Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Học tập suốt đời

 

Báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu bài viết “Học tập suốt đời” của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội.

Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”[1]; “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”[2]. Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26-7-2002, Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”[3] bởi “Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn”.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế - xã hội ở địa phương. Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộHọc để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”[4], góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.

Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu  trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững. Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.

Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khỏe, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Phát huy hơn nữa đóng góp của các dân tộc, tôn giáo cho xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

 

Ngày 1-3, Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các Quyết định về công tác cán bộ tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi lẵng hoa chúc mừng.

Tham dự hội nghị có: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang; Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng; lãnh đạo, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, các cơ quan của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức tôn giáo.

Tại Kỳ họp bất thường lần thứ chín, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 176/2025/QH15 về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, trong đó Bộ Dân tộc và Tôn giáo là 1 trong 17 bộ, cơ quan ngang bộ thuộc cơ cấu tổ chức của Chính phủ. Quốc hội cũng phê chuẩn bổ nhiệm đồng chí Đào Ngọc Dung giữ chức Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Ngay sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo; có các quyết định bổ nhiệm các Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo, gồm các đồng chí: Y Vinh Tơr, Y Thông, Nông Thị Hà và Nguyễn Hải Trung.

Trao các Nghị quyết, Quyết định của Quốc hội về thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Quyết định về công tác cán bộ tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo, phát biểu tại sự kiện, Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng Bộ Dân tộc và Tôn giáo lần đầu tiên được thành lập, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với công tác dân tộc và tôn giáo, vừa thúc đẩy các phong trào, hoạt động dân tộc, tôn giáo, vừa quản lý hiệu quả và phát huy hơn nữa đóng góp của các dân tộc, các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực, đóng góp của đồng chí Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà và Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh trong lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và dân tộc thời gian qua; chúc mừng đồng chí Đào Ngọc Dung được giao nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, nước ta có 54 dân tộc anh em, các dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, trong đó tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng, Nhà nước và nhân dân phát huy trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng và thu được thắng lợi to lớn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết / Thành công, thành công, đại thành công. Cùng với đó, phát huy mạnh mẽ đoàn kết giữa các tôn giáo, gắn đạo với đời, đời với đạo, theo tinh thần "đạo pháp và dân tộc".

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, trong tình hình mới, điểm tựa của đất nước ta vẫn là tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tình dân tộc, nghĩa đồng bào, cần tiếp tục phát huy cao độ nhất để thực hiện các nhiệm vụ chính trị cao cả và nặng nề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trên tinh thần đó, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và tôn giáo, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định.

Trong đó, cùng với phát huy tinh thần đại đoàn kết các dân tộc, phải tạo điều kiện để các dân tộc được tiếp cận bình đẳng, không có khoảng cách giữa các dân tộc trong sự phát triển; không để ai bị bỏ lại phía sau và không để các thế lực thù địch, phản động chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Cho biết Bộ Chính trị vừa quyết định miễn học phí cho toàn bộ học sinh từ mầm non đến phổ thông trên cả nước, Thủ tướng bày tỏ trăn trở và đề nghị Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án về xây dựng hệ thống trường học nội trú cho các cháu học sinh và cơ sở chữa bệnh cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, phù hợp với thực tiễn, hợp lý và hiệu quả. Ngoài ra, triển khai internet vệ tinh để phủ sóng internet, thúc đẩy chuyển đổi số tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thủ tướng lưu ý, Bộ Dân tộc và Tôn giáo phải phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, đưa văn hóa các dân tộc trở thành nguồn lực phát triển, phục vụ đất nước, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân, vừa biến văn hóa thành của cải vật chất, trong đó có triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí…

Bên cạnh công tác dân tộc là công tác tôn giáo, Thủ tướng yêu cầu cần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kết hợp chặt chẽ giữa đạo và đời, đời và đạo, tôn giáo gắn bó với dân tộc; thể chế hóa, thực hiện tốt việc quản lý nhà nước, quản lý để phát triển, thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nguyện vọng của nhân dân về công tác tôn giáo; đồng thời nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo theo sự phát triển của đất nước.

Mong muốn các tổ chức tôn giáo, các hoạt động tôn giáo lành mạnh, gắn với sự phát triển của đất nước, phát huy đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế, nâng cao vai trò của tôn giáo trong xã hội và trên trường quốc tế, Thủ tướng lưu ý, không để các thế lực thù địch, phản động kích động vấn đề tôn giáo, gây chia rẽ giữa các tôn giáo; giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng đề án trình cấp có thẩm quyền để góp phần phát triển bình đẳng, lành mạnh, văn minh trong các tôn giáo.

Nêu nhiệm vụ quan trọng năm 2025 và thời gian tới của đất nước, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Dân tộc và Tôn giáo bắt tay ngay vào công việc, không để gián đoạn công việc, nhất là những công việc liên quan tới người dân, công tác dân tộc và tôn giáo tích cực góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng GDP từ 8% trở lên; phát huy và là hình mẫu về đoàn kết, thống nhất và lan tỏa đoàn kết, thống nhất; cán bộ phải sát cơ sở hơn, đi cơ sở nhiều hơn, đi tới tận vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, làm tốt hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng cho sự phát triển bình đẳng và không ai bị bỏ lại phía sau.

Thay mặt Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước khi quyết định thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo; cam kết tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại buổi lễ; tập thể lãnh đạo, các đơn vị trực thuộc của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, tận tâm, tận tụy, làm hết sức mình thực hiện tốt nhất mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân giao phó.

 

Tinh gọn bộ máy: Các cơ quan đơn vị mới chính thức đi vào hoạt động

 

Từ ngày 1-3, các cơ quan, đơn vị mới chính thức đi vào hoạt động sau thời gian khẩn trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo hướng tăng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, góp phần tạo động lực phát triển trong tình hình thực tiễn hiện nay.

Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy đã giảm đáng kể số đầu mối, cơ quan, trong đó tổ chức bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026 đã được tinh gọn còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ (giảm 5 bộ, ngành) và 5 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 3 cơ quan). Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy thực hiện theo nguyên tắc tổ chức hợp lý các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, thực hiện và chịu trách nhiệm chính, bảo đảm không chồng chéo, giao thoa, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Những ngày qua, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan nói trên. Còn các cơ quan cũng sắp xếp tinh gọn phòng, ban chuyên môn, phân công, phân nhiệm cụ thể đến từng cá nhân. Tất cả đảm bảo hoạt động ổn định, giải quyết kịp thời, thông suốt các thủ tục hành chính của người dân và doanh nghiệp.

Tại Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo; các quyết định về công tác cán bộ tại Bộ này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu phải bắt tay ngay vào công việc, không để gián đoạn, nhất là những công việc liên quan tới người dân, công tác dân tộc và tôn giáo, tích cực góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng GDP từ 8% trở lên. Phải phát huy và là hình mẫu về đoàn kết, thống nhất và lan tỏa đoàn kết, thống nhất. Cán bộ phải sát cơ sở hơn, đi cơ sở nhiều hơn, đi tới tận vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, làm tốt hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng cho sự phát triển bình đẳng và không bị ai bỏ lại phía sau.

Khi triển khai công tác cán bộ của Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà mong muốn các cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Bộ từ ngày 1-3 hãy gác lại những cảm xúc còn bâng khuâng, lo lắng, băn khoăn, suy tư, lưu luyến để vượt lên chính mình, hướng đến công việc đang chờ đợi từng ngày, từng giờ, rất nặng nề nhưng rất vinh quang.

Để giải quyết thủ tục hành chính liên tục, thông suốt, hiệu quả khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, mới đây, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình đã ký Văn bản số 219/TTg-KSTT của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy.

Đặc biệt, thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận số 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Trong đó có nghiên cứu định hướng sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã; thực hiện mô hình địa phương 2 cấp (tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể) bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng yêu cầu xác định quyết tâm chính trị cao nhất, triển khai thực hiện theo phương châm "vừa chạy vừa xếp hàng" để hoàn thành công việc với khối lượng rất lớn, đòi hỏi cao về chất lượng, tiến độ trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào trung tuần tháng 4-2025.

Một kết quả bước đầu trong thực hiện chủ trương lớn này là mới đây, sau khi nghe báo cáo của Chính phủ về khả năng cân đối tài chính trong và sau quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Bộ Chính trị đã quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước. Thời điểm thực hiện từ đầu năm học mới 2025-2026.

Bộ Chính trị cũng đã giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, một số bộ, ngành liên quan và các địa phương phối hợp cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc quyết định này.

Đón nhận tin vui trên, nhiều nhà quản lý, nhà giáo và các phụ huynh trên cả nước đã bày tỏ vui mừng và khẳng định đó là quyết định hợp lòng dân, có ý nghĩa xã hội và sức ảnh hưởng mạnh mẽ, phù hợp với xu thế chung của các nước phát triển. Quyết sách này không chỉ giảm gánh nặng cho gia đình ở vùng khó khăn, mà còn bảo đảm cơ hội học tập tốt nhất cho học sinh ở mọi địa bàn, mọi độ tuổi, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương phổ cập giáo dục trung học; từ đó nâng cao trình độ dân trí và tạo nền móng vững chắc để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Cùng với Trung ương, bộ máy các cơ quan Đảng và các cơ quan hành chính mới của các địa phương trên cả nước chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-3.

Như tại TP Hà Nội, các sở, ngành, các quận, huyện, thị xã đã chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp, tinh gọn bộ máy. Từ nhiều ngày qua, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan vừa được hợp nhất, sáp nhập, chuyển chức năng, nhiệm vụ đã bắt tay ngay vào kiện toàn, thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền nhiệm vụ, bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ công tác của các đơn vị thông suốt ngay từ ngày đầu tiên chính thức đi vào hoạt động.

Tại Đồng Nai, tỉnh này hoàn thành việc sắp xếp bộ máy chính quyền của tỉnh và các cơ quan, đơn vị, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với phương án sắp xếp của Trung ương. Cán bộ, công chức trên cương vị công tác mới đã nhanh chóng tiếp cận và bắt tay ngay vào công việc; nêu cao tinh thần đoàn kết cùng tập thể cán bộ, đảng viên của đơn vị chung sức đồng lòng, vượt lên khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Có thể thấy, toàn hệ thống chính trị đang tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, góp phần xây dựng hệ thống chính trị thực sự tinh gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Không chỉ hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thông suốt, kỳ vọng quá trình sắp xếp, tinh gọn sẽ nâng tầm chất lượng nhân sự cũng như chất lượng quản lý nhà nước, từ đó khơi thêm nguồn lực, sớm hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam cường thịnh.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhận danh hiệu “Giáo sư danh dự" Đại học Thanh Hoa

 

Sáng 2-3, tại Trụ sở Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc tổ chức lễ trao danh hiệu “Giáo sư danh dự” Đại học Thanh Hoa tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, vì những đóng góp quan trọng của Đảng, Chính phủ Việt Nam và cá nhân Thủ tướng Chính phủ đối với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam và hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong những năm vừa qua.

Cùng tham dự sự kiện có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các đồng chí đại diện Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ ngành, địa phương, Hội đồng Giáo sư Nhà nước, một số trường đại học và cơ quan liên quan.

 

Phát biểu tại buổi lễ, Giáo sư, Tiến sĩ Khưu Dũng, Bí thư Đảng ủy Đại học Thanh Hoa, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc nhấn mạnh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính là nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng quốc tế, từ khi đảm nhận chức vụ Thủ tướng đến nay đã lãnh đạo Chính phủ Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn, Chính phủ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, cải thiện dân sinh ở Việt Nam.

Cùng với đó, dưới sự quan tâm, chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Cường và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, các bộ ngành, địa phương Việt Nam - Trung Quốc thời gian qua đã phối hợp chặt chẽ, tích cực thực hiện nhận thức chung của các đồng chí Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước, thúc đẩy việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc không ngừng đi vào chiều sâu và đạt được kết quả thực chất.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Khưu Dũng, qua nghiên cứu nghiêm túc, đồng thời căn cứ những thành tựu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trong lĩnh vực phát triển kinh tế và những đóng góp quan trọng đối với giao lưu hợp tác Trung Quốc - Việt Nam, Đại học Thanh Hoa xin phong tặng danh hiệu cao quý “Giáo sư danh dự” tới Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ vinh dự nhận danh hiệu “Giáo sư danh dự” Đại học Thanh Hoa và nhấn mạnh, việc trao tặng danh hiệu cao quý này không chỉ là sự tôn vinh của Đại học Thanh Hoa, mà còn thể hiện sự coi trọng của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Trung Quốc đối với những đóng góp của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc kiên định sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với nền văn hóa hơn 4 ngàn năm của dân tộc, được vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và bối cảnh thế giới hiện nay, qua đó mang lại những thành quả to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua. Đồng thời, đây cũng là sự ghi nhận của phía Trung Quốc đối với những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy quan hệ “mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em”.

 

KINH NGHIỆM ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ HIỆN NAY

 


 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Đại hội XIII Đảng ta xác định “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị. Đơn vị cơ sở là lực lượng luôn đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng với những mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả, qua đó đã góp phần bổ sung, phát triển những kinh nghiệm có giá trị trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

                                  

           Kế thừa truyền thống dân tộc, từ ngày Đảng ta được thành lập luôn xác định vai trò quan trọng của quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên để bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Lợi dung mở cửa, hội nhập đưa đất nước phát triển, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Vì vậy, sáu giải pháp cơ bản đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG QUÂN ĐỘI TRƯỚC YÊU CẦU MỚI LÀ MỘT VẤN ĐỀ CẤP BÁCH HIỆN NAY

                  

Công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội là một bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, một mặt cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, là công tác tác động vào đối với con người, trực tiếp bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức cách mạng, phát triển đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và quân đội.

NGUY HẠI TỪ CĂN BỆNH “THỜ Ơ, VÔ CẢM, THIẾU TRÁCH NHIỆM” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY.

          

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước những bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là một trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “căn bệnh” nguy hại tác động sâu sắc đến niềm tin của Nhân dân với Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Vì thế, cần sớm phát hiện, điều trị triệt để “căn bệnh” này để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM XEM NHẸ ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, TUYỆT ĐỐI HÓA VAI TRÒ VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO TRONG CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI


Những năm gần đây, nhất là từ khi xảy ra xung đột Nga-Ucraine, trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh xuất hiện một số quan điểm nhấn mạnh, đề cao vai trò của vũ khí công nghệ cao trong tác chiến, coi nhẹ yếu tố con người. Thậm chí còn có quan điểm cho rằng: Chỉ có các lực lượng sở hữu vũ khí công nghệ cao mới có thể đánh thắng trong chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, dẫn đến phủ nhận giá trị của quốc phòng, an ninh truyền thống, coi nhẹ vai trò của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân. Sự thật, có vũ khí công nghệ cao để chống lại kẻ địch là tốt, nhưng dù vũ khí hiện đại thế nào đi nữa vẫn phải do con người sử dụng, do đó, con người là yếu tố quyết định, còn vũ khí tốt sẽ nâng cao hiệu suất tác chiến. Nhưng không phải nước nào và bao giờ các nước cũng có vũ khí công nghệ cao ngang bằng nhau, vì thông thường nhiều quốc gia phải tiến hành chiến tranh bằng vũ khí, trang bị kém hơn, thậm chí là rất kém để chống lại đối phương có vũ khí công nghệ cao. Do đó, phải có đường lối xây dựng nền quốc phòng, an ninh và tiến hành chiến tranh phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia.

NHẬN DIỆN ĐÚNG, QUYẾT TÂM CAO, BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Ở phía bên kia chiến tuyến, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, vẫn “ngựa quen đường cũ”, tìm mọi cách để chống phá đường lối đổi mới, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Chiêu trò thâm độc nhất, nguy hiểm nhất đang được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng khai thác là viết bài, tung lên trên mạng xã hội, dưới nhiều hình thức, để cản trở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của Nhân dân ta. Họ ra sức tuyên truyền xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng. Họ viện dẫn, đưa ra các lý do khác nhau để biện minh cho quan điểm sai trái, thù địch của họ, nào là chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, chủ nghĩa Mác - Lênin đã “cáo chung” cùng với sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô; nào là chỉ có CNTB mới là mô hình phát triển tốt đẹp nhất, “hợp lý nhất”, Việt Nam cần học tập và đi theo.

BẢO VỆ NỀN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY


                                                                                 

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra là dấu mốc lịch sử trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc. Đến nay, suốt 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 38 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 33 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn phải đối mặt với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Không từ một thủ đoạn nào, chúng ra kích động, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng làm lung lạc niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

KIÊN ĐỊNH, ĐẤU TRANH BẢO VỆ TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI


Trong suốt quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, Quân đội Việt Nam luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; luôn kiên định, tuyệt đối trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quân sự, quốc phòng.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và giáo dục, rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH BÁC BỎ CÁC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN, LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, PHỦ NHẬN NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh việc công kích, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta trên nhiều phương tiện truyền thông, nhất là trên internet, các mạng xã hội, như xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới có nhiều bất ổn, làm cho đất nước lâm vào tình trạng yếu thế, lạc hậu trước xu hướng bùng nổ thông tin và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, kết cấu xã hội ở Việt Nam đã có sự chuyển biến theo hướng đa dạng, nhiều tầng nấc, xu hướng dân chủ hóa ngày càng được coi trọng. Để tuyên truyền cho luận điệu thâm độc trên, các thế lực thù địch, phản động đưa ra nhiều lý lẽ mang tính chất tấn công, chống phá sau:

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CHỦ NGHĨA CƠ HỘI - CHÌA KHÓA BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

   

Chủ nghĩa cơ hội là các quan điểm phi mácxít, mang tính chất phản động trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Hiện nay trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, xuất hiện nhiều quan điểm, tư tưởng cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc rất phức tạp, rất khó nhận diện đã và đang phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đe dọa trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, nhận diện và đấu tranh loại bỏ những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội trong nội bộ đảng và trong xã hội là một tất yếu, khách quan trong sự nghiệp cách mạng của đảng ta để bảo vệ Cương lĩnh, mục tiêu, đường lối, những thành quả của cách mạng Việt Nam.

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2025

 KHI NÀO MỚI TỈNH NGỘ..


Volodymyr Zelensky là cái tên tạo ra “lịch sử” cho Ukraine vốn xuất thân là diễn viên hài đắc cử Tổng thống với tỉ lệ chưa từng có kể từ khi quốc gia này độc  lập. Zelensky chiến thắng ở vòng thứ hai cuộc bầu cử với 73,22% phiếu bầu so với tổng thống đương nhiệm Poroshenko thu được 24,45% phiếu bầu.


Lịch sử Ukraine chưa từng ghi nhận một diễn viên hài nào lại giữ vị trí quan trọng như vậy trong chính phủ. Từ cuộc đời của Zelensky tới chiếc ghế Tổng thống thuộc hàng “vô tiền khoáng hậu” độc nhất vô nhị trên thế giới. Đất nước Ukraine đã trải qua nhiều biến động thăng trầm từ khi tách khỏi Liên bang Xô Viết. Dưới sự xúi giục, chống phá thông qua truyền thông phương Tây, Ukraine đã dứt áo ra đi, họ quay ngoắt lại với chủ nghĩa cộng sản và mơ về một giá trị phương Tây, một nền dân chủ kiểu Mỹ.


Có thể nói trong bối cảnh rối ren, loạn lạc của đất nước Ukraine, truyền thông phương Tây đã làm quá tốt, biến một anh hề của Ukraine trở thành tổng thống. Một người trẻ tuổi, không dính dáng gì tới chính trị, không có kinh nghiệm chính trường, đang hoạt động trong làng giải trí lại đường hoàng bước lên chức vụ cao nhất của một quốc gia với 70% phiếu bầu chỉ với một bộ phim : “Слуга народу (Đầy tớ của nhân dân). Truyền thông phương Tây đã xây dựng hình ảnh anh hề đủ sức lãnh đạo đất nước Ukraine vượt qua trì trệ sau cuộc cách mạng đường phố Euromaidan. Nhưng “đời không như là mơ”, anh hề đã nhận ra rằng làm chính trị khó hơn làm nghệ thuật; không đủ sức, đủ tầm để chèo lái chính trường Ukraine vượt qua sóng gió mà càng khiến đất nước mình ngày càng phải trả giá nhiều hơn.


“Công lao” của Zelensky sẽ được lịch sử Ukraine nghiên cứu sau nhiều thế hệ nữa. Trước năm 2014, Ukraine là một quốc gia thịnh vượng, giàu tài nguyên với dân số 45 triệu người. “Giấc mộng NATO” và “Vườn địa đàng EU” đã khiến cho đất nước hoang tàn, đổ nát; đầu rơi máu chảy, dân số chỉ còn một nửa. Trên một triệu người đã thiệt mạng trong cuộc chiến với Nga, hàng triệu người không nhà cửa đã từ bỏ đất nước tha phương cầu thực. Đất nước Ukraine không biết đi về đâu trong sự toan tính của các nước lớn. Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có có nguy cơ rơi vào tay kẻ khác; nợ quốc gia chồng chất 10 thế hệ sau này còng lưng mà trả; kinh tế kiệt quệ, đào đâu ra hàng ngàn tỷ USD để mà tái thiết đất nước sau này.


Thật tiếc thương đau xót cho giấc mơ Mẽo của “anh Hề”; không biết khi nào mới tỉnh ngộ./.

 PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CÁO BUỘC VIỆT NAM ĐÀN ÁP XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ VI PHẠM HIỆP ĐỊNH EVFTA

Tiếp tục lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, vừa qua, trên trang voatiengviet đã đăng tài bài viết với tiêu đề “Nhóm nhân quyền: Việt Nam đàn áp XHDS có hệ thống, vi phạm hiệp định EVFTA”. Bài viết đưa ra các luận điệu xuyên tạc về việc chính quyền Việt Nam đàn áp các nhà bảo vệ nhân quyền và vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA). Những luận điệu trong bài viết này hoàn toàn bịa đặt, nhằm mục đích lôi kéo, kích động, gây bất ổn, chia rẽ trong xã hội Việt Nam. 

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự.

Trước hết, các cáo buộc liên quan đến việc đàn áp các nhà bảo vệ nhân quyền không đặt trong bối cảnh thực tế của Việt Nam. Các đối tượng bị giam giữ không phải vì họ hoạt động “ôn hòa” như các tổ chức quốc tế mô tả, mà chủ yếu là do hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm kích động bạo loạn, tuyên truyền chống đối chính quyền, hay thậm chí là tham gia vào các hoạt động có xu hướng phá hoại ổn định xã hội. Ví dụ, trường hợp của Đặng Đình Bách mang danh luật sư, người bị bắt vào tháng 5 năm 2023 và sau đó bị kết án vì có liên quan đến các tổ chức phản động và tuyên truyền chống nhà nước là một điển hình. Đặng Đình Bách không chỉ viết bài phản đối chính quyền mà còn liên kết với các thế lực thù địch trong và ngoài nước, làm tổn hại đến uy tín và an ninh quốc gia. Điều này, hoàn toàn khác biệt với việc "đấu tranh cho nhân quyền", mà là hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia. 

Liên quan đến Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA), việc các tổ chức quốc tế yêu cầu EU “ràng buộc” Việt Nam chịu trách nhiệm về những vi phạm nhân quyền cũng cần được xem xét một cách thận trọng. EVFTA không chỉ là một hiệp định thương mại đơn thuần, mà còn bao gồm các cam kết về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và quyền lao động. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam đã thực hiện nhiều bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, cải thiện môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững. Việt Nam đã ký kết và thực thi các công ước quốc tế về quyền lao động, bao gồm việc cam kết cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Việt Nam cũng đã tiến hành các cải cách về môi trường, với mục tiêu hướng tới phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Một số tổ chức quốc tế thiếu thiện cảm, có cái nhìn sai lệch không chỉ trích Việt Nam về một số vấn đề cụ thể và thường bỏ qua hoặc làm ngơ trước những bước tiến quan trọng mà Việt Nam đã đạt được. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các biện pháp cải cách và điều chỉnh các chính sách để đảm bảo việc phát triển kinh tế không đi ngược lại với các quyền con người và môi trường. Chính sách bảo vệ quyền lợi người lao động, xóa đói giảm nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội luôn có sự phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng là minh chứng rõ ràng cho những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế.

Các cáo buộc về việc “thu hẹp không gian xã hội dân sự” hay “giám sát quyền tự do ngôn luận” ở Việt Nam cũng cần phải được nhìn nhận một cách khách quan. Việt Nam luôn đảm bảo quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật. Việt Nam không cấm quyền tự do ngôn luận hay quyền hội họp ôn hòa. Điều này, hoàn toàn khác biệt với các cáo buộc của các tổ chức quốc tế, khi họ cho rằng Việt Nam hạn chế quyền của các tổ chức xã hội dân sự. Thực tế, Việt Nam có một hệ thống tổ chức xã hội phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người lao động, bảo vệ môi trường, hỗ trợ người nghèo và thực hiện các hoạt động từ thiện. Những tổ chức này hoạt động dưới sự giám sát của Nhà nước, đảm bảo rằng các hoạt động của họ không vi phạm pháp luật và góp phần xây dựng xã hội.

Về phần EU, trong khi họ kêu gọi chính quyền Việt Nam cải thiện nhân quyền, điều quan trọng là họ cần phải có cái nhìn công bằng, khách quan, công tâm và toàn diện hơn về tình hình Việt Nam. Việc chỉ trích Việt Nam dựa trên những cáo buộc đơn phương, thiếu căn cứ và không phản ánh đúng tình hình thực tế sẽ dẫn đến những hệ lụy và hiểu lầm nghiêm trọng trong xã hội. Thực tế, Việt Nam đã và đang thực hiện các bước đi thiết thực để cải thiện nhân quyền, môi trường và quyền lao động, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức trong việc duy trì ổn định chính trị và phát triển kinh tế.

Từ những thực tế trên cho thấy, những luận điệu mang tính chất thù địch, phản động là hoàn toàn vô căn cứ, là những cái nhìn lệch lạc với mục đích phá hoại nền chính trị tại Việt Nam. Do đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn và đồng hành cùng Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự đồng lòng của toàn xã hội sẽ là sức mạnh giúp vượt qua mọi thách thức, khẳng định vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.



CÂU CHUYỆN THẬT XÚC ĐỘNG

 ️

Nhà báo Lê Bá Dương: "Tôi không dám bước mạnh, sợ chân mình giẫm đau đồng đội. Mỗi tấc đất chốn này đều có xương thịt bạn tôi nằm lại!".

Từng là một chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận Quảng Trị những năm b.o.m đ.ạ.n ác liệt nhất, không năm nào nhà báo Lê Bá Dương không về thăm lại chiến trường xưa. Cứ hễ bước chân vào Thành cổ, trên khuôn mặt người cựu chiến binh nước mắt lại trào. Tụt giày, cởi tất, ông cứ chân trần bước thật nhẹ vào thành. Tâm trạng của ông cũng chính là tâm trạng của tất cả những người đã từng đi qua c.hiến t.ranh. Với họ, Thành cổ Quảng Trị là một mảnh đất thiêng để hành hương. Trên Đài tưởng niệm dựng trong Thành cổ, khói hương không bao giờ tắt.

Sưu tầm

Nữ Đại tá tình báo giỏi nhất Việt Nam, được đặt tên cho 2 con đường

 

Bà Đinh Thị Vân (1916-1995), tên thật là Đinh Thị Mậu, sinh ra tại làng Đông An, tổng Cát Xuyên, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, nay là làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Vì bố mất sớm nên anh em và được ông nội Đinh Mẫn Cấp nuôi nấng và dạy dỗ nên người. Bà Đinh Thị Vân là Đại tá, nhà tình báo nổi tiếng Việt Nam được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Vào năm 17 tuổi, dưới sự vận động của 2 người anh cùng cha khác mẹ là Đinh Lai Hạp và Đinh Thúc Dự (đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương) đã tham gia hoạt động cách mạng. Lúc này, bà Vân được cấp trên giao cho nhiệm vụ giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng, bà tham gia tổ chức nhóm “Ái hữu tương tế”, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng hoạt động tại địa phương.

Lý do vì sao bà được gọi là bà Vân thay vì tên thật là Đinh Thị Mậu xuất phát từ tên người chồng của bà. Trong khoảng thời gian thực hiện nhiệm vụ trên, bà đã kết hôn với một người cùng quê sau khoảng thời gian cả hai cùng tìm hiểu.

Vào tháng 8/1945, bà là cán bộ Việt Minh huyện Xuân Trường, tích cực vận động dân chúng tham gia tổng khởi nghĩa ở hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, bà tham gia công tác xây dựng chính quyền mới ở huyện Xuân Trường.

Bà Đinh Thị Vân được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 30/6/1946, sau đó bà giữ các chức vụ Huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Ủy viên ban Thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định, Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Nam Định (1951-1953).

Vào những năm c.hiến tr.anh quyết liệt đó, bà Đinh Thị Vân đã xây dựng mạng lưới tình báo tinh nhuệ mang lại nhiều chiến công ngoài sức tưởng tượng cho quân ta như điều tra tỉ mỉ hệ thống phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở Nam vĩ tuyến 17 trong giai đoạn 1959 - 1960.

Trong thời điểm này, quân ta mở đường Trường Sơn vào Nam, nên cần hiểu rõ về sự bố phòng của quân đội Sài Gòn ở nam vĩ tuyến 17 đồng thời tìm hiểu xem đối phương đã biết những gì về việc quân ta xuất hiện ở Hạ Lào. Trọng trách này được giao cho đồng chí Đinh Thị Vân.

Một số chiến công tiêu biểu mà Nhà tình báo Việt Nam Đinh Thị Vân và mạng lưới của mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như: Thông tin kịp thời về việc Mỹ sẽ đổ quân vào Nam Việt Nam sau khi chiến lược c.hiến tr.anh đặc biệt thất bại; Biết trước được kế hoạch của cuộc hành quân Junction City (Gian-Xơn-Xi-Ty) giúp quân ta chủ động đối phó làm thất bại âm mưu của chúng; Bà là người dẫn dắt nhiều thế hệ tình báo cũng như lực lượng không quân Việt Nam;…

Bà Đinh Thị Vân được Nhà nước Việt Nam thưởng rất nhiều các danh hiệu bao gồm Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, 2 Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng...

Sau này, Nữ Đại tá tình báo giỏi nhất Việt Nam Đinh Thị Vân sống một cuộc đời bình dị, bà được bà con nhân dân ở địa phương ngưỡng mộ và yêu mến. Ngày 12/11/1995, bà Đinh Thị Vân từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Tên bà được đặt tên cho một đường phố tại phường Hạ Long, thành phố Nam Định và một con đường tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Câu chuyện về nữ Đại tá tình báo Đinh Thị Vân như một bài học về sự kiên cường, không bao giờ bỏ cuộc trong những hoàn cảnh khổ cực và nguy hiểm nhất, đồng thời bà mãi luôn là một tấm gương sáng của người cách mạng để thế hệ trẻ noi theo.

Bà Đinh Thị Vân vẫn luôn sống mãi trong lịch sử ngành tình báo quốc phòng Việt Nam.

Sưu tầm

“THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY”

 

"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân th.ù tr.eo c.ổ, khi anh vừa thoát khỏi cái ch.ết do bệnh th.ương h.àn ở công trường Bayarka.

Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.

Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh kinh mới của thanh niên Xô-viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên./.

St

ANH HÙNG LIỆT SĨ PHAN ĐÌNH GIÓT - GƯƠNG ANH SÁNG MÃI

 ️

Phan Đình Giót là Tiểu đội trưởng đơn vị bộc phá của Đại đội 58 thuộc Tiểu đoàn 428 (Trung đoàn 141, Đại đoàn 312), có nhiệm vụ phá tung hàng rào kẽm gai và bãi mìn bao quanh cứ điểm 2 của trung tâm đề kháng Him Lam để mở cửa cho lực lượng xung kích tiến vào tiêu diệt địch. Sau khi đồng đội lần lượt bị thương, anh đã lấy ống bộc phá trong tay đồng đội rồi luồn qua làn đ.ạ.n, phá nốt hàng rào thứ 8, hàng rào cuối cùng của cứ điểm.

Nhưng đơn vị xung kích vừa xông lên thì hỏa điểm đ.ịch bất ngờ xuất hiện b.ắn chặn dọc cửa mở, khiến nhiều chiến sĩ ta thương vong, số còn lại phải nằm ép mình xuống đất, không cách nào lên được. Trong tình huống đó, Phan Đình Giót đã trườn lên ném lựu đ.ạ.n vào họng súng đang tuôn đ.ạ.n đỏ rực. Lựu đ.ạ.n nổ nhưng địch từ trong lô cốt vẫn bắn ra. Dù đã bị thương, Phan Đình Giót vẫn tiếp tục bò lên, lết mình đến cạnh lỗ châu mai, kề tiểu liên b.ắn vào trong lô cốt. S.ú.n.g địch ngừng một lúc rồi lại tiếp tục khạc lửa. Hết cả đ.ạ.n tiểu liên và lựu đạn, thương tích đầy mình, Phan Đình Giót cố sức rướn mình lên cao, lấy thân mình bịt lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đồng đội xông lên diệt địch, giành thắng lợi trong trận mở màn chiến dịch.

Phan Đình Giót được truy tặng danh hiệu Anh hùng quân đội. Anh yên nghỉ trong nghĩa trang liệt sĩ dưới chân đồi A1 cùng với Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn...

Trích: Điện Biên Phủ - Những trang vàng lịch sử.

St

PHIÊN BẢN GỐC VỀ “CHÚ BÉ LƯỢM” ĐÃ ĐƯỢC TÌM THẤY

 Năm 2024, sau một chiến dịch truy tìm danh tính thật của các nhà báo, cuối cùng danh tính của chú bé Lượm đã được tìm thấy. Đó chính là liệt sĩ Nguyễn Thanh, tên thường gọi là Nguyễn Văn Lượm (1932-1947). Đi cùng với đó là câu chuyện bi tráng phía sau sự hi sinh của người chiến sĩ nhỏ tuổi...

Theo “Tờ nhận tự khai”, Năm 1945 đến 1946, Lượm hoạt động tại Nha Trang và thoát ly từ ngày ấy. Nhưng phải mãi đến khi đất nước thống nhất vào năm 1975, bằng Tổ quốc ghi công mới về với gia đình và được in từ ngày 5/5/1958, đề tên liệt sĩ Nguyễn Văn Lượm. 

Lượm hi sinh năm 1947, nhưng phải tới 11 năm sau mới có Bằng chứng nhận và phải tới tận 28 năm sau gia đình mới được cầm tận tay tấm bằng, do khi đó họ đang sinh sống tại Phan Rang - Tháp Chàm ở trong miền Nam bị chia cắt...

Trong suốt khoảng thời gian đó, cha Lượm, ông Nguyễn Tuất, khuya nào cũng mở đài nghe một cách chăm chú vì muốn cập nhật tin tức từ các chiến trường, ngóng một hi vọng là Lượm sẽ trở về bình anh. Thấy vậy vợ ông nói: “Trên trời máy bay quần miết, ông nghe chi đài mà nghe hoài”, ông thủng thẳng: “Tôi có việc tôi phải nghe”. 

Nhưng, ngày tấm Bằng tổ quốc ghi công theo tay chú Nguyễn Trọng Quảng về với gia đình, 28 năm hi vọng ngày Lượm về của ông và gia đình sụp đổ..."Ông lặng đi không nói được lời nào. Ông là người Huế, tính tình điềm đạm, ít nói, ít khi thổ lộ tình cảm. Ông đau xót lắm, nhưng ông nuốt nỗi đau vào trong” - Bà Nguyễn Thị Hiền - là em gái của liệt sĩ Lượm, kể lại trong nước mắt.

Điều đặc biệt nữa, thông qua điều tra gia phả của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân, Nhà thơ Tố Hữu - tức Nguyễn Kim Thành, là bác họ của liệt sĩ Lượm. Nhưng kể từ khi làm bài thơ về Lượm, 53 năm ròng rã nhà thơ đã không nhắc một điều gì về người cháu là anh hùng liệt sĩ đã trở thành bất tử nhờ chính ngòi bút của mình. Phải đến năm 2000, trước sự mong mỏi của Hội Nhà văn Việt Nam, ông mới có những chia sẻ về cháu mình:“Một đồng chí ở Thừa Thiên ra kể cho tôi nghe những tấm gương chiến đấu dũng cảm ở quê nhà và cho tôi biết tin về cháu Lượm. Nó là con của chú em họ tôi. Từ Cách mạng tháng Tám, nó đã về với tôi ở Huế và cùng một số bạn nhỏ tự nguyện theo các chú bộ đội. Nó đi liên lạc cho đơn vị và trong khi đưa thư qua một cánh đồng, cháu bị t.r.ú.n.g đ.ạ.n, h.i s.i.n.h khi mới 14 tuổi. Anh em trong đơn vị thương tiếc nó như con, em của mình. Thế là Lượm đã ngã xuống như Kim Đồng và bao bạn nhỏ dũng cảm khác. Tôi viết bài thơ “Lượm”, cảm thấy như còn đâu đây dáng điệu thật dễ thương và khuôn mặt còn trẻ con nhưng rất cứng cỏi của nó...

Theo lời người bạn kể, sau loạt đ.ạ.n của quân thù, Lượm ngã xuống, vẫn nguyên vẻ ngây thơ của chú thiếu niên… Tự nhiên, tôi khẽ thốt lên: “Lượm ơi, còn không?” Không! Những anh hùng, dù nhỏ tuổi như cháu, không bao giờ ch.ế.t. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta có rất nhiều dũng sĩ thiếu niên như cháu Lượm càng ngày càng nhiều không thể nào đếm xuể, không thể nào biết hết. Có lẽ đó cũng là một đặc trưng, một niềm tự hào lớn của dân tộc ta vốn có truyền thống lâu đời như Trần Quốc Toản ngày xưa vậy”.

-----

ĐỀ ÁN SÁP NHẬP TỈNH, BỎ CẤP HUYỆN TRÌNH TRUNG ƯƠNG VÀO THÁNG 4 - 2025.


Đề án, tờ trình về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã sẽ được trình Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 4 tới đây, theo kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Nội dung về đề án sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện trình Trung ương vào tháng 4 tới đây, được đề cập trong Kết luận số 127 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, do Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành ngày 28/2/2025.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức Đảng tập trung thực hiện tốt việc nghiên cứu định hướng sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã; thực hiện mô hình địa phương 2 cấp (tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể) bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. 

Việc nghiên cứu này phải tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cụ thể, sâu sắc, cầu thị, sát đúng với tình hình thực tiễn; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực, tổ chức trung gian cồng kềnh; bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nêu rõ.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải xác định quyết tâm chính trị cao nhất, triển khai thực hiện theo phương châm "vừa chạy vừa xếp hàng" để hoàn thành công việc với khối lượng rất lớn, đòi hỏi cao về chất lượng, tiến độ để trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào trung tuần tháng 4/2025.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư lưu ý, các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ cần phối hợp chặt chẽ, kịp thời, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và tiến độ thực hiện. 

Quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy phải bảo đảm hoạt động thường xuyên, liên tục của các cơ quan, tổ chức, không gián đoạn, không ảnh hưởng đến các hoạt động của Đảng, Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Song song là tập trung quán triệt, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, chủ động tham gia các nội dung, nhiệm vụ liên quan, nhất là quan tâm công tác tuyên truyền, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp Nhân dân.

Tạm dừng tổ chức đại hội Đảng bộ cấp xã, cấp huyện

Đảng uỷ Chính phủ được giao chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và các cơ quan liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng đề án, tờ trình Bộ Chính trị về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã.

Trong đó, Bộ Chính trị nêu rõ, với cấp tỉnh, ngoài căn cứ về quy mô dân số, diện tích, cần nghiên cứu kỹ quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, mở rộng không gian phát triển, phát huy lợi thế so sánh, đáp ứng yêu cầu phát triển đối với từng địa phương và yêu cầu, định hướng phát triển của giai đoạn mới làm cơ sở, căn cứ khoa học trong sắp xếp.

Với cấp xã, cần xác định rõ các mô hình chính quyền địa phương cấp xã đối với khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, hải đảo, quy mô dân số, diện tích, lịch sử, văn hoá, các vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo... Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, định biên của chính quyền địa phương cấp xã. 

Đề án, tờ trình về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã cũng phải làm rõ mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền địa phương (giữa cấp tỉnh và cấp xã).

Mối quan hệ công tác theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp xã (giữa bộ, ngành Trung ương, các sở chuyên ngành và đơn vị, cá nhân phụ trách theo lĩnh vực), bảo đảm hoạt động thuận lợi, đồng bộ, liên thông, hiệu lực, hiệu quả; xác định rõ các điều kiện bảo đảm để chính quyền cấp xã hoạt động hiệu quả trước, trong và sau khi sắp xếp.

Kết luận  của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng nêu rõ tiến độ thực hiện. Theo đó, Đảng uỷ Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị cho chủ trương trước khi xin ý kiến các cấp uỷ, tổ chức Đảng chậm nhất ngày 09/3/2025.

Tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thì hoàn thiện đề án gửi xin ý  kiến các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ  chức, ban Đảng Trung ương chậm nhất ngày 12/3/2025.

Sau đó, tiếp thu ý kiến góp ý của các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc  Trung ương, các cơ quan, tổ chức, ban Đảng Trung ương, hoàn thiện đề án, báo  cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước ngày 27/3/2025.

Đảng ủy Chính phủ tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ý kiến các cơ quan, hoàn thiện đề án, tờ trình; trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng (qua Ban Tổ chức Trung ương) trước ngày 7/4/2025.

Đại hội Đảng bộ cấp xã, cấp huyện tạm dừng tổ chức. Sau Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị sẽ có chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, xây dựng đề án về hệ thống tổ chức Đảng ở địa phương (cấp tỉnh và cấp xã). Trong đó, tập trung nghiên cứu mô hình hệ thống tổ chức Đảng đồng bộ, tương ứng với tổ chức chính quyền; đẩy mạnh nâng cấp, giao quyền cho tổ chức Đảng ở cơ sở).

Ban Tổ chức Trung ương báo cáo Bộ Chính trị cho chủ trương theo tiến độ chung (gửi xin ý kiến các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ chức, ban Đảng Trung ương chậm nhất ngày 12/3/2025).

Ban Tổ chức Trung ương cũng được giao tổng hợp đề án, tờ trình về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cấp chính quyền địa phương của các cơ quan, đơn vị và các nội dung liên quan; xây dựng báo cáo tổng thể; báo cáo Bộ Chính trị trước ngày 07/4/2025; tiếp thu, hoàn thiện, gửi trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước ngày 09/4/2025./.

MỨC ÁN ĐỐI VỚI TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC

 

Tội tuyên truyền chống nhà nước được quy định định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo đó mức án người phạm tội có thể phải chịu là phạt tù từ 3 năm đến hai mươi năm.

“Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.”

Tuy nhiên sang đến Bộ luật Hình sự 2015 thì hành vi tuyên truyền chống Nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 117 với tên gọi là tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

“Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, ở cả Luật cũ (BLHS 1999) và luật mới (BLHS 2015) thì hành vi tuyên truyền chống nhà nước sẽ phải chịu mức hình phạt từ 3 năm đến 20 năm tù./.


CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NHÂN QUYỀN, QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VỚI NHÂN QUYỀN VÀ VẤN ĐỀ LỢI DỤNG NHÂN QUYỀN CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Dân chủ và nhân quyền (quyền con người) là hai chế định gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhân quyền vừa là nền tảng, vừa là lý tưởng của dân chủ; ngược lại dân chủ là điều kiện để thực thi nhân quyền, là thể chế chính trị bảo đảm và thực thi quyền con người. Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh tiến bộ về quyền con người, dân chủ phát triển càng cao thì quyền con người càng được khẳng định. Nhân quyền (quyền con người) là một phạm trù chính trị, lịch sử, pháp lý, xã hội và là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nên luôn có các cách hiểu khác nhau, từ khái niệm, nội dung đến cách thức thực hiện. Với việc thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, lần đầu tiên trong lịch sử, quyền con người được thừa nhận và bảo vệ một cách rộng rãi. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”(5). Luật Nhân quyền quốc tế cũng chỉ ra nghĩa vụ của quốc gia và các chủ thể nghĩa vụ khác phải có trách nhiệm thực thi việc bảo đảm và ngăn ngừa sự vi phạm. Như vậy, Liên hợp quốc chủ yếu đề cập đến khía cạnh pháp lý của quyền con người, đó là những bảo đảm về pháp lý trong bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người. Các quan điểm theo lập trường tư sản nhấn mạnh thái quá khía cạnh quyền con người là quyền tự nhiên, “bẩm sinh”, nghĩa là con người sinh ra đã có các quyền; quyền con người là những nhu cầu cơ bản của con người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của mỗi người; con người sở dĩ có các quyền và tự do đơn giản chỉ vì họ có những phẩm chất tự nhiên của con người. Như vậy, quan điểm tư sản cho rằng quyền con người là quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân mà không dựa trên bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, dân tộc, xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác. Với quan điểm như vậy, các nước phương Tây đã tuyệt đối hóa tính phổ biến của nhân quyền, coi nhân quyền là cao nhất, là không có thời gian, không gian, biên giới. Cho nên, ở đâu họ cho là có vi phạm nhân quyền thì ở đó họ sẽ tiến hành các hoạt động can thiệp.

Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin thì quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ(6). Trong lĩnh vực pháp luật, quyền con người được phân thành 2 nhóm chính, đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhân quyền được hình thành từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội. Quyền con người mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên mà có, mà đó là thành quả của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, lịch sử phát triển loài người. Nhân quyền có các đặc trưng: là sản phẩm của sự phát triển lịch sử; là những giá trị gắn với con người với tư cách cá nhân, đồng thời với tư cách là thành viên của cộng đồng, xã hội; được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế; là tổng thể các quyền mặc nhiên cơ bản của con người, thể hiện nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người.

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”(7).

Việt Nam quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng đồng là cách đề cập phiến diện. Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, nên mỗi quốc gia có cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Không nước nào có quyền sử dụng, lợi dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác.

Trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng hiện nay, nhân quyền luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chính sách “ngoại giao nhân quyền” để áp đặt tiêu chuẩn, “xuất khẩu” nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu thông qua luận điểm về “giá trị phổ quát” của nhân quyền. Họ thường áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cho các nước khác trên tất cả các lĩnh vực, như xây dựng, thực thi pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển “xã hội dân sự” nhằm tạo đối trọng với chính phủ.

Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam luôn là một trong những hoạt động nguy hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “an ninh con người cao hơn an ninh quốc gia”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia”, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”. Dân chủ, nhân quyền đang là “cái cớ”, “vỏ bọc” cho các hành động can thiệp, gây sức ép thúc đẩy sự thay đổi chính trị ở Việt Nam của các thế lực thù địch, đồng thời là một khẩu hiệu, ngọn cờ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, tạo ra các khuynh hướng dân chủ cực đoan, tập hợp lực lượng chống đối, biểu tình, tiến tới các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ. Thực tế diễn biến chính trị ở một số nước trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy, phần lớn sự mất ổn định chính trị, xã hội đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc về dân chủ, nhân quyền và âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, hiểu đúng về dân chủ, nhân quyền và bản chất của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, giúp nâng cao cảnh giác cách mạng, đồng thời có cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền./.

Theo LÊ THÁI SƠN