Thứ Hai, 28 tháng 4, 2025

Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của đảng

 Tổ chức bộ máy và công tác cán bộ là hai vấn đề rất quan trọng trong xây dựng Đảng, quyết định thành bại của cách mạng, gắn liền với sự vững mạnh của Đảng, của đất nước và chế độ. Xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ là hai nội dung có mối quan hệ mật thiết. Trong đó, xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả quan trọng hàng đầu, xây dựng đội ngũ cán bộ là then chốt.

1. Thực trạng và một số kinh nghiệm

Qua hơn một nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của BCH Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị được đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của BCH Trung ương Đảng khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Quy trình công tác cán bộ có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và dân chủ hơn. Nhìn tổng thể, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và công tác cán bộ đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới.

Tuy nhiên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy vẫn chưa đồng bộ, thiếu tổng thể, chưa gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa rõ ràng, trùng lặp, chồng chéo, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót. Còn có sự chồng lấn giữa lập pháp và hành pháp, phân cấp, phân quyền cho địa phương chưa mạnh, chưa đồng bộ, hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công tác cán bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; quy trình công tác cán bộ và phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp; quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nguyên nhân chủ yếu do mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị chưa thật hoàn thiện. Nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt. Việc nghiên cứu, tổng kết, rút ra những kinh nghiệm, đồng thời xác định nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục đổı mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, cấp thiết.

Từ thực tiễn xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và đổi mới công tác cán bộ những năm qua, nhất là những kinh nghiệm rút ra trong quá trình quán triệt và thực hiện các chỉ đạo của Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, bám sát thực tiễn, thường xuyên đổi mới tư duy, đổi mới đồng bộ công tác tổ chức với công tác cán bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, phẩm chất và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp. Phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong công tác tổ chức, cán bộ.

2. Bảo đảm thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết là lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, Nhân dân lên trên hết, trước hết. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt, mật thiết với Nhân dân; phải sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, từng cơ quan, đơn vị và người dân về đổi mới công tác tổ chức, cán bộ trong tình hình mới. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên. Tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, trong Nhân dân.

3. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và công tác cán bộ phải xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, lộ trình phù hợp và chú trọng lựa chọn những nhiệm vụ, nội dung đột phá, vấn đề có tính khả thi cao, tác động lớn trong các nghị quyết, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải gắn kết chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Cần nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với đổi mới công tác cán bộ. Coi trọng cả hai phương diện, bảo đảm đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đồng bộ với xây dựng đội ngũ cán bộ và gắn kết chặt chẽ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

4. Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp, kiên trì, cầu thị, lắng nghe, không cầu toàn, không chủ quan, nóng vội. Đối với những việc mới, khó, phức tạp thì tiến hành thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm phù hợp, hiệu quả nhất để nhân rộng. Phương pháp phải đúng, chú trọng hiệu quả. Phân công nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, chỉ đạo phải sát sao, cấp trên phải gương mẫu, cấp dưới phải thực hiện nghiêm; phải xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa “xây” và “chống”; giữa “đức” và “tài”; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

5. Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Mô hình và quy mô tổ chức bộ máy phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, địa phương. Không nhất thiết các địa phương có mô hình, quy mô tổ chức giống nhau. Những việc đã rõ, đã chín, cần thực hiện thì thực hiện ngay; những việc mới, chưa được quy định hoặc những việc đã có quy định nhưng không còn phù hợp thì mạnh dạn chỉ đạo thực hiện thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện, mở rộng dần, những việc chưa rõ, phức tạp, nhạy cảm, còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để có chủ trương, giải pháp phù hợp. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn kết chặt chẽ với lộ trình sắp xếp tổ chức bộ máy, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, bảo đảm tinh giản biên chế và cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

6. Đẩy mạnh phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện, kịp thời động viên, biểu dương những cơ quan, đơn vị, cá nhân làm tốt; đồng thời, xử lý nghiêm tập thể, cá nhân không làm hoặc làm hình thức, chiếu lệ. Coi trọng thí điểm, tổng kết, nhân rộng những mô hình, sáng kiến trong đổi mới công tác tổ chức, cán bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Phải luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhận thức và hành động theo quy luật khách quan, kịp thời tổng kết, nghiên cứu, không ngừng hoàn thiện luận cứ khoa học để có chủ trương đúng, giải pháp cụ thể, phù hợp trước yêu cầu, đòi hỏi của bối cảnh thực tiễn luôn thay đổi.

2. Một số nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới quyết liệt công tác tổ chức, cán bộ

Chúng ta đang ở thời điểm có ý nghĩa bản lề, quyết định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Công tác tổ chức, cán bộ đang được thực hiện với sự vào cuộc khẩn trương và quyết tâm chính trị cao của các cấp, các ngành. Chúng ta đồng thời phải thực hiện tốt 3 nhiệm vụ lớn: 1) Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. 2) Tăng tốc, bứt phá để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII. 3) Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức thành công Đại hội XIV, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cần quán triệt thực hiện thật tốt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, chú trọng làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện nghiêm, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; phát huy đầy đủ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của Nhân dân. Tiếp tục xác định nhất quán quan điểm xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thận trọng, thường xuyên, có hiệu quả. Xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong triển khai chủ trương của Trung ương về tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, các cấp, ngành, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cần gương mẫu, chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Thông qua cải cách tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ hoàn thiện mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng - Quốc hội - Chính phủ - Cơ quan Tư pháp - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện mô hình tổng thể của hệ thống chính trị

Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng trong sạch, vững mạnh gắn với hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tham mưu của cấp ủy các cấp. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy từ Trung ương đến địa phương. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo, bỏ sót hoặc không rõ chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Thực hiện nghiêm các quy định và kết luận của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị; về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của Quốc hội, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong thực hiện chức năng lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tăng tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra; giảm số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Đặc biệt coi trọng xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trọng tâm. Phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp, khoa học. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu hoạt động chuyên trách, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ và tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch, hiệu quả. Tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất. Các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm tinh gọn, cơ bản không duy trì mô hình tổng cục thuộc bộ. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, đi đôi với nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, bảo đảm Chính phủ thực sự là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Xây dựng bộ máy tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp tinh gọn, giảm tối thiểu 15-20% đầu mối tổ chức bên trong gắn với nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp hiện đại, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở. Rà soát lại tất cả hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hướng tinh gọn, sáp nhập, kết thúc hoạt động, chỉ giữ lại những cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ cần thiết. Rà soát, sắp xếp lại các cơ quan báo, tạp chí trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nghiên cứu, đề xuất sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm đầu mối bên trong, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ chuyên trách các cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý. Quy định chặt chẽ việc thành lập tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thực hiện tốt vai trò đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, hoạt động giám sát, phản biện xã hội; xây dựng và chỉnh đốn tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên; làm cầu nối vững chắc giữa Đảng với Nhân dân.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới toàn diện công tác cán bộ gắn với tinh giản biên chế, sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Bảo đảm công tác cán bộ đúng quy trình, quy định, công tâm, khách quan, thận trọng, chặt chẽ. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở định lượng sản phẩm cụ thể. Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Có chính sách thu hút, sử dụng đối với người có năng lực nổi trội. Thực hiện đồng bộ việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Hoàn thành rà soát, sắp xếp chức danh, chức vụ theo phân cấp quản lý; xây dựng, ban hành bảng lương chức vụ bảo đảm đồng bộ, thống nhất với danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Hoàn thiện danh mục vị trí việc làm cùng với khung năng lực, bản mô tả vị trí việc làm của hệ thống chính trị làm cơ sở xác định biên chế của từng cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn, gắn với đánh giá thực chất, xếp loại chính xác công chức, viên chức. Để bảo đảm hiệu quả sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải thực sự phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ là những nội dung rất lớn, rất quan trọng, rất khó, phức tạp, nhạy cảm, nhưng cũng là nhiệm vụ rất cấp bách và khẩn trương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị cần bám sát tình hình thực tế, lựa chọn phương án phù hợp, tiến hành xây dựng đề án đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trình cấp có thẩm quyền, bảo đảm đúng tiến độ hướng tới mục tiêu chung là hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ngay trong nhiệm kỳ để tiến tới Đại hội XIV của Đảng hệ thống chính trị đã được sắp xếp theo mô hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao sự thống nhất về nhận thức, hành động trong Đảng và toàn hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Bố trí đủ nguồn lực cần thiết và làm tốt công tác chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Bảo đảm công bằng, công khai, khách quan, không để phát sinh phức tạp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải gắn với làm tốt công tác tham mưu chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

Q1

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: SAU 29 NĂM BIỆT TÍCH, ÔNG TƯ CANG - CHIẾN SĨ TÌNH BÁO HOẠT ĐỘNG BÍ MẬT TRONG NỘI THÀNH SÀI GÒN BẤT NGỜ TRỞ VỀ NHÀ ĐÚNG NGÀY 30/4/1975!

         Người vợ tưởng chồng đã h.y s.inh, con gái chưa từng gặp mặt cha. Cuộc đoàn tụ sau gần ba thập kỷ khiến cả khu phố rơi nước mắt!

Ông đi năm 1946, lúc vợ đang mang thai đứa con đầu lòng. Cũng từ đó, ông mất liên lạc với gia đình suốt gần 30 năm.

Vì yêu cầu của tổ chức, ông đổi tên, sống dưới thân phận mới, hoạt động tình báo ngay trong lòng đ-ịch. Bà Ánh, vợ ông không biết ông còn sống hay đã ch.ết, chỉ biết lần cuối ông nói: “Anh đi, rồi anh sẽ về.”

Đêm gặp lại: Tối 30/4/1975, khi Sài Gòn vừa giải phóng, ông trở về căn nhà cũ ở Thị Nghè. Không kèn không trống, không quân hàm, không huân chương. Chỉ là một người đàn ông bước vào ngõ tối, gọi lớn: “Nhồng ơi! Nhồng!”

Bà Ánh giật mình. Đó là biệt danh ông gọi vợ ngày xưa. Bà chạy ra, òa khóc: “Ở đây nè, anh về đó hả?”. Cái ôm đầu tiên sau 29 năm.

Ngày ông đi, con gái còn trong bụng mẹ. Ngày ông về, con đã 29 tuổi, có chồng, có con nhỏ: “Ba đó hả? Con là Huyền nè. Má kể ba hoài.”

Ông nghẹn ngào không nói được lời nào, chỉ biết ôm chặt con gái vào lòng.

Đêm ấy, đứa cháu nhỏ rụt rè nói: “Con mừng ông ngoại về với bà ngoại.”

Cả nhà đều khóc.

Dù đóng vai trò quan trọng, ông chưa từng khoe khoang về công lao của mình. Với ông, được trở về nhà, được ăn một bữa cơm với vợ con, bế cháu trong tay là phần thưởng lớn nhất.

Sau ngày đoàn tụ, ông lại tiếp tục công tác cho đến ngày nghỉ hưu.

Một người lính từng sống dưới thân phận giả gần 30 năm. Một người chồng giữ trọn lời hứa "anh đi, rồi anh sẽ về". Một người cha trở về vào đúng ngày đất nước thống nhất. Không cần phim ảnh, đây là câu chuyện thật, ngay giữa đời thường./.
Yêu nước ST.

HÒA BÌNH VÀ THỊNH VƯỢNG SAU 50 NĂM ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT!

         Năm mươi năm trước, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, cả dân tộc Việt Nam vỡ òa trong niềm hân hoan khôn tả. Những đoàn người đổ ra đường, những lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió, những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên má... Tất cả đã tạo nên bản tráng ca bất tử về khát vọng hòa bình và thống nhất!

Chiến tranh kết thúc, non sông thu về một mối. Nhưng thống nhất không chỉ là sự liền mạch về địa lý, mà còn là sự liền mạch về lòng người – một khát vọng sâu thẳm của hàng triệu trái tim Việt Nam, hướng tới một tương lai chung, không còn hận thù, chia cách.

Bước ra từ tro tàn chiến tranh, đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn: cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nhưng từ trong gian khó, Việt Nam đã kiên quyết lựa chọn con đường: hòa hợp, đoàn kết, tự lực tự cường và khát vọng vươn lên.

Trong bài viết truyền cảm hứng mãnh liệt "Nước việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Chúng ta không thể để đất nước tụt hậu. Chúng ta không thể để dân tộc đánh mất cơ hội. Chúng ta không thể để lặp lại những vòng xoáy của lịch sử. Vì vậy, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Chúng ta phải hành động vì tương lai lâu dài chứ không vì thành tích ngắn hạn."

Lời nhắc nhở sâu sắc này đã tóm lại tinh thần của hành trình 50 năm: một Việt Nam thống nhất lòng người, kiên trì vượt khó, đổi mới tư duy để không ngừng vươn mình mạnh mẽ trên con đường phát triển.

50 năm hòa bình, thống nhất: Những thành tựu nổi bật
Từ một quốc gia nghèo nàn, Việt Nam đã từng bước vươn lên thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Quy mô GDP từ chưa đầy 2 tỷ USD vào giữa thập niên 1980 đã cán mốc gần 500 tỷ USD ngày nay, đưa Việt Nam vào nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu.

Tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ hơn 70% xuống còn dưới 3%. Đặc biệt, hàng chục triệu người đã gia nhập tầng lớp trung lưu – một động lực quan trọng thúc đẩy tiêu dùng, đổi mới sáng tạo và sự vận động tích cực của xã hội Việt Nam. Hệ thống giáo dục, y tế được mở rộng khắp mọi miền đất nước. Hạ tầng giao thông, hạ tầng số không ngừng được hiện đại hóa, kết nối Việt Nam với thế giới.

Song hành với phát triển kinh tế, chính sách hòa hợp dân tộc đã trở thành nền tảng vững chắc cho thành công. Việt Nam đã lựa chọn khép lại quá khứ, hóa giải hận thù, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân để cùng hướng tới tương lai tươi sáng.

Tinh thần hòa hợp ấy phản ánh cội nguồn sâu xa của dân tộc. Ngay từ buổi bình minh lịch sử, người Việt đã tự nhận mình là "đồng bào" – những người cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, theo truyền thuyết "con Rồng, cháu Tiên". Từ "đồng bào" không chỉ đơn thuần mang nghĩa "cùng chung một đất nước", mà còn là "cùng một huyết thống", "cùng một nguồn cội" – nghĩa tình ấy vượt lên mọi khác biệt về vùng miền, định kiến và hoàn cảnh lịch sử.

Chính vì vậy, sau chiến tranh, khát vọng thống nhất lòng người đã được hun đúc mạnh mẽ. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: "Chúng ta phải tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy đoàn kết làm sức mạnh, lấy hòa bình, ổn định làm nền tảng để phát triển nhanh và bền vững". Tinh thần đó đã làm nên thành công kỳ diệu: hòa bình không chỉ được gìn giữ trên lãnh thổ, mà còn được thiết lập trong lòng người – trở thành nguồn sức mạnh nội sinh đưa Việt Nam vững bước tiến lên.

Sau nửa thế kỷ hòa bình, Việt Nam còn đạt được những thành tựu nổi bật về phát triển bền vững và an sinh xã hội. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt gần 92%. Chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao. Liên Hợp Quốc xếp hạng Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 tăng 8 bậc, xếp thứ 46, chỉ đứng sau Singapore trong khu vực Đông Nam Á. Một xã hội ổn định, an toàn, phát triển bao trùm ngày càng được định hình rõ nét, củng cố niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng.

Một Việt Nam năng động hội nhập, có vị thế và uy tín trên trường quốc tế
Việt Nam hôm nay là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, hội nhập sâu rộng, năng động, có uy tín và vị thế ngày càng lớn trên trường quốc tế.

Từ một nước nhận viện trợ, Việt Nam đã trở thành thành viên chủ động, tích cực trong các tổ chức toàn cầu như ASEAN, Liên Hợp Quốc, WTO, CPTPP, RCEP... Thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước lớn, Việt Nam là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, là điểm đến hấp dẫn cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và du lịch.

Việt Nam đã nhiều lần đảm nhiệm trọng trách quốc tế, từ vai trò thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đến việc chủ trì thành công các hội nghị thượng đỉnh quốc tế. Việt Nam cũng tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, triển khai bệnh viện dã chiến cấp 2 tại các điểm nóng, khẳng định hình ảnh một đất nước yêu chuộng hòa bình và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Không chỉ vậy, trong những thảm họa thiên tai lớn của thế giới, Việt Nam đã nhanh chóng chung tay cứu trợ, hỗ trợ các nước bị động đất, bão lũ, như Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar... Những nghĩa cử đó đã làm lan tỏa sâu rộng hình ảnh một Việt Nam nhân văn, trách nhiệm và sẵn sàng chia sẻ vì lợi ích chung của nhân loại.

Riêng với các nước cựu thù, Việt Nam cũng trở thành một hình mẫu trong quan hệ quốc tế về việc gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng đến tương lai để biến thù thành bạn.

Trong một thế giới đầy biến động, Việt Nam giữ vững bản lĩnh đối ngoại: kiên định mục tiêu độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Đổi mới tư duy thể chế: Nền tảng cho phát triển đột phá và bền vững
Một thành tựu có ý nghĩa sâu xa và quyết định nhất cho tương lai Việt Nam chính là sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy thể chế trong thời gian gần đây.

Việt Nam đã nhận diện rõ những "điểm nghẽn" cản trở sự phát triển – trước hết là những rào cản trong hệ thống thể chế, trong tổ chức bộ máy và trong tư duy quản trị đất nước. Từ đó, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương lớn, đột phá:

1. Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế: Hàng loạt nghị quyết, quy định mới được ban hành nhằm sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo sự đồng bộ, minh bạch và thúc đẩy nguồn lực xã hội phát triển mạnh mẽ.

2. Cách mạng tinh gọn bộ máy: Tinh thần sắp xếp tổ chức bộ máy tinh giản, hiệu quả, hoạt động thực chất đã trở thành xu thế chủ đạo, thông suốt từ Trung ương đến địa phương.

3. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố: Việt Nam coi đây là động lực mới cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.

4. Thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân: Tư duy coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia được khẳng định rõ ràng, mở ra không gian rộng lớn cho sáng tạo và làm giàu chính đáng.

5. Hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới: Được thực hiện với những tư tưởng mới, như chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế quốc gia đi sau sang trạng thái quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới, bắt kịp, tiến cùng và vượt lên.

Những đổi mới này không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà là sự chuyển mình về tầm nhìn, phương thức lãnh đạo, quản lý và phát triển – một cuộc cách mạng về tư duy có sức lan tỏa mạnh mẽ. Thành tựu đổi mới tư duy thể chế đang đặt nền móng vững chắc để Việt Nam không chỉ tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn, mà còn phát triển bền vững, bao trùm, toàn diện, tự cường và hùng cường trong tương lai.

Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới
Kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước hôm nay, chúng ta càng thêm tự hào và biết ơn những thế hệ đã cống hiến, hy sinh vì hòa bình, độc lập và thống nhất. Đồng thời, chúng ta càng thấm thía hơn rằng: Độc lập, tự do, hòa bình, ổn định, thống nhất lòng dân và ấm no, hạnh phúc của nhân dân – chính là những giá trị thiêng liêng nhất, là nguồn sức mạnh bền vững nhất cho mọi hành trình phát triển.

Việt Nam đã hồi sinh từ tro tàn chiến tranh. Việt Nam đã vươn mình thành biểu tượng của hòa bình, phát triển bao trùm và tinh thần vượt lên mọi khó khăn để đi tới.

Và Việt Nam hôm nay, bằng khát vọng mạnh mẽ, bằng tinh thần đổi mới, sáng tạo, bằng sự hội nhập chủ động, trí tuệ và bản lĩnh, đang tự tin bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của một dân tộc thống nhất, tự cường và vươn cao cùng thế giới./.




Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: GIỮA TIẾNG HÒ REO VÀ GIÁ TRỊ CỦA SỰ IM LẶNG!

         Có những khoảnh khắc trong đời, im lặng còn vang dội hơn vạn tiếng hò hét. Một lễ diễu binh không chỉ là bước chân đều đặn dưới nắng gắt, không chỉ là bộ quân phục được ủi thẳng từng đường nếp. Đó là dòng chảy của lịch sử, là sự tiếp nối của những hy sinh âm thầm, những mất mát mà đôi khi, thế hệ sau chỉ có thể cúi đầu lặng lẽ mà biết ơn.

Người lính không diễu qua phố xá để xin một lời khen đẹp trai. Họ không khoác lên mình bộ quân phục để trở thành đối tượng của những tiếng hú hét hời hợt.

Họ bước đi vì bổn phận thiêng liêng với đất nước, thứ giá trị vượt lên trên mọi xao động ngắn hạn của thị giác hay trái tim.

Khi những âm thanh thiếu kiềm chế vang lên giữa một không gian cần sự trang nghiêm, đó không chỉ là sự vô ý. Đó là một vết xước nhỏ lên ký ức chung của dân tộc, lên lòng tự hào mà bao thế hệ gìn giữ. Một tiếng hú có thể trôi qua nhanh trong dòng tin tức, nhưng sự thiếu tôn trọng thì ở lại, lặng lẽ bào mòn sự tự trọng tập thể.

Chúng ta không yêu nước bằng cách gào tên người lính như thần tượng sân khấu. Chúng ta yêu nước bằng cách hiểu rằng, đôi khi chỉ cần đứng nghiêm, giữ im lặng, cũng đã là một lời tri ân đẹp đẽ nhất.

Tôn trọng những gì nên được tôn trọng. Biết im lặng trước những gì cần được gìn giữ.
Đó là phẩm giá.
Và cũng là bài học đầu tiên về lòng yêu nước, trong thời bình./.
Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ ĐÁNH LẬN BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975!

     Chiến thắng 30/4/1975 không chỉ là sự kiện lịch sử trọng đại mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Đây là kết quả tất yếu của một hành trình dài đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và các thế lực tay sai, vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Thế nhưng cho đến nay, sau 50 năm giải phóng, vẫn tồn tại những luận điệu xuyên tạc, cố tình gọi cuộc chiến vệ quốc của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, đưa ra những quy kết sai trái về Ngày Giải phóng 30/4 nhằm bôi nhọ lịch sử, phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến.

Tái diễn luận điệu sai trái, xuyên tạc

Các thế lực thù địch, phản động luôn ra rả vu cáo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”. Luận điệu này có từ lâu, đến nay vẫn tái diễn.

Để làm rõ bản chất của vấn đề, trước hết cần phải hiểu đúng khái niệm “nội chiến”. Các khái niệm theo từ điển thì, nội chiến là cuộc chiến tranh giữa các phe phái, các lực lượng chính trị trong cùng một quốc gia, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Trong khi đó, cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 hoàn toàn không phù hợp với định nghĩa này. Sự thật lịch sử là sau Hiệp định Genève 1954, Mỹ đã công khai phá hoại hiệp định, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành “tiền đồn chống cộng” trong chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc.

Thực ra không phải đến khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại lên làm Tổng thống thì Mỹ mới can dự vào tình hình Việt Nam. Trước đó, Mỹ là nước viện trợ nhiều nhất cho thực dân Pháp ở Đông Dương. Vào cuối năm 1950, Mỹ viện trợ cho Pháp ở Đông Dương 133 triệu USD và chuyển giao khối lượng lớn vũ khí, tàu chiến, máy bay chiến đấu, xe quân sự. Năm 1954, viện trợ của Mỹ cho Pháp ở Đông Dương lên tới 1 tỷ USD (chiếm 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương).

Chính sử gia nổi tiếng người Mỹ Cecil B.Currey trong cuốn sách “Chiến thắng bằng mọi giá (Thiên tài quân sự Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp)” đã cho biết vào năm 1956, Allen Dulles, người đứng đầu của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) đã đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử ở Việt Nam diễn ra theo quy định của Hiệp định Genève thì “thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi”. Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không.

Con số thống kê chính thức của Mỹ cho thấy, trong 21 năm (từ năm 1954 - 1975), viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hơn 26 tỷ USD. Ngoài số tiền viện trợ trên cho chính quyền Sài Gòn, Mỹ đã trực tiếp đưa quân đội, vũ khí, các bộ máy quân sự, dân sự vào miền Nam. Nếu tính tất cả các loại chi phí, trong hơn 20 năm đó, Mỹ đã bỏ vào Việt Nam khoảng hơn 160 tỷ USD.

Tổng thống Mỹ Eisenhower trong nhiệm kỳ 1953-1961 trong diễn văn đọc ngày 4/8/1953 tại Seatle đã nói rõ: “Nếu chúng ta mất Đông Dương thì khối lượng thiếc và vonfram mà chúng ta đánh giá rất cao sẽ không còn thuộc về tay chúng ta nữa”. Tờ New York Times số ra ngày 21/10/1962 một lần nữa khẳng định về điều này: “Sự buôn bán và các sản phẩm của Đông Nam Á không phải là cần thiết đối với nền kinh tế Mỹ nhưng lại là rất quan trọng đối với chúng ta và các đồng minh của chúng ta”.

Một sự thật khác chứng minh sự phụ thuộc của chính quyền Sài Gòn vào sự viện trợ của bên ngoài. Quyết tâm rút khỏi cuộc chiến đau thương và sa lầy tại Việt Nam, khi quân đội Mỹ đã rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Paris, Quốc hội Hoa Kỳ thấy rằng tại sao phải cần thiết chi hàng tỷ USD cho đồng minh Nam Việt Nam trong khi chính nước Mỹ lại đang cần những đồng USD đó hơn bao giờ hết. Do đó, mặc dù các phái đoàn của Việt Nam Cộng hòa đã tích cực sang Hoa Kỳ để vận động Quốc hội Mỹ không cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam nhưng Quốc hội Hoa Kỳ vẫn quyết định cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam trong tài khóa 1974-1975 từ mức 1,4 tỷ USD xuống còn hơn 700 triệu USD. Tướng Mỹ Jhon Murey cho rằng “Nếu viện trợ còn 750 triệu USD, Sài Gòn chỉ còn khả năng bảo vệ một phần đất đai. Nếu xuống thấp nữa có nghĩa là xóa bỏ Việt Nam Cộng hòa”.

Điều đáng nói là chính những người bên kia chiến tuyến, trong đó ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng, Cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn đã nói thật về thân phận nô lệ của chính quyền Sài Gòn: “Việt cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”. Trả lời trong cuộc phỏng vấn Báo Thanh Niên, số Xuân Ất Dậu (năm 2005), ông Nguyễn Cao Kỳ cũng cho biết: “Mỹ lúc nào cũng đứng ra làm kép chính, chúng tôi không có quyền lực và vai trò gì quan trọng, vì vậy nhiều người cho đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”.

Không thể bẻ cong lịch sử

Về bản chất của chính quyền Sài Gòn cần phải được nhìn nhận một cách khách quan. Đây không phải là một chính quyền dân tộc chân chính mà thực chất chỉ là bộ máy cai trị do Mỹ dựng lên, tồn tại hoàn toàn nhờ vào súng đạn và USD của Mỹ. Từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu, tất cả các đời tổng thống Sài Gòn đều do Washington chỉ định và bảo trợ. Trong khi đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính cho nhân dân miền Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, thể hiện qua các phong trào như Đồng khởi Bến Tre (1960), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam cũng như sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới chính là minh chứng hùng hồn nhất cho tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh vệ quốc chống các thế lực xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Một khía cạnh quan trọng khác là tính chất dân tộc và sự thống nhất ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến. Từ Bắc chí Nam, hàng chục triệu người như một đã đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, coi việc đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là mục tiêu tối thượng.

Chỉ hơn 1 tháng sau thất bại ở Việt Nam, trên tờ “Sao và vạch” (Stars and Stripes), ngày 14/5/1975, Maxwell D. Taylor, Đại tướng quân đội, từng là Đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam đã thừa nhận rằng: “Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này…”. Còn ông Henry Kissinger, người được đánh giá là một trong những “bộ óc” thông thái nhất trong lịch sử nước Mỹ, từng là Ngoại trưởng, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ từng thốt lên rằng “không thể giải thích nổi cái gì đó đã nhen lên trong dân tộc đó những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy”!

Cùng với đó là ý nghĩa quốc tế to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Việt Nam khi ấy trở thành biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, là nguồn cổ vũ to lớn cho các dân tộc bị áp bức. Sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần từ Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cùng phong trào phản chiến rộng khắp ở chính nước Mỹ và phương Tây, là minh chứng hùng hồn cho tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, phong trào phản chiến tại Mỹ với những cuộc biểu tình quy mô lớn của sinh viên, trí thức, cựu chiến binh đã góp phần quan trọng buộc chính quyền Mỹ phải rút quân.

Việc cố tình gọi Chiến thắng 30/4 là kết quả của “nội chiến” thực chất là một thủ đoạn chính trị tinh vi nhằm phủ nhận thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam, xóa nhòa công lao lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là thủ đoạn để các thế lực thù địch gieo rắc sự hoài nghi, làm suy yếu sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Kỷ niệm ngày 30 tháng 4 hằng năm là dịp để mỗi người dân Việt Nam càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh kiên cường của cha ông, đồng thời kiên quyết bảo vệ chân lý lịch sử, bác bỏ mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Nhắc lại những điều trên không phải là để xới lại quá khứ đau thương mà để chúng ta thấy rõ tính chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng bào ta phải hi sinh biết bao máu xương mới giành được. Đó là sự thật khách quan, không thể vì bất cứ lý do gì đánh lận bản chất, xuyên tạc lịch sử. Chúng ta cũng hiểu rằng, trong giai đoạn cách mạng mới, thông điệp hôm nay là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, vì hoà bình, ổn định và phát triển. Kỷ niệm ngày 30/4 cũng là dịp để tôn vinh những giá trị bất diệt của lòng vị tha, của hòa bình, hòa giải và hàn gắn, của tinh thần gác lại quá khứ để hướng tới tương lai…/.
Theo CAND
Yêu nước ST.

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC: NGÀY 28-4-1975 "TỔNG CÔNG KÍCH ĐỢT 2 CỦA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH"!

     Hướng đông nam, Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) phát triển vào Hố Nai, bị địch ngăn chặn quyết liệt phải dừng lại tổ chức đột phá. Sư đoàn 6, do không đánh trúng mục tiêu, để địch co cụm về Long Lạc-Hố Nai. Sư đoàn 7 cùng Lữ đoàn 52 tiến theo đội hình Sư đoàn 6, bố trí ở nam quốc lộ 1 chuẩn bị làm lực lượng thọc sâu của Quân đoàn.

Hướng bắc, 17 giờ ngày 28-4, được sự chi viện của pháo cối, một bộ phận Trung đoàn 27 Sư đoàn 320B tiến công địch ở khu vực dốc Bà Nghĩa. Sau 3 giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, khống chế đoạn đường từ dốc Bà Nghĩa về Bình Cơ. Sau đó, đơn vị tiếp tục luồn về Lái Thiêu. Ðến 28-4, Sư đoàn 320B cơ động về đứng chân tại bắc Bình Chuẩn 7 km, chưa vào đến tuyến trung gian như đã quy định. Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một phối hợp giải phóng tây nam Bến Cát, tây nam Tân Uyên. Trong lúc đó, Sư đoàn 312 bao vây Phú Lợi, chốt đường 13, chặn Sư đoàn 5 ngụy.

Ngày 27 và 28-4, Trung đoàn 113 đặc công cùng với một tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Ðịnh chiếm cầu Bình Phước, làm chủ xa lộ Ðại Hàn đoạn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre; Trung đoàn 116 chiếm cầu xa lộ Biên Hòa. Ngày 28, Ðại đội 40 (Ðoàn 116) đánh chiếm cầu Bến Gỗ (Cát Lái). Ðoàn 10 đặc công tập kích đồn Phước Khánh, Nhơn Trạch, tổ chức một bộ phận vượt sông đánh vào cảng hải quân nhưng không thành công.

Hướng tây và tây nam, chiều 28-4, pháo binh chiến dịch ở Hiếu Liêm bắn phá làm tê liệt sân bay Biên Hòa, Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy phải chuyển về Gò Vấp. Ðến cuối ngày 28-4, Sư đoàn 9 bộ binh và một số đơn vị binh khí kỹ thuật đã vượt sông Vàm Cỏ Ðông vào vị trí tập kết tại Bầu Cong, Mỹ Thạnh và Ðức Hòa. Các trung đoàn 24, 88 mở rộng vị trí đứng chân ở hướng bắc Cần Giuộc, chuẩn bị tiến vào nam Sài Gòn.

Hướng tây bắc, do Quân đoàn 3 đảm nhiệm, trong hai ngày 27 và 28-4, một bộ phận của Sư đoàn 316 tiến công cắt quốc lộ 22 đoạn Bầu Nâu-Trà Võ, chốt tại đó và bao vây Trà Võ. Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) cắt quốc lộ 1 đoạn Phước Mỹ-Trảng Bàng, diệt các chốt địch ở Trung Hưng, Suối Cao, Bố Heo, chặn Sư đoàn 25 ngụy, chế áp các trận địa pháo, bức hàng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 50 ngụy và cùng LLVT Tây Ninh bao vây thị xã, giải phóng nhiều vùng nông thôn. Ðêm 28-4, Thường vụ Ðảng ủy Quân đoàn 3 lệnh cho Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 hành quân chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian kế hoạch hiệp đồng chung, đồng thời, lệnh cho Sư đoàn 316 vây chặt rồi tiến công đánh chiếm chi khu Trảng Bàng.

Từ ngày 27 đến 29-4, bộ đội đặc công và hải quân đánh chiếm các đảo Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa và các đảo khác do quân ngụy chiếm giữ.

16 giờ 17 phút ngày 28-4, Phi đội Quyết Thắng gồm năm máy bay A37 vừa thu được của địch do phi công Nguyễn Văn Lục chỉ huy, phi công Nguyễn Thành Trung dẫn đường cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang), ném bom chính xác vào sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng đặc công bắn hơn 400 quả ÐKB vào sân bay Tân Sơn Nhất, làm tê liệt sân bay, và gây hoang mang tuyệt vọng cho địch. Trực thăng Mỹ phải đỗ trực tiếp xuống sân thượng tòa đại sứ Mỹ để chở người di tản.

Ðến chiều 28-4, các lực lượng ta đã phá vỡ các khu vực phòng thủ vòng ngoài của địch, cắt đứt đường số 4, tăng cường vây ép Sài Gòn trên các hướng, bao vây ngăn chặn, không cho các sư đoàn chủ lực địch co cụm về vùng ven và nội thành.

Qua hai ngày tiến công, trên tất cả các hướng, ta đã thực hiện tốt việc ngăn chặn chủ lực địch ở vòng ngoài, triệt để bao vây, cô lập Sài Gòn. Ðịch đối phó quyết liệt song trước sức tiến công của ta, quân địch hoang mang cao độ, tướng tá ngụy bắt đầu tranh nhau di tản.

Phía địch, chiều 28-4, trước sức tiến công của bộ binh và sự chi viện hiệu quả tích cực của pháo binh, địch phải di tản máy bay ở sân bay Biên Hòa về sân bay Tân Sơn Nhất và Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy phải bỏ Biên Hòa tháo chạy về Gò Vấp. Trong lúc đó, tại Sài Gòn, Trần Văn Hương từ chức, trao ghế Tổng thống ngụy quyền cho Dương Văn Minh. Tổng thống mới kêu gọi quân ngụy "không buông vũ khí", "bảo vệ lãnh thổ".

Ðêm 28-4, Phòng quân báo Miền, theo dõi sát thông tin của địch thông báo về Bộ Chỉ huy chiến dịch hai tin quan trọng: trong đêm Bộ tổng tham mưu ngụy đã không còn giữ được liên lạc với Quân đoàn 3 và các sư đoàn quân ngụy nữa. Cũng trong đêm 28-4, Dương Văn Minh chỉ thị cho trung tâm thông tin Quán Tre cố gắng duy trì hoạt động đến 9 giờ 30 phút sáng 30-4.

Ngay trong đêm 28-4, sau khi thông báo tình hình chung toàn mặt trận, Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho các hướng tiếp tục tiến công để đến sáng 29-4, toàn mặt trận tổng tiến công vào Sài Gòn. Bộ Chỉ huy chiến dịch cũng chỉ thị cho các quân khu 8 và 9 phối hợp tiến công và nổi dậy giải phóng đồng bằng Nam Bộ./.


Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: ĐOÀN QĐND VIỆT NAM THAM GIA LỄ DUYỆT BINH TẠI QUẢNG TRƯỜNG ĐỎ HỢP LUYỆN TẠI THAO TRƯỜNG ALBINO!

     Sáng 27-4 (theo giờ Moscow), tại thao trường Alabino ở ngoại ô thủ đô Moscow của Liên bang Nga, đoàn Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã hợp luyện cùng đoàn quân đội các nước tham gia Lễ duyệt binh tại Quảng trường Đỏ.

Quãng đường từ nơi ăn nghỉ của đoàn tới thao trường Alabino dài hơn 100km. Để bảo đảm khởi hành theo quy định, bữa sáng của toàn đoàn diễn ra lúc 4 giờ 30 phút. Đúng 5 giờ 30 phút, đoàn xe xuất phát hướng về thao trường Alabino.

Thao trường Alabino nằm trong khuôn viên của Công viên quân sự Patriot, nơi có khu vực dành riêng cho cuộc thi Xe tăng hành tiến (Tank Biathlon) - một trong những cuộc thi hấp dẫn tại Hội thao quân sự quốc tế (Army Games).

Sau gần 2 giờ di chuyển, đoàn QĐND Việt Nam đã có mặt tại thao trường Alabino để thực hiện công tác chuẩn bị. Đúng 9 giờ, đoàn quân đội các nước đã tề tựu đông đủ. Ngay trước khi các đoàn tập kết, ban tổ chức đã bố trí hàng chục xe bồn tưới nước lên mặt sân tập tại thao trường để giảm bớt lượng bụi trong khu vực. Nhiệt độ buổi sáng tại khu vực thao trường Alabino vào khoảng 2 độ C, trời có nắng. Tuy nhiên, thời tiết có gió khiến cảm giác rét tê cóng càng lúc càng trở nên rõ rệt.

Sau 2 ngày làm quen với môi trường mới và tập thích nghi với điều kiện thời tiết, đây là buổi hợp luyện đầu tiên giữa các đoàn quân đội các nước tham gia Lễ duyệt binh trên Quảng trường Đỏ. Trong buổi hợp luyện này, các đoàn nắm được vị trí, thứ tự xuất phát trong lễ duyệt binh cũng như các quy định của Ban tổ chức./.



Yêu nước ST.

VIỆT NAM KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO BẤT CỨ NƯỚC NÀO!

     Ngay sau khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Việt Nam, một sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận trong và ngoài nước đó là: Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 9. Trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thời gian qua, quan hệ hợp tác quốc phòng song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc được hai bên thúc đẩy, triển khai hiệu quả thực chất, góp phần tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa quân đội và nhân dân hai nước. Thực tế đã khẳng định rằng, đối ngoại quốc phòng thực sự là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ ngoại giao hai nước.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn bóp méo, xuyên tạc về mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 9 được chúng xem là cơ hội để tiếp tục xuyên tạc, kích động, chống phá. Đáng lưu ý, lợi dụng việc Việt Nam cử hai tàu hộ vệ tên lửa 015 - Trần Hưng Đạo và 016 - Quang Trung (thuộc Lữ đoàn 162, Vùng 4, Quân chủng Hải quân) tiến hành tuần tra liên hợp trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ với Hải quân Trung Quốc (từ ngày 10 đến 19/4) trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 9, trên không gian mạng và một số đài, báo thiếu thiện chí với Việt Nam ở nước ngoài xuất hiện nhiều thông tin chỉ trích quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước, rồi bình luận cho rằng: Việt Nam phụ thuộc và bỏ qua mối đe dọa từ Trung Quốc… 

Về vấn đề này trước hết cần khẳng định rằng, Việt Nam không phụ thuộc vào bất cứ nước nào cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; mong muốn là bạn với tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng; trước sau như một, kiên định chính sách quốc phòng “bốn không”... 

Việt Nam không phải là mối đe dọa của bất cứ nước nào và ngược lại cũng không có bất cứ nước nào là mối đe dọa với Việt Nam. Đối với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao (năm 1991) đến nay, mối quan hệ này đã được hai Đảng, hai Nhà nước xác định là “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”... 

Trong chuyến thăm mới đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam, hai bên đã đạt nhận thức chung quan trọng về tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, cũng như các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm. Lãnh đạo hai nước nhất trí cho rằng, cần kiên định thúc đẩy sự nghiệp hữu nghị, bởi Việt Nam và Trung Quốc tiếp giáp về địa lý, gần gũi về văn hóa, tình cảm nhân dân gắn bó, chế độ tương đồng, vận mệnh tương quan; là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt; đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đều nỗ lực vì nhân dân hạnh phúc và đất nước giàu mạnh, nỗ lực vì sự nghiệp cao cả hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Hai bên tái khẳng định cần kiên định ủng hộ lẫn nhau trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mỗi nước. Hai bên xác định cần cùng nhau nâng tin cậy chiến lược lên mức cao hơn. Hai bên tái khẳng định cần xây dựng trụ cột hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất hơn. 

Đối với lĩnh vực quốc phòng, hai bên nhất trí tăng cường giao lưu cấp cao và các cấp giữa quân đội hai nước; phát huy tốt vai trò của các cơ chế như: Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, Đối thoại chiến lược quốc phòng. Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác giữa quân đội hai nước trong các lĩnh vực như: công tác chính trị, đào tạo cán bộ, nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu chung; tăng cường hợp tác về công nghiệp quốc phòng, diễn tập, huấn luyện chung và tàu hải quân thăm lẫn nhau; tiếp tục mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực như y tế hậu cần, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Đi sâu hợp tác biên phòng, tăng cường phối hợp về quản lý biên giới, triển khai tuần tra liên hợp biên giới trên đất liền, khuyến khích bộ đội biên phòng hai nước thiết lập quan hệ hữu nghị, tăng cường giao lưu hữu nghị vùng biên giới. Phát huy vai trò cơ chế tuần tra liên hợp trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ, triển khai tốt các hoạt động tuần tra liên hợp trên vịnh Bắc Bộ; làm sâu sắc cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hải quân và cảnh sát biển hai nước…

Như vậy có thể thấy, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 9, trong đó có việc Việt Nam cử hai tàu hộ vệ tên lửa 015 - Trần Hưng Đạo và 016 - Quang Trung tiến hành tuần tra liên hợp trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ với Hải quân Trung Quốc là một hoạt động cụ thể nhằm biến nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước thành hiện thực. Đây cũng là lần đầu tiên nội dung tuần tra liên hợp được đưa vào chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Hoạt động này không chỉ làm đa dạng, phong phú thêm các nội dung của giao lưu, mà còn góp phần tăng cường hợp tác thực chất hơn giữa Quân đội nhân dân và Hải quân nhân dân Việt Nam với Quân Giải phóng Nhân dân và Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Luận điệu cho rằng: Việt Nam phụ thuộc và bỏ qua mối đe dọa từ Trung Quốc… là xuyên tạc, bịa đặt và hoàn toàn sai trái. Thực chất đây vẫn là luận điệu, chiêu trò “chọc gậy bánh xe” nhằm kích động, tạo ra bầu không khí nghi kỵ, chia rẽ mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc. Nhưng những âm mưu đen tối, thủ đoạn hèn hạ ấy đã bị phản bác mạnh mẽ bởi thực tế mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với Trung Quốc./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẠI SAO PHẢI 10 NĂM DIỄU BINH 1 LẦN VÀ 40 NĂM DUYỆT BINH 1 LẦN!

     Không phải tự nhiên Bác Hồ dặn bác Giáp 10 năm diễu binh 1 lần, 40 năm duyệt binh 1 lần đâu. Nghe thì đơn giản, nhưng đó là lời dặn mang tầm nhìn trăm năm, là bản lĩnh của một người suốt đời chỉ sống vì dân, vì nước!
Bác biết rằng:
Diễu binh không chỉ là để phô trương lực lượng, mà là lời tuyên bố với thế giới: Dân tộc này sẵn sàng đứng dậy, sẵn sàng chiến đấu, và không một thế lực nào được phép coi thường.
Duyệt binh không phải để vui mắt người xem, mà là để nhắc con cháu: Muốn có hoà bình, phải giữ lấy khí phách. Muốn có độc lập, phải cảnh giác từng giờ.
Bác hiểu rằng: nếu năm nào cũng phô diễn quân sự, dân sẽ mỏi mệt, ngân khố sẽ hao tổn. Nhưng nếu quá lâu không cho cả dân tộc thấy sức mạnh thật sự của mình, thế hệ sau sẽ dễ ngủ quên trên chiến thắng, dễ mơ hồ về máu xương cha ông.

10 năm diễu binh, để trẻ biết Tổ quốc mình mạnh ra sao.
40 năm duyệt binh, để cả dân tộc nhớ: Độc lập này không phải bỗng nhiên mà có.
Những lời dặn đó không để trang trí lịch sử, mà là ngọn đuốc dẫn đường.
Hôm nay, nếu ai quên, hãy đọc lại. Nếu ai cười chê, hãy hỏi lại chính mình:
Ta đã làm được gì để xứng đáng với Tổ quốc, với Bác, và với những linh hồn ngã xuống để lá cờ kia vẫn còn tung bay?




Yêu nước ST.

GÁC LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI!

     Những ngày này, trên khắp mọi miền đất nước, không khí hân hoan chào đón 50 năm ngày thống nhất đất nước, ngày non sông liền một dải. Với người Việt Nam, nhất là những người sinh ra, lớn lên trong chiến tranh, việc kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam là dịp để họ nhớ lại một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc.

Nhớ lại để trân trọng quá khứ và cũng để hiểu rõ hơn mình phải làm gì để góp phần gìn giữ thành quả ấy cũng như góp phần đưa đất nước phát triển. Nhớ lại không phải để “ngủ quên trên chiến thắng” mà để biết cách gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao mới đây, bà Phạm Thu Hằng - người phát ngôn Bộ Ngoại giao khi nói về ý nghĩa của ngày chiến thắng, ngày thống nhất đã nhấn mạnh: Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của lương tri, của chính nghĩa, chấm dứt mất mát đau thương không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn biết bao gia đình người dân Mỹ.

"Những năm qua đã chứng kiến nỗ lực to lớn của nhiều thế hệ người dân Việt Nam và người dân Mỹ để hai nước phát triển quan hệ được như ngày hôm nay. Kỷ niệm ngày 30/4 là dịp để tôn vinh những giá trị bất diệt của lòng vị tha của hòa bình của hòa giải và hàn gắn của tinh thần gác lại quá khứ hướng tới tương lai.

Từ chỗ là cựu thù, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995 và xác lập quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2013 và gần đây nhất là nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình hợp tác và phát triển bền vững"- người phát ngôn nói.

Đó chính là quan điểm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Đó cũng là quan điểm của nhiều người dân Mỹ, bạn bè Mỹ và trong đó có cả những người từng là cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Nói đến chuyện gác lại quá khứ, hướng tới tương lai trong quan hệ song phương Việt - Mỹ không thể không nhắc tới cố Thượng nghị sĩ John McCain (1936-2018) - người sĩ quan phi công từng thực hiện những phi vụ ném bom miền Bắc, từng trở thành tù binh khi bị bắt do máy bay bị bắn hạ tại làng hoa Ngọc Hà (Hà Nội). Trở lại Mỹ sau năm 1973, đi theo con đường chính trị, thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa John McCain đã dành một nửa quãng thời gian phụng sự nước Mỹ (3 thập niên) để thúc đẩy quan hệ với Việt Nam mà mốc son chính là việc hai quốc gia bình thường hóa quan hệ vào tháng 7/1995. Bởi, ông quan niệm: "Tôi chọn sử dụng các cơ hội do bình thường hóa mang lại để giúp Việt Nam tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn" và cũng là "vì lợi ích tốt nhất cho đất nước, đặc biệt là những người đã từng tham chiến ở Việt Nam". Ông cũng từng tâm sự: “Bản thân tôi cũng như nhiều cựu binh Mỹ khác đã rất cố gắng để chấp nhận và hòa giải với quá khứ qua những miền ký ức của mình ở Việt Nam và để trở nên khôn ngoan hơn như chúng ta hằng mong muốn vào lúc tuổi già”.

Những cựu binh như John McCain và gia đình của họ chính là cầu nối đưa quan hệ Việt - Mỹ phát triển như hôm nay. Hai nước từ hai chiến tuyến, hai cựu thù nay đã bắt tay nhau để trở thành Đối tác chiến lược toàn diện. Những dấu mốc, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày12/7/1995; xác lập quan hệ đối tác toàn diện vào ngày 25/7/2013 và ngày 10/9/2023 hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững đã cho thấy các nhà lãnh đạo Việt Nam và Mỹ đã thực sự gác lại quá khứ hướng tới tương lai vì sự phát triển chung của hòa bình thế giới và vì sự phát triển của mỗi nước cũng như sự mong muốn của nhân dân hai nước.

Cũng chính vì thế, vào những ngày tháng 4 lịch sử này chúng ta kỷ niệm 50 năm Ngày thống nhất đất nước để ôn lại quá khứ và để cho các thế hệ sau hiểu rõ hơn giá trị của chiến thắng cũng như việc gìn giữ thắng lợi ấy; hiểu rõ hơn giá trị của hòa bình vì sự phát triển của đất nước. Và, càng hiểu ý nghĩa của cụm từ “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” dù không được quên quá khứ mà cha ông đã đổ bao máu xương mới giành được./.
Theo báo ĐĐK
Yêu nước ST.

ĐÃ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC THÌ MUÔN ĐỜI NGOOOOOO!

         Từ tối qua đến nay, các anh chị chống phá phản động rầm rộ chia sẻ thông tin Trung Quốc đưa quân chiếm bãi đá Sandy Bay (phía Việt Nam gọi là đá Hoài Ân), rồi lên án việc Việt Nam mời quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ở Dinh Độc Lập là hành động bán nước, rước voi về giày mả tổ!

Các anh chị có mắt mà như mù, các anh chị không nhận thấy rằng giữa Biển Đông với độ sâu hàng ngàn mét, một bái đá có 14 tiếng mỗi ngày chìm trong nước biển, gió to sóng lớn mà lại phẳng phui, trắng bóng, láng mịn như vậy à? Mới xâm chiếm gì mà lạ vậy?

Thực tế, đảo Thị Tứ (trong đó có bãi đá Hoài Ân) đã bị Trung Quốc và Philippines lần lượt xâm chiếm bắt đầu từ năm 1970 dưới thời VNCH. Đến năm 1988, Trung Quốc đưa bãi đá Xu Bi thành một điểm đảo chính chiếm đóng và nâng cấp nơi này rộng hơn. Với bãi đá Hoài Ân, Trung Quốc bắt đầu ý định cải tạo từ những năm 2000. Nhưng đoán xem, tại sao mà Trung Quốc không và chưa thể cải tạo, mở rộng bãi đá này rộng rãi không? 

Đơn giản vì ở ngoài cụm Thị Tứ, Việt Nam duy trì đội tàu chấp pháp lớn, sẵn sàng tông húc, dùng vòi rồng, ngăn cản bất cứ tàu đổ bộ nào đưa thiết bị, vật liệu xây dựng xuống bãi Hoài Ân. Khác với đá Xu Bi đã có cầu cảng và sân bay thì đá Hoài Ân chỉ là một bãi đá san hô, không có cầu cảng và khó neo đậu. Việt Nam và Trung Quốc luôn đưa tàu ra đối đầu nhau bất kể đêm ngày. Tại Trường Sa, Trung Quốc sở hữu các điểm đóng quân chỉ bằng 1/8 các điểm đóng quân của Việt Nam nên Trung Quốc không thể mở rộng rầm rộ, mạnh mẽ được. Tham vọng biến bãi đá Sandy Bay thành hòn đảo Sandy Bay của Trung Quốc đã bị Việt Nam ngăn cản trong mấy chục năm vừa qua. 

Nhìn vào bức ảnh mới biết Trung Quốc chỉ điều có vài sĩ quan và thiết bị bay để chụp ảnh từ trên cao, không thấy tàu lớn, cũng chẳng thấy thiết bị gì nữa, khác hẳn so với các bức ảnh quân đội Trung Quốc phô trương thanh thế khác ở Trường Sa. Đơn giản là họ khó có thể đưa các thiết bị lớn lên được vì quân đội Việt Nam vẫn đang hiện diện ngày đó và không để Tổ Quốc bị bất ngờ. Họ chỉ có thể lọ mọ lên đó rồi rút lui. Việc này thì phía Philippines cũng vẫn thường làm. 

Trung Quốc đang muốn truyền thông trong nước ra bên ngoài giữa chiến tranh thương mại và vẫn ủ mưu khẳng định chủ quyền trái phép tại Biển Đông. Phải luôn cẩn trọng và tỉnh táo trước điều này. 

Các vị ngồi gõ phím chửi bới thì dễ, luôn tìm cơ hội xúc phạm và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và ngoại giao của Việt Nam. Khi nhắc đến Trung Quốc thì các anh chị miệt thị, nhưng khi nhắc đến quốc gia tài trợ tiền cho các anh chị phá rối Việt Nam thì các anh chị dịu giọng, nhẹ nhàng lắm./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SÁNG NAY (27-4) TỔNG DUYỆT CẤP NHÀ NƯỚC LỄ KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

     Sáng 27-4, tại trục đường Lê Duẩn, Quận 1, TP Hồ Chí Minh, Ban chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong ba năm 2023-2025 (Ban chỉ đạo Trung ương) tổ chức buổi tổng duyệt cấp Nhà nước Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025)!

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong 3 năm 2023-2025 (Ban chỉ đạo Trung ương) dự và chủ trì tổng duyệt.
Tham dự lễ tổng duyệt có các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương; Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Mai Văn Chính, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương. 

Tham dự buổi tổng duyệt còn có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ ngành Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Bộ Tổng tham mưu QĐND Việt Nam, thành viên Ban chỉ đạo Trung ương…

Nội dung tổng duyệt lễ kỷ niệm dự kiến gồm: Lực lượng Không quân bay chào mừng, đồng diễn nghệ thuật trống hội chủ đề “Bản hùng ca toàn thắng”, đồng diễn xếp hình nghệ thuật chủ đề “Đất nước trọn niềm vui”, chương trình biểu diễn nghệ thuật chào mừng; phần nghi thức, nghi lễ của Đảng, Nhà nước; phần diễu binh, diễu hành...

Đối với chương trình diễu binh, diễu hành, dẫn đầu là khối xe Nghi trượng, gồm xe mô hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xe rước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, xe biểu tượng 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước...

Tham gia buổi tổng duyệt cấp Nhà nước có 38 khối diễu binh của Quân đội, Dân quân tự vệ, Công an và 12 khối diễu hành. Riêng đội hình diễu binh quốc tế sẽ có 3 khối của Quân đội các nước: Trung Quốc, Lào, Campuchia./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG THĂM CÁC LỰC LƯỢNG PHÁO LỄ, DIỄU BINH, DIỄU HÀNH!

     Chiều 27-4, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm, động viên lực lượng pháo lễ và các khối diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025)!

Tham gia đoàn có các đồng chí: Trung tướng Nguyễn Quang Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Trường Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7; đại diện lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

Thăm lực lượng pháo lễ tại khu vực Công viên bến Bạch Đằng (TP Hồ Chí Minh), thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Pháo binh nói chung và Lữ đoàn Pháo binh 96 nói riêng; đồng thời yêu cầu phải tiếp tục khắc phục mọi điều kiện, hoàn cảnh thực tế tại trận địa pháo, luôn giữ gìn sức khỏe, đoàn kết, tự tin, không chủ quan. Từ hành động của người chỉ huy đến từng pháo thủ đều phải thật chỉn chu, chuẩn xác.

Thời gian không còn nhiều, nhiệm vụ đặt ra ngày càng đòi hỏi sự chặt chẽ, cẩn trọng hơn, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị đơn vị cần duy trì nghiêm chế độ luyện tập, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, nắm chắc tình hình tư tưởng bộ đội, phát huy truyền thống bộ đội pháo binh “Chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong lễ kỷ niệm.

Thăm các khối diễu binh, diễu hành tại Trường Quân sự Quân khu 7, Đại tướng Phan Văn Giang ân cần thăm hỏi, động viên, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện nhiệm vụ.

Phát biểu động viên, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang chúc mừng kết quả đạt được của các khối diễu binh, diễu hành trong quá trình luyện tập và sơ duyệt, tổng duyệt cấp Nhà nước vừa qua. Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, luyện tập điều lệnh đội ngũ rất vất vả, do đó, để có được hàng ngũ chỉnh tề, động tác thống nhất, chính quy, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần đoàn kết, quyết tâm, đồng lòng với tinh thần “Mọi người vì một người, một người vì mọi người”.

Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị các cán bộ, chiến sĩ phát huy khí thế, tinh thần diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2024) để thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2025

Cần hiểu đúng về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân, cảnh giác thủ đoạn đánh tráo bản chất

 

Trên Internet, xuất hiện luồng quan điểm xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế là “thừa nhận bóc lột, thừa nhận quan hệ sản xuất TBCN”, là Đảng đang “từ bỏ mục tiêu CNXH để đi theo quỹ đạo TBCN”. Các đối tượng cổ xuý rằng, những ai đang tin tưởng đi theo CNXH thì đây là chỉ dấu để “thay đổi cách nghĩ”, “Đảng thừa nhận sai lầm, thất bại về con đường đi lên CNXH”. Từ đó, các đối tượng ra sức tung hô, ca tụng thành tựu hào nhoáng của CNTB, đồng thời miệt thị những nước đi theo CNXH, phỉ báng nền kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, ra sức ca tụng KTTN.

Tổ chức khủng bố Việt Tân tiếp tục ca tụng cái gọi là “văn kiện 50: Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và lối thoát cho tương lai”, cho rằng Đảng phải giảm vai trò của nhà nước trong kinh tế, phải “bỏ đuôi theo định hướng XHCN” để cạnh tranh lành mạnh, nền KTTN mới có sáng tạo, giới trí thức mới sẵn sàng đóng góp cho những công trình nghiên cứu công nghệ cao. Từ việc tung hô kinh tế tư bản tư nhân, chúng bôi lem đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam, vu cáo nửa thế kỷ tụt hậu do sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó đòi Đảng “phải thừa nhận đã bất lực trong việc đưa đất nước đi lên thoát cảnh nghèo đói, lạc hậu”.

Với luận điệu sai trái đó, các đối tượng quy kết rằng, muốn chuyển đổi xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lựa chọn nào khác là dân chủ hoá đất nước, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, thay đổi thể chế!

Những luận điệu sai trái nói trên vốn quá cũ kỹ, nay chỉ là chiêu trò làm nóng vấn đề, thổi phồng sự việc khi Đảng ta đưa ra các chủ trương, đường lối xác định vai trò quan trọng của KTTN trong giai đoạn phát triển mới. Ở đây cần thấy rằng, việc thừa nhận và tạo điều kiện cho KTTN phát triển là yêu cầu khách quan. Dựa trên lý luận kinh tế của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, chúng ta có đủ cơ sở khoa học để khẳng định rằng, chủ trương phát triển KTTN không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH mà ngược lại là sử dụng chính KTTN để tạo động lực phát triển, rút ngắn chặng đường ở thời kỳ quá độ (TKQĐ) đi lên CNXH.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ, trong TKQĐ cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế phi XHCN cho mục đích xây dựng CNXH. Về xây dựng quan hệ sản xuất trong TKQĐ lên CNXH, Lênin chỉ ra một số hình thức CNTB nhà nước như tô nhượng, đại lý, cho thuê xí nghiệp, khu mỏ... Cả về lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, Lênin cũng đã chỉ dẫn rằng, trong TKQĐ cần phải sử dụng cả thành phần kinh tế phi XHCN như tư bản nhà nước, tư bản tư nhân cho mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất, coi đó là biện pháp tối ưu để khơi dậy động lực, giải phóng sức sản xuất, tăng năng suất lao động… Nhờ đó, Liên Xô thời kỳ đó giải quyết được khó khăn kinh tế sau chiến tranh, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.

Ở nước ta, nền kinh tế thị trường được xác định là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Cần thấy rằng, Việt Nam thừa nhận KTTN, coi đây là động lực phát triển song không đồng nghĩa với xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất TBCN. Thừa nhận KTTN không có nghĩa là chúng ta thừa nhận bóc lột và tạo điều kiện cho quan hệ bóc lột được hiện diện trong các quan hệ kinh tế ở nước ta. Mục tiêu nhất quán của cách mạng nước ta là xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Và để KTTN phát triển lành mạnh, là động lực của nền kinh tế nhưng không gây ra các hệ luỵ tiêu cực như bất công, bóc lột, chèn ép sức lao động… đòi hỏi phải được quản lý theo định hướng XHCN, đó là điểm khác biệt với việc để KTTN phát triển một cách tự nhiên, không kiểm soát. KTTN được tự do cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, quan hệ sản xuất hình thành trong thành phần KTTN phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều tiết của Nhà nước nhằm giữ vững định hướng XHCN.

Đồng thời cần thấy rằng, việc coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế không đồng nghĩa từ bỏ hay coi nhẹ vai trò của kinh tế Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ sự phát triển của từng thành phần kinh tế ở nước ta, trong đó chỉ rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; KTTN là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển”.

Vai trò của từng thành phần kinh tế được xác lập theo đúng tính chất, vị trí. Thành phần kinh tế nhà nước nắm giữ nguồn lực vật chất quan trọng, then chốt được khẳng định là công cụ, lực lượng vật chất để nhà nước ổn định vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. KTTN được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, trong đó có khuyến khích sự hợp tác liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình, ngoài ra còn khuyến khích phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của người lao động.

Như vậy, cần hiểu đúng về vai trò, vị trí của KTTN và mối quan hệ của KTTN trong các thành phần kinh tế ở nước ta. KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế song phải đảm bảo tính định hướng XHCN. Do đó, thành phần KTTN cũng không thuần túy như trong chế độ TBCN mà có sự đan xen, giao thoa, liên kết, hợp tác với các thành phần kinh tế XHCN, đảm bảo cùng tương hỗ nhau để phát triển, vì mục đích xây dựng nền kinh tế Việt Nam vững mạnh. Đó là những cơ sở về lý luận và thực tiễn bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực xấu khi Đảng ta xác định vai trò quan trọng của KTTN trong giai đoạn phát triển mới.

Cẩn trọng trước những thông tin xuyên tạc, chống phá

 

Việc Mỹ áp mức thuế nhập khẩu 46% lên hàng hóa Việt Nam sẽ ảnh hưởng nhiều mặt đối với kinh tế Việt Nam. Xuất khẩu sang Mỹ sẽ sụt giảm, đe dọa mục tiêu tăng trưởng kinh tế quốc gia, các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu sẽ chịu nhiều thiệt hại... Lợi dụng thông tin trên, các trang tin của những hội nhóm, tổ chức phản động tiến hành “tọa đàm, hội luận”, thậm chí một số đối tượng chống đối còn thể hiện sự hả hê của mình trước việc Việt Nam bị áp thuế cao.

Trang RFA rêu rao “Cái Việt Nam cần không phải đặc khu mà là cởi trói nền kinh tế”; RFI hả hê “Việt Nam, bạn hay thù trong chính sách thuế quan của Trump”; trang Chân trời mới Media kích động “hạ thấp kinh tế nhà nước có phải là phá bỏ thành trì cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản”; BBC Tiếng Việt thì rêu rao “thuế ông Trump thổi bay 40 tỷ USD chứng khoán Việt Nam”…

Lợi dụng tình hình này, tổ chức khủng bố Việt Tân lên chuỗi bài trên Fanpage với nội dung chế giễu “ngoại giao kiểu Chí Phèo”; “tham vọng tăng trưởng 8% năm của Việt Nam có bị dập tắt”, “nền kinh tế quốc gia lao đao”…

Thậm chí, các đối tượng còn tổ chức livestream dưới dạng “hội luận” với thành phần tham gia được gắn cái mác như chuyên gia, luật sư, tiến sĩ với chủ đề “Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và lối thoát cho tương lai” do Lý Thái Hùng (Chủ tịch của tổ chức khủng bố Việt Tân) làm diễn giả chính… Mục đích không gì khác của chiêu trò này là bôi đen, đả phá nền kinh tế cũng như chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, cổ súy việc áp thuế, thậm chí kêu gọi nước Mỹ gia tăng các biện pháp trừng phạt lên nền kinh tế Việt Nam.

Đồng thời, chúng lồng ghép các thông tin “góp ý” rằng, việc muốn không bị áp thuế, muốn phát triển phải dựa vào nước này để chống nước kia, rồi phải có sự chuyển hướng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển sang đa nguyên, đa đảng thì mới có thể phát triển. Song song với đó, một số đối tượng chống đối, cơ hội chính trị nhân dịp này đã lập ra các tổ chức, diễn đàn núp dưới danh nghĩa “nhân dân” để nêu ra các “yêu sách”, “kiến nghị” đối với Đảng và Nhà nước trong giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường, thực chất là để tự nâng mình lên, đồng thời hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Những luận điệu trên bộc lộ mưu đồ xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; gây tâm lý dao động, lung lạc niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong xã hội. Từ đây, chúng đòi Đảng ta phải công khai tuyên bố lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là đòi Đảng từ bỏ con đường xây dựng CNXH để đưa đất nước theo quỹ đạo tư bản. Đây là những luận điệu hết sức sai trái, cần đấu tranh loại bỏ.