Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

LỚN LÊN CON SẼ LÀM CHÚ BỘ ĐỘI

 LỚN LÊN CON SẼ LÀM CHÚ BỘ ĐỘI

Đó là cảm nhận của rất nhiều em học sinh trường Tiểu học Quý Sơn 1, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang khi thấy đoàn hành quân của Trung đoàn 12 - Đoàn Tây Sơn anh hùng sáng ngày hôm nay.
Ở nhà trường các em học sinh chỉ biết được các chú bộ đội hằng ngày qua tranh ảnh, tivi, những lời nói của cô giáo và khi trực tiếp thấy đoàn hành quân của Trung đoàn 12 khi tham gia nhiệm vụ hành quân diễn tập qua cổng trường. Các cháu học sinh đã ùa ra chào đón thể hiện tình cảm yêu quý của mình với các chú bộ đội.
Hình ảnh đoàn hành quân kéo dài mà vẫn thật kỷ luật, nghiêm túc đã khắc sâu hơn nữa trong các em học sinh một ấn tượng thật tốt về những người lính “Bộ đội Cụ Hồ”, từ ấy bên trong các em đã có ước mơ được trở thành một phần trong đội hình hành quân ấy.
Đáp lại tình cảm, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 12 nói riêng, Sư đoàn 3 nói chung đã có những cái vẫy tay, nụ cười thật tươi. Ngoài ra các chú còn còn có cả những thỏi lương khô để dành tặng các cháu học sinh trước khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hành quân.
Dưới đây là một số hình ảnh:
Tất cả cảm xúc:
111

CHÂN DUNG PHÓ TGĐ TRẺ NHẤT CỦA TẬP ĐOÀN VIETTEL

 CHÂN DUNG PHÓ TGĐ TRẺ NHẤT CỦA TẬP ĐOÀN VIETTEL

Ông Nguyễn Đạt, Phó Tổng giám đốc trẻ nhất của Tập đoàn Viettel sinh năm 1981, là cựu sinh viên Công nghệ thông tin của ĐH Bách Khoa Hà Nội.
Gia nhập Viettel từ năm 2008, trải qua nhiều năm đóng góp miệt mài, kinh qua nhiều vị trí, từ nhân sự về quản trị hệ thống đến cán bộ quản lý, ông Nguyễn Đạt trở thành một trong những trụ cột của Tập đoàn Viettel.
Ông Đạt đã 2 lần giữ chức vụ Trưởng ban Kỹ thuật Tập đoàn. Từng là TGĐ Viettel Mozambique và TGĐ Viettel Global. Gần nhất, ông Đạt là Tổng giám đốc Viettel Networks.
Ông Nguyễn Đạt vừa chính thức được bổ nhiệm là Phó TGĐ Tập đoàn Viettel từ ngày 2/11.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản
Tất cả cảm xúc:
123

"TỪ THIẾU ÚY ĐẾN ĐẠI TÁ CHƯA CHẮC ĐÃ MUA ĐƯỢC NHÀ"

 "TỪ THIẾU ÚY ĐẾN ĐẠI TÁ CHƯA CHẮC ĐÃ MUA ĐƯỢC NHÀ"

‼️
Quốc hội hôm nay thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một trong những nội dung thu hút sự tranh luận của nhiều đại biểu là quy định về phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
Tại khoản 12 Điều 1, dự thảo luật quy định: Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về sĩ quan, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh lập kế hoạch phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, trình Thủ tướng phê duyệt và tổ chức thực hiện.
Đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu lại quy định trên vì không phù hợp với Luật Nhà ở.
Điều 102 Luật Nhà ở về phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân quy định: Bộ trưởng Quốc phòng, Công an có trách nhiệm xác định nhu cầu nhà ở đối với các đối tượng trong ngành và gửi UBND cấp tỉnh để tổng hợp trong kế hoạch phát triển của tỉnh.
Ngoài ra, ông Hòa cũng đề nghị dự thảo luật nên thống nhất với Luật Đất đai về “đất để phát triển nhà ở xã hội”; “đất để phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang” không nên quy định khác.
“Về việc tách nhà ở xã hội riêng cho lực lượng vũ trang, tôi thấy không cần thiết, không phù hợp, không đúng theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật”, ông Hòa lưu ý.
Đại biểu Nguyễn Minh Hoàng (TPHCM) cho biết đã nghiên cứu rất kỹ Luật Nhà ở và dự luật này. Nếu điều chỉnh, bổ sung theo hướng thống nhất với Bộ Quốc phòng về quỹ đất và bàn giao quỹ đất cho Bộ hoặc thống nhất xây dựng nhà ở cho quân đội trên đất quốc phòng sẽ phù hợp.
Ông nêu thực tế hiện chưa có tỉnh thành nào làm nhà ở cho sĩ quan quân đội, chỉ cài xen vào trong nhà ở xã hội của địa phương nhưng cũng rất hạn chế.
“Lương cơ bản của sĩ quan cao hơn mức quy định về thu nhập của đối tượng được mua nhà ở xã hội, nhưng đời sống sĩ quan vẫn còn rất khổ, rất khó. Từ thiếu úy cho đến đại tá chưa chắc đã mua được nhà. Nếu không có chính sách đặc biệt ưu đãi về nhà ở thì không thu hút được những người có điều kiện phát triển vào quân đội”, ông Hoàng phân tích.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

TƯ TƯỞNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG

 

“Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ đảng viên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, giữ vững vị trí, vai trò, năng lực cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giữ gìn kỷ luật của Đảng.

Kỷ luật của Đảng là tổng thể những điều đã được quy định trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của mọi tổ chức đảng và đảng viên nhằm bảo đảm sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong toàn Đảng.

Kỷ luật Đảng rõ ràng, chặt chẽ, nghiêm minh là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi. Kỷ luật Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh có rất nhiều nội dung và khía cạnh. Bắt nguồn từ tính chất kỷ luật Đảng theo tư tưởng của Người, nên “Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”

NGHIÊM TÚC

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Người cho rằng, Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Tất cả tổ chức đảng và đảng viên đều phải phục tùng kỷ luật của Đảng, phải chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện”.

TỰ GIÁC

Tự giác là đặc trưng cơ bản của kỷ luật đảng. Kỷ luật này do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng. Vì Đảng ta bao gồm những người thừa nhận và tự nguyện phấn đấu thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, lấy việc phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm lẽ sống của mình. Người cho rằng, người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa và cũng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử hạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”

Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của kỷ luật đảng vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài. Việc củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Đảng đòi hỏi các cấp ủy đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành luật pháp, phải đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH CAM KẾT ĐỐI VỚI HỢP TÁC MÊ CÔNG

 Nhận lời mời của Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lý Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị thượng đỉnh hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) lần thứ 8, Hội nghị cấp cao Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mê Công (ACMECS) lần thứ 10, Hội nghị cấp cao hợp tác Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam (CLMV) lần thứ 11 và làm việc tại Trung Quốc từ ngày 5 đến 8-11.


Chuyến công tác nhằm khẳng định cam kết của Việt Nam đối với các cơ chế GMS, ACMECS và CLMV nói riêng, hợp tác tại khu vực Mê Công nói chung.


GMS là khuôn khổ hợp tác được thành lập đầu tiên tại Tiểu vùng Mê Công vào năm 1992 với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), bao gồm các nước thành viên là Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Trung Quốc (với hai tỉnh đại diện là Vân Nam và Quảng Tây).


Trong hơn 30 năm qua, hợp tác GMS không ngừng mở rộng về quy mô, đi sâu về nội dung, khẳng định được bản sắc riêng là một cơ chế hợp tác khu vực có uy tín, dựa trên 3 trụ cột hợp tác: Cộng đồng, kết nối và năng lực cạnh tranh.


Kể từ ngày đầu thành lập GMS đến nay, Việt Nam đã và đang tham gia đầy đủ, tích cực các hoạt động hợp tác; đóng góp ý kiến xây dựng các kế hoạch, chiến lược trong tiểu vùng; tham gia và triển khai có hiệu quả Chiến lược giao thông vận tải GMS 2030; tiếp nhận 2 dự án “Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch hỗ trợ cho tăng trưởng toàn diện Tiểu vùng Mê Công mở rộng” giai đoạn 1 từ năm 2014 đến 2019 và giai đoạn 2 từ năm 2019 đến 2024. Trong Khung đầu tư khu vực, giai đoạn 2021-2025, Việt Nam huy động được hơn 100 dự án trị giá trên 10,4 tỷ USD.


ACMECS là khuôn khổ hợp tác kinh tế gồm 5 nước Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan. Hợp tác ACMECS bao gồm 8 lĩnh vực là thương mại-đầu tư, nông nghiệp, công nghiệp-năng lượng, giao thông, du lịch, phát triển nguồn nhân lực, y tế và môi trường. Nguyên tắc hợp tác ACMECS là tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác.


Là thành viên có trách nhiệm, Việt Nam luôn tích cực đề xuất và triển khai nhiều ý tưởng mới, đóng góp xây dựng các văn bản quan trọng, hình thành và thúc đẩy các sáng kiến, hỗ trợ phát triển cho các nước thành viên, trong đó có phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng cơ sở. Đáng chú ý, Việt Nam đang tiến hành các thủ tục trong nước để sớm công bố phương án đóng góp tài chính đối với Quỹ phát triển ACMECS, qua đó thúc đẩy việc sớm thành lập quỹ, bảo đảm công tác triển khai hiệu quả các dự án trong Kế hoạch tổng thể ACMECS, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và các nền kinh tế ACMECS cũng như sự phát triển bền vững của tiểu vùng.


Cùng với đó, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Nhật Bản vào tháng 12-2003 ở Tokyo (Nhật Bản), lãnh đạo cấp cao các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam nhất trí tổ chức Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ nhất vào dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 tại Vientiane (Lào) vào tháng 11-2004. Việc hình thành hợp tác CLMV là một trong những nỗ lực đáp ứng yêu cầu khách quan của hội nhập Tiểu vùng Mê Công và ASEAN. Hợp tác CLMV là cơ chế hợp tác mở, một mặt phát huy lợi thế, tiềm năng hợp tác sẵn có của các nước CLMV, một mặt là kênh kêu gọi hỗ trợ của các nước ASEAN khác và các đối tác phát triển dành cho các nước CLMV.


Hơn nữa, hợp tác CLMV cũng là diễn đàn để các nước CLMV phối hợp trong tiến trình liên kết kinh tế ASEAN. Ngay từ khi tham gia vào hợp tác CLMV, Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò dẫn dắt, tích cực thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia vì sự phát triển chung của khu vực. Đặc biệt, năm 2018, trong vai trò Chủ tịch hợp tác CLMV, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ 8 với sự ra đời của Khung khổ Phát triển CLMV-văn kiện có tính định hướng chiến lược đầu tiên được xây dựng về hợp tác kinh tế giữa các nước CLMV kể từ khi cơ chế hợp tác này được hình thành.


Có thể thấy rõ, GMS, ACMECS và CLMV là những cơ chế có mục tiêu thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế cùng có lợi giữa các nước; hỗ trợ các nước thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG); đưa Tiểu vùng Mê Công mở rộng nhanh chóng, trở thành vùng phát triển nhanh và thịnh vượng; khai thác và phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các nước thành viên, nâng cao sức cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách phát triển. Cho đến nay, hợp tác GMS, ACMECS và CLMV được đánh giá đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, cũng như củng cố quan hệ hữu nghị, hòa bình và ổn định ở khu vực.


Chúng ta tin tưởng rằng, chuyến công tác tham dự Hội nghị thượng đỉnh GMS lần thứ 8, Hội nghị cấp cao ACMECS lần thứ 10, Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ 11 và làm việc tại Trung Quốc của Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thành công tốt đẹp, qua đó tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng cường quan hệ giữa các nước trong khu vực Mê Công cũng như đưa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc không ngừng phát triển./.

PBVN ST 

THỰC HIỆN MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC 100 NĂM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, 100 NĂM THÀNH LẬP NƯỚC - BÀI 1: CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI XIV VÀ TẦM NHÌN MỚI

 

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được nền tảng thế và lực, hội tụ đủ những điều kiện cần thiết để đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ hiện thực hóa mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa XIII đã nhận định như vậy. Báo Quân đội nhân dân đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia về những định hướng chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng của dân tộc.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, việc nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và tầm quan trọng của thời kỳ này là vô cùng cần thiết. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Phòng, Giảng viên cao cấp, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Phóng viên: Thưa GS, TS Trần Văn Phòng, chúng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển, hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh vượng. Điều này đặt ra cho Đảng ta vấn đề gì về nội dung, phương thức lãnh đạo?

GS, TS Trần Văn Phòng: Xin cảm ơn câu hỏi của đồng chí. Việc Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa XIII đặt ra quyết tâm chuẩn bị thật tốt cho Đại hội XIV của Đảng, nhằm sớm đạt được mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang trải qua những biến động lớn từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và những thách thức an ninh phi truyền thống, việc nhận thức đúng thời cơ, vận mệnh và hành động kịp thời để đưa đất nước bước vào thời kỳ mới là nhiệm vụ cấp thiết.

Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, quy mô GDP tăng đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng nâng cao. Đây chính là "thế và lực" mới, tạo nền tảng vững chắc để chúng ta bước vào một giai đoạn phát triển mới, là sự chuyển đổi về chất trong quá trình phát triển. Chúng ta đang đứng trước những thời cơ và vận hội chưa từng có, nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn và thách thức từ bối cảnh quốc tế phức tạp và biến động nhanh chóng, khó lường, khó dự báo.

Trong thời kỳ mới thì Đại hội lần thứ XIV của Đảng sẽ là một dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển của đất nước. Bởi vậy, tại phiên họp Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý, việc xây dựng Báo cáo chính trị lần này có ý nghĩa rất quan trọng, phải thật sự có chất lượng, thật sự là cơ sở định hướng cho các văn kiện khác, thậm chí là “ngọn đuốc soi đường” cho những kỳ đại hội tiếp theo.

Nhận thức về thời kỳ mới đòi hỏi Đảng ta phải có chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi. Đường lối ấy cần phải kết tinh trình độ lý luận, tầm cao trí tuệ của toàn Đảng, niềm tin và khát vọng của cả dân tộc, phản ánh những quy luật khách quan, xu thế vận động mới của thời đại và thực tiễn đất nước; kết tinh toàn bộ tinh hoa, giá trị của quá khứ, hiện tại và hướng tới tương lai; đưa đất nước đạt các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước; phải phản ánh đầy đủ thực tiễn đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, củng cố luận cứ vững chắc để định ra phương pháp cho Cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

Phóng viên: Theo ông, những yếu tố nào sẽ giữ vai trò nòng cốt, thúc đẩy đất nước phát triển, đạt được các mục tiêu chiến lược trong thời kỳ mới?

GS, TS Trần Văn Phòng: Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới nhờ vào nhiều yếu tố quan trọng thúc đẩy. Sau 40 năm Đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội đáng kể. Quy mô nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, từ GDP 26,3 tỷ USD trong những năm đầu Đổi mới lên đến 430 tỷ USD vào năm 2023. Thu nhập bình quân đầu người tăng 58 lần, đạt hơn 4.300 USD, và tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, chỉ còn 2,9% theo chuẩn nghèo đa chiều. Việt Nam đã trở thành nước có quy mô nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN, thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Những con số này không chỉ minh chứng cho sự phát triển vượt bậc mà còn khẳng định vị thế mới của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.

Cùng với đó, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 8 nước đối tác chiến lược toàn diện, 11 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Việt Nam đã thiết lập đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tham gia tích cực vào hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực, ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) kết nối với 60 nền kinh tế chủ chốt, đưa quy mô thương mại vào top 20 quốc gia trên thế giới. Những nỗ lực hội nhập sâu rộng này đã biến Việt Nam thành điểm đến hấp dẫn cho đầu tư quốc tế, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn.

Sự ổn định chính trị và xã hội cũng là yếu tố then chốt cho phát triển kinh tế bền vững. Môi trường chính trị ổn định, xã hội an ninh, trật tự được bảo đảm nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với lòng tin và sự đồng thuận của nhân dân, đã tạo ra môi trường thuận lợi để triển khai các chính sách phát triển toàn diện trên tất cả các mặt.

Khát vọng và quyết tâm vươn lên của toàn dân tộc là động lực nội sinh mạnh mẽ. Tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cùng với sự đồng lòng của hơn 100 triệu người dân Việt Nam, trong và ngoài nước, là nguồn lực to lớn thúc đẩy quá trình phát triển.

Hơn nữa, Việt Nam đang tích cực tham gia vào Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được coi là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ mới. Lực lượng lao động trẻ, năng động, sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu kiến thức và công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại, là một lợi thế lớn. Việt Nam đã đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông và hạ tầng số đã tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, kết nối với khu vực và thế giới.

Cuối cùng, tinh thần đoàn kết và hội nhập quốc tế sâu rộng tiếp tục được phát huy. Việt Nam duy trì chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Sự hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, hưởng lợi từ xu thế toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Phóng viên: Theo Giáo sư, mục tiêu chiến lược của dân tộc trong thời kỳ mới này là gì?

GS, TS Trần Văn Phòng: Với thế và lực đã đạt được, trong thời kỳ mới, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Cụ thể, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói khác đi, đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam là nước phát triển, tạo nền tảng vững chắc bước vào thời kỳ phát triển mới vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tầm nhìn chiến lược này định hướng cho mọi hoạt động xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc để toàn Đảng, toàn dân phấn đấu tới phát triển bền vững.

Thứ ba, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số mang đến cả cơ hội và thách thức. Nếu không nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các công nghệ mới, chúng ta có nguy cơ bị tụt hậu, mất đi lợi thế cạnh tranh. Sự thay đổi trong cơ cấu lao động, với việc tự động hóa và trí tuệ nhân tạo thay thế nhiều công việc truyền thống, đòi hỏi chúng ta phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập trung vào đào tạo kỹ năng mới.

Phóng viên: Để đạt được những mục tiêu chiến lược nêu trên, cần phải làm gì thưa Giáo sư?

GS, TS Trần Văn Phòng: Để sớm đạt được mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước, cần nỗ lực thực hiện với ba ưu tiên đột phá chiến lược đã được nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là thể chế, con người và cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh đó, những bài học kinh nghiệm từ quá khứ cũng là nguồn tài sản vô giá giúp chúng ta định hướng đúng và thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong tình hình hiện nay. Để Việt Nam thành công trong giai đoạn quan trọng này, chúng ta có thể tham khảo một số bài học quan trọng đã được đúc kết từ lịch sử đấu tranh và xây dựng đất nước.

Trước hết, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc là một trong những bài học quý báu nhất. Lịch sử đã chứng minh rằng, mỗi khi dân tộc ta đồng lòng, chung sức, chúng ta đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức, từ cuộc đấu tranh giành độc lập đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, việc củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Sự đoàn kết không chỉ giữa các tầng lớp nhân dân, mà còn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước.

Thứ hai, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nguyên tắc nền tảng đã dẫn dắt chúng ta qua nhiều giai đoạn lịch sử. Sự kiên định này giúp chúng ta giữ vững định hướng phát triển, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế và các lĩnh vực khác phát triển. Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, việc giữ vững lập trường, không dao động trước những thách thức là yếu tố then chốt để đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Thứ ba, bài học về đổi mới tư duy và sáng tạo từ công cuộc Đổi mới năm 1986 là minh chứng rõ rệt cho sức mạnh của việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chính nhờ sự đổi mới này, chúng ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở ra giai đoạn phát triển mạnh mẽ trong hơn ba thập kỷ qua. Trong thời kỳ mới, việc tiếp tục đổi mới, thúc đẩy sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số là cần thiết để bắt kịp xu thế của thời đại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ tư, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và hội nhập sâu rộng là bài học quan trọng giúp Việt Nam tận dụng cơ hội từ quá trình toàn cầu hóa. Việc tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mở rộng quan hệ ngoại giao, kinh tế với nhiều quốc gia đã giúp chúng ta tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn vốn mới. Tuy nhiên, hội nhập cần đi đôi với việc giữ vững bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc, độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững. Lịch sử cho thấy, con người luôn là trung tâm của mọi sự phát triển. Đầu tư vào giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động sẽ tạo ra lực lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế tri thức. Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng đạo đức, lối sống, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát triển đất nước của toàn dân, trong đó có thế hệ trẻ.

Thứ sáu, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bài học từ quá trình cải cách kinh tế. Một thể chế minh bạch, hiệu quả, công bằng sẽ tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, thu hút đầu tư, thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới. Việc tiếp tục cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, chống tham nhũng, lãng phí là cần thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Thứ bảy, phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là bài học từ những hậu quả của phát triển thiếu bền vững. Chúng ta cần chú trọng cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, hướng tới phát triển bền vững. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn phù hợp với xu hướng toàn cầu, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ tám, phòng chống tham nhũng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là điều kiện tiên quyết để duy trì niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái đạo đức, tư tưởng sẽ tạo ra môi trường chính trị, xã hội lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội.

Thứ chín, phát huy tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng phát triển là động lực nội sinh mạnh mẽ. Lòng yêu nước, ý chí vươn lên, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu đã giúp dân tộc ta vượt qua nhiều thử thách trong lịch sử. Trong giai đoạn từ nay cho đến năm 2045, việc khơi dậy và phát huy tinh thần này sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để chúng ta vượt qua mọi khó khăn, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cuối cùng, tận dụng lợi thế địa chính trị và kinh tế của đất nước. Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, là cầu nối giữa các nền kinh tế lớn. Việc khai thác hiệu quả lợi thế này sẽ giúp chúng ta thu hút đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao vai trò và ảnh hưởng trên trường quốc tế.

Tổng kết lại, những bài học kinh nghiệm từ lịch sử và công cuộc Đổi mới là kim chỉ nam giúp chúng ta có tầm nhìn mới, có định hướng đúng và hành động đúng trong thực hiện mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa nội lực và ngoại lực, giữa giữ vững bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam tự tin tiến bước trên con đường phát triển. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đồng lòng của toàn dân, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa đất nước vững bước vào thời kỳ mới, xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Bác Hồ kính yêu!

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!./.

 

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

 

Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu phải chăng như một bằng chứng hiển nhiên của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác -Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội? Phải chăng có một lôgíc thực tế là chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ là do lý thuyết về chủ nghĩa xã hội là sai lầm?

Trước hết, cần phải nói rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên Xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứnhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập, tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu. Chính chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thếlực tư bản, đế quốc phải thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của chủ nghĩa tư bản thực dân, đế quốc; mặt khác, tạo thành sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. Chủ nghĩa xã hội đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kissinger, Brêginxki thời kỳ những năm 60, 70 của thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ

Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm của những người cộng sản ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử - cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không “dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” để xây dựng, phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa

Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cụ thể. Tuyệt nhiên đó không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy chủ nghĩa xã hội làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình.

Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển

Từ tất cả thực tế ấy, không thể nói rằng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ XX có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội là sai lầm và lỗi thời và ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính chủ nghĩa tư bản đang đứng trước những thách thức đầynguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của chủ nghĩa tư bản đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự chia rẽ từ chính trong lòng của nó khi chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước xã hội chủ nghĩa. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực tư bản chủ nghĩa. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu trong những năm qua, không chỉ đe dọa an ninh mà còn tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ tư bản chủ nghĩa./.