàng Hoa Thám để thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân: “Phải nhớ bí mật: Ta ở Đông, địch tưởng là ở Tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình” (3).

Hai chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã biểu hiện rõ nét tinh thần “Quyết chiến, quyết thắng”; mưu lược, tài chỉ huy vô cùng khéo léo, quyết đoán của Đội trưởng Hoàng Sâm; lòng yêu nước và dũng khí toàn thể đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân; mở đầu truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của Quân đội ta; góp phần thực hiện được phương châm “Lấy chiến thắng để tuyên truyền vũ trang. Lấy tuyên truyền vũ trang để giành chiến thắng mới” như Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị.

Thứ hai, Chỉ đạo, chỉ huy Đội Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân không chỉ bảo tồn được thực lực mà còn không ngừng phát triển, cùng với các đội vũ trang cách mạng khác hợp nhất trở thành Việt Nam Giải phóng quân.

Sau những trận thắng đầu tiên đó, thực dân Pháp tiếp theo là phát xít Nhật đã thực thi trăm phương ngàn kế nhằm tiêu diệt đội quân chủ lực này, nhưng đội quân chủ lực này được đồng bào các dân tộc chở che, giúp đỡ; sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; sự dẫn dắt, chỉ huy tài ba của Đội trưởng Hoàng Sâm tiếp tục trụ vững và không ngừng phát triển. Lực lượng Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân không còn chỉ là vài trung đội, đại đội mà đã phát triển thành nhiều đại đội.

Cuối tháng 4 năm 1945, các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân đã giải phóng hầu hết các xã, châu, huyện ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang. Ngày 20 tháng 4 năm 1945, cánh Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gặp Cứu quốc quân ở Bảo Lạc, Thất Khê xuống cùng đánh chiếm Văn Mịch. Ngày 1 tháng 5, tiếp tục giải phóng Bằng Mạc. Cánh quân của Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân trên đường tiến từ Bảo Lạc về Thất Khê đã tước được hàng nghìn khẩu súng (có cả súng cối, súng máy, đại bác) và rất nhiều lừa, ngựa của các đoàn quân Pháp nối nhau chạy qua biên giới Việt - Trung.

Có những bộ phận quân Pháp ngoan cố chống cự đã bị Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đánh bại, tước toàn bộ vũ khí như ở Trà Lĩnh, Mã Phục (Cao Bằng). Tiến đến đâu, các đội quân đều phối hợp với cơ sở cứu quốc địa phương tước vũ khí lính dõng, thu bằng, triện của bọn tổng lý, trừng trị bọn việt gian đầu sỏ, thành lập chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển các hội cứu quốc, xây dựng các đội tự vệ chiến đấu và du kích để bảo vệ chính quyền cách mạng mới được thành lập.

Trước tình thế cách mạng chín muồi, ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang do đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng chủ trì, quyết định thống nhất Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân cùng các tổ chức vũ trang khác, thành lập Việt Nam Giải phóng quân để cùng nhân dân tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa.

Ngày 15 tháng 5 năm 1945, tại Định Biên Thượng, Chợ Chu, Thái Nguyên, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được hợp nhất với các đơn vị Cứu quốc quân thành đội chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng lên tới 13 đại đội. Ở một số tỉnh, huyện cũng tổ chức nhiều trung đội, đại đội Giải phóng quân khác. Đó là một đội ngũ vũ trang được rèn luyện trong lò lửa đấu tranh cách mạng. Hầu hết đội viên Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân đã trở thành những cán bộ chỉ huy tài ba của Quân đội ta sau này. 

Như vậy, do yêu cầu của bối cảnh, điều kiện cách mạng đã chín muồi, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Và dưới sự chỉ huy mưu lược, tài ba, quyết đoán của Đội trưởng Hoàng Sâm. Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế của đội quân chủ lực đầu tiên và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của Trung ương Đảng và nhân dân giao phó. Tháng 1 năm 1948, Đội trưởng Hoàng Sâm khi đó giữ chức vụ Khu trưởng Chiến khu II đã được phong hàm Thiếu tướng ngay đợt đầu tiên phong tướng của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

 

Công tác Đảng, công tác chính trị thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội

 

Ban Công tác chính trị của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là cơ quan chính trị đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự ra đời Ban Công tác chính trị là một quyết định đúng đắn, kịp thời, xác lập và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ngay từ những ngày đầu mới thành lập; tạo cơ sở cho việc xây dựng, phát triển và ngày càng hoàn thiện cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ từng thời kỳ, giai đoạn, đặc biệt trong tình hình hiện nay.

Với vị trí, vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng trong xây dựng Quân đội về chính trị, đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội; trong suốt 80 năm qua, cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, Tổng cục Chính trị đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn quân, toàn dân tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám; đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Từ khi đất nước thống nhất đến nay, Quân đội đã phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường vẻ vang của mình, Tổng cục Chính trị đã có những đóng góp to lớn làm cho công tác Đảng, công tác chính trị thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội... Trong 80 năm qua, các thế hệ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tổng cục Chính trị luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; xây đắp nên truyền thống vẻ vang.

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Trong thời gian tới, Tổng cục Chính trị cần thường xuyên quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc… Xây dựng Đảng bộ Cơ quan Tổng cục Chính trị trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục và toàn quân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng Quân đội, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng; đoàn kết, thống nhất cao, sẵn sàng nhận và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dự báo, tham mưu chiến lược về công tác Đảng, công tác chính trị. Để phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, Tổng cục Chính trị, các cơ quan của Tổng cục cần thường xuyên phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các ban, bộ, ngành của Trung ương, các cấp, các ngành, các đoàn thể của Trung ương và địa phương; bảo đảm triển khai các hoạt động đồng bộ, thống nhất, thông suốt và hiệu quả mục tiêu xây dựng Quân đội về chính trị.

 

Đại tướng Phan Văn Giang lý giải quy định sĩ quan cấp tướng trong Quân đội nghỉ hưu ở tuổi 60

 

Sáng 5-11, sau khi nghe các đại biểu phát biểu thảo luận, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm như sau: Cấp úy: 50; Thiếu tá: 52; Trung tá: 54; Thượng tá: 56; Đại tá: 58; Cấp tướng: 60.

Trong điều kiện thời bình, Quân đội vẫn có cường độ lao động đặc biệt, vẫn phải rèn quân, rèn cán

Trước một số ý kiến của đại biểu liên quan đến việc tăng tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan như trên, nhất là quân hàm cấp úy, Đại tướng Phan Văn Giang cho biết: Luật hiện hành hiện quy định tuổi nghỉ hưu của cấp úy trước đây là 46 tuổi, nay nâng lên 50 tuổi.

“Sĩ quan sau khi ra trường khoảng 10-12 năm sẽ mang quân hàm Đại úy. Trường hợp 50 tuổi mới mang quân hàm Đại úy cơ bản không có, song vẫn phải quy định vào luật để nếu gặp trường hợp này thì có quy định để xử lý”, Bộ trưởng Phan Văn Giang nói.

Ngoài ra, cũng theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, Quân đội có nhiều nhóm ngành sĩ quan như: Sĩ quan chỉ huy, sĩ quan chính trị, sĩ quan hậu cần, chuyên môn kỹ thuật và một số nhóm ngành sĩ quan khác. Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, trong điều kiện thời bình, Quân đội vẫn có cường độ lao động đặc biệt, vẫn phải rèn quân, rèn cán để đến khi có tình huống thì có thể xử lý được. Mặt khác, cường độ rèn luyện cũng như yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật cũng ngày phải càng cao hơn mới đáp ứng được yêu cầu trong thực tiễn.

"Quan điểm của chúng tôi vẫn phải là "Nuôi quân 3 năm, dùng 1 giờ", do đó, trong thời bình cũng phải rèn quân để đến khi có tình huống thì phải xử lý được. Nếu chúng ta lơi lỏng thì đến lúc có tình huống lại không xử lý được. Cường độ huấn luyện cũng phải ngày càng cao, nhất là về chuyên môn, kỹ thuật", Bộ trưởng Phan Văn Giang nhấn mạnh.

Trước đó, tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, cấp úy nhập ngũ năm 18 tuổi, hết tuổi phục vụ tại ngũ là 50 thì mới đóng bảo hiểm xã hội được 32 năm, đến khi nghỉ hưu thì được 33 năm, còn thiếu 2 năm mới đạt mức lương hưu tối đa.

“Nhưng thực ra trong Quân đội hầu như không có trường hợp nghỉ hưu ở cấp úy. Có những trường hợp bất đắc dĩ lắm mới nghỉ hưu ở Đại úy”, Đại tướng Phan Văn Giang nói. Mặt khác, tuổi phục vụ tại ngũ của Thiếu tá theo quy định hiện hành là 48, dự thảo luật đề nghị tăng lên 52. Như vậy, Thiếu tá có 34 năm phục vụ trong Quân đội, nghỉ chờ 1 năm là đủ 35 năm.

Giữ tuổi nghỉ hưu của cấp tướng ở 60 tuổi

Trước ý kiến đại biểu đề nghị nâng độ tuổi tại ngũ của sĩ quan cấp tướng, vì đây là cấp tinh hoa của Quân đội và của đất nước, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo cũng bàn bạc nhiều về vấn đề này. 

Bộ trưởng Phan Văn Giang nêu rõ: Nếu kéo dài độ tuổi cấp tướng lên 62 tuổi, trong khi cấp Đại tá nghỉ hưu ở 58 tuổi, nghĩa là tuổi nghỉ hưu chênh nhau 4 tuổi.

“Như vậy, cấp tá không lên được tướng; trong khi Quân đội còn rất nhiều cấp bậc, chức vụ khác nhau”, Bộ trưởng Phan Văn Giang nói và xin giữ nguyên như dự thảo luật về độ tuổi nghỉ hưu của cấp tướng là 60 tuổi.

Theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, cấp tướng đúng là tinh hoa, nhưng có những đồng chí Đại tá cũng tinh hoa không kém. Do vậy, nếu nâng tuổi phục vụ tại ngũ của cấp tướng lên 62 thì cấp Đại tá không còn đủ tuổi lên tướng.

Cuối cùng, thay mặt cho cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Phan Văn Giang xin tiếp thu tối đa các ý kiến của các đại biểu, hoàn chỉnh dự thảo luật; bày tỏ mong muốn các đại biểu ủng hộ dự án luật, biểu quyết thông qua để bảo đảm Quân đội thực hiện nhiệm vụ nhanh nhất, sớm nhất.

 

Một số vấn đề cơ bản về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền

 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, trong đó, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(1). Như vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc căn bản để bảo đảm tính thượng tôn pháp luật, mọi lợi ích thực sự thuộc về nhân dân, là điều kiện then chốt để hiện thực hóa nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước

Quyền lực vốn là của nhân dân, nhân dân sử dụng quyền ấy bằng cách ủy quyền cho nhà nước, thông qua đó, nhà nước lại trao quyền cho các cá nhân và tổ chức đại diện để vận hành xã hội với mục tiêu phục vụ lợi ích nhân dân. Tuy vậy, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh, rằng “quyền lực luôn có xu hướng tha hóa” khi thiếu cơ chế kiểm soát hợp lý và hiệu quả. Thực tế, quyền lực luôn có tính hai mặt: 1) Trong xã hội có tổ chức, sự tồn tại của quyền lực là tất yếu để duy trì hoạt động xã hội trong khuôn khổ, trật tự, bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng; 2) Quyền lực luôn luôn có xu hướng bị lạm dụng. 

Trong nhà nước pháp quyền, bầu cử là phương tiện chủ yếu để người dân thực hiện sự ủy quyền, lựa chọn người cầm quyền. Ở mỗi chế độ chính trị khác nhau, các cuộc bầu cử được tiến hành nhiều cách thức riêng, song đều nhân danh lợi ích nhân dân để ban hành các quyết định chính trị. Người được bầu chọn phải cam kết phục vụ cho lợi ích của người dân, khi họ không giữ lời hứa, nhân dân sẽ thay thế bằng người khác. Như một lẽ tự nhiên, ở đâu xuất hiện sự ủy quyền thì ở đó chứa đựng nguy cơ lạm dụng quyền lực. Thực tế, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng và tự tăng cường vai trò của mình, do vậy, người dân phải kiểm soát quyền lực ấy; cũng do vậy, nhiều nước chú trọng xây dựng các quy định và các điều kiện giúp người dân có thể tước quyền nếu quan chức được bầu có hành vi lạm dụng quyền lực. 

Tính vị kỷ và khát vọng quyền lực của con người đã được các nhà tư tưởng chính trị chỉ ra rằng “Quyền lực luôn có xu hướng tha hóa và quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối”(2). Vì vậy, để ngăn ngừa nguy cơ quyền lực bị lạm dụng, các nhà nước trên thế giới đều phải thiết kế các cơ chế kiểm soát quyền lực riêng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa chính trị, nhận thức, tư duy về thực trạng và tương lai đất nước trên nguyên tắc bảo đảm người nắm giữ quyền lực công cộng không thể lạm quyền hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích mang tính cá nhân.

Tuy nhiên trong thực tế, hiện tượng tham nhũng, lợi dụng chức quyền của các quan chức vẫn tương đối phổ biến, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có hệ thống kiểm soát quyền lực vẫn chưa đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi lạm dụng quyền lực. Việc lạm dụng quyền lực nhằm trục lợi cá nhân xuất phát từ vấn đề quyền lực nhà nước là sức mạnh và là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng, nhưng quyền lực ấy lại được giao cho một số người với những năng lực hữu hạn thực hiện; về mặt lý thuyết, thì “tập thể trao quyền cho cá nhân vì lợi ích chung”(3), nhưng cũng từ đó, việc sử dụng quyền lực mắc phải sai lầm xuất phát từ hạn chế cố hữu của con người và nếu rủi ro xảy ra thì nhân dân lại phải gánh chịu những hậu quả. Mặt khác, chính sự hữu hạn về năng lực điều hành trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước khiến các quyết định, chính sách của nhà nước không đem lại hiệu quả mong muốn, thậm chí còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người dân. Vì vậy, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả là rất quan trọng, bảo đảm các quyết định, chính sách được bàn bạc, thảo luận trước khi ban hành, hạn chế thấp nhất tình trạng đưa ra quyết định sai lầm. 

Mục đích và phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền hiện nay

Như vậy, quyền lực nhà nước tất yếu phải được kiểm soát. Việc kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa rộng chính là việc thiết kế tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước sao cho đúng mục đích, hiệu quả nhất; là toàn bộ những cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó để ngăn chặn, loại bỏ những hành động sai trái của nhà nước, phát hiện và điều chỉnh việc thực thi quyền lực bảo đảm mục đích và hiệu quả của quyền lực nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước hợp pháp bằng thể chế với mục tiêu xác định. 

Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước

Từ góc độ chủ nghĩa mác-xít, mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước chính là khắc phục sự tha hóa của quyền lực, đưa quyền lực nhà nước trở về đúng bản chất quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng công quản của xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước là khắc phục những nan giải của chính thể đại diện. Trong nhà nước pháp quyền, quan hệ giữa nhà nước - nhân dân chính là quan hệ giữa người đại diện - người chủ. 

Nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích và hiệu quả, quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước trước hết là việc kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước, bởi quyền lực nhà nước là quyền lực được ủy nhiệm nên trước hết chủ thể quyền lực có quyền kiểm soát đối với quyền lực nhà nước trong phạm vi tác động của quyền lực. Kiểm soát quyền lực cũng cần được thể hiện ở việc kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi hiến pháp, bao gồm cách thức, quy trình hình thành, điều chỉnh, sửa đổi hiến pháp theo đúng quy trình dân chủ, bảo đảm hiến pháp phản ánh được ý chí, lợi ích của nhân dân, không xâm phạm đến lợi ích của cá nhân, nhân dân trong xã hội. Kiểm soát quyền lực nhà nước còn thể hiện ở khâu kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đó là: 1) Kiểm soát cách thức tổ chức bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm sự tuân thủ đúng các quy định của hiến pháp và khả năng vận hành hiệu quả trong thực tế; 2) Kiểm soát hoạt động hoạch định chính sách của nhà nước bảo đảm quá trình ra chính sách của nhà nước tuân thủ những quy trình, thủ tục quy định trong hiến pháp và các đạo luật, bảo đảm hiệu quả của hoạt động ra chính sách; 3) Kiểm soát các chính sách, quy định của nhà nước nhằm ngăn chặn, loại bỏ những chính sách, quy định trái với hiến pháp và luật, vi phạm đến quyền và lợi ích của công dân; các chính sách không phù hợp với thực tiễn, không có tính khả thi hoặc hiệu quả kém cũng phải được điều chỉnh, sửa đổi hoặc loại bỏ; 4) Kiểm soát hoạt động thực thi chính sách của nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động đó tuân thủ theo các quy định của pháp luật, ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động, hành vi sai trái hoặc kém hiệu quả của nhà nước. Đặc biệt, quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước phải là sự kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước, thể hiện ở kiểm soát quy trình lựa chọn những người đảm nhiệm các công việc của nhà nước và kiểm soát hoạt động của các chủ thể thực thi quyền lực nhà nước theo quy định của hiến pháp, các đạo luật, những cam kết chính trị, đạo đức khi ở cương vị là người thực thi quyền lực. 

Các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Thứ nhất, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước. Tính chất của quyền lực nhà nước là việc người dân ủy nhiệm một phần quyền của mình cho nhà nước, vì thế, chỉ trong các lĩnh vực đòi hỏi có sự phối hợp xã hội, đòi hỏi sự tuân thủ quyền lực công thì mới cần tới quyền lực nhà nước. Vậy nên, việc xác định và kiểm soát trong các phạm vi tác động là rất quan trọng, nhờ đó mà không gian hoạt động của công dân và xã hội được thừa nhận và bảo đảm, đồng thời góp phần làm cho quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. C. Mác từng khẳng định: “Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là tùy ở chỗ trong những hình thức ấy, “sự tự do của nhà nước” bị hạn chế nhiều hay ít”(4). Việc hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, như thông qua hiến pháp, các đạo luật, quy ước, luật lệ bất thành văn… tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và truyền thống văn hóa chính trị của mỗi quốc gia. 

Thứ hai, kiểm soát quyền lực thông qua hiến pháp và các chế định hiến pháp. Với tư cách là bộ luật cao nhất, là tuyên ngôn của nhân dân về quyền lực nhà nước, hiến pháp giới hạn quyền lực nhà nước trong một trật tự hiến định, qua đó, nội dung, cách thức và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có tính bền vững và khó thay đổi. Hiến pháp quy định các quyền và tự do cơ bản của con người. Để tránh tình trạng các đại diện có xu hướng vi phạm quyền của nhân dân khi được ủy nhiệm, một hiến pháp tiến bộ thường bao gồm cả các quy định về các quyền cơ bản của con người. Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các chế định hiến pháp là bằng bầu cử định kỳ, hay là sự kiểm soát gián đoạn, được thể hiện ở: 1) Quyền bãi miễn của nhân dân là một phương thức để xử lý vấn đề khi những người được ủy quyền không đủ năng lực phục vụ nhân dân. C. Mác đã khẳng định ngay từ khi thiết lập Công xã Pa-ri rằng: “Công xã loại bỏ hoàn toàn hệ thống đẳng cấp chính trị và thay thế những ông chủ ngạo mạn của nhân dân bằng những đầy tớ luôn có thể bị bãi miễn; thay thế một trách nhiệm tưởng tượng bằng một trách nhiệm thật sự vì những người được ủy nhiệm này luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân”(5); 2) Quyền thay đổi hiến pháp, hiến pháp sẽ được thay đổi khi có sự đồng ý của một đa số người dân; 3) Quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia thông qua trưng cầu dân ý thể hiện rằng các quốc gia sử dụng trưng cầu dân ý như một phương thức phê chuẩn sửa đổi hiến pháp hoặc thể hiện quyền quyết định của người dân, trong thực tiễn, đây chính là sự kiểm soát quyền lực rất mạnh mẽ. 

Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách tối ưu hóa các mục tiêu của nhà nước. Thông qua các quy định ràng buộc của hiến pháp và pháp luật, quyền lực nhà nước được giới hạn trong các mục tiêu xác định. Tuy nhiên, trên thực tế, do hạn chế của hiến pháp và pháp luật, cũng như xuất phát từ các nguyên nhân khác nên quyền lực nhà nước có thể được sử dụng cho đa mục tiêu so với quy định ban đầu, dẫn tới sự sai lệch hoặc phân tán về quyền lực, nguồn lực. Do đó, cần kiểm soát quyền lực nhà nước theo sát các mục tiêu ban đầu hoặc tối ưu hóa mục tiêu phát sinh trong tổng thể. 

Thứ tư, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua sự kiểm soát của nhân dân và xã hội được thể hiện tập trung ở việc bầu cử theo nhiệm kỳ. Qua bầu cử, cử tri và nhân dân có thể loại bỏ những đại diện không xứng đáng với sự ủy nhiệm của mình ra khỏi nhà nước. Ph. Ăng-ghen từng khẳng định: “Để ngăn ngừa sự chuyển hóa ấy của nhà nước và các cơ quan của nhà nước, từ chỗ là công bộc của xã hội thành ông chủ đứng trên đầu xã hội - sự chuyển hóa không thể tránh từ trước đến nay trong tất cả các chế độ công xã đã áp dụng hai biện pháp rất chính xác; tất cả những chức vị quản lý, tư pháp, giáo dục nhân dân đều giao cho những người đầu phiếu phổ thông bầu ra, ngoài ra các cử tri có quyền bãi miễn bất cứ lúc nào những người mình bầu ra”(6). Tuy nhiên, quy trình này cũng cần tính đến trường hợp các cuộc bầu cử phổ thông và định kỳ trong thực tế gặp những vấn đề nan giải, đó là việc soi xét, kháng cáo thường xuyên nhằm phóng đại các khuyết điểm của nhà nước, làm giảm sự tôn trọng cần thiết đối với nhà nước và dễ dẫn tới mất ổn định. 

Thứ năm, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua sự giám sát của nhân dân, phương tiện thông tin đại chúng, công luận. Sự giám sát chặt chẽ của nhân dân là một yếu tố cốt lõi để bảo đảm tính minh bạch, công bằng và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của nhà nước, qua đó, mọi hoạt động của nhà nước sẽ hướng đến phục vụ lợi ích của toàn dân, từ đó tạo ra một môi trường xã hội ổn định và phát triển. Giám sát bằng phương tiện thông tin đại chúng cũng là một mắt xích quan trọng của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước, có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Phương tiện thông tin đại chúng, do tính chất nghề nghiệp của mình trong xã hội, có khả năng kết nối, tạo công luận gây sức ép với nhà nước, buộc nhà nước phải có trách nhiệm trong nhiều vấn đề quan trọng. Đây là sự giám sát, phản biện có tính chất thường xuyên của xã hội đối với nhà nước, đặc biệt trong thời đại số hiện nay, cách thức giám sát này càng thể hiện vai trò quan trọng.

Thứ sáu, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách tách các lĩnh vực của quyền lực nhà nước và bằng cơ chế kiềm chế đối trọng trong bộ máy nhà nước. Đây là hai phương thức kiểm soát phổ biến ở các nhà nước pháp quyền tư sản. Kiểm soát bằng cách tách các lĩnh vực của quyền lực thể hiện yêu cầu khách quan của sự chuyên môn hóa và để hạn chế sự chuyên quyền của nhà nước, phương thức này thể hiện ở sự phân chia chức năng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh lập pháp quyết định luật nào được thông qua, nhánh hành pháp thực thi luật và nhánh giám sát việc thực thi. Sự phân chia các nhánh quyền lực nhà nước nhằm mục đích cân bằng quyền lực, ngăn chặn bất kỳ một nhánh riêng lẻ nào giành quá nhiều quyền lực; làm tăng trách nhiệm của các quan chức được bầu. Kiểm soát thông qua cơ chế kiềm chế đối trọng trong bộ máy nhà nước được vận hành bởi việc cơ quan lập pháp có thể thực hiện quyền lực đối với người đứng đầu hành pháp thông qua việc yêu cầu hành pháp ra lệnh thực thi một đạo luật và bỏ phiếu luận tội; thực hiện quyền lực đối với tư pháp như thông qua một sửa đổi hiến pháp và thông qua luật. Quyền lực của tư pháp đối với hành pháp xuất phát từ việc thực hiện các quyền hiến định bảo vệ công dân khỏi hành động chuyên quyền trong thực thi luật. Tuy nhiên, việc kiểm soát bằng thể chế như vậy cũng gặp phải sự hạn chế, đó là sự ngăn cản khả năng người đại diện làm những việc sai trái, nhưng cũng có thể ngăn cản các đại diện làm những việc đáng làm (đây là sự kém linh hoạt và chậm trễ của thực thi quyền lực nhà nước). 

Nhìn chung, các cơ chế kiểm soát khác của nhà nước được thể hiện ở việc nhà nước thiết kế những thể chế có trách nhiệm kiểm soát các cơ quan đại diện thực thi quyền lực của nhà nước, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm hoạt động của nhà nước đạt được đúng mục tiêu, hiệu quả.

Vấn đề phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ở Việt Nam, sau thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định nhiệm vụ quan trọng: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội”(7); đồng thời tập trung “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(8) và “Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường”(9). Thêm vào đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và đặc biệt Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đều nhấn mạnh phải “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(10).

Đến nay, với nhiều thành tựu to lớn đạt được sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới cả về “thế” và “lực”, đứng trước “cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(11). Tuy nhiên, dù đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, song một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này chưa được luận giải một cách đầy đủ, thuyết phục; tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đặc biệt, quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện(12)

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực được hiểu là việc cùng nhìn về một mục tiêu của các bộ phận quyền lực nhà nước trong thực thi các quyết định chính trị. Theo đó, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần thỏa mãn các điều kiện, như cần có cơ chế kiểm soát quyền lực, nghĩa là mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu và xử lý phải rõ ràng và phối hợp nhịp nhàng để tránh sự chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân được phân công trong quá trình thực thi công vụ, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng lộ trình và hiệu quả cao. Đây cũng là giải pháp được nhấn mạnh trong Nghị quyết 27-NQ/TW: “Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước”(13).

Ở Việt Nam, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bởi Đảng thực thi quyền lực chính trị của mình trước hết bằng Nhà nước và thông qua quyền lực nhà nước. Đảng có trách nhiệm kiểm soát quyền lực nhà nước đi đúng quỹ đạo, là công cụ mạnh mẽ, đắc lực nhất để thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của Đảng. Đặc biệt, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên, bằng công tác tổ chức và cán bộ bên trong các cơ quan nhà nước, nên sự phân công nhiệm vụ và phối hợp công tác trong Đảng mang tính quyết định đối với phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước. Đồng thời, cũng cần cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng thông qua các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát... nhằm bắt buộc các tổ chức đảng, đảng viên được trao quyền phải thực hiện quyền lực được ủy nhiệm đúng với mục đích và tôn chỉ của Đảng.

Công cụ phân công và phối hợp chủ yếu giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước là đạo đức và thể chế, dựa trên các giá trị đạo đức xã hội, tập quán pháp, các thiết chế, quy định, luật pháp… đã được thiết lập. Việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước bằng đạo đức căn bản dựa vào nhận thức và sự tự giác của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, phương thức phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực cần dựa trên nền tảng Hiến pháp, pháp luật. 

Việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đều hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nhân lên các giá trị ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa/.

 

 

Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả

 Xây dựng tổ chức bộ máy hiệu lực, hiệu quả là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, sự hy sinh của từng cán bộ, đảng viên cùng với quyết tâm rất cao của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về xây dựng hệ thống chính trị với tiêu đề: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”:

1. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một trong những yếu tố then chốt đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tinh anh đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điểm hội tụ chiến lược sau 40 năm đổi mới đất nước đang đem đến cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cũng đặt ra yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta từ năm 1945 đến nay cơ bản ổn định gồm 3 khối (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội). Với cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, tổ chức bộ máy của từng khối đã có sự điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đến nay, khái niệm “hệ thống chính trị” chính thức được sử dụng đánh dấu sự phát triển tư duy, nhận thức của Đảng về yêu cầu, nhiệm vụ đối với hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt và đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn phát triển nóng bỏng của đất nước, qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 9-2-2007, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 1-8-2007, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 2-2-2008, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28-2-2023, của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 37-KL/TW, ngày 2-2-2009 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020; Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27-5-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020; Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28-5-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương; Kết luận số 62-KL/TW, ngày 8-12-2009, của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, hệ thống tổ chức đảng các cấp, bộ máy nhà nước từ Trung ương tới cơ sở, tổ chức cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới, phát huy hiệu lực, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thông qua vai trò, sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; kinh tế - xã hội phát triển, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Qua 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ này sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... Chính vì vậy, cho đến nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Chất lượng tham mưu, đề xuất của một cơ quan, tổ chức đảng với Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với một số lĩnh vực còn hạn chế; năng lực điều phối, hướng dẫn, tổ chức thực hiện trong toàn Đảng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; phân định phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của các bộ chưa triệt để; một số nhiệm vụ liên thông, gắn kết nhau hoặc cùng một lĩnh vực nhưng giao cho nhiều bộ quản lý. Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng “bộ trong bộ”. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ.

Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng. Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Sự chồng chéo, phân định không rõ chức năng, nhiệm vụ dẫn đến không rõ trách nhiệm, “lấn sân”, cản trở, thậm chí “vô hiệu hóa” lẫn nhau, làm giảm tính chủ động, sáng tạo, dẫn đến năng suất lao động, hiệu suất công tác thấp, đùn đẩy trách nhiệm, tiêu cực, cản trở phát triển, phát sinh phiền nhiễu, giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tầng nấc trung gian dẫn đến mất thời gian qua “nhiều cửa” thủ tục hành chính, gây cản trở, thậm chí tạo điểm nghẽn, làm lỡ cơ hội phát triển. Chi phí vận hành hệ thống tổ chức bộ máy lớn, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học - công nghệ, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta tuy đã được đổi mới ở một số bộ phận, nhưng cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tâm lý “Nói không đi đôi với làm”.

2. Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, với một số công tác trọng tâm, sau đây:

Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Tập trung tổng kết 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đánh giá nghiên túc, toàn diện về tình hình và kết quả đạt được, những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nghị quyết; đề xuất, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tổng kết phải tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cụ thể, sâu sắc, cầu thị, sát đúng với tình hình thực tiễn từ đó đề xuất mô hình tổ chức mới, đánh giá ưu điểm và tác động khi thực hiện mô hình mới, phải bám sát Hiến pháp, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc của Đảng, các nghị quyết của Trung ương... bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực; hạn chế tổ chức trung gian; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể trên cơ sở tính đảng, tính hợp lý, tính hợp pháp.

Thứ hai, tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng” để nhanh chóng đưa chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống. Rà soát các quy định pháp luật có liên quan để chủ động chuẩn bị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo đúng quy định, bảo đảm chủ trương của Đảng được triển khai nhanh nhất sau khi được Trung ương thống nhất thông qua. Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện.

Thứ ba, gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh. Ban hành quy định về khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình để chủ động rà soát, xác định có thể bố trí ngay. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản phẩm cụ thể đo đếm được, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội.

V.I Lê-nin khi nói về cải tiến bộ máy nhà nước đã nhấn mạnh: “Phải tuân theo quy tắc này: thà ít mà tốt... Tôi biết rằng giữ vững quy tắc ấy và vận dụng được nó vào tình hình thực tế của chúng ta là khó khăn... Tôi biết rằng sẽ phải kháng cự một cách mãnh liệt, sẽ phải tỏ ra kiên trì phi thường... Song tôi vẫn tin chắc rằng chỉ có tiến hành công tác đó, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước cộng hòa thật sự xứng danh là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-Viết”(1); xây dựng tổ chức bộ máy hiệu lực, hiệu quả là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, sự hy sinh của từng cán bộ, đảng viên cùng với quyết tâm rất cao của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, tất cả vì sự một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu./.

 

KHÔNG GIAN MẠNG - NƠI "CHIẾN ĐẤU" CỦA MỖI ĐẢNG VIÊN

 Mạng xã hội ngày nay là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người. Tuy nhiên, không gian mạng cũng có nhiều rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta - nhất là đảng viên cần phải khắc phục và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất để bảo vệ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ðồng thời, tuyên truyền, lan toả rộng rãi sự đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Ðảng.

 

Nhận diện rõ nguy cơ trên không gian mạng

 

Việt Nam có lượng người dùng Internet được đánh giá cao, những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hàng ngày, các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng công chúng hiểu sai lệch, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Ðảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh cứng rắn, hữu hiệu sẽ gây nên hệ luỵ khôn lường.

 

Các thông tin xấu, độc trên không gian mạng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Ðảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

 

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Ðảng, kinh tế, văn hoá, xã hội..., trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Ðảng ta, như: đòi Ðảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung và giá trị tư tưởng của Người; chúng chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Ðảng ta; chúng phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xoá bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước; cổ suý phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và Nhân dân của lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội Nhân dân và công an Nhân dân; tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Ðảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật; thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam; tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá...

 

“Làm chủ” không gian mạng để bảo vệ Ðảng

 

Ðại hội XIII của Ðảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

 

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta. Do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Ðảng. Theo đó, chúng ta thực hiện một số giải pháp:

 

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

 

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

 

Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Ðặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi đảng viên được tiếp cận trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Blog, Line, Tiktok... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Ðặc biệt, phải chủ động làm chủ không gian mạng, để không gian mạng trở thành phương tiện, công cụ đắc lực phục vụ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

 

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.