Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2025

GIỮ GÌN SỰ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG THEO DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

         Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh tư tưởng của Người. Đặc biệt, trong Di chúc, Người dành sự quan tâm sâu sắc đến Đảng và công tác xây dựng Đảng, dành những lời căn dặn được đúc kết kinh nghiệm cả cuộc đời hoạt động cách mạng về tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Những lời căn dặn, chỉ dẫn của Người là ngọn đuốc soi đường trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng đặt ra!

1. Những lời căn dặn, chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong Di chúc về xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng, đặc biệt là trên cương vị đứng đầu Đảng, Người đã dành nhiều tâm huyết cho công tác xây dựng Đảng vững mạnh. Toàn bộ tư duy lý luận và kinh nghiệm đúc kết từ hoạt động thực tiễn đã được Người chắt lọc cô đọng trong Di chúc để lại cho Đảng, cho dân tộc Việt Nam. Vấn đề cốt lõi nhất trong những lời căn dặn đối với Đảng là: Chỉ khi nào Đảng giữ gìn được sự đoàn kết, thống nhất mới giữ vững được vai trò của một Đảng lãnh đạo, phát huy chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Cụ thể:

Thứ nhất, đoàn kết, thống nhất trong Đảng là truyền thống của Đảng, là cội nguồn sức mạnh của Đảng, là nền tảng cho mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Đây là những kinh nghiệm đúc rút trong quá trình lãnh đạo Đảng tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân, đế quốc bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là sức mạnh, là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là hạt nhân trung tâm của đoàn kết giai cấp, dân tộc và đoàn kết quốc tế. Chỉ khi Đảng thực sự đoàn kết, thống nhất mới phát huy được chiến lược đại đoàn kết. Trong Di chúc Người viết “TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” (1).

Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng không phải là sách lược mang tính chất nhất thời trong từng giai đoạn của cách mạng mà là nhiệm vụ chiến lược của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đã dùng hàng nghìn lần đến từ đoàn kết, chỉ riêng cụm từ “đoàn kết trong Đảng” đã được Hồ Chí Minh nhắc tới 9 lần. Người viết “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2).

Người khẳng định, đoàn kết, thống nhất trong Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định sự thành công trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của đoàn kết, thống nhất trong Đảng trong việc giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Đảng muốn giữ vững vai trò Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng phải luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là trung tâm, hạt nhân nòng cốt của chiến lược đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo” (3).

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết phải đi liền với thống nhất. Người cho rằng sự đoàn kết trong Đảng chỉ thực sự mang lại sức mạnh vô địch khi đi liền với thống nhất: “Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng […], toàn thể đảng viên và cán bộ từ Nam đến Bắc, bất kỳ mới, cũ, bất kỳ ngành nào, bất kỳ trong quân đội hay là ở địa phương, bất kỳ ở nông thôn hay là ở thành thị, phải đoàn kết chặt chẽ, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của mình; phải thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ”(4).

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra những lời chỉ dẫn quý báu về phương thức, biện pháp hữu hiệu để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết, tầm quan trọng của việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn về phương pháp, cách thức xây dựng, củng cố và giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo Người, Đảng là tổ chức chính trị, là Đảng cầm quyền nên muốn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất cần phải giữ vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc tự phê bình và phê bình là những nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Người viết “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”(5). Theo Hồ Chí Minh Đảng muốn giữ gìn được sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng thì phải có dân chủ, phải thực sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Chỉ khi mọi ý kiến, mọi suy nghĩ của mỗi đảng viên được bày tỏ, được lắng nghe, mọi quyết định của Đảng, tổ chức đảng được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ thì sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng mới là thực chất, không mang tính hình thức, giả tạo.

Nguyên tắc tự phê bình và phê bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là nguyên tắc hàng đầu để giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình là cách thức tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng. Đoàn kết và thống nhất trong Đảng đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải thật thà tự phê bình và phê bình. Theo Người, “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên - mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ”(6).

Tự phê bình và phê bình được xem là vũ khí sắc bén và là động lực bên trong để xây dựng, củng cố khối đoàn kết trong Đảng, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người chỉ rõ mục đích của tự phê bình và phê bình chính là để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(7).

Người cũng chỉ rõ cách thức tự phê bình và phê bình thế nào cho đúng, làm thế nào để đạt được mục tiêu: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”(8). Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, chỉ khi là những đảng viên chân chính, hiểu rõ đạo lý chủ nghĩa Mác-Lênin và có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng thì mới thực hiện tốt tự phê bình và phê bình. Người viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”(9).

2. Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng trong giai đoạn hiện nay

Trong suốt quá trình hoạt động, nguyên tắc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng trở thành một quy luật xây dựng và phát triển Đảng; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử của Đảng; là nhân tố quan trọng quyết định sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII ban hành các Kết luận số 126-KL/TW ngày 14-02-2025 về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025; số 127-KL/TW ngày 28-02-2025 về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo chủ trương của Đảng thời gian qua đã đạt những kết quả bước đầu rất tích cực. Theo Báo cáo số 219-BC/BNV ngày 11-01-2025 về bổ sung, hoàn thiện phương án sắp xếp, tinh gọn bộ máy, Chính phủ đã giảm 05 bộ và cơ quan ngang bộ; giảm 13 tổng cục; 519 cục và tương đương; 219 vụ và tổ chức tương đương; 3.303 chi cục và tương đương; 201 đơn vị sự nghiệp công lập; 63 địa phương đã hoàn thiện phương án sắp xếp tổ chức và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm tương đồng với việc sắp xếp bộ, ngành ở Trung ương. Các ban Đảng, đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan Đảng; các cơ quan tổ chức thuộc hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương tiếp tục được sắp xếp, tinh gọn hợp lý, đồng bộ, thống nhất trên phạm vi cả nước.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, sắp xếp tổ chức lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, bỏ cấp huyện đang được đẩy mạnh thực hiện. Cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và tổ chức đơn vị hành chính trên phạm vi cả nước dẫn tới tình hình sáp nhập hoặc giải thể tổ chức đảng; ảnh hưởng đến vị trí việc làm của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân. Vì vậy, trong các nghị quyết và kết luận của Đảng đều nhấn mạnh đến giải pháp tăng cường tuyên truyền củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận của toàn xã hội và nhân dân, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017, đã nêu rõ yêu cầu “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội”(10).

Thực tiễn hiện nay đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nhất là những lời căn dặn, chỉ dẫn trong Di chúc của Người, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp củng cố, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Trước hết cần thấm nhuần lời căn dặn của Người chỉ có đoàn kết, thống nhất trong Đảng mới bảo đảm vững chắc sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm vai trò cầm quyền của Đảng. Vấn đề giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng không chỉ mang ý nghĩa sống còn với Đảng mà còn có ý nghĩa sống còn của sự nghiệp cách mạng của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Để tiếp tục thực hiện tốt Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết, thống nhất trong Đảng, để Đảng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng giai đoạn hiện nay, cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với thiết thực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong xã hội.

Thực hiện hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện các Nghị quyết, Kết luận Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức của mỗi cán bộ, đảng viên về bổn phận và trách nhiệm, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ.

Phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, nói đi đôi với làm, tạo uy tín tốt nhất trong nhân dân, làm gương để nhân dân noi theo: “Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hoá,... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị”(11).

Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên. Công tác tư tưởng phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái. Tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Hai là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ gắn với thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Các tổ chức đảng và đảng viên gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Phát huy dân chủ đi đôi với đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức cách mạng, đạo đức công dân, đạo đức nghề nghiệp. Xây dựng các thiết chế, cơ chế cho phép phát huy dân chủ, trước hết là bảo đảm thực hiện các quyền của đảng viên, nhất là quyền được thảo luận, chất vấn, phê bình, thông tin, bảo lưu ý kiến. Xác định đúng những nội dung cốt lõi bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ trong Đảng; hoàn thiện, cụ thể hóa, quy chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ cho từng lĩnh vực, từng mặt công tác xây dựng Đảng.

Chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình trong đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ; cấp ủy cấp trên chủ động gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân ở những nơi có vấn đề phức tạp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng kiểm tra việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống “chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức,..; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng… Tổ chức, xúi giục, tham gia các hoạt động bè phái, cục bộ gây mất đoàn kết nội bộ”(12).

Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách, đủ uy tín và khả năng quy tụ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tổ chức đảng.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Xây dựng và hoàn thiện quy định, quy chế, quy trình nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, bảo đảm khách quan, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, khả thi.

Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên với kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, kiểm tra đột xuất và kiểm tra dấu hiệu vi phạm; coi trọng tự kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, coi trọng giám sát theo chuyên đề. Kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Sự đoàn kết, thống nhất trước hết phải được xây dựng trong Đảng, được thể hiện trong Đảng. Mỗi đảng viên, nhất là đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo phải cương quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội trong chính bản thân mình trước những tác động từ bên ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội chính là căn nguyên của mất đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Chống chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” - “giặc trong lòng” thật khó và chỉ khi nào bản thân mỗi đảng viên tự giác rèn luyện mới có hiệu quả bền vững. Sự gương mẫu của người đứng đầu cơ quan, đơn vị có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nêu gương và trở thành nhân tố quyết định nhất giữ vững đoàn kết trong Đảng.

Thực hiện lời căn dặn, yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, Đảng ta ngày càng đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đối với việc giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức đảng và trong các cơ quan, đơn vị. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, phải thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của tổ chức đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị.

Trong thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều quy định, chỉ thị về nêu gương, chuẩn mực đạo đức: Quy định 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Chỉ thị 05-CT/TW đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học và làm theo trước của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới… Thực hiện nghiêm các quy định trên có ý nghĩa quan trọng trong giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Năm là, đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải trên cơ sở quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện nghiêm minh.

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải trên cơ sở sự lãnh đạo của một Đảng trong sạch, vững mạnh, có đường lối đúng đắn. Đường lối đúng là ngọn cờ tập hợp sức mạnh của đội ngũ đảng viên và toàn thể nhân dân và dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng nhất để bảo đảm đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng và xã hội.

Đường lối đó được Nhà nước, các cấp chính quyền triển khai thực hiện bằng việc ban hành các quy định của pháp luật, các quyết định để hiện thực hóa trong cuộc sống. Trong tư tưởng của Người, đoàn kết phải là đoàn kết thống nhất, trước sau như một, tức là phải dựa trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng và vì lợi ích của tập thể, của nhân dân, không tạo nên đặc quyền đặc lợi cho bất cứ một nhóm người nào trong xã hội. Người luôn nhấn mạnh: Đảng tuy có nhiều đảng viên, song khi tiến hành nhiệm vụ cách mạng thì chỉ như một người, trong Đảng không cho phép có tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.

3. Kết luận

Giữ gìn sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng là bài học sống còn của một Đảng cầm quyền, là nguồn gốc của sức mạnh, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thấm nhuần tư tưởng và thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng, giữ gìn và phát huy đoàn kết thống nhất. Nhờ đó, Đảng đã quy tụ và phát huy được sức mạnh toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước mà nhân dân đã tin tưởng giao phó. Trong bối cảnh mới, trước yêu cầu nhiệm vụ của kỷ nguyên phát triển mới, Đảng ta càng cần đặc biệt chú trọng thực hiện tư tưởng của Người về giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 1956!

         “Tiền đồ của mỗi người, nằm trong tiền đồ của cách mạng, của dân tộc”!
Câu nói trên trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 31 tháng 5 đến ngày mùng 5 tháng 6 năm 1956, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 354 đại biểu là chiến sĩ thi đua và đại diện cho các đơn vị tiên tiến thuộc ngành thương nghiệp cả nước.
Lời của Bác, khẳng định lợi ích của dân tộc phải đặt lên trước lợi ích của cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh, nước độc lập thì ai cũng được tự do; nếu mất nước thì ai cũng làm nô lệ. Cách mạng giải phóng dân tộc giành được thắng lợi, không chỉ dân tộc được giải phóng, mà các giai cấp tầng lớp trong xã hội cũng được giải phóng. Quan điểm đó đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 
Quan điểm trên của Người, tiếp tục được Đảng ta vận dụng vào đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam; toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát và phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhật lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân, đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, thì việc nắm vững những quan điểm của Người về đặt lợi ích chung của dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân có giá trị thực tiễn sâu sắc; là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.
Quân đội ta là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác, biết đặt lợi ích của đất nước lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã lựa chọn; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các các thế lực thù địch; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÌNH CẢM BÁC HỒ VỚI THIẾU NIÊN NHI ĐỒNG!

TÌNH CẢM BÁC HỒ VỚI THIẾU NIÊN NHI ĐỒNG!

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh
Thật thà dũng cảm”
Cho đến hôm nay, thiếu nhi cả nước vẫn xem đó là mục tiêu để phấn đấu, là tiêu chuẩn để đánh giá đội viên tiêu biểu của Đội. Cũng ngay trong lá thư này, Bác ân cần nhắc nhở thiếu niên nhi đồng: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Bác còn xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục các em không phải của riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải quan tâm đến việc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, ngày 25/8/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả”. Bác cũng căn dặn người lớn phải quan tâm chăm sóc, giáo dục các em. Người nhắc nhở, ngày Tết Thiếu nhi 01/6, người lớn trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn Thanh niên nhớ nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng và người lớn phải là tấm gương cho trẻ em, phải “khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành người công dân có tài, có đức”.

Tình yêu thương thiếu niên nhi đồng được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện bằng tất cả tấm lòng của người ông, người bác, người cha và với tầm nhìn của một vị lãnh tụ thiên tài chăm lo cho thế hệ tương lai của nước nhà. Trong hoàn cảnh nào và ở đâu, Người cũng luôn nghĩ về các cháu, hướng các cháu vào những hoạt động vui chơi bổ ích và nề nếp kỷ luật. Dù bận trăm công nghìn việc lãnh đạo đất nước, nhưng Người vẫn luôn dành thời gian đi thăm các trường học, lớp mẫu giáo, trại thiếu nhi... động viên, khuyên nhủ và cùng vui chơi với các cháu. Đặc biệt, Người thường xuyên viết thư thăm hỏi, gửi quà động viên các cháu thiếu niên nhi đồng miền Nam đang sống dưới sự đàn áp của Mỹ - Ngụy, chưa có một ngày hòa bình thật sự. Người cũng rất quan tâm đến các cháu thiếu nhi sự đàn áp của Mỹ - Nguỵ. Tình yêu đó, sự quan tâm đặc biệt đó bắt nguồn từ lý tưởng: suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn minh. Bác luôn có một sự gắn bó mật thiết, một tình cảm trìu mến, hiền hòa và chu đáo với thiếu nhi. Đó là sự ấm áp vô cùng của một vị lãnh tụ vĩ đại.

Với nữ dũng sĩ diệt Mỹ Ngô Thị Tuyết (Quảng Ngãi), những lần được ra Hà Nội, được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch đã trở thành những kỷ niệm khó phai trong lòng chị. Năm 1967, sau khi dự Đại hội chiến sĩ thi đua miền Trung Trung bộ, chị được ra Bắc học tập và chữa bệnh. Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe của chị, gia đình và quê hương miền Nam, về cuộc sống những người phụ nữ trong vùng bị địch chiếm, sự tàn bạo của kẻ thù đối với đồng bào miền Nam, trong đó có Khu 5 anh hùng. Nghe chị kể chuyện ba mẹ hy sinh cách nhau chưa đầy 2 năm vì những đòn tra tấn và đạn pháo của kẻ thù; anh trai là cán bộ huyện cũng đã nằm xuống trong một lần công tác, còn lại một em trai Ngô Nết cũng là dũng sĩ... Bác nói: “Như vậy, chị dũng sĩ, em dũng sĩ rồi. Địch nhất định thua thôi”.

Tháng 1/1958, Bác đến thăm trường thiếu nhi miền Nam. Nghe tin Bác đến thăm, các cô chú phụ trách trường tíu tít chuẩn bị, trang hoàng hội trường đón Bác. Khi Bác đến, tất cả mọi người ùa ra đón Bác và đưa Bác đến hội trường đã được chuẩn bị cờ, hoa lộng lẫy. Nhưng Bác đề nghị dẫn Bác đến nhà bếp và phòng ngủ xem các cháu có được ăn no, ngủ ấm và chăm sóc chu đáo không. Sau đó Bác lấy ra một gói kẹo lớn chia đều cho các cháu. Đang nhìn các cháu ăn kẹo, Bác chợt nhận ra có 1 cháu đang đứng ở góc phòng, nét mặt buồn so. Bác gọi lại hỏi:
- Cháu tên là gì? Vì sao lại đứng ở đây?
- Cháu tên là Tộ. Vì cháu phạm lỗi, tay bẩn không rửa nên các cô chú phạt, không cho nhận kẹo của Bác.
Bác cười bảo Tộ đi rửa tay rồi chia kẹo cho Tộ, sau đó Bác dạy:
- Từ nay, cháu phải luôn giữ gìn đôi tay cho sạch nhé. Bàn tay con người rất đáng quý.
Tộ rất cảm động trước sự chăm sóc ân cần của Bác. Từ đấy, bạn luôn giữ đôi tay sạch sẽ và rửa tay sạch trước khi ăn.
Bác không bao giờ quên chuẩn bị những gói kẹo, gói bánh để làm quà tặng cho các em nhỏ, thể hiện sự quan tâm chu đáo của Người. Đối với thiếu nhi, đặc biệt là các cháu bé, Bác luôn ân cần, gần gũi và ấm áp như vậy. Bác luôn chỉ dạy các em nhỏ bằng những lời nói hết sức giản dị, tạo cảm giác thoải mái, yêu thương đến các em.
Nói về những tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam nói chung và các cháu thiếu niên, nhi đồng nói riêng đó là sự quan tâm, chăm sóc, là tình yêu thương được hình thành và bồi đắp qua năm tháng. Từ những ngày đầu tiên bắt đầu hành trình ra đi tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã mang theo trong mình hình ảnh một nửa đất nước còn đang bị thực dân cai trị, nơi đồng bào vẫn đang ngày đêm chịu đựng sự tàn ác của kẻ thù. Cho tới ngày Bác trở về nước hoạt động cách mạng năm 1911, tới những năm tháng sau kháng chiến chống Pháp, miền Bắc đã được tự do, nhưng Tổ quốc vẫn còn nỗi đau chia cắt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có điều trăn trở làm sao để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, “cố gắng giải phóng nhanh để Bác vào thăm đồng bào miền Nam”. Trước lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng, Bác để lại muôn vàn tình yêu thương cho dân tộc Việt Nam, trong bản Di chúc của mình, Bác đã hai lần nhắc đến nhi đồng, đến miền Nam đoạn mở đầu, Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta!...”. 
Đoạn kết thúc, Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Tuy Bác đã đi xa nhưng những lời căn dặn, hành động, tình cảm của Bác sẽ mãi mãi khắc sâu trong tâm trí thiếu niên, nhi đồng nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung./.




Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2025

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH: ĐỪNG ĐỂ SINH HOẠT CHI BỘ TRỞ NÊN... VÔ HỒN!

         Không khó để nhận ra, hiện nay có một bộ phận đảng viên dần trở nên xa rời sinh hoạt chi bộ. Có người đi họp nhưng tâm trí để ở chỗ khác. Có người đến vì nghĩa vụ chứ không vì mong muốn được trao đổi, xây dựng. Có người viện cớ công việc, sức khỏe, bận rộn gia đình để vắng mặt trong các buổi sinh hoạt định kỳ. Khi đó, sinh hoạt chi bộ không còn là một nhu cầu tự thân mà chỉ là một “phần việc phải làm” trong tháng...

Điều đáng suy ngẫm ở đây không chỉ là sự giảm sút về hình thức, mà sâu xa hơn là dấu hiệu của sự phai nhạt về lý tưởng. Một đảng viên khi còn tha thiết với sinh hoạt chi bộ nghĩa là vẫn còn tha thiết với tổ chức đảng; đó là hứng thú với việc góp ý, tự phê bình và lắng nghe, nghĩa là họ vẫn còn khát khao được rèn luyện. Nhưng nếu tất cả trở nên hời hợt, nếu những buổi sinh hoạt chỉ để “có mặt”, không có tranh luận, không có sự chân thành, không có sự lay động, thì đó là hồi chuông báo động về tình trạng “nhạt Đảng”.

Chúng ta, dù đang giữ chức vụ gì, công tác ở đâu cũng nên tự hỏi: “Mình đã thật sự nghiêm túc với sinh hoạt chi bộ chưa?". Giữ được ngọn lửa người đảng viên, có lẽ không bắt đầu từ điều gì lớn lao; đôi khi chỉ là giữ cho mình thói quen đến họp đúng giờ, lắng nghe bằng sự cầu thị, phát biểu bằng tấm lòng và góp ý bằng tinh thần xây dựng, vậy thôi cũng minh chứng cho hành động của người tử tế.

Sinh hoạt chi bộ không phải là thủ tục, mà đây là nhịp đập của tổ chức đảng ở cơ sở. Nếu một đảng viên không còn thiết tha với sinh hoạt chi bộ, thì dù đứng trong hàng ngũ Đảng, sớm muộn họ cũng sẽ rời xa con đường mà mình từng lựa chọn. Và nếu có dự sinh hoạt chi bộ cũng trở nên... vô hồn./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: LỠ MIỆNG HAY CỐ Y!

NẾU GỬI TÊN LỬA TAURUS CHO UKRAINE, ĐỨC ĐỐI MẶT CUỘC CHIẾN ĐẦU TIÊN VỚI NGA SAU THẾ CHIẾN II!

         Liệu Berlin có triển khai viện trợ tên lửa Taurus cho Kiev và chấp nhận trở thành mục tiêu trực tiếp để Nga trả đũa?
Trang RT của Nga vừa có bài viết của tác giả Tarik Cyril Amar - nhà sử học người Đức làm việc tại Đại học Koç (Istanbul), chuyên nghiên cứu về Nga, Ukraine, Đông Âu - bàn về kế hoạch mới của Đức ám chỉ việc gửi tên lửa Taurus cho Ukraine.
Theo tác giả Amar, Thủ tướng Friedrich Merz, đại diện cho đảng CDU/CSU bảo thủ dòng chính của Đức, đã gây ra một cơn chấn động - lần này là qua những tuyên bố liên quan đến vũ khí Đức tại Ukraine. Chính xác hơn, là về việc quân đội Kiev có thể sử dụng những vũ khí do Berlin cung cấp như thế nào.
Phát biểu tại một diễn đàn công cộng do một kênh truyền hình lớn của Đức tổ chức, ông Merz tuyên bố rằng không còn giới hạn tầm bắn đối với việc quân đội Ukraine sử dụng vũ khí Đức để tấn công lãnh thổ Nga.
Ông Merz ám chỉ rằng đây là một sự thay đổi chính sách, nhưng sau đó chính ông và các đối tác liên minh Dân chủ Xã hội lại nói ngược lại: rằng chẳng có gì mới cả.
Trên thực tế, những hệ thống vũ khí mà Ukraine đang có từ Đức - MARS II và Panzerhaubitze 2000 - chỉ có tầm bắn khiêm tốn (lần lượt 84 và 56 km). Việc gỡ bỏ giới hạn chính trị với chúng về mặt quân sự gần như vô nghĩa.
Nhưng có một cách lý giải khác cho rằng ông Merz đang có tính toán. Theo Thomas Röwekamp, một đồng minh cùng đảng và là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Quốc hội Đức, việc tuyên bố "không giới hạn tầm bắn" của Thủ tướng Merz là để mở đường cho việc chuyển giao tên lửa hành trình Taurus cho Kiev.
Dưới thời người tiền nhiệm Olaf Scholz, tầm bắn hơn 500km của Taurus từng là lý do để Berlin từ chối cung cấp chúng cho Ukraine. Nay, nếu loại bỏ giới hạn tầm bắn, lập luận đó cũng không còn.

Taurus sẽ kéo người Đức tham chiến ở Ukraine?

Tác giả Amar cho rằng, những rủi ro lớn của bước đi này ai cũng đã biết, nhưng phần lớn giới tinh hoa Đức vẫn dường như đang phủ nhận: Taurus không chỉ có thể tấn công sâu vào lãnh thổ Nga – thậm chí nhắm tới Moskva – mà theo lời thú nhận của chính Tư lệnh Không quân Đức trong một cuộc trò chuyện bị rò rỉ, quân đội Ukraine không thể tự vận hành Taurus. Việc điều khiển, lập trình và phóng tên lửa quá phức tạp, người Đức sẽ phải trực tiếp tham gia vào việc sử dụng chúng để tấn công Nga.
Do đó, ngay cả khi được phóng đi từ Ukraine, thì một quả Taurus cũng đồng nghĩa với việc Đức trực tiếp khai hỏa. Bất kể Nga có chặn được tên lửa hay không, Moskva sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc coi Đức là bên tham chiến trực tiếp. Nói đơn giản: Nga sẽ coi mình đang ở trong tình trạng chiến tranh với Đức.
Một chuyên gia quân sự cấp cao của Nga đã xuất hiện trên chương trình chính trị nổi tiếng “60 phút” và lập luận rằng trong trường hợp này, Moskva nên – ít nhất – tiến hành một cuộc tấn công bằng tên lửa phi hạt nhân nhưng gây đau đớn vào các nhà máy sản xuất Taurus ở Đức.

Nguy cơ mới với Đức nếu Taurus tấn công mục tiêu Nga

Theo tác giả Tarik Cyril Amar, việc gửi Taurus cho Kiev từ lâu đã là một ý tưởng tệ, nhất là khi chính các sĩ quan Đức cũng thừa nhận rằng loại vũ khí này không thể làm thay đổi cục diện chiến trường theo hướng có lợi cho Ukraine. Điều Taurus có thể làm, là giúp Ukraine đẩy cuộc chiến lên một cấp độ mới bằng cách lôi kéo Đức - một thành viên NATO - vào cuộc. Ông Amar cho rằng, đây là lựa chọn cảm tử mà những con diều hâu liều lĩnh nhất trong NATO và EU đang chờ đợi, dù nó vô cùng điên rồ.

Vậy tại sao Thủ tướng Merz lại phát tín hiệu kỳ quặc này ngay lúc này?

Ông có phải là một trong những con diều hâu đó? Có muốn chiến tranh trực tiếp với Nga? Có lẽ là không, ít nhất là chưa. Ông Merz ám ảnh với việc tái vũ trang toàn diện nước Đức, vì ông cho rằng nước Đức hiện quá yếu. Đồng thời, ông cũng biết rằng việc tái thiết một đội quân mạnh nhất châu Âu - ít nhất là về sức mạnh thông thường - sẽ mất nhiều năm, nếu như có thể thành công.
Ông Merz biện minh rằng phát biểu của mình là phản ứng phù hợp trước loạt tấn công bằng drone và tên lửa của Nga cuối tuần qua vào Ukraine. Các chính trị gia Đức ủng hộ Merz cũng lập luận như vậy - rằng đó là các đòn tấn công lớn, nhằm vào dân thường.
Nhưng bằng chứng lại bác bỏ cả hai luận điểm đó. Trước hết, rõ ràng là Nga không nhắm vào dân thường. Làm sao biết được điều đó? Không cần tin vào lời Nga. Hãy nhìn vào số liệu - được công bố không phải bởi truyền thông Nga, mà bởi Strana.ua, một trang tin đáng tin cậy và quan trọng của Ukraine:
Cuối tuần qua, từ đêm thứ Sáu (23/5) đến đêm Chủ nhật (25/5), Nga phóng tổng cộng 92 tên lửa và trên 900 drone vào Ukraine. Quân đội Ukraine thừa nhận khoảng 30 mục tiêu bị trúng trực tiếp, nhưng không nói rõ là gì. Vì Ukraine có chính sách không tiết lộ tổn thất quân sự và thường tận dụng tối đa tổn thất dân sự để tuyên truyền, nên có thể suy đoán rằng đó là các cơ sở quân sự hoặc công nghiệp quốc phòng - đúng như Nga tuyên bố. Ngoài ra, theo Không quân Ukraine và truyền thông chính thống Đức, đêm 26/5, Nga còn phóng thêm 60 drone nữa.
Về thiệt hại dân thường, rõ ràng, mỗi sinh mạng đều quý giá, mỗi cái chết là một bi kịch, và mỗi thương tích đều đáng tiếc. Nhưng tỷ lệ tổn thất là điều không thể bỏ qua.
Trong loạt tấn công của Nga cuối tuần đó, theo BBC, tính đến 24/5, có “ít nhất 13 người thiệt mạng” và “56 dân thường bị thương” trên toàn Ukraine. Theo Strana.ua, đêm 25/5 có thêm 16 người chết, trong đó có 3 trẻ em (Washington Post đưa tin là 12 người chết); đêm 26/5 có 10 người bị thương.
Những con số này không hoàn toàn nhất quán, nhưng nhìn chung, với gần 100 tên lửa và 1.000 drone, thiệt hại như vậy không phải dấu hiệu của tấn công vào dân thường.
Trở lại với Merz. Ông đưa ra một tuyên bố leo thang tưởng như quan trọng, nhưng sau lại phủ nhận. Hay cuối cùng nó vẫn là một bước ngoặt? Và lý do chính mà ông nêu ra – phản ứng với các đòn tấn công “vào dân thường” – thì lại dựa trên thông tin sai lệch.
Tác giả Amar kết luận rằng, đây chỉ là một kiểu "mơ hồ chiến lược" mà Berlin nên cẩn thận tránh xa, nếu không muốn lãnh những đòn tấn công từ Nga, lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến thứ II./.

Ảnh Internet: Thủ tướng Đức"Tên lửa viện trợ cho Ukraine không hạn chế tầm bắn".
Khuyết danh ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: BÁC SĨ SINGAPORE XIN THUA, ĐỪNG SỢ... ĐÃ CÓ VIỆT NAM!

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
     Mang theo hy vọng cuối cùng như mang một que diêm nhỏ giữa trời giông, một sản phụ người Singapore đã bay thẳng sang Việt Nam không phải để du lịch, ăn phở mà để níu giữ sự sống mong manh của đứa con bé bỏng mới 22 tuần tuổi trong bụng.
Vâng, bạn không nghe nhầm. Là Singapore, quốc gia có nền y tế top đầu Đông Nam Á, nơi các bà mẹ giới thượng lưu vẫn rỉ tai nhau “sinh con bên đó cho yên tâm”, lần này đã chủ động chuyển bệnh nhân sang Việt Nam. Không phải hợp tác y tế, không phải “thí điểm trao đổi chuyên môn”, mà là: “Anh ơi, bên em bó tay. Làm ơn cứu giúp!”
Chuyện là ở tuần thứ 21, sản phụ được siêu âm và kết quả thì… không ai muốn nghe: thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh cực nặng: hẹp van động mạch chủ nặng, van hai lá dày, hở van hai lá nặng và thất trái thì teo tóp như tài khoản cuối tháng. Các bác sĩ ở bệnh viện top Singapore đổ mồ hôi, hội chẩn, lắc đầu, đưa ra phương án... hủy thai.
Thế nhưng người mẹ không buông tay. Trong lúc tưởng như mọi cánh cửa đều đóng lại, thì cánh cửa Việt Nam bất ngờ… mở toang. Các bác sĩ Singapore đề xuất chuyển sang Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có thể thực hiện kỹ thuật can thiệp tim bào thai. Vậy là từ Changi sang Tân Sơn Nhất, một hành trình không phải để hy vọng viển vông, mà để đánh cược tất cả vào tay nghề bác sĩ Việt.
Tại đây, Bệnh viện Từ Dũ phối hợp với Nhi Đồng 1 đã vào cuộc. Ca can thiệp không dễ lần đầu thất bại vì tư thế thai không thuận. Nhưng các bác sĩ không bỏ cuộc. Lần hai, mồ hôi ròng ròng, tim đập trở lại, máu bắt đầu chảy, sinh linh nhỏ bé ấy được hồi sinh trong bụng mẹ.
Người mẹ Singapore bật khóc. Báo chí quốc tế thì tròn mắt. Còn bác sĩ Việt? Rửa tay, thay áo, gặm bánh mì lạt rồi vô tiếp ca mổ sau. Một ngày bình thường, trong một kỳ tích không bình thường.
Ca bệnh không chỉ cứu một đứa trẻ chưa chào đời. Nó còn gõ trống báo tin, rằng y học bào thai Việt Nam không còn là “tay chơi mới nổi”, mà đã bước vào hàng ngũ những người dẫn đầu khu vực.
Và lần tới, nếu ai đó lại thở dài “Bao giờ y tế Việt mới bằng Singapore?”, thì xin nhắc nhẹ: Singapore vừa gửi bệnh sang nhờ Việt Nam cứu sống đấy ạ!
Ảnh: Các bác sỹ sau ca phẫu thuật thành công!
Yêu nước ST.

KHÔNG ĐƯỢC XUYÊN TẠC, VU KHỐNG, XÚC PHẠM TÌNH ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI THIÊNG LIÊNG CAO QUÝ CỦA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”!

         Trên không gian mạng đã xuất hiện những thông tin sai trái, xấu, độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị về truyền thống uống nước, nhớ nguồn, tri ân thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công của nhân dân ta. Gần đây, còn có những thông tin hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm trắng trợn đến tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên Luật sư Nguyễn Văn Đài và Fans cho rằng, trong “cuộc chiến Nam Bắc kéo dài 21 năm 1954 - 1975 mà quân đội miền Bắc không có thương binh (bị mất tay chân mắt mũi…), vì: “Người ta nói rằng, tất cả mọi thương binh của quân đội miền Bắc ở chiến trường được lệnh bởi các đồng chí chỉ huy mặt trận bắn chết hết để che giấu sự thất bại và giữ tinh thần”. Chúng bịa ra chuyện: “Có không ít đồng đội đồng chí bị xử từ chính đồng đội và cấp trên của họ sau khi họ bị thương” và: “phần lớn thương binh của cộng sản đã được giải quyết trên chiến trường và hoàn toàn đã phủi tay với họ”…
Có thể khẳng định ngay rằng, không ai tin mà ngược lại còn hết sức phẫn nộ bởi sự bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến danh dự, tình cảm thiêng liêng, cao quý của tình đồng chí, đồng đội trong “Bộ đội Cụ Hồ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta luôn quan tâm, chăm sóc chu đáo anh chị em thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí bị ốm yếu, què quặt…”. Người căn dặn: Tổ quốc, đồng bào, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ. Người nhấn mạnh: Chúng ta phải luôn xác định việc chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là nghĩa vụ chứ không phải là việc làm phúc. Cũng chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo việc hằng năm, lấy ngày 27 tháng 7 là một dịp để nhân dân cả nước bày tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với nước.
Trong mọi hoàn cảnh, điều kiện, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn có những chủ trương, chính sách, giải pháp tích cực, thiết thực chăm lo cuộc sống thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với nước. Pháp luật về người có công, những chính sách ưu đãi được triển khai thực hiện đầy đủ, hiệu quả. Điển hình như quy định về chế độ ưu đãi đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: “Được Nhà nước hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu, bao gồm nhà xưởng, trường, lớp, trang bị, thiết bị, được vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh”. Trên phạm vi cả nước cũng từng xuất hiện những việc làm tri ân tình nghĩa hết sức quý giá như: đón thương binh nặng về chăm sóc chu đáo ở địa phương; phong trào chị em phụ nữ tự nguyện kết hôn với các đồng chí thương binh, trong đó có cả các đồng chí thương binh nặng (mất từ 81% sức lao động trở lên); các địa phương ưu tiên đất mặt đường, cây giống, con giống, vốn cho thương binh, bệnh binh sản xuất, kinh doanh… 
Các phong trào xã hội hóa công tác đền ơn, đáp nghĩa, như tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà, giúp đỡ nhiều mặt trong sản xuất, kinh doanh, chăm sóc sức khỏe… được triển khai tích cực, hiệu quả, thu hút sự đồng thuận, tham gia của cả cộng đồng. Bản thân nhiều thương, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công cũng tự nguyện, tự giác vươn lên trong cuộc sống. Vì vậy, cuộc sống của thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công không ngừng được ổn định và nâng cao, với tỷ lệ hiện nay là gần 100% có mức sống từ trung bình trở lên so với mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú. 
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, việc tri ân, chăm sóc thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được quan tâm thực hiện chu đáo, sâu sắc theo tinh thần đồng chí, đồng đội vốn đã trở thành truyền thống, nét đẹp văn hóa hết sức thiêng liêng, cao quý. Hơn 80 năm qua, các thế hệ “Bộ đội Cụ Hồ” luôn nghiêm chỉnh thực hiện 10 Lời thề danh dự của quân nhân, trong đó có lời thề thứ 7: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí”. Trong chiến đấu, “Bộ đội Cụ Hồ” sẵn sàng hy sinh vì đồng đội, thực hiện nghiêm chỉnh chính sách với thương binh, liệt sĩ. Rất nhiều tấm gương sáng của cán bộ, chiến sĩ tự nguyện hy sinh để bảo đảm an toàn cho thương binh, đưa đồng đội đã hy sinh về tuyến sau… Người Việt Nam còn nhớ mãi tấm gương của nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ - Bác sĩ quân y Đặng Thùy Trâm luôn hết lòng thương yêu, tận tình chăm sóc thương binh nơi chiến trường ác liệt, tô thắm nghĩa tình đồng chí, đồng đội những năm tháng chống Mỹ, cứu nước oanh liệt của dân tộc. Trong hòa bình, “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ đồng chí, đồng đội vững vàng trên trận tuyến mới. Xuất hiện nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả như; tổ thương binh tình nghĩa, cơ sở sản xuất của thương binh… nơi những người chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” lại cùng sát cánh, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau ổn định, phát triển cuộc sống. Các cơ quan, đơn vị quân đội cũng thường xuyên làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, chính sách, hậu phương quân đội. Quỹ tình nghĩa, nhà tình nghĩa, “Nhà đại đoàn kết”, “Nhà đồng đội”; ưu tiên tuyển chọn con thương binh, vợ, con liệt sĩ vào công tác trong Quân đội; thăm hỏi, tặng quà nhân dịp lễ, tết, kỷ niệm cho các gia đình chính sách, người có công; khám, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho thương, bệnh binh, gia đình chính sách, quân nhân có hoàn cảnh khó khăn… được triển khai sâu rộng, đạt kết quả tốt, được dư luận đánh giá cao. Quân đội cũng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống, vinh danh, động viên, cổ vũ các tấm gương tiêu biểu là thương binh, thân nhân liệt sĩ có thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã từng tổ chức gặp mặt, biểu dương 150 đại biểu người có công, thân nhân liệt sĩ đang công tác trong Quân đội, gồm 75 đại biểu là thương binh và 75 đại biểu là thân nhân liệt sĩ. Đảng, Nhà nước cũng đã mở Hội nghị thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc, với sự tham dự của 500 thương binh nặng, thay mặt hơn 12.000 thương binh nặng trong cả nước. Đây thật sự là những tấm gương sáng, tiêu biểu, đáng khâm phục cho tinh thần “tàn nhưng không phế” của “Bộ đội Cụ Hồ”, làm lay động lòng người, động viên, khích lệ, lan tỏa, truyền cảm hứng cho tinh thần vượt khó vươn lên của nhân dân Việt Nam. 
Những thông tin trên giúp chúng ta thấy rõ bản chất xấu xa, thâm độc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, đồng thời để các thế hệ người Việt Nam tăng cường niềm tin, phấn khởi, tự hào về truyền thống uống nước, nhớ nguồn của dân tộc, về sự thiêng liêng, cao quý của tình đồng chí, đồng đội mà “Bộ đội Cụ Hồ” đã dày công vun đắp. Đây cũng là cơ sở quan trọng, là sức mạnh nội sinh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đoàn kết nhất trí, cố gắng hoàn thành mục tiêu đã được xác định: chăm lo toàn diện về vật chất và tinh thần, tiếp tục điều chỉnh mức trợ cấp ưu đãi ở mức cao nhất trong hệ thống chính sách xã hội, phấn đấu đến năm 2030 đạt mục tiêu 100% thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công và gia đình người có công có mức sống trung bình khá trở lên./.
Ngày 27-7-1947 là ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên, từ năm 1955 ngày 27-7 được đổi thành ngày Thương binh - Liệt sĩ. Ảnh: internet.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY QUÂN ĐỘI “THỐNG NHẤT TRÌNH QUỐC HỘI XEM XÉT, THÔNG QUA DỰ ÁN SỬA 11 LUẬT TẠI KỲ HỌP THỨ 9”!

     Việc sửa đổi, bổ sung 11 Luật về quân sự, quốc phòng chủ yếu phục vụ sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy.
Toàn cảnh Phiên họp toàn thể lần thứ 2 Ủy ban Quốc phòng An ninh và Đối ngoại.

Sửa 11 luật về quân sự, quốc phòng để sắp xếp bộ máy
Tại Phiên họp toàn thể lần thứ 2, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đã thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc phòng; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Luật Nghĩa vụ quân sự; Luật Biên phòng Việt Nam; Luật Phòng không nhân dân; Luật Lực lượng dự bị động viên; Luật Phòng thủ dân sự; Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; Luật Dân quân tự vệ; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh (sau đây viết gọn là dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của 11 luật).

Phát biểu khai mạc phiên họp, Trung tướng Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho biết, đây là dự án Luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội quyết định bổ sung vào Chương trình Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã chỉ đạo Cơ quan soạn thảo khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo đúng quy trình của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.

“”Việc ban hành Luật là nhằm thể chế hoá quan điểm chỉ đạo của Đảng về tiếp tục sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang địa phương, quân sự, biên phòng, khắc phục sự chồng chéo, vướng mắc, bất cập trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc từ cơ sở, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, biên phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân”, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới nhấn mạnh.

Trình bày Tờ trình tóm tắt của Chính phủ về dự án Luật, Trung tướng Thái Đại Ngọc, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đại diện cơ quan soạn thảo cho biết, từ cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn, để bảo đảm tính hợp hiến, đồng bộ của hệ thống pháp luật, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung 11 Luật liên quan về quân sự, quốc phòng là hết sức cần thiết. 

“Mục đích ban hành Luật nhằm thể chế hoá kịp thời, đầy đủ chủ trương, định hướng trong các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) liên quan đến việc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp”, Trung tướng Thái Đại Ngọc nhấn mạnh.

Dự án Luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều về vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp để bảo đảm thống nhất với quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) và các quy định của pháp luật có liên quan. 

Dự thảo Luật gồm 12 điều, trong đó có 11 điều sửa đổi, bổ sung 11 Luật và 01 điều về hiệu lực thi hành. 

Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 50 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Chính phủ trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với việc xem xét, thông qua dự án Luật.


Cơ bản nhất trí trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 9
Theo Báo cáo tóm tắt Thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản nhất trí sự cần thiết ban hành Luật với những cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ nhằm thể chế hoá quan điểm chỉ đạo của Đảng về tiếp tục sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, bảo đảm phù hợp, thống nhất trong hệ thống pháp luật khi sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và các luật liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước.

Thường trực Ủy ban nhận thấy, hồ sơ dự án Luật cơ bản đáp ứng yêu cầu của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025; đồng thời, nhất trí trình Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo Luật tại Kỳ họp thứ 9 theo quy trình, thủ tục rút gọn. 

Các chính sách quy định tại dự thảo Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; sắp xếp, tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp. 

Tuy nhiên, có ý kiến để nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ lưỡng phạm vi và các nội dung sửa đổi, bổ sung đối với 11 luật, các luật trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự (17 luật) và pháp luật có liên quan để báo cáo Chính phủ có chỉ đạo để kịp thời sửa đổi, bổ sung luật đó để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương phát biểu chỉ đạo Phiên họp

Rà soát các luật về lĩnh vực quốc phòng, an ninh để sửa đổi, phục vụ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy
Phát biểu chỉ đạo Phiên họp, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương đánh giá cao Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo xây dựng, trình Quốc hội đề nghị xem xét thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về lĩnh vực quốc phòng. 

Cho rằng, việc trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật tại 1 Kỳ họp với quy trình rút gọn là phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong điều kiện cấp bách, giải quyết những vướng mắc, phù hợp với các kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy. 

Về cơ bản, Phó Chủ tịch Quốc hội nhất trí với Tờ trình, dự thảo luật Chính phủ trình và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương nhấn mạnh, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của dự án Luật chủ yếu phục vụ sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Ngoài những nội dung liên quan đến hệ thống tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong dự thảo Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị rà soát lại toàn bộ các luật về lĩnh vực quốc phòng, an ninh để sửa đổi, phục vụ cho việc sắp xếp, tổ chức bộ máy, chứ không chỉ cho việc thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, đảm bảo thống nhất với các dự án Luật đang trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 9.

Ngoài dự án Luật này, Phó Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị Ban soạn thảo dự án Luật rà soát các luật có liên quan đến đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành khác để đề xuất với các bộ, ngành rà soát, sửa đổi vào thời điểm hợp lý. 

Phó Chủ tịch Quốc hội cũng đánh giá cao dự thảo Luật đã quy định cụ thể việc chuyển giao nhiệm vụ phục vụ sắp xếp, kiện toàn bộ máy; đề nghị nghiên cứu kỹ, rà soát, thống kê các nhiệm vụ trong các luật, bảo đảm rõ ràng, minh bạch hơn.

Phó Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tiếp thu, tổng hợp các ý kiến; phối hợp với cơ quan soạn thảo rà soát, bổ sung những nội dung còn thiếu, phát huy truyền thống gắn bó đoàn kết “từ sớm, từ xa”, hoàn thiện Báo cáo tiếp thu, giải trình. Nhấn mạnh, sau thảo luận tại Tổ, phải có dự kiến Báo cáo tiếp thu, giải trình ngay để cho các đại biểu Quốc hội nghiên cứu./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2025

Trọng dụng nhân tài, phát triển nguồn lực xây dựng Quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

        Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài là hệ thống quan điểm về phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhân tài. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài theo tư tưởng của Người là đòi hỏi khách quan và là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cấp thiết. 

       Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhân tố con người là vấn đề quan trọng nhất; trong đó, nhân tài có vai trò to lớn, là một động lực để phát triển đất nước, phải được phát hiện, phát huy, trọng dụng vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

       Quan niệm về trọng dụng nhân tài của Người bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, tin dân, nêu cao vai trò làm chủ đất nước của dân; đồng thời cũng là sự kế thừa và phát triển truyền thống cầu hiền tài của dân tộc. Để có được nhân tài, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài chú trọng việc lựa chọn, phát hiện, đào tạo thì một vấn đề rất quan trọng mà Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết sử dụng, trọng dụng nhân tài một cách hợp lý, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Đây là điểm mấu chốt của việc phát huy nhân tài trong sự nghiệp cách mạng. Do đó, công việc này phải làm thường xuyên, liên tục “như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Và, trọng dụng nhân tài phải biết tùy tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Dùng nhân tài phải hợp lý, đúng năng lực và sở trường của họ, đúng người, đúng việc, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và phải cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách; nếu dùng người tài không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng.

    Cùng với việc đưa ra những quan điểm chỉ đạo sâu sát, cách mạng, khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài, chăm lo bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, bồi dưỡng các thế hệ cách mạng cho đời sau. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người vẫn ân cần dặn lại chúng ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Vận dụng sáng tạo tư tưởng trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và sử dụng, phát huy tốt đội ngũ này; coi đây là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Quân đội là lực lượng nòng cốt, là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước

 Với tư cách là công cụ bạo lực sắc bén của nhà nước, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Một mặt, Quân đội thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu”, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống; mặt khác, thực hiện tốt chức năng “Đội quân công tác” trong tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho nhân dân; giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, ổn định đời sống, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Cùng với đó, Quân đội ta còn là “Đội quân lao động sản xuất”, góp phần to lớn vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân phát huy khả năng, thế mạnh, tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Các cơ quan, đơn vị tích cực tăng gia, sản xuất, xây dựng kinh tế, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những khu vực, địa bàn, vùng chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh; góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, nhất là ở các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành cho thấy, Quân đội ta luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng xả thân, hy sinh xương máu vì hạnh phúc của nhân dân cả trong đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay. Đó là thực tế không thể phủ nhận.

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nâng cao hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả quản lý xã hội, nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, ngân sách đầu tư cho Quân đội còn hạn hẹp, để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, những ai cho rằng phải “cải tổ mạnh mẽ quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” là những người phiến diện, chỉ nhận thức một mặt mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu mối quan hệ biện chứng của từng thành tố “tinh”, “gọn”, “mạnh” trong mục tiêu xây dựng Quân đội của Đảng và Nhà nước ta. Bởi đây không đơn thuần là việc cắt giảm quân số, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị quân đội để giảm gánh nặng ngân sách; mà đó là quá trình tổ chức “tinh”, “gọn”, giảm đầu mối trung gian để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc chống phá Quân đội

         Thời gian qua, lợi dụng chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá Quân đội. Mưu đồ này không mới, song rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

    Thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm giảm tầng nấc trung gian, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả hoạt động, Quân đội ta đã và đang đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế phù hợp yêu cầu chung và đặc thù chức năng, nhiệm vụ. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, như một “thói xấu khó bỏ”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề này để không ngừng tung ra nhiều thông tin xuyên tạc, kích động chống phá Quân đội trên các kênh thông tin truyền thông lề trái, các trang mạng xã hội,... với những luận điệu lố bịch như: “Quân đội không còn cần thiết”, “cải tổ mạnh mẽ Quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” hay “Quân đội nên tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng”

    Để lập luận cho những luận điệu sai trái đó, các thế lực thù địch viện dẫn luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “Quân đội là một phạm trù lịch sử” để rồi xuyên tạc trắng trợn rằng: Quân đội ra đời, tồn tại gắn liền với chiến tranh; khi đất nước hòa bình, sự tồn tại của quân đội là không cần thiết; vậy nên, trong tinh gọn bộ máy thì nên xóa bỏ tổ chức quân đội đi. Chúng còn xảo biện rằng, hoạt động quân sự là hoạt động chỉ có tiêu tốn của nền kinh tế chứ không mang lại lợi ích gì khác; vậy nên càng rút gọn về tổ chức, tinh giảm quân số quân đội càng tốt. Không dừng lại đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lặp lại “bài hùng biện” quen thuộc rằng: “Quân đội nên trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”, v.v. Chúng cho rằng, quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào.

    Có thể khẳng định rằng, những luận điệu của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, dựa trên sự nhận thức “ngây ngô” về lý luận và những cứ liệu thực tiễn hết sức “ngờ nghệch”. Về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội là một tập đoàn có tổ chức, gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tiến công hoặc phòng ngự”1. Theo đó, quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước và chỉ mất đi khi không còn nhà nước. Mặt khác, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế với quân sự, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội”2 và ngược lại, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Điều đó nói lên rằng, quân đội có vai trò rất quan trọng để bảo vệ nhà nước sinh ra nó; sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn gắn liền với những điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước. Và việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế của quân đội xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Hoàn toàn không có chuyện “Quân đội không còn cần thiết”, mà ngược lại, vai trò của Quân đội càng quan trọng hơn trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước và trong bối cảnh thế giới phức tạp hiện nay

Cán bộ, đảng viên nêu gương nói đi đôi với làm

         Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là ở người lãnh đạo giữ vai trò quan trọng bởi nhất cử nhất động của họ vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, mang ý nghĩa tiêu biểu, được dư luận nhìn vào. Cán bộ, đảng viên giữ các cương vị cao càng phải thực sự là những tấm gương, tiêu biểu trong lời nói, việc làm và thực hành đạo đức thì mới có thể tạo niềm tin, cuốn hút quần chúng, khơi dậy sức mạnh to lớn trong nhân dân.

        Chính vì vậy, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, Đảng ta đã ban hành Quy định về những điều đảng viên không được làm và nêu rõ: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; cùng với việc gương mẫu chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên, phải chấp hành nghiêm những quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm. 

        Xét ở góc độ, khía cạnh nào thì sự gương mẫu trong lời nói, hành động, việc làm của cán bộ, đảng viên, nhất là người giữ chức vụ cao, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương; là “mệnh lệnh không lời” tạo động lực, niềm tin để cấp dưới và quần chúng nhân dân tự giác tu dưỡng, rèn luyện, noi theo. Đây cũng là đòi hỏi bức thiết của đời sống đạo đức xã hội. Vì chỉ có thông qua những tấm gương cụ thể mới củng cố và nâng cao được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

        Ngược lại, “nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm, nói nhiều làm ít” là những biểu hiện của sự tha hóa về đạo đức, tư tưởng và lối sống, không phải là phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Có thể kể đến, đó là tình trạng “trên trải thảm, dưới trải đinh” trong thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội; tăng tốc thực hiện những “chuyến tàu vét trước khi hạ cánh” vào cuối nhiệm kỳ; biến những nguyên tắc sống còn của Đảng trở thành hình thức, làm méo mó mọi quy định, thậm chí là bất chấp pháp luật để mưu lợi... Tình trạng nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật về Đảng, pháp luật Nhà nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII đến nay không chỉ gây ra nỗi buồn, thất vọng mà còn khiến nhân dân không khỏi bức xúc vì lời nói và việc làm của họ trái ngược nhau. Họ không chỉ làm méo mó hình ảnh, phẩm chất người cán bộ, đảng viên mà còn tạo điều kiện cho các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách tốt đẹp của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Sử dụng thông tin chính thống để đấu tranh, phản bác trên không gian mạng

        Việc các thế lực thù địch sử dụng thuật toán AI thao túng tâm lý người dùng đã và đang tạo nên những cái bẫy nguy hiểm trên không gian mạng, khiến công tác nhận diện, đấu tranh gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Trong vấn nạn lừa đảo trực tuyến, nhiều nạn nhân bị lừa sạch tiền trong tài khoản ngân hàng chia sẻ, ban đầu khi tiếp nhận thông tin thì hoàn toàn tỉnh táo, nhưng sau đó bị cuốn vào cơn mê sảng giống như bị thôi miên. Thế là cứ làm theo lời đối tượng lừa đảo, đến khi tỉnh lại thì đã muộn. Nạn nhân không chỉ là người thiếu kiến thức, kỹ năng công nghệ mà ngay cả một số cán bộ quản lý, có học vị cao cũng dính bẫy.

        Khi cơn mê sảng do bị AI thao túng tâm lý trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, văn hóa diễn ra một cách từ từ, âm ỉ trong đời sống tinh thần của người dân, hậu quả của nó không đong đếm bằng tiền mà liên quan đến sự an nguy của chế độ. Nắm bắt tâm lý, nhu cầu của xã hội thông qua xu hướng quan tâm, tìm kiếm thông tin trên không gian mạng, các thế lực thù địch và đối tượng phản động thường xuyên tận dụng, khai thác tiện ích từ các ứng dụng AI để thực hiện những chiến dịch truyền thông chống phá đất nước. Nguy hại hơn, sau khi tung ma trận tin giả, một số đối tượng phản động đã ngông cuồng lên tiếng thách thức lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Những ngày gần đây, khi chúng ta triển khai lấy ý kiến nhân dân sửa đổi Hiến pháp năm 2013, không gian mạng xuất hiện cái gọi là “lá thư thách thức Tổng Bí thư Tô Lâm” của đối tượng phản động Nguyễn Văn Đài (tự xưng là luật sư Nguyễn Văn Đài). Với giọng điệu ngông cuồng, hỗn láo, thái độ trịch thượng, vô văn hóa, Nguyễn Văn Đài lên tiếng thách thức đòi bỏ Điều 4 của Hiến pháp. Khi thông tin phản động này được các thế lực thù địch ứng dụng thuật toán AI xâm nhập vào các tài khoản mạng xã hội, đã được một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị cổ xúy, tung hô.

Trong bối cảnh trình độ, kỹ năng, nhận thức về công nghệ AI của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, người dân mới ở ngưỡng “bình dân học vụ số”, việc nhận diện tin giả đã khó, triển khai các giải pháp đấu tranh, loại bỏ nó trong đời sống xã hội còn khó khăn hơn. Ma trận tin giả từ ứng dụng AI đều là ảo, nhưng hậu quả của nó là thật, có những cái thật phũ phàng, thật “chết người” mà chúng ta đang hằng ngày, hằng giờ phải đối mặt trong thế giới ảo.

Với tinh thần lấy “xây” để “chống”, cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước cần nắm bắt, nghiên cứu, đối chiếu thông tin từ các tờ báo chính thống, tránh rơi vào bẫy tin giả. Đó cũng là cơ sở để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, sử dụng thông tin, tư liệu chính thống để tham gia đấu tranh, phản bác những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng..

Gặp Tổng Bí thư, Tổng thống Hungary chia sẻ kỷ niệm sâu đậm thời sinh viên

 

 Tổng thống Hungary chia sẻ những kỷ niệm sâu đậm về thời sinh viên với những người bạn Việt Nam và ký ức khi dõi theo cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam.

TUYỆT THỰC CHỜ “BẢ DÂN CHỦ”!

         Có vẻ như thông tin kẻ cuồng dân chủ phương Tây Trịnh Bá Phương cố tình vi phạm pháp luật, bị khởi tố với tội danh “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước” quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự khi đang thụ án trong tù đã ít nhiều làm những kẻ tội phạm mang danh đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền đang thụ án thấy... ghen tỵ, bất an, lo lắng cho thân phận con rối, tay sai khi không còn giá trị lợi dụng, bị các tổ chức tiếp tay, cung cấp tài chính bỏ rơi.
Không đủ can đảm gây rối, chống phá để tiếp tục lĩnh án, chúng đành mặt trơ trán bóng diễn lại trò hề “tuyệt thực” hòng kêu gọi sự chú ý, đánh động đến các tổ chức phản động, mong chờ được tiếp thêm “bả dân chủ” qua những lời tâng bốc, các khoản tài trợ, hứa hẹn cho định cư tại xứ sở thiên đường huyễn hoặc phía trời Tây...
Tổ chức khủng bố Việt Tân, Chân Trời Mới Media mới đây đã đăng tải liên tiếp trên fanpage các bài viết có nội dung thông tin: “Tù nhân lương tâm Lê Đình Lượng tuyệt thực để phản đối sự bất công của trại giam”; “Lời kêu cứu khẩn cấp với tù nhân lương tâm Lê Đình Lượng”; “Làn sóng tuyệt thực trong tù của các tù nhân lương tâm tại Việt Nam, phản đối chế độ giam giữ khắc nghiệt và bất công”... Theo lời chúng: “Tình trạng các tù nhân lương tâm tuyệt thực trong nhà tù tại Việt Nam không còn là hiện tượng cá biệt mà đang trở thành một làn sóng phản kháng âm thầm nhưng quyết liệt. Mới đây, ông Lê Đình Hiếu con trai tù nhân lương tâm Lê Đình Lượng đã lên tiếng trên mạng xã hội cho biết cha mình đã bước sang ngày tuyệt thực thứ 5 tại trại giam Nam Hà để phản đối sự đối xử bất công và điều kiện giam giữ hà khắc...”; “Cùng thời điểm, bà Đỗ Lê Na, vợ của nhà báo độc lập và tù nhân lương tâm Lê Trọng Hùng thông báo rằng chồng bà đã bắt đầu tuyệt thực kéo dài 30 ngày từ ngày 15 Tháng Năm 2025.
Ông Hùng tuyệt thực nhằm yêu cầu chính quyền Việt Nam phải tổ chức lấy ý kiến người dân một cách thực chất khi sửa đổi Hiến pháp...”; “Không chỉ hai trường hợp trên, nhiều tù nhân lương tâm khác như Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đình Bách, Bùi Văn Thuận... cũng đã tuyệt thực trong thời gian qua để phản đối điều kiện sống vô nhân đạo trong tù. Trước khi được trả tự do vào Tháng Chín năm 2024, tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức từng có những đợt tuyệt thực kéo dài, có lần tới 4 tháng.”...
Thoạt nghe, người chưa hiểu hết về bản chất điêu ngoa, xảo quyệt, ăn không nói có của đám dân chủ, nhân quyền giả hiệu này sẽ không khỏi băn khoăn trước việc sao chúng có thể “tuyệt thực”, nghĩa là nhịn ăn trong thời gian dài đến như thế. Tuy nhiên, với những đối tượng có vấn đề về tư duy, nhận thức thì khái niệm đơn thuần cũng không giống như những người bình thường. “Tuyệt thực” với chúng là... nhịn ăn đồ của trại giam, còn đồ tiếp tế của gia đình, hay mua ở căng tin thì vẫn chén bình thường, thậm chí còn nhiều hơn.
Từ năm 2013, khi đang thụ án trong trại giam số 5 (thuộc Bộ Công an, huyện Yên Định, Thanh Hóa), Cù Huy Hà Vũ - kẻ bị tuyên án do hành vi tuyên truyền chống Nhà nước, đã nhiều lần tuyên bố tuyệt thực để phản đối cách đối xử của cán bộ trại giam không giải quyết đơn tố cáo của ông ta. Thế nhưng dẫu “kiên quyết tuyệt thực” cả tháng trời, người đàn ông nặng gần một tạ này vẫn béo tốt, có phần còn khỏe mạnh hơn trước.
Tiếp nối “truyền thống” nực cười này, Nguyễn Văn Hải (Điếu cày), Trần Duy Thức, Trịnh Bá Tư, Bùi Văn Thuận... cũng liên tiếp tuyên bố “tuyệt thực”, có lần lên đến cả tháng. Tất nhiên, lần nào chúng cũng báo cho gia đình lu loa trên mạng xã hội để “đánh tiếng” với các tổ chức phản động ở hải ngoại và chỉ dừng tuyệt thực khi thấy các tổ chức này đã lên tiếng “ghi nhận” trên các trang fanpage. Tất nhiên, vì chỉ “tuyệt thực” đồ ăn do trại giam cung cấp mà vẫn ăn uống, tẩm bổ đầy đủ nên chúng không những giảm sút, suy kiệt sức khỏe mà còn béo khỏe hơn. Thế nên sau lần đầu bất ngờ, cứ nghe đến cánh “tù nhân lương tâm” tuyên bố “tuyệt thực” là cộng đồng lại phì cười ngao ngán trước trò hề lố bịch của những kẻ nói dối không biết ngượng mồm, không còn biết đến tự trọng, liêm sỉ.
Trên thực tế, “phản đối sự đối xử bất công và điều kiện giam giữ hà khắc” hay phi lý hơn là “yêu cầu chính quyền Việt Nam phải tổ chức lấy ý kiến người dân một cách thực chất khi sửa đổi Hiến pháp” thực chất chỉ là cái cớ cho những đối tượng phản quốc hại dân đang đền tội trong tù diễn trò nhằm lôi kéo sự chú ý của các thế lực chống phá ngoại bang. Dẫu không phải nơi nghỉ dưỡng và điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực tôn trọng, bảo vệ quyền con người, bao gồm cả việc bảo đảm các quyền con người của phạm nhân trong thi hành án hình sự.
Điều kiện sinh hoạt, ăn ở, học tập, cải tạo của các phạm nhân ngày càng được cải thiện, nâng cao. Thực tế này đã được nhiều tổ chức, phóng viên quốc tế chứng kiến trực tiếp ghi nhận, đánh giá cao. Thế nên hoàn toàn không có chuyện tù nhân nhịn ăn để đấu tranh phản đối chế độ, điều kiện giam giữ mà chỉ có những kẻ mạo danh đấu tranh dân chủ, nhân quyền diễn trò hể “tuyệt thực” để câu kéo, thỉnh cầu miếng “bả dân chủ” từ các tổ chức chống lưng chuyên nghề chống phá phía ngoại bang./.


Khuyết danh ST.

Cuộc chiến trên không gian mạng, khi đồ giả được làm như thật

 Khi đồ giả được làm như thật, các phần mềm AI đang tạo ra tính hai mặt trên không gian mạng và đời sống xã hội. Bên cạnh những tiện ích tuyệt vời do AI mang lại, điển hình là ứng dụng AI vào giải quyết công việc, cung cấp các sản phẩm giải trí cho môi trường văn hóa-nghệ thuật... AI đã và đang trở thành công cụ đắc lực bị các thế lực thù địch và tội phạm công nghệ cao lợi dụng để thực hiện các hành vi bất minh, chống phá đất nước. Có thể nói, chưa bao giờ tội phạm công nghệ cao hoành hành, gây thiệt hại lớn về tài sản của tổ chức, cá nhân; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở nước ta như giai đoạn hiện nay.

Theo số liệu được Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) công bố, ở Việt Nam hiện nay, cứ khoảng 220 người dùng điện thoại thông minh thì có một người là nạn nhân của lừa đảo trực tuyến. Thiệt hại của tổ chức, cá nhân do tội phạm công nghệ cao lừa đảo trong năm 2024 ước tính lên đến 18.900 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, bởi thực tế còn rất nhiều nạn nhân bị lừa đảo nhưng không trình báo, cơ quan chức năng không nắm được. Một thực trạng rất đáng lo ngại là đại đa số nạn nhân bị lừa đảo trên không gian mạng đều “tiền mất tật mang”. Mặc dù nạn nhân trình báo cơ quan công an nhưng tỷ lệ điều tra, lấy lại tài sản bị lừa đảo cho nạn nhân là vô cùng thấp. Theo một số chuyên gia NCA, tội phạm công nghệ cao đã ứng dụng các thuật toán AI để dụ dỗ, thao túng tâm lý nạn nhân một cách rất tinh vi, khiến không chỉ những người nhẹ dạ cả tin mà ngay cả nhiều người trong giới trí thức, cán bộ, công chức cũng trở thành nạn nhân.

“Báo cáo rủi ro toàn cầu 2024” của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã xếp thông tin gây hiểu lầm và tin giả do AI tạo ra là mối đe dọa lớn thứ hai trong số 20 rủi ro toàn cầu lớn nhất năm 2024, xếp sau rủi ro về thời tiết cực đoan. Điều này cho thấy, ma trận tin giả từ AI là thách thức mang tính toàn cầu.

Dẫn vài số liệu của cơ quan chức năng để thấy rõ hơn mức độ nguy hại, nguy hiểm từ mặt trái của AI, đồng thời có cái nhìn tham chiếu trên mặt trận tư tưởng chính trị, văn hóa. Thiệt hại về tiền bạc có thể định lượng bằng số liệu cụ thể và mất tiền có thể kiếm lại được bằng nhiều cách, nhưng sự nguy hại, nguy hiểm khi các thế lực thù địch ứng dụng các phần mềm AI để tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng bằng “diễn biến hòa bình” thì rất khó để lượng hóa, đong đếm. Những ngày gần đây, thông tin do Trung tâm An ninh mạng quốc gia, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an cung cấp khiến cộng đồng báo chí cả nước quan tâm, lo ngại. Theo đó, A05 đã phát hiện 3 cơ quan báo chí lớn của Việt Nam bị tấn công mạng. Tội phạm công nghệ cao đã tấn công vào hệ thống dữ liệu, đánh cắp thông tin. A05 cảnh báo, nếu những sự việc này không được phát hiện, xử lý kịp thời, hậu quả sẽ khôn lường...

Việc ứng dụng các phần mềm AI để thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động không chỉ là tạo ra các sản phẩm “lấy giả làm thật” để lừa bịp, dẫn dụ, kích động dư luận, mà chúng còn nhắm đến tấn công mạng các cơ quan quản lý nhà nước, các tờ báo lớn. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải đề cao cảnh giác, chủ động các giải pháp ứng phó kịp thời, cả trên phương diện kỹ thuật, công nghệ và mặt trận đấu tranh, định hướng tư tưởng, dư luận trên không gian mạng. Phải coi đây là cuộc chiến đấu thực sự và cam go để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng