Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2025

CÁC TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CHỦ VÀ VẤN ĐỀ ÁP ĐẶT VÔ CĂN CỨ GIÁ TRỊ DÂN CHỦ TƯ SẢN VỚI CÁC NƯỚC KHÁC

 

Thuật ngữ “dân chủ” ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên. Về mặt ngữ nghĩa, ngôn ngữ Hy Lạp cổ dùng thuật ngữ “demokratos” để diễn đạt dân chủ, trong đó “demos” là nhân dân và “kratos” là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu là quyền lực thuộc về nhân dân hoặc quyền lực của nhân dân. Cách hiểu trên cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày nay. Theo đó, dân chủ là một khái niệm dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân, phản ánh mối quan hệ giữa nhân dân và quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

“Dân chủ” không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều cụ thể nhất định. Bởi vậy, khái niệm “dân chủ” có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “chế độ dân chủ” và “nền dân chủ”. “Chế độ dân chủ” dùng để chỉ thiết chế xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân; còn khái niệm “nền dân chủ” dùng để chỉ hệ thống các thiết chế được xác lập và thực thi trong hiện thực xã hội theo mục tiêu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội đó. Biểu hiện của một chế độ dân chủ thường bao gồm bốn yếu tố chính: Có một hệ thống chính trị mà việc lựa chọn và thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng; bảo đảm sự tham gia tích cực của công dân trong chính trị và đời sống dân sự; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm pháp quyền, trong đó tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai đứng trên luật pháp. Có 2 phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền làm chủ của các thành viên trong tổ chức, cộng đồng hay xã hội đó được thực hiện một cách trực tiếp do chính bản thân các thành viên đó. Dân chủ đại diện là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, chủ yếu trong tổ chức của các cơ quan đại biểu, cơ quan quyền lực nhà nước, theo đó quyền làm chủ của các thành viên xã hội được thực hiện thông qua các đại diện của họ được bầu chọn hoặc chỉ định trong số các thành viên. Trong thực tiễn, quyền làm chủ của nhân dân đôi khi được thực hiện kết hợp cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, dân chủ là một phạm trù có quá trình phát sinh, phát triển rất phức tạp. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng trên cơ sở kế thừa biện chứng những điểm chung được nêu ở trên. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô. Trong chế độ phong kiến, các tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương. Nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến. Vì vậy, những thành tựu giành được của nền dân chủ tư sản không chỉ do riêng giai cấp tư sản tạo ra, mà là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động, kết quả của quá trình nhận thức và tất yếu của tiến bộ xã hội. Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản. Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ tư sản không tránh khỏi những hạn chế khách quan. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của nhân dân lao động (dân chủ nhân dân) được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội. Nó được hình thành và phát triển bằng toàn bộ những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại. Xã hội càng phát triển, điều kiện vật chất, trí tuệ, tinh thần của con người ngày càng phong phú thì xu hướng dân chủ càng mở rộng và được khẳng định mạnh mẽ.

Học thuyết Mác - Lê-nin quan niệm: “chế độ dân chủ là chế độ thống trị của đa số đối với thiểu số (chứ không phải trái lại, như bọn tư bản vẫn mong muốn)”(1). Hình thức của nền dân chủ là đa dạng, không có mô hình dân chủ chung cho mọi quốc gia, dân tộc. Mức độ tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng chủ yếu: Là nền dân chủ phát triển ở trình độ cao nhất trong lịch sử, một chế độ dân chủ rộng rãi nhất - dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động; là nền dân chủ hoàn toàn có khả năng thực hiện được quyền lực thuộc về nhân dân lao động, vì quyền lực ấy được bảo đảm bằng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế; là một chế độ dân chủ được thể chế hóa và vận hành trong hiện thực xã hội bằng mối quan hệ chính trị - pháp lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”.

Ở Việt Nam, dân chủ cũng có quá trình hình thành và phát triển tuân theo quy luật chung. Hiện nay, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của đổi mới, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Dân chủ là phương thức, nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước và xã hội, trong đó mọi thành viên được tôn trọng, bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề của đất nước, xã hội, cộng đồng. Công dân được tạo mọi điều kiện để phát huy các quyền tự do, dân chủ của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: “Trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu gương mẫu..., làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(2). Cơ sở của dân chủ xã hội chủ nghĩa là các quyền tự do của cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhưng không có tư tưởng tự do vô giới hạn mà phải trong khuôn khổ pháp luật. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta khẳng định: “Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm..., quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”(3). Dân chủ là quyền tự do của con người trong các lĩnh vực nhưng tự do phải trong khuôn khổ các chuẩn mực, nguyên tắc pháp lý, đạo đức xã hội. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở... Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân”(4).

Trong khi đó, trái ngược với quan điểm này, các nước tư bản cho rằng, dân chủ bao gồm các yếu tố: bầu cử tự do, đa đảng, tư pháp độc lập và nhân quyền; nhấn mạnh thái quá vào khía cạnh đầu phiếu phổ thông, các quyền tự do chính trị, tự do dân sự một cách tuyệt đối, phổ quát không bị giới hạn bởi đặc thù địa lý, xã hội, quốc gia, dân tộc. Và cũng chính từ quan điểm này mà các nước tư bản phương Tây đã áp đặt một cách vô căn cứ giá trị dân chủ tư sản với các nước khác, trong đó có Việt Nam. Họ triệt để lợi dụng sự khác nhau trong thực thi dân chủ với các khuôn khổ, chuẩn mực, nguyên tắc pháp lý và xã hội của các nước khác nhằm tiến hành những hoạt động chống phá.

Hiện nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, sự lan truyền của tư tưởng dân chủ tư sản từ các nước phương Tây sang các nước khác đang hình thành những làn sóng. Tuy nhiên, sự tồn tại của nền dân chủ phụ thuộc vào những yếu tố nội tại của một quốc gia, vào quá trình phát triển của lịch sử, xã hội ở quốc gia đó qua nhiều thế hệ chứ không thể áp đặt từ bên ngoài. Vì vậy, nhiều phong trào dân chủ trên thế giới được phương Tây ủng hộ không thiết lập nổi một nền dân chủ ổn định mà chỉ dẫn tới hỗn loạn và nội chiến do các phe phái chính trị không thể hợp tác với nhau để duy trì nền dân chủ, mà đấu tranh với nhau để giành quyền lực với sự hỗ trợ của nước ngoài, còn nhân dân thì bị lôi cuốn vào cuộc xung đột đó.

Theo LÊ THÁI SƠN


CẨN THẬN TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP

 

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động lại ráo riết đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng. Các đối tượng tập trung nhiều vào lĩnh vực tư tưởng, chính trị; công tác cán bộ và hoạt động đối ngoại quốc phòng với ý đồ gây nhiễu loạn về tư tưởng xã hội, ly tán lòng dân với Đảng.

Sự nguy hại của 3 “mũi nhọn” chống phá 

Trước mỗi dịp đất nước tổ chức các sự kiện chính trị trọng đại và trước thềm đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động lại hằn học, tìm trăm phương ngàn kế, không từ bất kỳ thủ đoạn nào, nhất là lợi dụng các trang mạng xã hội để đưa nhiều thông tin bịa đặt, tuyên truyền xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Trong đó, chúng chủ yếu tập trung vào 3 lĩnh vực chính.

Về chính trị, tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động tung ra hàng loạt bài viết với những luận điệu phản động, xuyên tạc trắng trợn về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; họ rêu rao, quy chụp về “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội” và hô hào cái gọi là “sự tồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản”. Thông qua chiêu trò cổ xúy các học thuyết “các nền văn minh”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “chủ nghĩa tư bản mới”, các thế lực thù địch nung nấu mưu đồ phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc... mục đích nhằm gây nhiễu loạn về tư tưởng của Đảng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm suy giảm lòng tin của nhân dân về chủ nghĩa xã hội, qua đó dã tâm thực hiện mưu đồ làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, làm cho nước ta chệch hướng xã hội chủ nghĩa và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Về công tác cán bộ, các thế lực thù địch xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, nhất là lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp trong bộ máy công quyền để công kích, cho rằng đây là cuộc “đấu đá nội bộ”, "thanh trừng phe nhóm" trong Đảng. Để tăng tính thuyết phục cho những luận điệu sai trái này, họ còn xây dựng trang fanpage để moi móc, bôi nhọ bí mật đời tư, bịa đặt về đạo đức, lối sống, tình hình sức khỏe của cán bộ rồi bóp méo thông tin, ngụy tạo những văn bản giả có dấu mật y như thật hòng bôi nhọ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng những câu chuyện ly kỳ để lôi kéo sự tò mò của người đọc. Các đối tượng còn tổ chức nhiều cuộc tọa đàm dẫn lời một số nhân vật tự nhận là những người có học hàm, học vị như “giáo sư”, “tiến sĩ”, những người có hiểu biết như “luật sư”, “học giả”, “nhà nghiên cứu chính trị-xã hội” dưới vỏ bọc “yêu nước”, “đóng góp trung thực, thẳng thắn vì nhân dân, vì đất nước” nhưng thực chất là những bình luận ác ý, những đơm đặt thiên lệch, sai trái về công tác nhân sự của Đảng. 

Về hoạt động đối ngoại quốc phòng, các đối tượng xuyên tạc chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” của Đảng Cộng sản Việt Nam với luận điệu “Việt Nam tự trói tay mình” là đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử nhân loại; là trái với quy luật về mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc. Mưu đồ của họ không chỉ đơn thuần là chọc ngoáy chính sách quốc phòng của Việt Nam, mà nham hiểm hơn là muốn kích động, gây hoang mang tâm lý, tư tưởng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, nhất là cán bộ, chiến sĩ LLVT vào sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó từng bước phá hoại sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, tạo thời cơ để thúc đẩy, kêu gọi sự can dự từ bên ngoài hòng lật đổ chính quyền cách mạng, đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.                                                                     

Củng cố, bồi đắp niềm tin 

Để phòng, chống, đấu tranh làm thất bại các luận điệu sai trái, thù địch, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên làm tốt công tác nắm bắt, định hướng tư tưởng, chủ động cung cấp thông tin chính thống nhằm tạo thế chủ động trong nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là các luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng; không để khoảng trống về thông tin cho các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Đồng thời, tăng cường tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các lực lượng nòng cốt, chuyên sâu về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cùng với đó, các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá đại hội đảng các cấp.

Các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan báo chí, truyền thông cần kịp thời nhận diện và đưa ra luận cứ phê phán, đấu tranh với những thông tin sai lệch; huy động đông đảo lực lượng tham gia hoạt động truyền thông, chia sẻ các thông tin chính thống trên không gian mạng để giúp nhân dân củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Đồng thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp đưa thông tin sai sự thật; phối hợp với các nhà mạng để gỡ bỏ những thông tin bịa đặt với mục đích không lành mạnh.

Đối với người dân, nhất là cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị, nghiên cứu nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, kiến thức pháp luật, khoa học, văn hóa. Khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu trên không gian mạng cần phải tỉnh táo, sáng suốt để phân loại, nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt. Từ đó, có thái độ rõ ràng, dứt khoát, tránh bị cuốn theo những luận điệu xảo trá của các thế lực thù địch mà dẫn tới hoài nghi, hoang mang, dao động về tư tưởng, tự suy giảm niềm tin vào Đảng và chế độ.

Giải pháp có ý nghĩa then chốt là các cơ quan, đơn vị, địa phương, các ngành, các cấp cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kiên trì, kiên quyết thực hiện tốt hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xử lý nghiêm minh các trường hợp cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, làm tổn hại đến thanh danh, uy tín của Đảng.

Thực hiện hiệu quả giải pháp trên sẽ góp phần kiến tạo, củng cố, bồi đắp niềm tin cho nhân dân từ gốc rễ, qua đó tạo môi trường xã hội đồng thuận, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân tự nguyện, tự tin, tự hào đi theo lý tưởng, mục tiêu và sự nghiệp cách mạng cao cả dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Báo QĐND


NHỮNG MÁNH KHÓE XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Lợi dụng tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng những khó khăn của đất nước, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch coi đây là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và nhân dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng.

Qua đó, chúng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện đa nguyên, đa đảng; cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước nhưng hiện nhiều cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa…

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tung ra các tài liệu chính danh, mạo danh hoặc nặc danh, được ngụy biện dưới dạng thư kiến nghị, thư trao đổi, tâm thư, bản góp ý… nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Từ đó, chúng quy kết, đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém là do thể chế chính trị, do Đảng, tạo cớ gây sức ép đòi đổi mới thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng… Mặt khác, chúng ra sức xuyên tạc, bịa đặt đời tư cá nhân, bôi nhọ thanh danh, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Đồng thời, các thế lực thù địch, tổ chức phản động còn đưa ra những luận điệu đơm đặt, xuyên tạc về việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm nền tảng tư tưởng là sự lỗi thời, lạc hậu; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ đó, chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, cho rằng Đảng không có vai trò lãnh đạo Nhà nước, Đảng lãnh đạo Nhà nước là “Đảng đứng trên Nhà nước”, “bao biện, làm thay, lấn quyền Nhà nước”; “Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật”…

Khi không đạt được mục đích, chúng lại quay sang hoạt động tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước, phủ nhận Nhà nước pháp quyền XHCN, phủ nhận vai trò làm chủ của nhân dân, cho rằng nhân dân không thể làm chủ vì “Đảng độc đoán, chuyên quyền, phi dân chủ”...

Những quan điểm, luận điểm nêu trên của các thế lực thù địch là hết sức phi lý, phản khoa học, hoàn toàn không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần phải nhận diện và đấu tranh ngăn chặn./.


CẦN NGHIÊM TRỊ NHỮNG KẺ XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT VỀ CÔNG TÁC NHÂN SỰ

 

Để phòng, chống thông tin giả, tin đồn thất thiệt về công tác nhân sự trước đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng có hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp nhiều hình thức, biện pháp bao gồm cả phòng và chống trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau ở tất các các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa phương, trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong bài phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng diễn ra tại Hà Nội vào ngày 13-3-2024, nói về nội dung “Trách nhiệm của chúng ta”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Phải xác định công tác chuẩn bị nhân sự là nhiệm vụ quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển vững mạnh của đất nước; phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã vi phạm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên nạt dưới; bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn.

Đến nay, công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng đã và đang được thực hiện tích cực, trách nhiệm, bảo đảm tiến độ ở đảng bộ các cấp, cả về nội dung các báo cáo và công tác nhân sự. Đặc biệt, ngày 14-6-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng (Chỉ thị 35). Đây là văn bản hết sức quan trọng, định hướng rõ những quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu và những nội dung cơ bản chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp để các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện ở cấp mình; bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

 Chỉ thị 35 đặt ra 7 yêu cầu đối với công tác chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, trong đó bổ sung mới 1 yêu cầu nêu rõ chỉ đạo của Bộ Chính trị cần tiếp tục chấn chỉnh, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, công tác chuẩn bị nhân sự. Theo đó, công tác nhân sự cần bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp, đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao, thận trọng từng bước, làm đến đâu chắc đến đó; cần có cơ chế, tiêu chí sàng lọc hiệu quả để không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài. Quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc, đúng quy trình, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong công tác lựa chọn, giới thiệu và bầu cấp ủy các cấp. Cấp ủy nhiệm kỳ 2025-2030 phải đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình mới, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Cụ thể về tiêu chuẩn cấp ủy viên nhiệm kỳ 2025-2030, Chỉ thị 35 và Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân; kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Hai là, có phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu, trong sáng; thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, giữ gìn sự đoàn kết nội bộ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kê khai tài sản, thu nhập trung thực, minh bạch; không cơ hội, tham vọng quyền lực, cục bộ, bè phái, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”... Không để vợ hoặc chồng, con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Ba là, có năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tư duy đổi mới, tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; nói đi đôi với làm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có thành tích, kết quả công tác và “sản phẩm” cụ thể trong địa bàn, lĩnh vực công tác được giao.

Công tác chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng đang được tiến hành một cách khẩn trương nhưng cũng rất chặt chẽ, chu đáo, công phu, bài bản, đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục... được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm, đánh giá cao. Trong đó, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác nhân sự đại hội và quản lý đội ngũ cán bộ... Việc chủ động nhận diện, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch về công tác nhân sự trước thềm đại hội đảng các cấp là yêu cầu khách quan, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần vào sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

Theo NGUYỄN NGỌC DOANH

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ VỀ CÔNG TÁC NHÂN SỰ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 sẽ được tổ chức trong năm 2025. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Chuẩn bị tốt nhất về mọi mặt là yếu tố, tiền đề hết sức quan trọng để tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng (dự kiến được tổ chức vào tháng 1-2026). 

Trước thềm đại hội đảng các cấp, sự chống phá của các thế lực thù địch càng quyết liệt. Chúng tập trung xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự lãnh đạo của Đảng và đặc biệt là về công tác nhân sự đại hội... Đây sẽ là “điểm mấu chốt” để các thế lực thù địch, phần tử phản động câu kết chống phá trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên không gian mạng. Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề nóng, bức xúc trong xã hội để xuyên tạc, bóp méo nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong một bộ phận quần chúng nhân dân, tập trung ở những nơi từng gây ra mất an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Tất cả sự chống phá nêu trên đều nhằm tới mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, uy tín cán bộ, nhất là cán bộ có khả năng là ứng viên cho cấp ủy khóa mới của các cấp; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguy hại hơn là đã có không ít cán bộ, người dân tin vào những thông tin và luận điệu xuyên tạc ấy.

Trên internet, mạng xã hội và một số diễn đàn, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là tuyên truyền xuyên tạc về công tác chuẩn bị đại hội. Các phần tử xấu tiếp tục dựng chuyện và quy chụp rằng “việc chuẩn bị đại hội như là hoạt động thay cho đại hội, xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội”; rằng công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ cốt cán cho Đại hội XIV là Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội XIV”. Đặc biệt, về vấn đề nhân sự, họ tự dựng lên danh sách lãnh đạo cấp cao... Họ tung hô, ngụy tạo rằng, đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng chỉ còn việc “giơ tay biểu quyết” đồng ý mà không thể có ý kiến gì khác...

Theo NGUYỄN NGỌC DOANH


NHỮNG CÁO BUỘC XUYÊN TẠC, SAI SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

 

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới: sự trở lại của niềm tin tôn giáo, sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham dự; các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc… Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội. Ðảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Hiến pháp năm 2013 phân định rõ ràng hai khái niệm quyền con người và quyền công dân, trong đó ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là một quyền con người với tính phổ quát của nó: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (khoản 1 Điều 24). Hơn thế, Hiến pháp năm 2013 mở rộng phạm vi nghĩa vụ của Nhà nước, không chỉ là bảo hộ nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 1992 mà là: “tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo." Đối tượng bảo hộ gồm cả quyền tự do theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo (nơi thờ tự). Như vậy, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tự nhiên của con người, đã được pháp luật quốc tế công nhận và bảo hộ với tư cách một quyền con người cơ bản ngay từ khi Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người - đạo luật nhân quyền quốc tế đầu tiên - được ban hành. Ở Việt Nam, tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn luôn là một quyền hiến định mà Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được khẳng định thông qua nhiều bằng chứng sống động, từ việc công nhận tổ chức, đăng ký hoạt động, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, đến việc bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được mở cơ sở đào tạo, in ấn kinh sách, sinh hoạt giáo lý…

Thực tiễn cho thấy, kể từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo. Đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 27 triệu đồng bào theo đạo (chiếm trên 27% dân số cả nước), trong đó, có trên 54.000 chức sắc, 135.500 chức việc; trên 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng trên 54.000 cơ sở tín ngưỡng. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các tổ chức và đại đa số đồng bào theo các tôn giáo ở Việt Nam luôn phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các tổ chức tôn giáo với tình yêu thương con người đã chung tay với Nhà nước trong công tác an sinh xã hội, chung sức, đồng lòng với chính quyền, nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, cả nước có khoảng 300 trường mầm non, 2.000 cơ sở giáo dục mầm non, 22 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội.

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, các tổ chức tôn giáo được tham gia vào đời sống chính trị xã hội. Quốc hội khóa XV, có 5 vị chức sắc trúng cử đại biểu; 88 chức sắc, chức việc và 35 tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh; 225 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 246 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp huyện; 646 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và trên 5.000 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021 - 2026, là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và tích cực tham gia các Hội, đoàn thể khác như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Người bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam... Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo đã vận động chức sắc, chức việc, đồng bào theo đạo chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, các tổ chức tôn giáo là một kênh truyền thông quan trọng góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống và đến với đồng bào có đạo nhanh và hiệu quả.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như: năm 2009, Nhà nước cho phép và hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI tại TP Hồ Chí Minh, với hơn 2.000 ni sư từ hơn 47 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham dự sự kiện này. Đặc biệt, năm 2024 đã diễn ra những hoạt động đối ngoại, nổi bật là Tổng Giám mục Marek Zalewski bắt đầu đảm nhiệm vai trò Đại diện Thường trú đầu tiên của Toà thánh ở Việt Nam từ tháng 1/2024.

Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican, Tổng Giám mục Paul Richard Gallagher thăm Việt Nam từ ngày 9-14/4/2024 qua đó diện kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và có các cuộc gặp và làm việc với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà; thăm các Tổng Giáo phận Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Huế. Trong chương trình tại Việt Nam, Mục sư Franklin Graham, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham đã gặp Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, lãnh đạo Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ. Đồng thời, mục sư Franklin Graham tham dự Chương trình Thánh nhạc Truyền giảng “Mùa Yêu thương 2024” do Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham tổ chức tại Cần Thơ, với 2 đêm nhạc vào ngày 3-4/12/2024, thu hút khoảng 10.000 người tham dự gồm chức sắc, chức việc, tín đồ Tin lành và khách mời của 13 tỉnh miền Tây.

Những con số trên là minh chứng sinh động cho thấy tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn được bảo đảm, thực thi trong thực tiễn, các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi và ngày càng phát triển. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động ở khắp các vùng, miền, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp xã hội, nhất là vào dịp đầu năm, lễ hội truyền thống.

Theo Tuệ Thiên - Bình Nguyên


NHẬN DIỆN NHỮNG CÁO BUỘC SAI SỰ THẬT VỀ TÌNH HÌNH TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

 

Những năm qua, Hội nghị Thượng đỉnh về tự do tôn giáo quốc tế đã căn cứ vào những nguồn tin không đầy đủ, thiếu khách quan, nguồn tin cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật của các tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan, cơ hội chính trị về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Từ đó, họ kêu gọi Chính phủ các nước cũng như các tổ chức quốc tế gây sức ép với chính quyền Việt Nam, kích động phần tử chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động gây rối phá hoại, làm mất ổn định an ninh, trật tự. Năm nay, hội nghị này được tổ chức từ ngày 4 - 5/2/2025 tại Washington DC, Hoa Kỳ, các thế lực chống phá tiếp tục đưa ra nội dung xuyên tạc, hướng lái sai lệch các vụ án có liên quan đến dân tộc, tôn giáo tại Việt Nam nhằm hạ uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hội nghị Thượng đỉnh tự do tôn giáo quốc tế (International Religious Freedom Summit, viết tắt là IRF Summit) là sự kiện được tổ chức từ năm 2021 đến nay liên quan đến các vấn đề về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hội nghị được khởi xướng và duy trì bởi hai đồng chủ tịch là ông Sam Brownback, cựu Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và bà Katrina Lantos Swett, một luật sư nhân quyền hiện đang giữ chức Chủ tịch Quỹ Nhân quyền Lantos.

Dù có tên gọi là Hội nghị Thượng đỉnh liên quan đến vấn đề tự do và tôn giáo toàn cầu được tuyên truyền trên mạng xã hội một cách rầm rộ cả về số người tham dự và số tiền chi ra để tổ chức trong những năm qua nhưng về bản chất, hội nghị này chỉ là một diễn đàn để các tổ chức và các đối tượng chống đối đưa ra những thông tin vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong thời gian hội nghị diễn ra với những công bố thiếu khách quan, sai sự thật, ngay lập tức đã được các tổ chức thiếu thiện chí, thù địch chống phá Việt Nam tung hô, xem đó như là bằng chứng quy kết Đảng, Nhà nước ta có những đối xử “bất công”, “phân biệt đối xử”, “đàn áp” tôn giáo, tín ngưỡng của người dân…

Cũng như các năm trước, năm nay tại hội nghị này, các đại biểu tham dự đều là các tổ chức, cá nhân tự xưng quen thuộc trên không gian mạng về các hoạt động xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, qua đó kêu gọi các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép với những chủ trương, đường lối chính sách của Việt Nam, có thể kể đến như đối tượng Nguyễn Đình Thắng làm Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành tổ chức do chính y lập ra là Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS. Dù không sinh sống cũng như không có mối liên hệ mật thiết nào ở Việt Nam nhưng đối tượng trên vẫn đưa ra những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật việc “Việt Nam tiếp tục vi phạm tự do tôn giáo một cách có hệ thống và giới hoạt động muốn hội nghị quan tâm đến hiện trạng đàn áp ở Việt Nam”, đồng thời mong muốn các tổ chức, cá nhân tham dự tiếp tục vận động Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh dách quốc gia phải quan tâm đặc biệt (CPC) về tự do tôn giáo.

Ngoài ra, thông qua hội nghị này, nhiều đối tượng tiếp tục cổ suý và tẩy trắng cho các hành động khủng bố tại Việt Nam như đối tượng Y Phic Hdok, hiện đang sống lưu vong tại Mỹ, là một trong những đối tượng cốt cán của tổ chức Người Thượng vì công lý - MSFJ” (Montagnards Stand For Justice) đã kêu gọi các tổ chức quốc tế tự xung về nhân quyền can thiệp vào Việt Nam nhằm thả các đối tượng vi phạm pháp luật và đang chấp hành án phạt như Y Thinh Niê, Nay Y Blang, Y Krếc Byă). Thậm chí, đối tượng này còn lớn tiếng kêu gọi các tổ chức quốc tế trên can thiệp, gây sức ép đối với Chính  phủ Thái Lan trong việc không trục xuất đối tượng khủng bố Y Quynh Bdap chủ mưu, cầm đầu vụ khủng bố xảy ra tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 về Việt Nam.

Như vậy, về bản chất hội nghị này không phải là một diễn đàn để đưa ra những tiếng nói công bằng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như đại diện cho tổ chức tôn giáo nào cho người dân toàn cầu mà là một trong những công cụ chính trị để các thế lực thù địch nhắm vào các quốc gia được cho là không thân thiện nhằm tạo áp lực chính trị, tức là mục tiêu “quốc tế hóa”, “chính trị hóa” vấn đề tôn giáo, tiến tới các hoạt động kích động gây bất ổn ở trong nước và thực hiện can thiệp quân sự từ bên ngoài. Điểm qua những thành phần tham dự Hội nghị đều là những gương mặt quen thuộc của các tổ chức quốc tế tự xưng về nhân quyền, các cá nhân, tổ chức gắn mác “đấu tranh tự do tôn giáo” chỉ nhằm mục đích vận động chính sách, chứ không phải là đại diện các quốc gia đến bàn thảo, nghị sự về tôn giáo. Dù được các đối tượng chống đối và các tổ chức phản động lưu vong tuyên truyền trên mạng xã hội nhưng suy cho cùng, đây chỉ là một diễn đàn mang tính nhỏ lẻ không tính quốc tế, không đại diện cho tiếng nói của một quốc gia nào nên không có được sự quan tâm từ các tổ chức truyền thông hay bất cứ tổ chức tôn giáo nào trên thế giới.

Bản chất các hoạt động cổ xúy cho hội nghị trên của các thế lực thù địch, phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước thời gian qua chỉ nhằm mục đích kích động “ngòi nổ” tín ngưỡng, tôn giáo để kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo với nhau, giữa người theo đạo và người không theo đạo, giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp, từ đó gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây tổn hại đến vị thế và uy tín của Việt Nam hiện nay./.

Theo Tuệ Thiên - Bình Nguyên


NHẬN DIỆN NHỮNG KẺ PHÁ HOẠI "NÉM ĐÁ GIẤU TAY"

 

Chuyện tán phát đơn thư nặc danh nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, gây tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ, nhất là trước thềm đại hội đảng các cấp vốn không có gì xa lạ. Gần đây, hành vi tiêu cực, phá hoại, đáng lên án này có xu hướng diễn biến phức tạp, khó dự báo.

Nặc danh là thoái hóa

Hành vi tố cáo nặc danh là trò "ném đá giấu tay", vốn là hành vi của những kẻ xấu xa, đáng buồn là trong số đó có cả cán bộ, đảng viên.

Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn vẫn tiềm ẩn phức tạp, còn tình trạng công dân gửi đơn đến nhiều nơi, vượt cấp, có nhiều đơn trùng, đơn khuyết danh, mạo danh hoặc hết thời hiệu xử lý; một số vụ việc đã được các cấp, các ngành giải quyết hết thẩm quyền, có lý, có tình, nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Còn tại Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, từ năm 2020 đến nay, Ban Nội chính Tỉnh ủy đã tiếp nhận và xử lý tổng số 54 đơn tố cáo nặc danh. 

Xét về bản chất, tố cáo nặc danh là hành vi xấu xí của những người không có ý thức xây dựng tập thể; thiếu tinh thần trung thực, thẳng thắn; thiếu “chí công vô tư” đối với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tình trạng tố cáo nặc danh ngày càng trở nên phức tạp và khó lường. Không chỉ đơn thư nặc danh mà còn có những biến tướng như: Cuộc gọi, tin nhắn thoại, tin nhắn văn bản, thư điện tử, đáng chú ý là hiện tượng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thu âm giọng nói giả, dàn dựng, cắt ghép video clip, nhất là video clip “nóng” để đe dọa, tống tiền...

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nhấn mạnh: Cần giải quyết dứt điểm, đúng quy định đơn, thư tố cáo, khiếu nại, trước hết là đối với những tổ chức đảng, đảng viên có liên quan trực tiếp đến nhân sự đại hội; kiên quyết xử lý đối tượng lợi dụng dịp tổ chức đại hội để tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi nặc danh nhưng về cơ bản là xuất phát từ tư tưởng vị kỷ, hẹp hòi, lòng hận thù, sự ganh ghét, đố kỵ, nhất là những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, quyền lợi, địa vị...

Tình trạng này không chỉ tồn tại ở riêng một cơ quan, đơn vị nào mà diễn ra ở nhiều tổ chức, đoàn thể, địa phương. Đối tượng tiến hành cũng rất đa dạng, bao gồm những người có mâu thuẫn trực tiếp và cả thành phần bị xúi giục, cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc...

Thông qua đó nhằm thực hiện mục đích tống tiền hoặc bôi xấu, làm giảm sút niềm tin của tập thể đối với cá nhân, tiến tới “hạ bệ” đối phương. Nếu không chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý, ngăn chặn kịp thời sẽ trở thành mầm mống nguy hiểm dẫn đến tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ; làm vướng bận lãnh đạo, chỉ huy; gây phương hại cho tập thể, cá nhân; nguy hiểm hơn là tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ cương

Đơn thư nặc danh là hành vi không có giá trị, bởi lẽ: “Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của Luật này”(1).

Trong Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm cũng đã chỉ rõ, đảng viên không được: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết”.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần tăng cường phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Bởi lẽ, phát huy rộng rãi dân chủ sẽ góp phần khơi dậy, động viên trí tuệ, sáng tạo của tập thể; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân; củng cố, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và toàn xã hội; đồng thời, là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, phòng ngừa những biểu hiện tiêu cực.

Mặt khác, siết chặt kỷ luật, kỷ cương sẽ góp phần tạo sức răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nâng cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”; khắc phục tình trạng “dân chủ” quá trớn, “dân chủ” vô nguyên tắc mà nặc danh chính là một biểu hiện cụ thể.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần thường xuyên học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 9-12-2021 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy định số 22-QĐ/TW; Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành...; đồng thời, xác định đây là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân.

Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp quản lý, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết thỏa đáng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các đối tượng thuộc quyền; triển khai chặt chẽ, thận trọng, đúng quy trình ở từng khâu, từng bước các mặt công tác, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm như: Công tác nhân sự cán bộ, công tác thi đua-khen thưởng, công tác chính sách... không để xảy ra tình trạng quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, gây bức xúc dẫn đến tố cáo sai quy định, tố cáo vượt cấp hoặc tố cáo nặc danh...

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên khi tham gia sinh hoạt thì “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý” nhưng sau khi có quyết nghị của tập thể lại cố tình thực hiện hành vi phá hoại.

 (1) Khoản 1, Điều 25, Luật Tố cáo.

VŨ VĂN QUỐC - LÊ ANH KIỆT


CHẶN ĐỨNG ĐƠN THƯ NẶC DANH

 

Đơn thư nặc danh là hành vi không có giá trị, bởi lẽ: “Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của Luật này”(1).

Trong Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm cũng đã chỉ rõ, đảng viên không được: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết”.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần tăng cường phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Bởi lẽ, phát huy rộng rãi dân chủ sẽ góp phần khơi dậy, động viên trí tuệ, sáng tạo của tập thể; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân; củng cố, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và toàn xã hội; đồng thời, là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, phòng ngừa những biểu hiện tiêu cực.

Mặt khác, siết chặt kỷ luật, kỷ cương sẽ góp phần tạo sức răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nâng cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”; khắc phục tình trạng “dân chủ” quá trớn, “dân chủ” vô nguyên tắc mà nặc danh chính là một biểu hiện cụ thể.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần thường xuyên học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 9-12-2021 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy định số 22-QĐ/TW; Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành...; đồng thời, xác định đây là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân.

Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp quản lý, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết thỏa đáng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các đối tượng thuộc quyền; triển khai chặt chẽ, thận trọng, đúng quy trình ở từng khâu, từng bước các mặt công tác, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm như: Công tác nhân sự cán bộ, công tác thi đua-khen thưởng, công tác chính sách... không để xảy ra tình trạng quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, gây bức xúc dẫn đến tố cáo sai quy định, tố cáo vượt cấp hoặc tố cáo nặc danh...

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên khi tham gia sinh hoạt thì “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý” nhưng sau khi có quyết nghị của tập thể lại cố tình thực hiện hành vi phá hoại.

 (1) Khoản 1, Điều 25, Luật Tố cáo.

VŨ VĂN QUỐC - LÊ ANH KIỆT


HÀNH VI TỐ CÁO “NẶC DANH” LÀ THOÁI HÓA

 

Hành vi tố cáo nặc danh là trò "ném đá giấu tay", vốn là hành vi của những kẻ xấu xa, đáng buồn là trong số đó có cả cán bộ, đảng viên.

Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn vẫn tiềm ẩn phức tạp, còn tình trạng công dân gửi đơn đến nhiều nơi, vượt cấp, có nhiều đơn trùng, đơn khuyết danh, mạo danh hoặc hết thời hiệu xử lý; một số vụ việc đã được các cấp, các ngành giải quyết hết thẩm quyền, có lý, có tình, nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Còn tại Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, từ năm 2020 đến nay, Ban Nội chính Tỉnh ủy đã tiếp nhận và xử lý tổng số 54 đơn tố cáo nặc danh. 

Xét về bản chất, tố cáo nặc danh là hành vi xấu xí của những người không có ý thức xây dựng tập thể; thiếu tinh thần trung thực, thẳng thắn; thiếu “chí công vô tư” đối với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tình trạng tố cáo nặc danh ngày càng trở nên phức tạp và khó lường. Không chỉ đơn thư nặc danh mà còn có những biến tướng như: Cuộc gọi, tin nhắn thoại, tin nhắn văn bản, thư điện tử, đáng chú ý là hiện tượng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thu âm giọng nói giả, dàn dựng, cắt ghép video clip, nhất là video clip “nóng” để đe dọa, tống tiền...

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nhấn mạnh: Cần giải quyết dứt điểm, đúng quy định đơn, thư tố cáo, khiếu nại, trước hết là đối với những tổ chức đảng, đảng viên có liên quan trực tiếp đến nhân sự đại hội; kiên quyết xử lý đối tượng lợi dụng dịp tổ chức đại hội để tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi nặc danh nhưng về cơ bản là xuất phát từ tư tưởng vị kỷ, hẹp hòi, lòng hận thù, sự ganh ghét, đố kỵ, nhất là những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, quyền lợi, địa vị...

Tình trạng này không chỉ tồn tại ở riêng một cơ quan, đơn vị nào mà diễn ra ở nhiều tổ chức, đoàn thể, địa phương. Đối tượng tiến hành cũng rất đa dạng, bao gồm những người có mâu thuẫn trực tiếp và cả thành phần bị xúi giục, cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc...

Thông qua đó nhằm thực hiện mục đích tống tiền hoặc bôi xấu, làm giảm sút niềm tin của tập thể đối với cá nhân, tiến tới “hạ bệ” đối phương. Nếu không chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý, ngăn chặn kịp thời sẽ trở thành mầm mống nguy hiểm dẫn đến tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ; làm vướng bận lãnh đạo, chỉ huy; gây phương hại cho tập thể, cá nhân; nguy hiểm hơn là tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

VŨ VĂN QUỐC - LÊ ANH KIỆT


MINH CHỨNG SINH ĐỘNG VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM BÁC BỎ NHỮNG CÁO BUỘC XUYÊN TẠC, SAI SỰ THẬT

 

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới: sự trở lại của niềm tin tôn giáo, sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham dự; các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc… Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội. Ðảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Hiến pháp năm 2013 phân định rõ ràng hai khái niệm quyền con người và quyền công dân, trong đó ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là một quyền con người với tính phổ quát của nó: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (khoản 1 Điều 24). Hơn thế, Hiến pháp năm 2013 mở rộng phạm vi nghĩa vụ của Nhà nước, không chỉ là bảo hộ nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 1992 mà là: “tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo." Đối tượng bảo hộ gồm cả quyền tự do theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo (nơi thờ tự). Như vậy, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tự nhiên của con người, đã được pháp luật quốc tế công nhận và bảo hộ với tư cách một quyền con người cơ bản ngay từ khi Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người - đạo luật nhân quyền quốc tế đầu tiên - được ban hành. Ở Việt Nam, tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn luôn là một quyền hiến định mà Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được khẳng định thông qua nhiều bằng chứng sống động, từ việc công nhận tổ chức, đăng ký hoạt động, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, đến việc bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được mở cơ sở đào tạo, in ấn kinh sách, sinh hoạt giáo lý…

Thực tiễn cho thấy, kể từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo. Đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 27 triệu đồng bào theo đạo (chiếm trên 27% dân số cả nước), trong đó, có trên 54.000 chức sắc, 135.500 chức việc; trên 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng trên 54.000 cơ sở tín ngưỡng. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các tổ chức và đại đa số đồng bào theo các tôn giáo ở Việt Nam luôn phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các tổ chức tôn giáo với tình yêu thương con người đã chung tay với Nhà nước trong công tác an sinh xã hội, chung sức, đồng lòng với chính quyền, nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, cả nước có khoảng 300 trường mầm non, 2.000 cơ sở giáo dục mầm non, 22 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội.

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, các tổ chức tôn giáo được tham gia vào đời sống chính trị xã hội. Quốc hội khóa XV, có 5 vị chức sắc trúng cử đại biểu; 88 chức sắc, chức việc và 35 tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh; 225 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 246 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp huyện; 646 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và trên 5.000 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021 - 2026, là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và tích cực tham gia các Hội, đoàn thể khác như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Người bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam... Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo đã vận động chức sắc, chức việc, đồng bào theo đạo chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, các tổ chức tôn giáo là một kênh truyền thông quan trọng góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống và đến với đồng bào có đạo nhanh và hiệu quả.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như: năm 2009, Nhà nước cho phép và hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI tại TP Hồ Chí Minh, với hơn 2.000 ni sư từ hơn 47 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham dự sự kiện này. Đặc biệt, năm 2024 đã diễn ra những hoạt động đối ngoại, nổi bật là Tổng Giám mục Marek Zalewski bắt đầu đảm nhiệm vai trò Đại diện Thường trú đầu tiên của Toà thánh ở Việt Nam từ tháng 1/2024.

Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican, Tổng Giám mục Paul Richard Gallagher thăm Việt Nam từ ngày 9-14/4/2024 qua đó diện kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và có các cuộc gặp và làm việc với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà; thăm các Tổng Giáo phận Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Huế. Trong chương trình tại Việt Nam, Mục sư Franklin Graham, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham đã gặp Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, lãnh đạo Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ. Đồng thời, mục sư Franklin Graham tham dự Chương trình Thánh nhạc Truyền giảng “Mùa Yêu thương 2024” do Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham tổ chức tại Cần Thơ, với 2 đêm nhạc vào ngày 3-4/12/2024, thu hút khoảng 10.000 người tham dự gồm chức sắc, chức việc, tín đồ Tin lành và khách mời của 13 tỉnh miền Tây.

Những con số trên là minh chứng sinh động cho thấy tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn được bảo đảm, thực thi trong thực tiễn, các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi và ngày càng phát triển. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động ở khắp các vùng, miền, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp xã hội, nhất là vào dịp đầu năm, lễ hội truyền thống.

Tuệ Thiên - Bình Nguyên