Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Lan tỏa các tác phẩm thông tin đối ngoại để bạn bè quốc tế hiểu và yêu Việt Nam hơn

 Tối 3/12, Lễ trao Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X sẽ diễn ra tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Trước thềm Lễ trao giải, đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại Trung ương đã trao đổi với phóng viên TTXVN về các nội dung xung quanh Giải thưởng năm nay.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Trưởng Ban Tuyên giao Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa trao giải Nhất, Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ IX cho các cá nhân và tập thể. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Trưởng Ban Tuyên giao Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa trao giải Nhất, Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ IX cho các cá nhân và tập thể. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

PV: Năm 2024 là năm thứ 10 của Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại. Xin đồng chí cho biết một số đánh giá tổng quan về mùa giải thứ 10 lần này?

Đồng chí Nguyễn Quế LâmNhư chúng ta đã biết, năm 2024 đánh dấu chặng đường 10 năm hình thành và phát triển của Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại. Và cho đến nay, Giải thưởng đã khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống các giải thưởng quốc gia uy tín của Việt Nam cũng như góp phần triển khai thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong từng giai đoạn.

Giải thưởng Thông tin đối ngoại không chỉ là một giải thưởng báo chí thông thường mà còn là diễn đàn để những người yêu Việt Nam, ủng hộ Việt Nam sáng tạo và lan tỏa hình ảnh Việt Nam, giá trị Việt Nam, trí tuệ Việt Nam ra thế giới.

Với gần 1.300 tác phẩm dự thi ở 10 hạng mục, Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X tiếp tục thu hút được sự quan tâm, tham gia từ các tác giả trong và ngoài nước.

Điểm nổi bật là hình thức thể hiện tiếp tục cho thấy sự đa dạng, hiện đại, tích cực sử dụng các phương tiện truyền thống mới (đối với các sản phẩm/tác phẩm hạng mục video clip). Các tác phẩm/sản phẩm của người nước ngoài thể hiện được tầm nhìn sâu, đánh giá khách quan, tích cực về Việt Nam trên nhiều khía cạnh.

Đặc biệt giải thưởng năm nay có các tác phẩm dự thi được thể hiện đa dạng ở nhiều ngôn ngữ, ngoài các ngôn ngữ quen thuộc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thì lần này có nhiều ngôn ngữ mới như Arab, Uzbekistan, Sinhala (ngôn ngữ phổ biến ở Sri Lanka)... Việc thu nhận tác phẩm thông qua phương thức gửi thư điện tử cũng đã tạo thuận lợi cho các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài gửi tác phẩm/sản phẩm tham dự Giải thưởng.

Trong số các tác phẩm tham gia Giải thưởng ở hạng mục báo in, báo điện tử tiếng nước ngoài thì TTXVN tiếp tục là cơ quan có nhiều tác phẩm gửi tham dự nhất. Điều này khẳng định vị thế đi đầu của TTXVN trong vai trò là một cơ quan báo chí đối ngoại chủ lực. Với các ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp, TTXVN có số lượng bài vượt trội, đặc biệt chất lượng. Hai giải cao ở hạng mục báo in, báo điện tử tiếng nước ngoài năm nay thuộc về TTXVN chính là sự ghi nhận cho những nỗ lực cống hiến, sáng tạo của lực lượng phóng viên báo chí TTXVN trong thực hiện công tác thông tin đối ngoại năm qua.

PV: Như đồng chí đã đánh giá, điểm nổi bật trong các tác phẩm đoạt giải năm nay là có nhiều tác phẩm có hình thức thể hiện đa dạng, hiện đại cũng như có nhiều tác phẩm của người nước ngoài phản ánh cái nhìn tích cực về Việt Nam. Xin đồng chí có thể chia sẻ cụ thể hơn về những tác phẩm như vậy?

Đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại Trung ương trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. (Ảnh: TTXVN)

Đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại Trung ương trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. (Ảnh: TTXVN)

Đồng chí Nguyễn Quế LâmVới tôi thì âm nhạc luôn là một thứ gì đó dễ chạm đến cảm xúc, đặc biệt là âm nhạc quốc tế đỉnh cao mà trước đây chúng ta thường chỉ theo dõi trên báo đài, cho đến khi IB Group khởi động chuỗi dự án âm nhạc đưa những thần tượng âm nhạc quốc tế đến Việt Nam biểu diễn như Modern Talking, Boney M, Chris Norman... và gần đây là Bond và Kenny G.

Đặc biệt là sự kiện IB Group và Báo Nhân dân ra mắt video âm nhạc được quay tại Hà Nội cho bản nhạc bất hủ “Going home”. Video này đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của khán giả trong và ngoài nước, góp phần lan tỏa những giá trị văn hóa, lịch sử, đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, hỗ trợ phát triển du lịch Hà Nội và Việt Nam. Những hình ảnh danh thắng nổi bật nhất của Thủ đô Hà Nội đã được lựa chọn cho từng góc máy quay trong bản video đặc biệt này.

Tác phẩm thứ hai đoạt giải cao mà tôi muốn chia sẻ đó là Di tích Trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, địa điểm ra đời Tờ báo đầu tiên của nền Báo chí cách mạng Việt Nam, đó là số nhà 248-250 phố Văn Minh, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tại nơi này 100 năm trước, từ tháng 11/1924 đến tháng 5/1927, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam và thành lập tờ “Thanh niên" để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Những năm gần đây, Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Quảng Đông đã triển khai tu tạo, sửa chữa, nâng cấp di tích và hiện nay, bất cứ ai khi đến đây đều như cảm thấy bước vào một "Bảo tàng Hồ Chí Minh thu nhỏ" tại Quảng Châu. Năm 2024, Khu di tích cũng vinh dự được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước ta đến tham quan. Với cách làm sáng tạo và thể hiện sự trân trọng của bạn bè Trung Quốc đối với lãnh tụ cách mạng Việt Nam, Di tích Trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã được Hội đồng chung khảo Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X đánh giá cao là sáng kiến, sản phẩm có giá trị thông tin đối ngoại.

PV: Sau 10 lần tổ chức giải, theo đồng chí, có thể đúc kết được kinh nghiệm gì để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng và sức lan tỏa của Giải?

Đồng chí Nguyễn Quế LâmMặc dù đã đạt được những kết quả rất tích cực, song cùng với yêu cầu, nhiệm vụ mới của công tác thông tin đối ngoại trong giai đoạn mới, Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại cần tiếp tục đổi mới để nâng cao chất lượng hơn, đóng góp hiệu quả hơn nữa vào công tác thông tin đối ngoại cũng như thực hiện các mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra.

Sau 10 năm tổ chức, Giải thưởng thực sự đã tạo nên một phong trào, động lực thúc đẩy mạnh mẽ những người làm thông tin đối ngoại không ngừng sáng tạo mang đến những tác phẩm chất lượng. Giờ đây, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao chất lượng hơn nữa, lan tỏa rộng rãi ra ngoài nước, tác động mạnh mẽ hơn nữa để bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam hơn, yêu Việt Nam hơn và đồng hành cùng Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bên cạnh các loại hình báo chí, cũng cần có thêm nhiều hình thức thể hiện truyền thông hiện đại khác, sáng tạo hơn, xúc tích hơn, đa dạng hơn, phải thực sự kể được những câu chuyện hấp dẫn, giàu cảm xúc về Việt Nam.

Tóm lại, Giải thưởng Thông tin đối ngoại cũng như công tác thông tin đối ngoại trong thời gian tới cần hết sức nỗ lực và tập trung để tuyên truyền tốt hơn nữa về cơ đồ, vị thế đất nước, đặc biệt khi chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của giàu mạnh và hạnh phúc, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!./.

Thủ tướng: Phát triển logistics là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược

 Sáng 2/12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên toàn thể Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024 với chủ đề “Khu thương mại tự do, giải pháp đột phá thúc đẩy tăng trưởng logistics” do Bộ Công Thương phối hợp với UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức.

Thủ tướng Phạm Minh Chính với các đại biểu tham dự Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Thủ tướng Phạm Minh Chính với các đại biểu tham dự Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Cùng dự sự kiện có: Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trần Hồng Minh; Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu Phạm Viết Thanh; lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, với tổng số hơn 2.000 đại biểu dự trực tiếp và trực tuyến.

NỀN TẢNG BƯỚC ĐẦU CHO LOGISTICS VIỆT NAM PHÁT TRIỂN

Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng, hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển dịch vụ logistics gắn với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại, phát triển hạ tầng giao thông vận tải, công nghệ thông tin... đem lại giá trị giá tăng cao.

Việt Nam được đánh giá là có nhiều cơ hội để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ logistics với hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics không ngừng được mở rộng với quy mô lớn, rộng khắp. Các dịch vụ đi kèm đã, đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường.

Tốc độ phát triển ngành logistics ở Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14 - 16%, với quy mô khoảng 40 - 42 tỷ USD/năm. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 43/155 nước về hiệu quả logistics và thuộc nhóm 5 nước dẫn đầu khu vực ASEAN.

Năm 2023, cả nước có 7.919 doanh nghiệp logistics thành lập mới; đến nay toàn thị trường có hơn 5.000 doanh nghiệp logistics. Một số doanh nghiệp đã chứng minh khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Việt Nam đứng đầu ASEAN về số doanh nghiệp được cấp phép vận chuyển đường biển đi và đến Hoa Kỳ.

Trong 9 tháng của năm 2024, cả nước có gần 6,5 nghìn doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 36,55 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 28,9 nghìn lao động, tăng 13,5% về số doanh nghiệp, tăng 18,3% về số lao động, nhưng lại giảm 11,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2023.

Nhìn chung, bên cạnh một số công ty logistics có sự tăng trưởng ổn định, ấn tượng thì các doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa ghi nhận sự sụt giảm trong kết quả kinh doanh, thua lỗ và thậm chí rút khỏi thị trường.

Chú thích ảnh
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Thời gian qua, Việt Nam tích cực nghiên cứu về các khu thương mại tự do trên thế giới. Đây là một loại hình khu kinh tế có thể mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, góp phần thúc đẩy dịch vụ logistics. Hiện tại Việt Nam chưa có khu thương mại tự do.

Diễn đàn Logistics Việt Nam do Bộ Công Thương tổ chức hàng năm từ năm 2013 đến nay. Diễn đàn năm nay nhằm thúc đẩy doanh nghiệp logistics ứng dụng công nghệ tiến bộ, hiện đại trong việc vận hành chuỗi cung ứng; tìm giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và khu vực Đông Nam Bộ; đặc biệt tạo môi trường để liên kết giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhằm phát triển logistics Việt Nam.

Với chủ đề “Khu thương mại tự do, giải pháp đột phá thúc đẩy tăng trưởng logistics”, Diễn đàn muốn gửi đi thông điệp về việc Việt Nam khuyến khích, thu hút phát triển các khu thương mại tự do, nhằm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về logistics, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tại phiên toàn thể, các đại biểu thảo luận sôi nổi về tình hình phát triển logistics; tiềm năng, thế mạnh; cơ chế, chính sách, định hướng phát triển logistics Việt Nam. Đặc biệt, các đại biểu có nhiều tham luận đề xuất định hướng phát triển logistics Việt Nam vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới; doanh nghiệp logistics Việt Nam trước bước ngoặt thời đại; kinh nghiệm, xu hướng phát triển logistics và khu thương mại tự do - cơ hội, khuyến nghị cho ngành logistics Việt Nam…

Các đại biểu đề xuất giải pháp thúc đẩy hình thành khu thương mại tự do, cảng trung chuyển quốc tế, xây dựng đội tàu container, đội tàu bay chuyên dụng vận tải hàng hóa. Đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế, xây dựng các doanh nghiệp logistics mạnh của Việt Nam, phát triển mạnh hạ tầng giao thông, kho bãi, đổi mới công nghệ, đào tạo, nâng cao nhân lực ngành logistics, phát triển các mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực logistics. Cùng với đó là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, có chính sách khuyến khích người nước ngoài phát triển logistics Việt Nam như chính sách thuế, thị thực…

Phát biểu tại Diễn đàn, đánh giá vai trò, tiềm năng phát triển logistics, Thủ tướng nhấn mạnh, thời gian qua, nhận thức về phát triển logistics ở Việt Nam được nâng lên; khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách được tiếp tục hoàn thiện. Hạ tầng logistics phát triển nhanh với nhiều công trình lớn, hiện đại, thúc đẩy cơ cấu hợp lý, kết nối hài hòa các phương thức vận tải, bao gồm hệ thống giao thông, sân bay, cảng biển, hạ tầng điện, sóng internet; đang thúc đẩy khai thác, phát triển không gian biển, không gian vũ trụ, không gian ngầm…

Chú thích ảnh
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Cho rằng, thể chế còn có những ràng buộc nên một số lĩnh vực như hạ tầng, mô hình hợp tác công - tư còn hạn chế, Thủ tướng cho biết, số doanh nghiệp logistics tiếp tục gia tăng. Phát triển logistics có xu hướng tích cực hơn, phát huy đa dạng các phương thức vận tải, giảm dần phụ thuộc vào vận tải bằng đường bộ; phát triển nhân lực được đẩy mạnh, nhiều chỉ số xếp hạng quốc tế về logistics của Việt Nam được cải thiện...

Ghi nhận, đánh giá cao và chúc mừng sự nỗ lực, những kết quả quan trọng về sự phát triển vượt bậc của hệ thống logistics, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cả nước, Thủ tướng thẳng thắn chỉ rõ hạn chế, tồn tại trong phát triển như nhận thức vai trò của logistics trong việc xây dựng Việt Nam thành trung chuyển hàng hóa của thế giới còn hạn chế; chi phí logistics tại Việt Nam còn cao. Quy mô ngành logistics so với quy mô nền kinh tế, thị trường và so với thế giới còn thấp; nhân lực quản lý nhà nước về logistics còn thiếu và yếu. Doanh nghiệp logistics phát triển chưa mạnh, thiếu cơ chế; mối liên kết giữa các phương thức vận tải với kho bãi còn thiếu; chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong xử lý cả chuỗi logistics chưa nhiều…

3 MỤC TIÊU, 7 NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN LOGISTICS VIỆT NAM

Phân tích tình hình thế giới, với quan điểm “sáng tạo để bay cao, đổi mới vươn xa, hội nhập để phát triển” và xác định phát triển logistics là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên để phát triển đất nước, Thủ tướng chỉ rõ 3 mục tiêu và 7 nhiệm vụ cho phát triển logistics. Để góp phần tăng trưởng GDP của đất nước ở mức 2 con số trong năm tới, phải giảm chi phí logistics từ 18% xuống 15% trong năm 2025; nâng quy mô logistics trong GDP từ 10% lên 15%, phấn đấu đạt 20%; nâng quy mô logistics của Việt Nam trong quy mô logistics thế giới từ 0,4% lên 0,5%, phấn đấu đạt 0,6%; tốc độ tăng trưởng của ngành logistics 14-15% nâng lên 20%.

Thủ tướng chỉ rõ, phải nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của logistics trong quá trình phát triển đất nước, nhất là với Việt Nam là trung tâm của khu vực châu Á - Thái Bình Dương để khai thác tối đa tiềm năng khắc biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước. Đột phá về thể chế, hoàn thiện thể chế để ngành logistics phát triển đúng theo 3 mục tiêu, góp phần đưa đất nước đạt tăng trưởng 2 con số, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đất nước phát triển giàu mạnh và thịnh vượng. Phát triển hạ tầng logistics hiện đại, thông suốt, giảm chi phí đầu vào, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trong đó phải đẩy mạnh, phát triển hàng không, hàng hải, đường sắt tốc độ cao. Xây dựng quản trị thông minh, nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ngoại giao logistics đồng phải đẩy mạnh, hiện đại hóa logistics trong nội địa. Xây dựng và phát triển quốc gia thương mại tự do; kết nối chặt chẽ giữa các phương thức giao thông hàng không, hàng hải, đường sắt, đường thủy nội địa và cao tốc để kết nối các khu thương mại tự do của thế giới, kết nối hệ thông giao thông quốc tế.

Chú thích ảnh
Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức công bố Báo cáo Logistics Việt Nam 2024. (Ảnh: TTXVN)

Trên cơ sở đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ khẩn trương tập trung xây dựng quốc gia thương mại tự do; hoàn thiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam; xây dựng các khu thương mại tự do quốc tế.

Nhấn mạnh, Chính phủ với vai trò kiến tạo, tập trung xây dựng xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tạo cơ chế huy động nguồn lực, tạo môi trường phát triển và thiết kế công cụ giám sát kiểm tra, Thủ tướng yêu cầu các địa phương tăng tính chủ động, tự lực, tự cường, tự chủ trong phát triển logistics, với tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Các doanh nghiệp nâng cao tính tự chủ, tham gia đề xuất, đóng góp xây dựng thể chế, với phương châm “hài hòa lợi ích Nhà nước, người dân, doanh nghiệp; giải quyết tốt mối quan hệ thị trường, Nhà nước và xã hội, “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".

Nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới; nước ta đang thúc đẩy 3 đột phá chiến lược, tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp phát triển bền vững, Thủ tướng kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài hợp tác, đầu tư tại Việt Nam trên tinh thần “cùng lắng nghe và thấu hiểu; cùng chia sẻ tầm nhìn và hành động; cùng làm, cùng hưởng, cùng thắng và cùng phát triển”.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tin tưởng, với bước đi, nền tảng ban đầu quan trọng, ngành logistics Việt Nam sẽ hòa cùng khí thế chung của cả nước, bước vào thời kỳ phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trong đó Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những địa phương đi đầu trong phát triển logistics và năng lượng của cả nước../.

Khái niệm giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học song để làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết phải hiểu rõ giai cấp công nhân là gì? C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”[1].

Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời.

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng… Cho dù các ông sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau song bản chất chỉ là một - đều chỉ giai cấp vô sản hiện đại hay giai cấp công nhân. Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[2].

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt giai cấp công nhân với những người lao động khác: Thứ nhất, về nghề nghiệp. Giai cấp công nhân là những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản xác định rõ môi trường lao động và phương thức lao động của họ là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ngày càng phát triển là bộ phận cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân. Hiện nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề nghiệp. Những sự biến đổi đó không hề làm giảm giai cấp công nhân trong nền kinh tế mà trái lại càng làm cho giai cấp công nhân tăng thêm cả về số lượng và chất lượng. Bởi vậy, những người lao động trong các ngành dịch vụ mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân, xét về tiêu chí nghề nghiệp. Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3].

Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hiện nay, giai cấp công nhân ngày càng được trí thức hoá, nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống của công nhân ở các nước tư bản phát triển cũng được cải thiện so với trước đây, một bộ phận công nhân đã có chút ít tư liệu sản xuất, hoặc, có bộ phận công nhân có cổ phần trong xí nghiệp… Tuy nhiên, không có nghĩa địa vị của họ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thay đổi, họ vẫn là giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu, thì nay họ bán cả lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí có bộ phận chủ yếu bán sức lao động trí óc như những công nhân lao động sản xuất ở những dây chuyền công nghệ cao, các lĩnh vực sáng chế, ứng dụng sản xuất công nghiệp, vì vậy, họ còn bị bóc lột giá trị thặng dư bằng những hình thức tinh vi hơn.

Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền và lãnh đạo cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới (mặc dù, ít nhiều họ còn bị bóc lột, song về hình thức và mức độ không giống như công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa), họ đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới, cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Vì vậy, trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân được xác định chủ yếu bằng tiêu chí nghề nghiệp, còn tiêu chí thứ hai - địa vị trong quan hệ sản xuất mới đã có sự thay đổi căn bản, họ đã được giải phóng khỏi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Cho đến nay, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở để luận giải và nhận diện giai cấp công nhân hiện nay.



[1] C.MácPh.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 56.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 328.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.

Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt thực tiễn

 


Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học với những minh chứng sinh động bởi các sự kiện cách mạng, những thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, phụ nữ và nhân dân.

Góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

Chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tin khoa học cho Nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách mạng.

Đối với cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn, việc nghiên cứu nắm vững lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp họ thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; nắm được quy luật vận động, phát triển tất yếu của lịch sử, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tự nguyện, tự giác chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, quyết tâm xây dựng quyê hương giàu mạnh. Đồng thời, trên cơ sở giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn mới có cơ sở để làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự theo quy định của pháp luật; làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng...

 

Học tập tấm gương mẫu mực, sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

 Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn là việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng - Ảnh: T.L

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng - Ảnh: T.L

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thể hiện năng lực tư duy khoa học, sáng tạo và phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống thanh cao của một danh nhân văn hóa kiệt xuất nhưng lại rất gần gũi với cuộc sống, công việc hàng ngày, ai cũng có thể học tập, làm theo được. Theo Người, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ là một yêu cầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, là điều kiện bắt buộc trong thực thi đời sống mới mà còn là một phẩm chất đạo đức cần phải có của người cách mạng. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh dùng để huấn luyện lớp cán bộ cách mạng đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra tư cách của người cách mệnh: tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn vật chất... Trong nhiều bài viết và nói sau này, Người đều đề cập đến bốn đức quan trọng là cần, kiệm, liêm, chính. Theo Người, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”(1).

Tấm gương mẫu mực Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí biểu hiện xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Rất nhiều câu chuyện được kể lại từ những người được sống và làm việc cùng Bác đã minh chứng cho nhân cách của vị lãnh tụ “một đời thanh bạch, chẳng vàng son”, “nâng niu tất cả, chỉ quên mình”: Trong kháng chiến chống Pháp, Bác cũng sinh hoạt như anh em bảo vệ, ăn chung với mọi người… Trời rét (...), chỉ đắp chiếc chăn cũ nhuộm nâu, quần áo của Bác đều nhuộm nâu. Bác tự đánh máy (...). Văn phòng Trung ương cử một đồng chí sang giúp Bác đánh máy, Bác phê bình là lãng phí(2). Chỉ khi sắp sang Pháp, vào cuối tháng 5/1946, Bác mới may thêm một bộ dạ đen, cũng cùng một kiểu với bộ kaki vẫn mặc. Hành lý của một vị Chủ tịch nước sang đàm phán về việc sống còn của dân tộc với Chính phủ Pháp, xếp không đầy một vali khổ nhỡ. Ngoài mấy bộ quần áo nói trên, có một đôi giầy da. Không có bác sĩ đi theo để săn sóc Bác dọc đường. Đồ dùng riêng của Bác là cái đồng hồ cũ kỹ(3).

Đồng chí Việt Phương, nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhớ mãi về một chi tiết trong đời sống hàng ngày của Bác: Đó là bất kỳ cái gì có tí lãng phí cũng quyết không để lãng phí nhưng đã cần thì dùng cho đủ mức cần. Tháng 2/1969, Bác muốn đi thăm rừng quốc gia Cúc Phương. Một số đồng chí lãnh đạo giới thiệu ở đó có nhiều cái hay. Anh em xin Bác đi máy bay lên thẳng cho đỡ mệt nhưng Bác không chịu và nói rằng: “Các chú cho hễ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thì đi đâu muốn dùng phương tiện gì thì dùng à? Không phải thế đâu. Để Bác khỏe lên, Bác đi ô tô đến thăm rừng Cúc Phương (...). Máy bay lên thẳng, để khi nào có người của chúng ta bị tai nạn hoặc bị đau nặng ở vùng hẻo lánh khó chạy chữa thì dùng máy bay lên thẳng đón về nơi trung tâm có bệnh viện lớn. Hoặc lúc nào nước sông lên to, mùa bão cần đi hộ đê thì lấy máy bay lên thẳng mà dùng. Chứ không phải bất kỳ đi đâu, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước cứ dùng máy bay lên thẳng mà đi”. Bác nhất định như vậy và vì thế ý muốn của Bác là đi thăm rừng Cúc Phương cuối cùng Bác không thực hiện được. Nhưng thà thế chứ Bác không dùng máy bay lên thẳng(4).

Đồng chí Lê Hữu Lập, nguyên cán bộ văn phòng Bác kể lại: “Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên d­ưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đ­ưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: “Làm gì mà chú phải khổ sở thế!”. Bác giản dị nhưng đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo may ô, quần cộc, nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu. Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt”(5).

Cả một đời vì nước, vì dân, tất cả những gì Bác tiết kiệm trong cuộc sống cá nhân đều là để dành phục vụ tổ chức, đoàn thể, cách mạng. Đồng bào trong nước và các bạn nước ngoài tặng Bác nhiều vải lụa tốt, nhưng Bác không cho may mà dùng để làm tặng phẩm cho đồng bào và chiến sĩ có thành tích trong kháng chiến. Với sách cũng vậy, dù Bác nhận được rất nhiều sách của các tác giả, các nhà xuất bản gửi biếu, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng qua Bộ Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác mang về... nhưng Bác không có thư viện riêng. Sách báo đọc xong, Bác thường gửi tới các nơi cần sử dụng. Những sách báo cần làm tư liệu, Bác giữ lại, nhưng sử dụng xong Bác cũng gửi đi tới các nơi cần sử dụng. Bác có một cuốn sổ tiết kiệm (đứng tên đồng chí Lê Hữu Lập) gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại sau khi trừ mọi chi tiêu sinh hoạt và tiền nhuận bút mà Bác viết bài cho báo Nhân dân. Bác thường dùng tiền tiết kiệm làm quà tặng trong những dịp cần thiết (như có dịp đi công tác về, Bác thấy bộ đội phòng không trực chiến dư­ới ánh nắng chói chang của mùa hè, Bác đã chỉ thị rút số tiền tiết kiệm trong sổ trao cho Bộ Quốc phòng làm quà tặng bộ đội phòng không để có thêm nước giải khát). Dịp Bác đi nước ngoài dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền và Bác đã dặn thư ký Vũ Kỳ nhập số tiền đó vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung chứ không để vào sổ tiết kiệm của Người.

Trong tình hình kinh tế và chính trị của dân ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng của Bác, một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Sự giản dị ấy, phong thái ung dung ấy kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản, có sức thu hút mạnh mẽ trái tim mọi người và khiến cho Bác càng trở nên vĩ đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm, tích cực chống lãng phí để xây dựng đất nước, xây dựng CNXH. Người luôn nhấn mạnh đến vấn đề này tại mỗi hội nghị, mỗi đại hội, mỗi kỳ họp Quốc hội và nhiều bài nói, bài viết khác. Trong bài Quốc hội ta vĩ đại thật (Báo Nhân dân, số 2304, ngày 10/7/1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu Quốc hội để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân là phải: “- Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; - Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội; - Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô”. Người còn viết nhiều tài liệu để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân, yêu cầu trong mọi hành động, mọi lĩnh vực và mỗi người đều phải tiết kiệm, chống lãng phí. Bác lưu ý đặc biệt việc phải triệt để tiết kiệm của công vì đó là mồ hôi, công sức của dân, xương máu của bộ đội, chiến sĩ. Với viên chức tại các công sở, Bác yêu cầu: “phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công(6). Với bộ đội, Bác căn dặn rất cụ thể về việc giữ gìn, bảo vệ chiến lợi phẩm bởi đó cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải của địch; chiến sĩ ta phải đổ máu mới lấy lại được cho nên “Không được phung phí, hoặc chiếm làm của riêng cá nhân, khi canh gác phải biết thu dọn cho ngăn nắp, và che mưa nắng cho chu đáo”(7). Bác còn chỉ dẫn các cấp chỉ huy trong quân đội: “Không tiêu hoang phí tiền riêng của các chú cũng chưa phải là Kiệm. Các chú còn phải biết tiết kiệm của công, dạy cho bộ đội biết tiết kiệm của công, thì mới thật là Kiệm. Các chú không lấy của công làm của tư, không lấy chiến lợi phẩm về cho gia đình bè bạn mới chỉ là Liêm một nửa. Các chú phải dạy cho bộ đội và khuyến khích nhân dân không lấy của công, không lấy chiến lợi phẩm làm của riêng mới thật là Liêm”(8). Với thanh niên là những chủ nhân tương lai của nước nhà, Bác đặt ra yêu cầu không chỉ giáo dục cho họ về vấn đề tiết kiệm, chống lãng phí mà còn phải rèn luyện tạo thành thói quen trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Từ tháng 2/1955, trong bài viết “Bảo vệ tài sản công”, Bác đã căn dặn: “Các ngành giáo dục cần phải bồi dưỡng cho thanh niên thói quen tiết kiệm, bảo vệ của chung; chống lãng phí xa hoa, xem khinh lao động” . Với chị em phụ nữ Việt Nam vốn có tính cách tốt đẹp là cần cù, chịu khó, biết lo toan, Bác khuyến khích chị em hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Với cán bộ ngành ngoại giao, Bác căn dặn những điều cần chú ý: “Cán bộ ngoại giao ta ra ngoài phải có hình thức làm sao cho gọn ghẽ, sạch sẽ, nhưng không được lãng phí, xa hoa. Tr­ường hợp làm tiệc mặn, song nếu ta làm được tiệc trà thay vào là tốt nhất. Ta không thể đua với người được. Người giàu có, còn ta thì nghèo. Chính vì vậy, phải hết sức tiết kiệm. Ngoại giao càng phải tiết kiệm”(9). Trong Thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp lễ Nôen 1953, Bác kêu gọi đồng bào công giáo tham gia kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Bác khẳng định đó cũng chính là “làm trọn chính sách của Chính phủ cũng là làm trọn tinh thần của Chúa Cơ đốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều bài báo biểu dương trực tiếp các cá nhân, tập thể kiểu mẫu, gương mẫu, điển hình trong sản xuất và tiết kiệm, chống lãng phí như trong bài báo Một làng tiến đến kiểu mẫu (Báo Cứu quốc số 2141, ngày 12/8/1952) Người đã làm thơ ca ngợi gương của làng Thọ Xuân (Thanh Hóa):“Phân công hợp lý cả làng/ Sản xuất tiết kiệm rõ ràng thi đua/ Một mùa gặt bằng hai mùa/ Dân no, nước mạnh tha hồ đánh Tây”; bài báo Công nhân gương mẫu và gương mẫu của công nhân (Báo Nhân dân, số 247, ngày 27/10/1954) ca ngợi các cá nhân và tập thể công nhân các nhà máy Gia Lâm, nhà máy điện Bờ Hồ trong thực hiện cần kiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; bài báo Gương tốt của thanh niên Lỗ Khê (Báo Nhân dân, số 3582, ngày 18/1/1964) với kế hoạch Tết tươi vui và tiết kiệm, tạo phong trào thi đua cho các chi đoàn Hà Nội và nhiều tỉnh khác… Bởi theo quan niệm của Người, một tấm gương sống, một điển hình thực tế và sinh động có giá trị thuyết phục hơn nhiều lần những bài diễn văn tuyên truyền. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần kiệm mà mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích.

Cùng với tuyên truyền, kêu gọi thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bản thân Người luôn gương mẫu cho cán bộ, đảng viên, nhân dân làm theo. Những ngày đầu vừa thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trước nạn đói đang trầm trọng, trên tinh thần “sẻ cơm nhường áo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với đồng bào cả nước và bản thân Người đã gương mẫu thực hiện trước: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(10). Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác kể lại: Nhân dân ta lúc đó dù còn nhiều khó khăn nhưng Cụ Hồ đã kêu gọi thì từ Nam chí Bắc đều hưởng ứng nhiệt liệt. Bởi, không phải Cụ Hồ chỉ kêu gọi mà chính Cụ Hồ đã làm, đã thực hiện và là người thực hiện đầu tiên... Nhớ hồi đó có nhiều thư từ khắp nơi gửi đến, có thư của các cụ già, của phụ nữ, của cả các cháu thiếu nhi... gửi đến Chính phủ, đến Cụ Hồ, đề nghị Bác đừng nhịn ăn. Cảm động hơn có nhiều người xin nhịn thêm để thay phần cho Bác. Nhưng câu trả lời là: “Tôi là người nêu ra, tôi phải làm gương mẫu”(11). Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo cứu đói. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh, diện tích trồng lúa và hoa màu tăng lên, nạn đói đã sớm được khắc phục.

Tấm gương đạo đức sống trong sạch, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là mẫu mực cho mọi người Việt Nam học tập, làm theo mà còn được báo chí nước ngoài, bạn bè quốc tế nhiều lần nhắc đến, mến phục. Học giả Trung Quốc Cốc Nguyên Dương nhận xét: “Suốt đời, Người luôn luôn gìn giữ đạo đức cao đẹp “cần kiệm liêm chính” và “chí công vô tư”, dùng 8 chữ đó để giáo dục cán bộ và nhân dân”(12). Đồng chí Gian-nét Véc-mét Tô-rê, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp viết: “Người sống trong một căn nhà nhỏ đơn sơ, trong đó chỉ có một cái giường con, và một chiếc bàn làm việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài cũ, đi đôi dép cao su làm bằng lốp ô tô, không có gì hơn thế. Giữa bạn bè người ta không biết lấy gì biếu Chủ tịch mà hình như Chủ tịch cũng không cần điều gì khác hơn là sự ủng hộ chính nghĩa đối với Việt Nam”(13). Nhà báo Pháp Phơ-răng-xoa Phông-vi-ây An-ki-ê ca ngợi: “Vinh quang đến tột đỉnh, nhưng con người Cụ vẫn như trước kia, nghĩa là vẫn ghét xa hoa, hào nhoáng, vẫn giản dị về ăn mặc cũng như trong tác phong sinh hoạt. Khi Cụ để cho các em học sinh vuốt râu mình lúc đến thăm trường, hoặc khi Cụ đi đôi dép bằng lốp cao su, thì đều không có chút gì là mị dân hoặc giả tạo cả”(14). Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiết kiệm không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước, mà còn từ tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết. Điều này không chỉ cần thiết trong thời kỳ đất nước còn trong chiến tranh, mà còn có giá trị thực tiễn đối với giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn được Ðảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo, là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, xuyên suốt từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện, nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt những thành tựu vĩ đại; đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã coi lãng phí là một căn bệnh - “bệnh lãng phí”, nếu không có những giải pháp đồng bộ phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả sẽ gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Mới đây, trong bài viết Chống lãng phí, Tổng bí thư Tô Lâm cũng chỉ ra thực trạng lãng phí đã và đang còn tồn tại ở nước ta, thậm chí là tồn tại dai dẳng, không chỉ khiến mất đi tài sản công, lãng phí nguồn lực quốc gia, thu hẹp những cơ hội phát triển mà đau xót hơn là gây mất lòng tin trong nhân dân đối với Đảng cầm quyền.

 


Việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí vào thực tiễn để đưa ra giải pháp phù hợp đối với mỗi tổ chức, đơn vị trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những giải pháp để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người nhấn mạnh, muốn đánh thắng nó, phải có chuẩn bị thật chu đáo, có kế hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo và điều quan trọng là phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ trung kiên làm nòng cốt để chống. Người phản đối việc bố trí những người đã “nhúng chàm” làm nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì làm như vậy, thực chất là “nối giáo cho giặc”. Theo quan điểm, tư tưởng của Người, các bước cần tiến hành để trừ khử tham ô, lãng phí, quan liêu là:

Một là, phải làm tốt công tác tư tưởng, làm cho mọi người hiểu tham ô, lãng phí, quan liêu có hại cho dân, cho nước như thế nào và vì sao phải chống những nạn ấy? Phải kiên quyết sửa chữa những nhận thức không đúng về chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Để có thể tiết kiệm, chống lãng phí, cán bộ, đảng viên cũng cần rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc từ đó tạo ra sự tin tưởng, đồng thuận trong dân, tạo ảnh hưởng tích cực đến công tác xây dựng và phát triển đất nước.

Hai là, phải nghiên cứu để có lý luận chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nghiên cứu kỹ và vận dụng tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu; phải sửa đổi lối làm việc; nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình. Đặc biệt, đối với cán bộ cao cấp phải “thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu”; phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Phải kiên quyết “nhổ cỏ” và khi đã nhổ thì phải nhổ tận gốc rễ.

Ba là, phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, nâng cao trình độ quản lý kinh tế - tài chính; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để tạo kẽ hở cho bọn tham ô, lãng phí, quan liêu đục khoét. Trong cuộc đấu tranh này, phải dựa vào nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, huy động lực lượng quần chúng tham gia. “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”.

Bốn là, phải có phương pháp giữ gìn tiền bạc, phải thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt, nhất là tiết kiệm trong chi tiêu ở các cơ quan hành chính, giảm thiểu việc họp hành nếu xét thấy nó không cần thiết.

Năm là, trong công cuộc đấu tranh chống lãng phí, các cơ quan thanh tra nhà nước đóng vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “các ban thanh tra phải chú ý kiểm tra chống lãng phí, tham ô. Phát hiện ra những việc lãng phí, tham ô, chẳng những cần báo cáo với Trung ương và Chính phủ biết và giải quyết mà còn giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra những biện pháp để tích cực chống lãng phí, tham ô”. Như vậy, thanh tra, kiểm tra không những để phát hiện vi phạm, phát hiện lãng phí để xử lý. Quan trọng hơn, qua kiểm tra, các cơ quan thanh tra nhà nước tìm hiểu nguyên nhân, tìm ra biện pháp chống lãng phí, từ đó, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với bản thân các cơ quan là đối tượng thanh tra, kiểm tra để có các giải pháp hữu hiệu nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có hiệu quả.

Cuộc đấu tranh chống lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong cuộc chiến với thứ “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp này, cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và người lao động, trước hết là sự nêu gương của người đứng đầu tại từng cơ quan, tổ chức, cá nhân khu vực công, khu vực tư để từ đó “tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tự nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử trong thời đại mới” như Tổng bí thư Tô Lâm đã kêu gọi./.

Trên lĩnh vực chính trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tiến hành cách mạng về chính trị nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản để giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động khỏi địa vị nô lệ và trở thành người làm chủ xã hội mới. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo, là cơ sở và tiền đề để thực hiện các nội dung về kinh tế, văn hoá và tư tưởng. Do vậy, để xoá bỏ xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, thì giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng về chính trị là màn giáo đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Để tiến hành nội dung cách mạng về chính trị giành thắng lợi, giai cấp công nhân ở mỗi nước phải tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân lao động dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Sau khi giành được chính quyền nhà nước, giai cấp công nhân thực hiện bước tiếp theo là không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho nhân dân lao động, bảo đảm cho họ thực hiện quyền làm chủ xã hội, thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nhà nước chuyên chính vô sản phải thường xuyên được củng cố vững chắc, không chia sẻ quyền lực chính trị của giai cấp công nhân cho bất kỳ một lực lượng nào, từng bước xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Tính chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tính chất của một cuộc cách mạng là yếu tố cơ bản để phân biệt các cuộc cách mạng khác nhau trong lịch sử. Cơ sở để xác định tính chất của một cuộc cách mạng là dựa vào bản chất của giai cấp lãnh đạo cách mạng và mục tiêu, nhiệm vụ mà cuộc cách mạng đó hướng tới, giải quyết. Cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài; mang tính nhân dân; tính quốc tế sâu sắc.

Tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khách quan tính chất cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thực chất là hệ quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, đây là cuộc đấu tranh cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người, diễn ra trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm xoá bỏ triệt để mọi nguồn gốc của áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn áp bức, bóc lột. Đây là công việc vô cùng khó khăn gian khổ, phức tạp và lâu dài vì những nhân tố mới của xã hội - xã hội chủ nghĩa không có sẵn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Mặt khác giai cấp tư sản là một lực lượng quốc tế, nó có thể bị lật đổ địa vị thống trị xã hội ở một quốc gia, những mối liên hệ quốc tế và những tiềm lực kinh tế, quân sự, chính trị, còn tồn tại lâu dài. Thực tế đã chứng minh, giai cấp công nhân ở một số nước thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản giành được chính quyền nhà nước, đã có một quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng do sai lầm chủ quan kết hợp với sự chống phá của các lực lượng phản cách mạng đã quay lại phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc, cùng các thế lực thù địch luôn sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa để lấy lại và mở rộng phạm vi của chủ nghĩa tư bản.

Tính chất nhân dân của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được biểu hiện đây là cuộc cách mạng do nhân dân lao động tiến hành thông qua vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, đem lại lợi ích chính đáng và đáp ứng nguyện vọng giải phóng họ khỏi mọi áp bức, bóc lột của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa. Còn các cuộc cách mạng xã hội khác đã diễn ra trong lịch sử chỉ là những cuộc cách mạng đem lại lợi ích cho một bộ phận thiểu số - giai cấp thống trị, khi thắng lợi quay lưng lại với nhân dân lao động, không đem lại lợi ích chính đáng cho họ. Vì vậy, trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra, thì chỉ có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc.

Tính chất quốc tế của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được thể hiện đây là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo khi giành được thắng lợi sẽ ảnh hưởng to lớn đến xu hướng vận động, phát triển của nhân loại tiến bộ. Nó sẽ thu hẹp phạm vi tồn tại thực tế của chủ nghĩa tư bản thế giới, từng bước hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên toàn thế giới. Đồng thời, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước muốn giành được thắng lợi phải có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới cả về vật chất và tinh thần.

Thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nói riêng, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước nói chung là những bằng chứng sinh động phản ánh sâu sắc tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.