LỚN LÊN CON SẼ LÀM CHÚ BỘ ĐỘI
Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024
LỚN LÊN CON SẼ LÀM CHÚ BỘ ĐỘI
CHÂN DUNG PHÓ TGĐ TRẺ NHẤT CỦA TẬP ĐOÀN VIETTEL
CHÂN DUNG PHÓ TGĐ TRẺ NHẤT CỦA TẬP ĐOÀN VIETTEL
"TỪ THIẾU ÚY ĐẾN ĐẠI TÁ CHƯA CHẮC ĐÃ MUA ĐƯỢC NHÀ"
"TỪ THIẾU ÚY ĐẾN ĐẠI TÁ CHƯA CHẮC ĐÃ MUA ĐƯỢC NHÀ"
Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024
TƯ TƯỞNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG
“Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh
thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ đảng viên”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây
dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Để xây
dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, giữ vững vị
trí, vai trò, năng lực cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc
giữ gìn kỷ luật của Đảng.
Kỷ luật của Đảng là tổng thể những điều đã được quy định
trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định,
quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng có tính chất bắt buộc đối với hoạt động
của mọi tổ chức đảng và đảng viên nhằm bảo đảm sự thống nhất về chính trị, tư
tưởng, tổ chức trong toàn Đảng.
Kỷ luật Đảng rõ ràng, chặt chẽ, nghiêm minh là điều kiện
quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất
cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương
của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi. Kỷ luật Đảng theo tư
tưởng Hồ Chí Minh có rất nhiều nội dung và khía cạnh. Bắt nguồn từ tính chất kỷ
luật Đảng theo tư tưởng của Người, nên “Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là
nghiêm túc và tự giác”
NGHIÊM TÚC
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc nghiêm chỉnh chấp hành kỷ
luật đảng, pháp luật nhà nước là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Người
cho rằng, Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Tất cả tổ chức
đảng và đảng viên đều phải phục tùng kỷ luật của Đảng, phải chấp hành các
nguyên tắc tổ chức của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch
Hồ Chí Minh yêu cầu: “Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã
quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách
thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện”.
TỰ GIÁC
Tự giác là đặc trưng cơ bản của kỷ
luật đảng. Kỷ luật này do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với
Đảng. Vì Đảng ta bao gồm những người thừa nhận và tự nguyện phấn đấu thực hiện
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, lấy việc phấn đấu cho mục đích, lý tưởng
của Đảng, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm lẽ sống của mình. Người cho
rằng, người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta
không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa và cũng
sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa những sai
lầm, khuyết điểm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần
dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên
không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt
thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn
không dùng xử hạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không
đúng”
Trong
giai đoạn hiện nay, vai trò của kỷ luật đảng vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ
bản, lâu dài. Việc củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ thường
xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Đảng đòi hỏi các cấp ủy đảng, các
cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành luật pháp, phải đi đầu trong cuộc
đấu tranh tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng trong quá
trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH CAM KẾT ĐỐI VỚI HỢP TÁC MÊ CÔNG
Nhận lời mời của Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lý Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị thượng đỉnh hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) lần thứ 8, Hội nghị cấp cao Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mê Công (ACMECS) lần thứ 10, Hội nghị cấp cao hợp tác Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam (CLMV) lần thứ 11 và làm việc tại Trung Quốc từ ngày 5 đến 8-11.
Chuyến công tác nhằm khẳng định cam kết của Việt Nam đối với các cơ chế GMS, ACMECS và CLMV nói riêng, hợp tác tại khu vực Mê Công nói chung.
GMS là khuôn khổ hợp tác được thành lập đầu tiên tại Tiểu vùng Mê Công vào năm 1992 với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), bao gồm các nước thành viên là Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Trung Quốc (với hai tỉnh đại diện là Vân Nam và Quảng Tây).
Trong hơn 30 năm qua, hợp tác GMS không ngừng mở rộng về quy mô, đi sâu về nội dung, khẳng định được bản sắc riêng là một cơ chế hợp tác khu vực có uy tín, dựa trên 3 trụ cột hợp tác: Cộng đồng, kết nối và năng lực cạnh tranh.
Kể từ ngày đầu thành lập GMS đến nay, Việt Nam đã và đang tham gia đầy đủ, tích cực các hoạt động hợp tác; đóng góp ý kiến xây dựng các kế hoạch, chiến lược trong tiểu vùng; tham gia và triển khai có hiệu quả Chiến lược giao thông vận tải GMS 2030; tiếp nhận 2 dự án “Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch hỗ trợ cho tăng trưởng toàn diện Tiểu vùng Mê Công mở rộng” giai đoạn 1 từ năm 2014 đến 2019 và giai đoạn 2 từ năm 2019 đến 2024. Trong Khung đầu tư khu vực, giai đoạn 2021-2025, Việt Nam huy động được hơn 100 dự án trị giá trên 10,4 tỷ USD.
ACMECS là khuôn khổ hợp tác kinh tế gồm 5 nước Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan. Hợp tác ACMECS bao gồm 8 lĩnh vực là thương mại-đầu tư, nông nghiệp, công nghiệp-năng lượng, giao thông, du lịch, phát triển nguồn nhân lực, y tế và môi trường. Nguyên tắc hợp tác ACMECS là tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác.
Là thành viên có trách nhiệm, Việt Nam luôn tích cực đề xuất và triển khai nhiều ý tưởng mới, đóng góp xây dựng các văn bản quan trọng, hình thành và thúc đẩy các sáng kiến, hỗ trợ phát triển cho các nước thành viên, trong đó có phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng cơ sở. Đáng chú ý, Việt Nam đang tiến hành các thủ tục trong nước để sớm công bố phương án đóng góp tài chính đối với Quỹ phát triển ACMECS, qua đó thúc đẩy việc sớm thành lập quỹ, bảo đảm công tác triển khai hiệu quả các dự án trong Kế hoạch tổng thể ACMECS, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và các nền kinh tế ACMECS cũng như sự phát triển bền vững của tiểu vùng.
Cùng với đó, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Nhật Bản vào tháng 12-2003 ở Tokyo (Nhật Bản), lãnh đạo cấp cao các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam nhất trí tổ chức Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ nhất vào dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 tại Vientiane (Lào) vào tháng 11-2004. Việc hình thành hợp tác CLMV là một trong những nỗ lực đáp ứng yêu cầu khách quan của hội nhập Tiểu vùng Mê Công và ASEAN. Hợp tác CLMV là cơ chế hợp tác mở, một mặt phát huy lợi thế, tiềm năng hợp tác sẵn có của các nước CLMV, một mặt là kênh kêu gọi hỗ trợ của các nước ASEAN khác và các đối tác phát triển dành cho các nước CLMV.
Hơn nữa, hợp tác CLMV cũng là diễn đàn để các nước CLMV phối hợp trong tiến trình liên kết kinh tế ASEAN. Ngay từ khi tham gia vào hợp tác CLMV, Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò dẫn dắt, tích cực thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia vì sự phát triển chung của khu vực. Đặc biệt, năm 2018, trong vai trò Chủ tịch hợp tác CLMV, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ 8 với sự ra đời của Khung khổ Phát triển CLMV-văn kiện có tính định hướng chiến lược đầu tiên được xây dựng về hợp tác kinh tế giữa các nước CLMV kể từ khi cơ chế hợp tác này được hình thành.
Có thể thấy rõ, GMS, ACMECS và CLMV là những cơ chế có mục tiêu thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế cùng có lợi giữa các nước; hỗ trợ các nước thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG); đưa Tiểu vùng Mê Công mở rộng nhanh chóng, trở thành vùng phát triển nhanh và thịnh vượng; khai thác và phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các nước thành viên, nâng cao sức cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách phát triển. Cho đến nay, hợp tác GMS, ACMECS và CLMV được đánh giá đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, cũng như củng cố quan hệ hữu nghị, hòa bình và ổn định ở khu vực.
Chúng ta tin tưởng rằng, chuyến công tác tham dự Hội nghị thượng đỉnh GMS lần thứ 8, Hội nghị cấp cao ACMECS lần thứ 10, Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ 11 và làm việc tại Trung Quốc của Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thành công tốt đẹp, qua đó tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng cường quan hệ giữa các nước trong khu vực Mê Công cũng như đưa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc không ngừng phát triển./.
PBVN ST
THỰC HIỆN MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC 100 NĂM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, 100 NĂM THÀNH LẬP NƯỚC - BÀI 1: CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI XIV VÀ TẦM NHÌN MỚI
Sau 40 năm đổi mới, Việt
Nam đã tích lũy được nền tảng thế và lực, hội tụ đủ những điều kiện cần thiết
để đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ hiện thực hóa mục tiêu
chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước. Nghị
quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa XIII đã nhận định như vậy. Báo
Quân đội nhân dân đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia về những định hướng
chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh
vượng của dân tộc.
Trong bối cảnh đất nước
đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, việc nhận thức sâu sắc về ý nghĩa
và tầm quan trọng của thời kỳ này là vô cùng cần thiết. Để hiểu rõ hơn về vấn
đề này, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Phòng, Giảng
viên cao cấp, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Viện trưởng Viện
Triết học, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Phóng viên: Thưa GS, TS
Trần Văn Phòng, chúng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp phát triển, hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh
vượng. Điều này đặt ra cho Đảng ta vấn đề gì về nội dung, phương thức lãnh đạo?
GS, TS Trần Văn Phòng:
Xin cảm ơn câu hỏi của đồng chí. Việc Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa
XIII đặt ra quyết tâm chuẩn bị thật tốt cho Đại hội XIV của Đảng, nhằm sớm đạt
được mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập
Nước có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, có tầm quan trọng đặc biệt trong
bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang trải qua những biến động lớn từ cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và những thách
thức an ninh phi truyền thống, việc nhận thức đúng thời cơ, vận mệnh và hành
động kịp thời để đưa đất nước bước vào thời kỳ mới là nhiệm vụ cấp thiết.
Sau gần 40 năm đổi mới,
đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ, quy mô GDP tăng đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện
rõ rệt, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng nâng cao. Đây chính là
"thế và lực" mới, tạo nền tảng vững chắc để chúng ta bước vào một
giai đoạn phát triển mới, là sự chuyển đổi về chất trong quá trình phát triển.
Chúng ta đang đứng trước những thời cơ và vận hội chưa từng có, nhưng cũng đối
mặt với không ít khó khăn và thách thức từ bối cảnh quốc tế phức tạp và biến
động nhanh chóng, khó lường, khó dự báo.
Trong thời kỳ mới thì
Đại hội lần thứ XIV của Đảng sẽ là một dấu mốc quan trọng trên con đường phát
triển của đất nước. Bởi vậy, tại phiên họp Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của
Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý, việc xây dựng Báo cáo chính trị lần này có ý nghĩa
rất quan trọng, phải thật sự có chất lượng, thật sự là cơ sở định hướng cho các
văn kiện khác, thậm chí là “ngọn đuốc soi đường” cho những kỳ đại hội tiếp
theo.
Nhận thức về thời kỳ mới
đòi hỏi Đảng ta phải có chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn và tổ chức thực
hiện thắng lợi. Đường lối ấy cần phải kết tinh trình độ lý luận, tầm cao trí
tuệ của toàn Đảng, niềm tin và khát vọng của cả dân tộc, phản ánh những quy
luật khách quan, xu thế vận động mới của thời đại và thực tiễn đất nước; kết
tinh toàn bộ tinh hoa, giá trị của quá khứ, hiện tại và hướng tới tương lai;
đưa đất nước đạt các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100
năm thành lập Nước; phải phản ánh đầy đủ thực tiễn đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, củng cố luận cứ vững chắc để định ra phương pháp cho Cách mạng Việt
Nam trong thời đại mới.
Phóng viên: Theo ông,
những yếu tố nào sẽ giữ vai trò nòng cốt, thúc đẩy đất nước phát triển, đạt
được các mục tiêu chiến lược trong thời kỳ mới?
GS, TS Trần Văn Phòng: Việt Nam đang
bước vào thời kỳ mới nhờ vào nhiều yếu tố quan trọng thúc đẩy. Sau 40 năm Đổi
mới, đất nước đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội đáng kể. Quy mô nền
kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, từ GDP 26,3 tỷ USD trong những năm đầu Đổi mới lên
đến 430 tỷ USD vào năm 2023. Thu nhập bình quân đầu người tăng 58 lần, đạt hơn
4.300 USD, và tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, chỉ còn 2,9% theo chuẩn nghèo đa
chiều. Việt Nam đã trở thành nước có quy mô nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN,
thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Những con số này không chỉ minh
chứng cho sự phát triển vượt bậc mà còn khẳng định vị thế mới của Việt Nam trên
bản đồ kinh tế thế giới.
Cùng với đó, vị thế và
uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chúng ta đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 8 nước đối tác chiến lược toàn
diện, 11 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Việt Nam đã
thiết lập đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với tất cả 5 nước
Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tham gia tích cực vào hơn 70
tổ chức quốc tế và khu vực, ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) kết nối
với 60 nền kinh tế chủ chốt, đưa quy mô thương mại vào top 20 quốc gia trên thế
giới. Những nỗ lực hội nhập sâu rộng này đã biến Việt Nam thành điểm đến hấp
dẫn cho đầu tư quốc tế, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong
các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn.
Sự ổn định chính trị và xã hội cũng là
yếu tố then chốt cho phát triển kinh tế bền vững. Môi trường chính trị ổn định,
xã hội an ninh, trật tự được bảo đảm nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng
sản Việt Nam, cùng với lòng tin và sự đồng thuận của nhân dân, đã tạo ra môi
trường thuận lợi để triển khai các chính sách phát triển toàn diện trên tất cả
các mặt.
Khát vọng và quyết tâm
vươn lên của toàn dân tộc là động lực nội sinh mạnh mẽ. Tinh thần yêu nước, ý
chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cùng
với sự đồng lòng của hơn 100 triệu người dân Việt Nam, trong và ngoài nước, là
nguồn lực to lớn thúc đẩy quá trình phát triển.
Hơn nữa, Việt Nam đang tích cực tham
gia vào Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi lĩnh
vực. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được coi là động lực
chính cho tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ mới. Lực lượng lao động trẻ, năng
động, sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu kiến thức và công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu
của thị trường lao động hiện đại, là một lợi thế lớn. Việt Nam đã đầu tư mạnh
mẽ vào hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông và hạ tầng số đã tạo nền tảng
cho phát triển kinh tế - xã hội, kết nối với khu vực và thế giới.
Cuối cùng, tinh thần
đoàn kết và hội nhập quốc tế sâu rộng tiếp tục được phát huy. Việt Nam duy trì
chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và
là thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Sự hợp
tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam
tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, hưởng lợi từ xu thế toàn cầu hóa và Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư.
Phóng viên: Theo Giáo sư, mục tiêu
chiến lược của dân tộc trong thời kỳ mới này là gì?
GS, TS Trần Văn Phòng:
Với thế và lực đã đạt được, trong thời kỳ mới, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là
thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XIII đã đề ra. Cụ thể, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước
đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Trở thành nước phát
triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói khác đi, đến giữa
thế kỷ XXI, Việt Nam là nước phát triển, tạo nền tảng vững chắc bước vào thời
kỳ phát triển mới vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh,
phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tầm nhìn
chiến lược này định hướng cho mọi hoạt động xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc
để toàn Đảng, toàn dân phấn đấu tới phát triển bền vững.
Thứ ba, Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số mang đến cả cơ hội và thách thức. Nếu không
nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các công nghệ mới, chúng ta có nguy cơ bị tụt
hậu, mất đi lợi thế cạnh tranh. Sự thay đổi trong cơ cấu lao động, với việc tự
động hóa và trí tuệ nhân tạo thay thế nhiều công việc truyền thống, đòi hỏi
chúng ta phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập trung vào đào tạo kỹ năng
mới.
Phóng viên: Để đạt được những mục tiêu
chiến lược nêu trên, cần phải làm gì thưa Giáo sư?
GS, TS Trần Văn Phòng:
Để sớm đạt được mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm
thành lập Nước, cần nỗ lực thực hiện với ba ưu tiên đột phá chiến lược đã được
nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là thể chế, con người và cơ
sở hạ tầng.
Bên cạnh đó, những bài học kinh nghiệm
từ quá khứ cũng là nguồn tài sản vô giá giúp chúng ta định hướng đúng và thúc
đẩy sự phát triển của đất nước trong tình hình hiện nay. Để Việt Nam thành công
trong giai đoạn quan trọng này, chúng ta có thể tham khảo một số bài học quan
trọng đã được đúc kết từ lịch sử đấu tranh và xây dựng đất nước.
Trước hết, tinh thần
đoàn kết toàn dân tộc là một trong những bài học quý báu nhất. Lịch sử đã chứng
minh rằng, mỗi khi dân tộc ta đồng lòng, chung sức, chúng ta đã vượt qua mọi
khó khăn, thách thức, từ cuộc đấu tranh giành độc lập đến công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, việc củng cố và phát huy khối đại
đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Sự đoàn kết
không chỉ giữa các tầng lớp nhân dân, mà còn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân,
tạo nên sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước.
Thứ hai, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nguyên tắc nền tảng đã dẫn dắt
chúng ta qua nhiều giai đoạn lịch sử. Sự kiên định này giúp chúng ta giữ vững
định hướng phát triển, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường
thuận lợi cho kinh tế và các lĩnh vực khác phát triển. Trong bối cảnh thế giới
biến động phức tạp, việc giữ vững lập trường, không dao động trước những thách
thức là yếu tố then chốt để đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra.
Thứ ba, bài học về đổi
mới tư duy và sáng tạo từ công cuộc Đổi mới năm 1986 là minh chứng rõ rệt cho
sức mạnh của việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chính nhờ sự đổi mới
này, chúng ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở ra giai đoạn phát triển mạnh mẽ trong
hơn ba thập kỷ qua. Trong thời kỳ mới, việc tiếp tục đổi mới, thúc đẩy sáng
tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số là cần thiết để bắt kịp xu
thế của thời đại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ tư, học hỏi kinh
nghiệm quốc tế và hội nhập sâu rộng là bài học quan trọng giúp Việt Nam tận
dụng cơ hội từ quá trình toàn cầu hóa. Việc tham gia tích cực vào các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, mở rộng quan hệ ngoại giao, kinh tế với nhiều quốc
gia đã giúp chúng ta tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn vốn mới. Tuy
nhiên, hội nhập cần đi đôi với việc giữ vững bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc,
độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia.
Thứ năm, phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và
bền vững. Lịch sử cho thấy, con người luôn là trung tâm của mọi sự phát triển.
Đầu tư vào giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động
sẽ tạo ra lực lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư và nền kinh tế tri thức. Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng đạo đức, lối
sống, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát triển đất nước của toàn dân, trong đó
có thế hệ trẻ.
Thứ sáu, xây dựng và
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bài học từ
quá trình cải cách kinh tế. Một thể chế minh bạch, hiệu quả, công bằng sẽ tạo
môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, thu hút đầu tư, thúc đẩy sự
sáng tạo và đổi mới. Việc tiếp tục cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục,
chống tham nhũng, lãng phí là cần thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước.
Thứ
bảy, phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa,
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát
triển là bài học từ những hậu quả của phát triển thiếu bền vững. Chúng ta cần chú
trọng cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, giải quyết những
vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, hướng tới phát triển bền
vững. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn phù hợp với xu hướng
toàn cầu, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ tám, phòng chống
tham nhũng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là điều kiện tiên
quyết để duy trì niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết,
kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái đạo đức, tư
tưởng sẽ tạo ra môi trường chính trị, xã hội lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế và xã hội.
Thứ chín, phát huy tinh
thần tự lực, tự cường và khát vọng phát triển là động lực nội sinh mạnh mẽ.
Lòng yêu nước, ý chí vươn lên, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu đã giúp dân
tộc ta vượt qua nhiều thử thách trong lịch sử. Trong giai đoạn từ nay cho đến
năm 2045, việc khơi dậy và phát huy tinh thần này sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để
chúng ta vượt qua mọi khó khăn, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam
hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững
bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cuối
cùng, tận dụng lợi thế địa chính trị và kinh tế của đất nước. Việt Nam có vị
trí chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, là cầu nối giữa các nền
kinh tế lớn. Việc khai thác hiệu quả lợi thế này sẽ giúp chúng ta thu hút đầu
tư, mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao vai trò và ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Tổng kết lại, những bài
học kinh nghiệm từ lịch sử và công cuộc Đổi mới là kim chỉ nam giúp chúng ta có
tầm nhìn mới, có định hướng đúng và hành động đúng trong thực hiện mục tiêu
chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước. Việc kết
hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa nội lực và ngoại lực, giữa giữ vững bản
sắc dân tộc và hội nhập quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam tự
tin tiến bước trên con đường phát triển. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự
đồng lòng của toàn dân, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ đạt được những thành tựu
to lớn hơn nữa, đưa đất nước vững bước vào thời kỳ mới, xây dựng một Việt Nam
giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu
như mong muốn của Bác Hồ kính yêu!
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!./.
PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Sự sụp đổ của mô hình
chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu phải chăng như một bằng chứng
hiển nhiên của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác -Lênin và cùng với nó là
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội? Phải chăng có một lôgíc thực tế là chủ nghĩa
xã hội hiện thực sụp đổ là do lý thuyết về chủ nghĩa xã hội là sai lầm?
Trước hết, cần phải nói
rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi
rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên Xô, Đông
Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một
phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh mà trước đó không thể
tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người,
sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của
liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứnhất cũng như đội
quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng
thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó đã
động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân
tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập, tự
do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô
dẫn đầu. Chính chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân
dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thếlực tư
bản, đế quốc phải thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống
thuộc địa rộng lớn của chủ nghĩa tư bản thực dân, đế quốc; mặt khác, tạo thành
sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống
của nhân dân lao động ở chính quốc. Chủ nghĩa xã hội đã là một hiện thực hùng
mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra
những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản.
Những thừa nhận đắng cay của Henry Kissinger, Brêginxki thời kỳ những năm 60,
70 của thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ
Tất nhiên, sự sụp đổ của
mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau
đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là
kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và
đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những
vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình
xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm của những người
cộng sản ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây mắc phải do không
nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính
biện chứng và quan điểm lịch sử - cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa đã cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp
luận quý báu của V.I.Lênin, không “dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất
của nước ngoài” để xây dựng, phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa
Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình
xây dựng chủ nghĩa xã hội cụ thể. Tuyệt nhiên đó không phải là sự sụp đổ của
một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp
mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng
việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu cận kề nước Mỹ đang
tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình
mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc
Âu đã và đang lấy chủ nghĩa xã hội làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát
triển đất nước mình.
Đương nhiên còn một minh chứng hiện
hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có
Việt Nam, đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát
triển
Từ tất cả thực tế ấy,
không thể nói rằng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ
trong những năm cuối thế kỷ XX có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa
xã hội là sai lầm và lỗi thời và ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng chủ
nghĩa tư bản đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính chủ nghĩa tư bản
đang đứng trước những thách thức đầynguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn
bệnh bản chất của chủ nghĩa tư bản đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi
trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh
chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự chia rẽ từ chính trong lòng của
nó khi chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước xã hội chủ
nghĩa. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn
không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt
của các thế lực tư bản chủ nghĩa. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện
ngay trung tâm của châu Âu trong những năm qua, không chỉ đe dọa an ninh mà còn
tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ tư bản chủ nghĩa./.





