Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỆ THỐNG BẰNG CHỨNG TÊN GỌI “VIỆT NAM” TRƯỚC NĂM 1804!

     Tổng cộng 8 nguồn mạnh, trong đó có 4 văn bia, 1 bài thơ vua Lê Thánh Tông, 1 tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhiều văn chương hành chính.

I. NĂM 1470 - BÀI THƠ CỦA LÊ THÁNH TÔNG: BẰNG CHỨNG SỚM NHẤT

1. Hải Vân hải môn lữ thứ - Lê Thánh Tông (1470)

Nguồn: Bài thơ vua Lê Thánh Tông sáng tác khi thân chinh Chiêm Thành.
Tư liệu: Hải Vân hải môn lữ thứ 海雲海門旅次
Câu quan trọng:
海雲横界越南天
Hải Vân hoành giới Việt Nam thiên
→“Núi Hải Vân vạch ngang ranh giới trời Việt Nam.”
Ý nghĩa:
- Xuất hiện sớm nhất (1470).
- Do vua Lê Thánh Tông - người lập ra Hồng Đức - viết.
- Cách dùng xác định Việt Nam là tên quốc gia chứ không phải tên vùng.
Đây là bằng chứng “Kim chỉ nam”:
→ Danh xưng Việt Nam có trước triều Nguyễn hơn 330 năm.

II. THẾ KỶ 16 - DƯỚI TRIỀU MẠC

2. Bia Trùng tu Bảo Lâm tự bi ký - 1559 (triều Mạc)
Câu quan trọng:
越南大名藍不知其幾
“Danh lam nước Việt Nam không biết bao nhiêu mà kể.”
Ý nghĩa:
- Dùng bốn chữ Việt Nam đại danh lam.
 Văn bia do quan Đông Các hiệu thư soạn.
- Khẳng định ý thức quốc danh giữa thế kỷ 16.

3. Bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - khoảng 1577

Tác phẩm: Quy lão ký Lại bộ Thượng thư Tô Khê Bá
Câu quan trọng:
前後相將照越南
“Trước hay sau cũng đều chiếu sáng khắp Việt Nam.”
Ý nghĩa:
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) dùng Việt Nam như tên nước.
- Xuất hiện trong văn chương trí thức, không phải văn tế hay địa danh.

4. Bia Cam Lộ tự bi - 1590
Dựng đời Mạc Mậu Hợp.
Đoạn văn:
…向陽花草易為春, 直越南之第一
“…Thật là cảnh đệ nhất của nước Việt Nam.”

Ý nghĩa:
- Dùng trong văn bia ca ngợi danh lam.
- Cách dùng như quốc danh chính thức, không mơ hồ.

III. THỜI LÊ TRUNG HƯNG - THẾ KỶ 17

5. Bia Trùng tu Đại Bi tự - 1639

Do Tiến sĩ Ngô Nhân Triệt soạn.
Câu:
真越南, 第一也
“Thật là bậc nhất Việt Nam.”
Ý nghĩa:
- Lại một văn bia dùng Việt Nam như tên nước.
- Thuộc giới khoa bảng, người soạn là Tiến sĩ.

6. Bia Vân La tự bi - 1655

Do Tiến sĩ Dương Cảo biên soạn.
Câu quan trọng:
越南之貴, 京北承宣
“Ấy quý Việt Nam, thừa tuyên Kinh Bắc.”

Ý nghĩa:
- Kết hợp địa danh Kinh Bắc + Việt Nam → hoàn toàn theo cách đặt tên quốc gia.
- Khẳng định ý niệm Việt Nam = tên nước.

7. Bia Thể tồn bi ký (Thủy Môn đình bi ký) - 1670

Niên hiệu Cảnh Trị thứ 8, Lê Huyền Tông.

Câu đầu bài minh:
越南喉舌. 鎮北隘關.
“Yết hầu Việt Nam. Ải quan trấn Bắc.”

Ý nghĩa:
- Văn bia tại cửa ải biên giới, chức năng quốc phòng.
- Dùng Việt Nam trong văn bản mang tính hành chính - quân sự, chứ không phải thơ văn.
- Giá trị sử liệu đứng hàng đầu.

Đây là bằng chứng buộc phải dùng trong mọi nghiên cứu về quốc hiệu.

IV. THẾ KỶ 18 

8. Bài “Việt Nam vịnh” của Ngô Thì Nhậm (TK 18)

Dùng “越南詠” - bài thơ về Việt Nam.

 Ý nghĩa:
- Trí thức Bắc Hà dùng Việt Nam như tên quốc gia.
- Xu hướng ổn định trong văn chương và thư tịch.

V. Ý NGHĨA HỌC THUẬT – CHÍNH TRỊ

Việt Nam không phải tên mới năm 1804.

Tên gọi này đã xuất hiện liên tục hơn 330 năm trước triều Nguyễn.

Có mặt trong:
- Thơ vua
- Thơ trí thức
- Văn bia
- Văn bản hành chính

Không có bằng chứng nào cho thấy Gia Long “đặt” ra tên Việt Nam. Tấu chương 1804 chỉ là: 
- Gia Long xin Nam Việt
- Thanh triều đổi thành Việt Nam (đảo thứ tự)
- Một tên đã tồn tại hàng trăm năm.

VII. KẾT LUẬN 

Danh xưng Việt Nam là tài sản lịch sử của người Việt, xuất hiện từ thời Lê Thánh Tông (1470), được sử dụng suốt thời Mạc – Lê – Lê Trung Hưng, và được triều Nguyễn chính thức hóa lại vào năm 1804, chứ không hề được “khai sinh” bởi vua Gia Long./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỰ HÀO 95 NĂM PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC!

     Cách đây 95 năm, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Ðảng Cộng sản Đông Dương đã ban hành “Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh” - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Cùng với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam nay là Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam không ngừng được củng cố và mở rộng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua mỗi thời kỳ và có những cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, trở thành một trong những nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong quá trình dựng nước và giữ nước. Trong thời đại Hồ Chí Minh, từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng, truyền thống ấy càng được phát huy cao độ.

Sự hình thành, phát triển, cùng những đóng góp to lớn của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam trong suốt 95 năm qua đã góp phần khẳng định và tô thắm thêm truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam và quan điểm, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc sáng suốt, đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Từ khi Đảng ra đời đã xác định nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc. Vì vậy, sau khi thành lập Đảng vào ngày 3-2-1930, hơn 9 tháng sau, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam.

Ngay từ khi thành lập, Đảng đã thấy rằng, ở một nước thuộc địa với 90% người dân không biết chữ, cuộc sống muôn vàn khó khăn, nếu muốn có một sức mạnh để thắng chế độ thực dân áp bức, không cách nào khác là tạo một sức mạnh của tất cả người dân để làm cách mạng. Khi đứng trước thách thức lớn, sức mạnh dân tộc là sức mạnh của hàng chục triệu người liên kết lại vì mục tiêu giải phóng dân tộc.

Trong từng giai đoạn lịch sử, bối cảnh của quốc tế có thay đổi, mục tiêu được điều chỉnh và hình thức, tên gọi của Mặt trận cũng có sự thay đổi. Giai đoạn 1936 - 1939, khi phong trào dân chủ phát triển, Mặt trận có các tên gọi: Mặt trận Thống nhất nhân dân Phản đế, Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, Nhật Bản tham chiến, cần có một phương thức tập hợp hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, năm 1941 Mặt trận Việt Minh ra đời nhằm tập hợp lực lượng tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc.

Chính sự chuyển hướng kịp thời, chuẩn bị lực lượng với sự tham gia của nông dân, sinh viên, học sinh, trí thức, những người trong bộ máy chính quyền cũ, các nhà tư sản đã làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta lại tiếp tục kháng chiến chống Pháp. Năm 1951, sự ra đời của Mặt trận Liên Việt đã góp phần tập trung lực lượng để đi đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ, có 3 hình thức Mặt trận với tên gọi khác nhau, nhưng đều hướng tới mục đích cuối cùng là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Với phương thức đa dạng, tập hợp các tầng lớp nhân dân, Việt Nam đã đã giành thắng lợi, thống nhất đất nước năm 1975.

Năm 1977, tại TP. Hồ Chí Minh, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyết định hợp nhất 3 tổ chức: MTTQ Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, lấy tên chung là MTTQ Việt Nam.

Trải qua 95 năm hình thành và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, MTTQ Việt Nam không ngừng lớn mạnh, trở thành một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Di sản lớn nhất để lại qua gần một thế kỷ là bài học vô giá về “lòng dân”- sự đồng thuận, tin tưởng và chung sức vì mục tiêu chung của quốc gia. Chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” đã được chứng thực qua 95 năm lịch sử vẫn vẹn nguyên giá trị như một lời hiệu triệu và mãi mãi là ngọn đuốc soi đường trên hành trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam./.



Yêu nước ST.

BỨC ẢNH QUÝ HIẾM GHI LẠI BÁC HỒ CÙNG CHIẾN SĨ VIỆT MINH VÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH MỸ NĂM 1945!

     Năm 1945 - khi đất nước còn chìm trong đói khổ, hơn hai triệu người Việt Nam chết đói, thì ở chiến khu Tân Trào, một thanh niên 25 tuổi người Mỹ tên Henry Prunier - sĩ quan thuộc OSS, cơ quan tiền thân của CIA - đã nhảy dù xuống vùng căn cứ kháng chiến.

Tại đây, ông đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cán bộ Việt Minh - những con người giản dị, kiên định, đang chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vĩ đại.

Những bức ảnh Henry Prunier chụp lại - Bác Hồ trong bộ quần áo nâu sờn, lưng còng cày ruộng, nụ cười hiền giữa khói bếp, đôi mắt sáng chứa trọn niềm tin vào tương lai - nay đã trở thành những tư liệu vô giá.

Các quân nhân Mỹ khi ấy không giấu nổi sự ngạc nhiên khi thấy Hồ Chí Minh nói tiếng Anh lưu loát, còn dịch giúp họ cả tiếng Pháp, tiếng Trung.

Một người lãnh tụ giản dị, mà khiến ai gặp cũng kính nể, ngưỡng phục.

Sau này, dù chiến tranh nổ ra, dù hai đất nước trở thành đối thủ, nhiều cựu binh Mỹ vẫn nhắc về Hồ Chí Minh với sự tôn trọng chân thành:
“Ông ấy sống như nhân dân, giản dị như đất, mà vĩ đại như trời.”
“Mong manh áo vải, hồn buôn chợ hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
Bác sống như trời đất của ta, yêu từng ngọn lúa mỗi cành hoa,
Tự do cho mỗi đời nô lệ, sữa để em thơ, lụa tặng già…”

Những bức ảnh ấy - hơn cả hình ảnh - là chứng tích của một thời mở đầu lịch sử, khi cả dân tộc bước ra từ bóng tối, và một con người vĩ đại đã thắp sáng niềm tin cho Việt Nam./.
Yêu nước ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: NHÂN TÀI ĐẤT VIỆT - TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐĨNH CHI

     “Chính là sen ở giếng vàng đầu non”!

Vào thế kỷ thứ XIII tại làng Lũng Động, huyện Chí Linh (Hải Dương) có đôi vợ chồng ngoài bốn mươi xuân, nhưng vẫn chưa sinh con trai.

Họ đi cầu tự tại đền Chử Đồng Tử ở Hưng Yên. Tối hôm đó, người vợ nằm ngủ mơ thấy một vật sáng quắc từ trên trời cao rơi xuống giữa nhà, rồi hóa thành một con hầu (khỉ) chạy vào trong lòng. Giật mình tỉnh dậy, người vợ đem chuyện này kể cho chồng, nghe xong, ông nói:
- Cứ như mộng này thì tất có tin mừng, có lẽ sẽ được quý tử.
Không rõ có phải vậy không mà năm 1272, người đàn bà đó sinh ra đứa con trai có tướng mạo xấu xí, lại sinh nhằm giờ, ngày, tháng thuộc Thân nên mọi người càng tin là hầu tinh giáng thế. Đó là những truyền thuyết dân gian truyền tụng về Mạc Đĩnh Chi, Trạng nguyên đời Trần. Nhưng có điều chắc chắn, Mạc Đĩnh Chi thuộc dòng dõi Mạc Hiển Tích - Trạng nguyên đời Lý. Ngay từ nhỏ, Mạc Đĩnh Chi đã bộc lộ tư chất thông minh hơn người. Cha ông mất khi ông mới lên 5 tuổi. Bấy giờ, có hoàng tử nhà Trần là Chiêu Quốc Công mở trường dạy học, ông được mẹ dẫn đến xin nhập học. Do tướng mạo xấu xí nên Mạc Đĩnh Chi thường bị bạn bè chê bai, trêu chọc, chỉ riêng thầy mới biết ông là người phi thường hơn thiên hạ. Thật vậy, ông học một biết mười, học đâu nhớ đấy, nổi tiếng là thần đồng. Do đó Chiêu Quốc Công đem lòng yêu mến, muốn nuôi ở luôn trong nhà cho ăn học để làm bạn đọc sách với các công tử. Nhưng Mạc Đĩnh Chi vốn có hiếu, học xong là ông xin phép thầy để về nhà giúp đỡ cho mẹ, chứ không chịu ở luôn tại trường.

“Giống quý ấy ta đây có sẵn Tay áo này ta chứa đã lâu”!
 Nhà nghèo, mẹ thường đi hái củi bán để lấy tiền nuôi Mạc Đĩnh Chi ăn học. Do đó, ông không yên lòng khi mẹ phải vất vả vì mình và nét buồn thường hiện trên mặt. Chiêu Quốc Công lấy làm lạ một hôm gặng hỏi thì ông thành thật thưa hết mọi chuyện với thầy. Cảm động vì cậu học trò nhỏ có hiếu và học giỏi, Chiêu Quốc Công cho đón cả mẹ con Mạc Đĩnh Chi về nuôi. Ngược lại từ khi ở nhà thầy, Mạc Đĩnh Chi cũng hết lòng thờ thầy, sớm khuya hầu hạ, chẳng khác gì con đối với cha.

Năm 1304, ông thi đậu Trạng nguyên, nhưng vua Trần Anh Tôn thấy tướng mạo xấu xí nên không hài lòng và cũng không muốn cho đậu! Biết ý của vua, ông bèn dâng lên bài Ngọc tỉnh liên phú để tự ví mình như sen trong giếng ngọc:

“Phải đâu đào, lý thô màu
Phải đâu mai, trúc dãi dầu tuyết sương
Cũng không phải tăng phường câu kỷ
Cũng không là Lạc Thủy mẫu đan
Cũng không là cúc, là lan
Chính là sen ở giếng vàng đầu non”.

Bài phú với từng dòng như châu như ngọc, khiến vua xem xong phải ngợi khen không tiếc lời và cho ông đậu Trạng nguyên. Khi vua hỏi đến chuyện trị nước, ông đều đối đáp trôi chảy và được vua ban làm Hàn lâm Đại học sĩ, ít lâu sau lại thăng làm Đại liêu bang - đứng đầu bá quan.

Ông làm quan dưới ba đời vua Anh Tông, Minh Tông và Hiến Tông được người đời khen là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. 

Có lần để thử Mạc Đĩnh Chi, vua Minh Tông nửa đêm sai người bí mật đem đặt mười quan tiền trước cửa nhà ông. Tờ mờ sáng hôm sau, sau khi thức dậy ngồi uống trà và đọc sách, ông rảo bước ra sân thì thấy những đồng tiền đó. Ông hỏi láng giềng chung quanh có ai đánh rơi thì đến nhận lại. Không ai nhận cả.

Khi vào chầu, ông đem số tiền nhặt được tâu với nhà vua và nộp vào công quỹ. Nhà vua lắc đầu:
- Nếu không có ai nhận, mà tiền lại ngay trước cửa nhà khanh thì đó là tiền của khanh. Vậy việc gì phải nộp vào công quỹ?
Ông khẳng khái:
- Tâu bệ hạ, nếu thần đổ công sức thì đó mới là tiền của thần. Bỗng dưng có được số tiền lớn này, không phải do lao động cật lực mà có thì thần không dám nhận.

Đức tính thanh liêm ấy của ông được người đời khen ngợi mãi. Dù làm quan cao, chức trọng nhưng ông vẫn sống bình dị. Không chỉ là vị quan thanh liêm, Mạc Đĩnh Chi còn nổi tiếng về đối đáp ngoại giao giỏi. Khoảng năm 1314, ông được cử làm Chánh sứ đi sang Trung Quốc. Khi khởi hành đã có công văn thông báo, hẹn ngày để quân Tàu mở cửa ải nghinh tiếp. Nhưng vì thời tiết xấu, phái đoàn ta không đến đúng hẹn, vài ngày sau mới đến nơi thì quân Tàu đóng cửa ải không cho vào. Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi phải khẩn cầu mãi, cuối cùng quan coi cửa ải ra điều kiện: nếu đối được một câu đối thì sẽ mở cửa cho qua, bằng không thì... quay lui! Mạc Đĩnh Chi chấp thuận. Quan coi cửa ải đọc:
- Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan; 
(Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan).
Oái oăm của câu đối này là chỉ 11 chữ mà có đến 4 chữ “quan” lại nói đúng hoàn cảnh lúc bấy giờ. Không ngờ, khi họ vừa dứt lời thì Mạc Đĩnh Chi đối lại ngay:
- Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối. 
(Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước).
Câu đối lại cũng đủ 4 chữ “đối” và cũng phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ khiến quan Tàu phải cúi đầu khâm phục cho tài mẫn tiệp, đối đáp khôn khéo của quan Trạng nước ta. Cửa ải liền được mở rộng cho đoàn sứ bộ nước ta đi qua. Trong thời gian ở kinh đô Trung Quốc, có lần ông đến phủ Tể tướng nhà Nguyên, thấy trên tường có bức trướng thêu con chim sẻ đậu trên cành trúc, nghệ thuật thêu đạt đến mức hoàn hảo nhìn như thật. Mạc Đĩnh Chi cũng tưởng nhầm nên đưa tay lên định bắt khiến mọi người cười òa chế giễu. Không một chút nao núng, ông liền cầm bức trướng ấy ném xuống đất, nói:
- Tôi nghe người ta thường vẽ chim sẻ đậu cành mai, chứ không thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc. Hỡi ôi! Chim sẻ là tiểu nhân, cành trúc là quân tử, tại sao lại cho tiểu nhân ở trên quân tử? Tôi sợ đạo tiểu nhân ngày một thịnh, đạo quân tử ngày một suy nên vì thánh triều mà trừ bỏ điều xấu ấy đi!

Tể tướng nhà Nguyên biết ông chữa thẹn, nhưng cũng phục tài biện bác rất chí lý ấy nên không nỡ giận. Đến khi vào chầu Nguyên Thế Tổ, nhân sứ thần các nước dâng cái quạt, vua Nguyên cho các sứ thi tài với nhau: đề tài là “Phiến minh” để vịnh cái quạt. Một tiếng trống gióng giả vang lên, ông chưa kịp suy nghĩ thì đã thấy sứ thần Cao Ly cắm cúi viết (dịch ý):
- Khi nóng bức thì quạt đắc dụng như Y Doãn, Chu Công, Khi mùa đông giá rét thì quạt xếp xó như Bá Di, Thúc Tề.

Mạc Đĩnh Chi nhanh trí triển khai tứ thơ đó thành bài thơ tuyệt hay (dịch ý):
- Lúc chảy vàng nung đá, trời đất nóng như lò lửa thì lúc ấy chiếc quạt như Y Chu được đắc dụng, Khi gió rét lạnh lẽo, mưa tuyết ngập đường thì quạt nào khác gì Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thủ Dương mà không ai biết đến. Than ôi! Ai dùng thì làm, không dùng thì để đó, Chỉ có ta với ngươi là vậy.

Với bài thơ này, vua Nguyên phải khâm phục mà phong cho ông làm “Lưỡng quốc Trạng nguyên” (Trạng nguyên của hai nước). Tiếng tăm của Mạc Đĩnh Chi càng lừng lẫy nhưng cũng khiến cho nhiều quan Tàu tỏ ý ghen ghét. Gặp lúc nàng công chúa yêu của vua qua đời. Vua Nguyên vời ông vào đọc văn tế. Khi các quan đưa cho ông tờ văn tế, điều hiểm hóc khó hiểu là trên đó chỉ có bốn chữ “nhất”. 
Biết người ta thử tài mình, ông ứng khẩu đọc ngay (dịch):
Trời xanh một đám mây Lò hồng một giọt tuyết Vườn thượng uyển một cành hoa Cung quảng hàn một vầng nguyệt Than ôi! Mây tán! Tuyết tiêu! 
Hoa tàn! Trăng khuyết!
Ai nghe cũng phải khen là hay. Bốn câu trên câu nào cũng có chữ “nhất” ví dung nhan người đã mất, hai câu sau tỏ ý khóc than thương tiếc!

Tương truyền trong thời gian ở Trung Quốc, nhiều quan Tàu đã thử tài với ông. Có lần quan Tàu ra câu:
- Vy, ly, võng, lượng, tứ tiểu quỷ; (Quỷ Vy, quỷ Ly, quỷ Võng, quỷ Lượng là bốn thằng tiểu quỷ);
Vì bốn chữ này đều có một chữ quỷ đứng bên, ngụ ý chê ông xấu như quỷ. Không ngờ, Trạng đối ngay:
- Cầm, sắt, tì, bà bát đại vương. 
(Đàn cầm, đàn sắt, đàn tì, đàn Bà là tám vị đại vương).
Bốn chữ này mỗi chữ đều có hai chữ vương, ông ngụ ý mình chẳng hèn kém, cũng bậc đại vương. Nghe câu đối của ông, quan Tàu phải chịu là ứng đối giỏi. Để chê bai giọng nói của người nước ta, quan Tàu lại ra câu đối:
- Quích tập chi đầu đàm Lỗ Luận: tri tri vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri; (Chim đậu đầu cành đọc sách Lỗ Luận, biết thì bảo là biết, chẳng biết bảo chẳng biết, ấy là biết đó);
Câu này chơi âm “tri tri” để chỉ tiếng nói của ta ríu rít như chim. 
Mạc Đĩnh Chi cũng không phải tay vừa, ông đối ngay:
- Oa minh trì thượng độc Châu Thư: lạc dữ độc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc. 
(Chẫu chuộc trên ao đọc sách Châu Thư: cùng ít người vui nhạc, cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui hơn).
Ở đây, ông Trạng của ta đã dùng âm “lạc nhạc” để nhạo lại người Tàu nói ồm ộp như chẫu chuộc! Tài trí của ông khiến quan Tàu nể phục, phải từ bỏ ý định thử tài. Có lần, ông cưỡi lừa đi ngắm cảnh trong kinh thành. Đang nghênh ngang đi và ngắm nhìn cảnh vật, ngờ đâu chạm phải quan Tàu cưỡi ngựa đi phía trước. Người này bực mình quay lại quát một câu láo xược:
- Xúc ngã kị mã, Đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã? 
(Chạm ngựa ta đi là người rợ phương Đông hay là người rợ phương Tây?) Với câu hỏi xấc xược, lấy ở sách Mạnh Tử hai chữ “Đông di” để chỉ người mọi rợ, Mạc Đĩnh Chi bực mình, đáp lại thẳng thắn:
- Át dư thừa lư, Nam Phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư? (Ngăn lừa ta cưỡi, hỏi người phương Nam mạnh hay người phương Bắc mạnh?) Quan Tàu tái mặt bởi Mạc Đĩnh Chi đã lấy hai chữ “Nam phương” trong sách Trung Dung - lời lẽ ngang tàng ý bảo chưa chắc người phương Bắc mạnh hơn phương Nam! Thái độ của ông Trạng nước ta thật rạch ròi và cứng cỏi.

Trong đời mình, Mạc Đĩnh Chi hai lần đi sứ, nhưng lần nào ông cũng đối đáp thông minh, lịch thiệp khiến người phương Bắc phải kính nể. Có lần vua Nguyên muốn thăm dò khí tiết của ông bèn ra câu đối:
- Nhật hỏa, vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ; 
(Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng).
Vua Nguyên tự kiêu ví mình là mặt trời, coi nước ta như vầng trăng, ban ngày nhất định phải bị mặt trời thôn tính! Không một chút nao núng, ông đối lại chan chát từng câu từng chữ:
- Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô. 
(Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời).

Vua Nguyên ra câu đối đã giỏi, nhưng người đối lại còn giỏi hơn bội phần. Mỗi câu đều ăn miếng trả miếng cực kỳ chính xác khiến vua Nguyên rất đau, nhưng không có cách gì bắt bẻ được! Sau khi đi sứ về, Mạc Đĩnh Chi được thăng chức Tả bộc xạ (tương đương với Thượng thư), thời gian này (1313) ông đã chỉ đạo việc xây dựng lại quy mô chùa Dâu ở Thuận Thành. Vua Trần Anh Tôn tôn trọng ông thường gọi là Tiết Phu, chứ không gọi tên. Dù ngất ngưởng trên danh vọng, nhưng ông vẫn liêm khiết, ăn mặc thường giản dị. Có lần vua ái ngại hỏi:
- Trẫm nghe nhà Trạng túng, nếu có thiếu gì thì cứ nói, trẫm sẽ tư cấp thêm.
Mạc Đĩnh Chi cúi đầu tâu:
- Hạ thần trên nhờ ơn vua dưới nhờ lộc nước, vợ con không phải đói rét là may, đâu dám cầu vinh thân phì gia để thêm mang tội.

Xin bệ hạ đừng thương hạ thần nghèo, chỉ xin thương lấy muôn dân, giữ nghiệp tổ tông, sửa sang chính trị, khiến lũ hạ thần được làm hết chức trách bày tôi, đó là ước nguyện của hạ thần. Ước nguyện ấy thực hiện được thì hạ thần dẫu áo vải cơm rau cũng là đủ. 
Nếu ước nguyện ấy không được thực hiện thì hạ thần dẫu mỹ vị cao lương, áo quần gấm vóc, ngựa xe trăm cỗ, nô bộc ngàn người thì cũng là thiếu. Cúi xin bệ hạ xét cho!

Trong đời thường, Mạc Đĩnh Chi đã sống đúng như thế. Tương truyền ông có viết Giáo tử phú (bài phú dạy con): “Miễn được an nhàn. Trọng pháp kính thầy. Thí bần tác phúc. Ăn cơm phải bữa. Ai đói thì cho. Bớt miệng xui lòng. Mỗi người một chút. Kim cương thường đọc. Bố thí làm duyên...” mà nay đọc lại vẫn còn thấy đúng. 

Năm 1339, Mạc Đĩnh Chi dâng sớ xin về hưu trí. Vua Trần Hiến Tôn xem ông là quốc lão nguyên huân lại là thầy dạy học nên năn nỉ ông ở lại, nhưng ông vẫn cố xin. Bất đắc dĩ, vua phải chấp thuận. Lại sai người đưa về đến tận làng và gia tặng Hầu tước. Về quê, Mạc Đĩnh Chi dựng am ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh) ngày ngày vui thú điền viên, dạo chơi danh lam thắng cảnh, lấy chữ nhàn làm vui. Trong đời mình, Mạc Đĩnh Chi làm nhiều thơ nhưng nay hầu hết đều thất lạc. Ngoài Ngọc tỉnh liên phú, nay chỉ còn lại bốn bài thơ truyền lại cho đời sau. Qua những thi phẩm này, chúng ta thấy được khí tiết cao đẹp của ông. Khi nói Đào Tiềm không vì “đấu gạo phải khom lưng” thì chính ông cũng bộc lộ tư tưởng:

Nhàn khoáng ấy tính trời So đâu kẻ đua đòi Gẫy lưng vì đấu gạo Treo ấn bỏ quan thôi Đạm bạc, cúc một giậu Lưa thưa, liễu dăm chồi Nghìn năm sau mờ mịt Danh tiếng cảm đến tôi (Huệ Chi dịch) Mạc Đĩnh Chi mất năm 1346 dưới đời vua Trần Dụ Tôn. Vua thương tiếc sai các quan về dụ tế, lại truy tặng làm phúc thần, cấp tiền cho dân sở tại dựng đền thờ tại Lũng Động nay là Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Thanh, Hải Dương./.

Yêu nước ST.

CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CÂN BẰNG GIỮA RĂN ĐE TỘI PHẠM VÀ NHÂN ĐẠO!

     Trong 80 năm xây dựng và phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm tốt quyền con người, trong đó có quyền sống. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, cho rằng Việt Nam duy trì hình phạt tử hình là “vi phạm quyền sống”, “thiếu nhân đạo”. Đây là mưu đồ nhằm phủ định những thành tựu bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Luật pháp quốc tế không cấm quốc gia thành viên áp dụng hình phạt tử hình

Hình phạt tử hình được hiểu là việc tước bỏ tính mạng của một người theo một bản án được tuyên bởi một tòa án hợp pháp, để trừng phạt người đó vì đã phạm một tội ác nghiêm trọng. Mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử sẽ áp dụng hình phạt này ở các tội danh khác nhau. Hiện nay, trên thế giới còn 83 quốc gia có luật định áp dụng hình phạt tử hình, trong số đó phần lớn vẫn duy trì và thi hành án tử hình.

Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 không có bất cứ quy định nào cấm quốc gia thành viên áp dụng hình phạt tử hình. Việc duy trì hình phạt tử hình (hình phạt nghiêm khắc nhất) có sức răn đe nhất định trong phòng, chống những hành vi phạm tội đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đe dọa quyền sống của người khác như tội phạm ma túy, tội phạm cố ý giết người...

Qua nghiên cứu, Hội Luật gia Việt Nam đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể trong các giai đoạn trước và sau khi quy định hình phạt tử hình để minh chứng cho tác dụng của hình phạt tử hình đối với việc làm giảm các hành vi phạm tội đặc biệt nguy hiểm này. Ở nước Anh, tỷ lệ tội phạm giết người tăng lên kể từ khi hình phạt tử hình bị xóa bỏ, cụ thể, từ 300 vụ (năm 1964) tăng lên 565 vụ (năm 1994) và 833 vụ (năm 2004). Tại nước Mỹ, giai đoạn 1993-1997, khi số lượng hình phạt tử hình được áp dụng đối với tội giết người tăng lên thì tỷ lệ phạm tội giết người giảm xuống 26%.

Theo các chuyên gia, việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (buộc phải áp dụng hình phạt tử hình) được xem là một trong những biện pháp đền bù thỏa đáng cho nạn nhân và gia đình nạn nhân, đồng thời, đây cũng là hình thức bảo vệ công lý. Hơn nữa, nếu đối xử nhân đạo bằng cách không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì vô hình trung đã đối xử phi nhân đạo đối với nạn nhân, vì việc bảo vệ quyền sống cho người phạm tội (bỏ hình phạt tử hình) được xem là đã và đang dung dưỡng, ưu ái bảo vệ quyền sống cho người có hành vi xâm phạm nghiêm trọng hoặc có nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến quyền sống của người khác. Thực tế cho thấy, trong tất cả hình phạt được các quốc gia, nhà nước áp dụng thì tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện sức mạnh của chính quyền nhà nước đối với các loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm. Việc duy trì hình phạt tử hình phụ thuộc điều kiện đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, tôn giáo và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.

Vạch trần luận điệu xuyên tạc "Việt Nam vi phạm nhân quyền vì duy trì hình phạt tử hình"

Luật pháp Việt Nam đang giảm dần số tội danh áp dụng hình phạt tử hình theo xu hướng chung nhưng có lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội. Thực tế, chính sách hình sự của Việt Nam cân bằng giữa răn đe tội phạm và nhân đạo. Với tình hình chính trị, kinh tế-xã hội hiện nay chưa phải là thời điểm mà Việt Nam xóa bỏ hình phạt tử hình. Mặt khác, việc Việt Nam áp dụng hình phạt này đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là “vi phạm nhân quyền” như một số thế lực rêu rao, bởi lẽ:
Thứ nhất, Việt Nam luôn ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền sống theo Hiến pháp, pháp luật và thông lệ quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam giành được độc lập, tự do và giữ vững nền độc lập, tự do đó trong suốt 8 thập kỷ qua. Đây là cơ sở chính trị-xã hội để Việt Nam bảo vệ, bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền sống. Thông qua 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), quyền sống luôn được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 hiến định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19), đồng thời “Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng” (Điều 38).

Quyền sống không chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà còn bao gồm cả tự do về tinh thần, bảo đảm sự tồn tại của con người như việc chống chiến tranh, tội phạm chiến tranh, phòng, chống các hành vi xâm hại tính mạng con người, giảm tỷ lệ chết ở bà mẹ và trẻ sơ sinh. Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ tử vong mẹ đã giảm trên 5 lần, từ mức 233/100.000 trẻ đẻ sống (năm 1990) xuống còn 44/100.000 trẻ đẻ sống (năm 2023); tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm hơn 4 lần, từ 44‰ xuống còn 11,6‰; tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm gần 4 lần, từ mức 58‰ xuống còn 16,9‰.

Hiến pháp 2013 hiến định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14). Điều đó cho thấy, ở Việt Nam, quyền con người trong các trường hợp trên bao gồm cả quyền sống có thể bị giới hạn vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Trong các biện pháp giới hạn đó bao gồm cả hình phạt tử hình.

Theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), tử hình là “hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định” (khoản 1 Điều 40). Rõ ràng, Việt Nam áp dụng hình phạt tử hình có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây không phải là vi phạm nhân quyền mà là biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền sống, quyền được sống trong hòa bình của đại đa số người dân.

Thứ hai, chính sách hình sự của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, giảm hình phạt tử hình, tuân thủ nguyên tắc pháp quyền.

Hình phạt tử hình không phải công cụ trừng phạt bừa bãi mà là biện pháp cuối cùng để bảo vệ xã hội trước tội phạm cực kỳ nghiêm trọng. Hình phạt này chỉ áp dụng cho người có hành vi phạm tội đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia hoặc tính mạng con người, phù hợp với luật nhân quyền quốc tế.

Để phù hợp xu hướng quốc tế và yêu cầu nhân đạo trong chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới đất nước, số lượng hình phạt tử hình ở Việt Nam liên tục được giảm từ 44 tội năm 1985 (chiếm khoảng 20% tổng số tội danh) xuống 29 tội năm 1999 (chiếm khoảng 11% tổng số tội danh), 22 tội năm 2009 (chiếm khoảng 8% tổng số tội danh), 18 tội năm 2015 (chiếm khoảng 5,7% tổng số tội danh) và còn 10 tội năm 2025 (chiếm khoảng 4% tổng số tội danh).

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2025 đã bỏ án tử hình ở 8 tội danh, gồm: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội phá hoại cơ sở vật chất-kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội vận chuyển trái phép chất ma túy; tội tham ô tài sản; tội nhận hối lộ; tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược. Bên cạnh đó, pháp luật hình sự hiện hành quy định không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội; không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tuổi trở lên; người mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Những con số trên là minh chứng rõ nét nhất cho sự nỗ lực mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, xây dựng và thực tiễn thi hành, áp dụng quy định pháp luật của Việt Nam trong lộ trình giảm hình phạt tử hình. Mặt khác, việc thi hành án tử hình được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, bảo đảm tính nhân đạo và tuân thủ pháp luật. Mọi vụ án có khung hình phạt tử hình đều trải qua 3 cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm) và phải được Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao phê chuẩn trước khi thi hành án. Ngoài ra, để bảo đảm tố tụng đối với vụ án áp dụng đặc biệt nghiêm trọng, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định chặt chẽ các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với những người phạm tội có khung hình phạt tử hình. Cùng với đó, Nhà nước luôn ưu tiên giảm nhẹ hình phạt thông qua ân giảm án, đặc xá. 

Thứ ba, Việt Nam duy trì hình phạt tử hình không trái với quy định của pháp luật nhân quyền quốc tế, vì thế không vi phạm nhân quyền. 

Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện. Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ được phép áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất... Không một quy định nào trong điều này có thể được viện dẫn để trì hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ hình phạt tử hình tại bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước” (khoản 1, 2, 6 Điều 6).

Với quy định đó, luật nhân quyền quốc tế vẫn quy định mở việc áp dụng các biện pháp pháp lý để tước đoạt quyền sống của con người theo trình tự, thủ tục y tế và pháp lý chặt chẽ, trong đó bao gồm cả hình phạt tử hình. Điều đó có nghĩa rằng, mặc dù coi quyền sống của con người luôn là quyền gốc, quyền thiêng liêng, quý giá nhất của con người nhưng luật nhân quyền quốc tế không coi quyền sống là quyền tuyệt đối và cũng không cấm các quốc gia thành viên áp dụng hình phạt tử hình.

Với những quy định của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Việt Nam đã gia nhập từ năm 1982), việc Việt Nam còn duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật và thực tế hoàn toàn không trái với quy định pháp luật nhân quyền quốc tế. Vì thế, mọi cáo buộc của thế lực thù địch cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền vì còn duy trì hình phạt tử hình là sai sự thật và không có cơ sở pháp lý. Sự tiến bộ của chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện qua việc giảm dần số lượng hình phạt tử hình và hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự chính là câu trả lời đanh thép đối với những xuyên tạc của thế lực thù địch về vấn đề trên. Những cáo buộc đó càng bộc lộ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền của thế lực thù địch để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, do đó, chúng ta cần phải cảnh giác, đấu tranh, bác bỏ./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

BỆNH XA DÂN - BIỂU hiện HÀNG ĐẦU CỦA SUY THOÁI

     Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 377-QĐ/TW về công tác cán bộ, trong đó có nội dung xem xét cho thôi giữ chức vụ đối với cán bộ quan liêu, xa dân. Không ít lần bệnh xa dân đã được điểm mặt, chỉ tên là một trong những nguy cơ gây giảm sút niềm tin của nhân dân, thậm chí ảnh hưởng tới sự tồn vong của Nhà nước ta. Thế nhưng hiện nay, ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, bệnh xa dân vẫn tồn tại, có những biểu hiện rất đáng lo ngại.

Khi xem các bộ phim, bức ảnh, các câu chuyện, nghe các bài hát về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta thường rơi nước mắt vì xúc động bởi trái tim nhân hậu, yêu thương nhân dân, cả đời vì nước, vì dân của Bác. Không phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam, từ những cụ ông, cụ bà đến những em thơ đều tôn kính gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ. Bởi vì công lao to lớn của Bác, bởi vì Bác gần gũi quá đỗi, ai cũng thấy Bác như thành viên trong gia đình mình, trong làng xã mình.

Bác ăn mặc giản dị, mặc cả quần áo tự vá, nhiều khi nom như một cụ ông nông dân. Trên đường đi công tác, thấy bà con nông dân tát nước, cấy lúa, vị Chủ tịch nước chẳng nề hà, xắn quần, lội ruộng xuống cùng bà con tát nước, cấy lúa. Thấy em bé, Bác Hồ bế lên cho kẹo, rồi để em hôn lên má mình, vuốt nhẹ lên chòm râu của mình. Các bài hát về Bác Hồ luôn thể hiện tình thương bao la của Bác: “Bác thương các cụ già..., Bác thương đàn cháu nhỏ..., Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương”...

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chữ Dân có giá trị thiêng liêng và bền vững. Do đó, Người nhấn mạnh bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng, giáo dục cán bộ công quyền phải trọng dân, gần dân, vì dân mới làm được cách mạng và đó mới là mục đích của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân”, cán bộ là “người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”. Theo đó, đạo đức lớn nhất của người cán bộ cách mạng là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Cho nên mọi biểu hiện xa dân, gây phiền hà cho nhân dân là sự vi phạm nghiêm trọng đạo đức của người cán bộ cách mạng.

Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 10 năm, từ năm 1955 đến 1965, Bác đã về địa phương, cơ sở, đến với nhân dân hơn 700 lần. Những chuyến đi của Bác thường không được báo trước, gọn nhẹ, không gây tốn kém, lãng phí cho cơ sở. Người thường mang cơm nắm đi, ăn cùng cảnh vệ cho đỡ phiền phức địa phương. Người thường rất chú ý thăm đồng bãi, công trường, nhà ăn, khu vực vệ sinh, nơi ngủ nghỉ của công nhân, người lao động. Đến những giờ phút cuối cùng của cuộc đời, khi đang nằm trên giường bệnh, trời Hà Nội oi nóng, y tá mang tới chiếc quạt, Bác Hồ nói: Bác ở đây đủ mát rồi, trong vườn Bác có đủ cây cối, đồng bào ta suốt ngày trên đồng ruộng, nắng nôi như thế lấy đâu ra quạt. Hãy mang chiếc quạt này cho các chú thương binh ở trại điều dưỡng...

Với công lao vĩ đại với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, với sự gần gũi, yêu thương như vậy nên dù Bác Hồ đã đi xa hơn 56 năm nhưng nhớ đến Bác, nghĩ đến Bác là chúng ta lại trào dâng cảm xúc.

Chúng ta đang đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ. Tuy vậy, bệnh xa dân trong một bộ phận cán bộ không chỉ ở phong cách làm việc, mà nguy hiểm hơn còn biểu hiện ở mục đích làm việc, mục đích sống.

Có thể kể ra một số biểu hiện của bệnh xa dân như: Thứ nhất, bệnh xa dân thể hiện ở lối làm việc quan liêu, quan cách, cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh, gây phiền hà, không thực hiện đúng bổn phận, trách nhiệm của cán bộ. Thứ hai, cán bộ không đi sâu, đi sát vào thực tiễn, xa rời quần chúng, làm việc dựa trên giấy tờ, báo cáo của cấp dưới mà thiếu kiểm tra thực tế, không lắng nghe ý kiến của dân. Thứ ba, cán bộ mắc bệnh thành tích, vẽ ra những con số xa rời thực tế, dối trá, không đoái hoài gì tới những khó khăn, vất vả của người dân. Thứ tư, các chủ trương, chính sách ban hành không phản ánh đúng lợi ích, thậm chí đi ngược lại quyền lợi nhân dân. Thứ năm, không thấu cảm với nỗi vất vả của nhân dân.

Tệ hại hơn nữa là thói tham ô, tham nhũng đục khoét của dân, để rồi có lối sống xa hoa, với biệt thự, biệt phủ triệu đô, siêu xe, những đồ dùng cá nhân có khi bằng gia tài của nhiều gia đình lao động cật lực cả đời. Qua các vụ án, các trường hợp bị kỷ luật đảng trong thời gian qua, người dân mới giật mình vì mức độ xa hoa của một bộ phận cán bộ. Với những “đầy tớ” kiểu như thế làm sao người dân chẳng mất cảm tình.

Nguyên nhân của bệnh xa dân là tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, ham quyền, tham quyền cũng dẫn tới hậu quả là bệnh xa dân. Bởi vì, một bộ phận cán bộ không do năng lực, không vì tâm huyết với dân, với Đảng, với nước nhưng lại leo cao trong bộ máy công quyền, họ chỉ lo kéo bè kéo cánh tạo những nhóm lợi ích và mải thu vén cá nhân mà không lo cho dân. Kiểu cán bộ ấy vì kém tài, kém đức lại ham quyền lực, coi tổ chức đảng chỉ là công cụ để thăng quan phát tài, tự cho mình có quyền sống xa hoa hưởng lạc, sẵn sàng dùng thủ đoạn để tham ô, sa vào tội lỗi, từ đó mà càng ngày càng xa dân, xa rời tôn chỉ, mục đích cán bộ là đầy tớ của nhân dân, không còn phẩm chất của đảng viên. Bệnh xa dân, thậm chí coi thường dân còn là do cán bộ không hiểu vai trò, sứ mệnh, sức mạnh của quần chúng đối với lịch sử.

Cùng với đó, những hạn chế, yếu kém trong hệ thống luật pháp, cơ chế tổ chức quản lý nhà nước, sự hiểu biết chưa cao của một bộ phận quần chúng nhân dân về vai trò của mình cũng dẫn tới bệnh xa dân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn hiệu quả.

Bệnh xa dân dẫn tới các hậu quả là chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước là đúng nhưng khi tổ chức thực hiện lại cho kết quả kém; hoặc nguy hiểm hơn là biểu hiện tham nhũng chính sách, cài cắm lợi ích trong quá trình xây dựng luật pháp. Bệnh xa dân, lối làm việc quan liêu, hách dịch gây bức xúc có nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, là cơ hội để thế lực thù địch lợi dụng đưa thông tin chống phá Đảng, Nhà nước. Sở dĩ có thể khẳng định rằng, bệnh xa dân là biểu hiện hàng đầu của suy thoái, vì cán bộ xa dân thì chắc chắn không phải là “người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”, cán bộ ấy sẽ đề xuất ra chính sách xa dân, không vì lợi ích của dân, từ đó sẽ gây nguy cơ thay đổi bản chất chính quyền, bản chất Nhà nước ta.

Để chữa bệnh xa dân, nên chú trọng thực hiện một số nội dung sau: Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức người cán bộ cách mạng theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai là, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình nhằm phát hiện, ngăn ngừa mọi biểu hiện xa dân trong các cơ quan, tổ chức. Ba là, bảo đảm dân chủ, khách quan trong công tác phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng cán bộ để chọn được cán bộ đủ đức, đủ tài, thực sự có uy tín cao trong nhân dân. Bốn là, thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời loại bỏ những cán bộ mắc bệnh xa dân ra khỏi hàng ngũ./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

DẸP LOẠN DÙNG AI CHẾ CLIP XUYÊN TẠC!

     Trong thời đại số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) bùng nổ, bên cạnh mặt tích cực thì AI cũng cho thấy tính hai mặt khi bị nhiều đối tượng lợi dụng thành công cụ để tạo dựng, chỉnh sửa hình ảnh, video, bôi nhọ lực lượng CAND.

Nguy hiểm hơn, các đối tượng lập thành những kênh YouTube, chế những đoạn phim ngắn dưới danh nghĩa điều tra, lật lại vụ án... để thu hút người xem, nhưng thực chất là xuyên tạc về lực lượng Công an, đặc biệt là CSGT khiến không ít người đăng ký theo dõi, chia sẻ và bình luận, vô tình tiếp tay cho các đối tượng chống phá.

Báo động các kênh Youtube xuyên tạc

Những ngày gần đây, trên nền tảng YouTube xuất hiện nhiều kênh đăng tải các clip có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, đặc biệt là CSGT. Theo phản ánh của người dân, các kênh như “Kỳ Án”, “Lật mặt sự thật”, “CA Truyện hình sự”, “Bí mật sau cánh cửa”... đang đăng tải hàng trăm video được tạo dựng bằng công nghệ AI, trong đó xuất hiện những hình ảnh và lời thoại có nội dung sai sự thật, phản cảm, xúc phạm danh dự và uy tín của lực lượng Công an.

Nếu trước đây các clip cắt ghép thủ công thường dễ lộ dấu vết, thì hiện nay chỉ cần một số hình ảnh và mẫu giọng, AI có thể tạo ra video giả trông như thật. Thay vì dùng AI để chế ảnh tĩnh thành ảnh động hoặc biến thành clip thì giờ đây các đối tượng dùng AI để dựng thành các đoạn clip như một bộ phim ngắn thực thụ. Trong đó hình ảnh sắc nét, cử động nhân vật tự nhiên, khiến nhiều người thiếu hiểu biết về công nghệ dễ nhầm tưởng là hình ảnh thật. Các video này thu hút lượng lớn lượt xem và đang có xu hướng lan truyền mạnh trên mạng xã hội.

Đây có thể là một chiến dịch có chủ đích, lợi dụng công nghệ AI để sản xuất nội dung xấu độc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh lực lượng CSGT nói riêng và CAND nói chung.

“Chào mừng đến với kênh CA Truyện hình sự - nơi những câu chuyện hình sự ly kỳ được kể lại qua lời ca! Mỗi vụ án, mỗi bí ẩn đều trở nên sống động hơn bao giờ hết với giai điệu và ca từ đầy ám ảnh. Bạn đã sẵn sàng cùng chúng tôi khám phá những góc khuất đầy bất ngờ của thế giới tội phạm chưa? Đăng ký kênh ngay để không bỏ lỡ những thước phim ca nhạc hình sự độc quyền chỉ có tại CA Truyện hình sự! Liệu bạn có đủ dũng cảm để đối mặt với những sự thật trần trụi? Liệu bạn có đủ nhạy bén để cùng chúng tôi giải mã những vụ án tưởng chừng bế tắc? CA truyện hình sự không chỉ là một kênh ca nhạc, mà còn là hành trình khám phá thế giới ngầm của những câu chuyện hình sự có thật và cả hư cấu. Mỗi ca khúc là một lời dẫn, mỗi giai điệu là một manh mối. Hãy cùng chúng tôi lật mở từng trang hồ sơ vụ án, qua những ca khúc đầy mê hoặc. Đăng ký kênh để không bỏ lỡ bất kỳ điều tra nào nhé!”, kênh CA Truyện hình sự giới thiệu.

Kênh này có hơn 42 nghìn người đăng ký theo dõi, đăng tải dày đặc các clip xuyên tạc về lực lượng CSGT với những cái tít giật gân, câu khách như “CSGT tự ý trấn lột nữ đặc công”, “CSGT lộng hành”, “Ngang nhiên đòi hối lộ giữa ban ngày”... Đặc biệt, các clip này còn mang tính bạo lực khi tạo nên những cảnh đánh nhau đẫm máu. Dù nội dung trong clip luôn bao biện nhân vật là các đối tượng giả danh lực lượng CSGT, nhưng mọi hình ảnh, chi tiết, nội dung... đều nhắm vào lực lượng CSGT. Có những clip thu hút hàng chục nghìn lượt xem.

Tương tự, kênh “Lật mặt sự thật” cũng có hơn 13 nghìn lượt đăng ký theo dõi. Dù mới lập nên chưa lâu nhưng có những clip lên tới vài trăm nghìn lượt xem và đều là những clip bạo lực, xuyên tạc về lực lượng CSGT. “Trong một thế giới ngập tràn thông tin, đôi khi chúng ta cần một điểm dừng, để lắng nghe những điều thật sự có ý nghĩa, có chiều sâu và có khả năng khơi gợi sự thay đổi. Ở kênh này, mỗi video không phải chỉ để xem rồi bỏ qua. Nó được tạo nên để gieo một hạt giống: hạt giống của sự tò mò, của sự thấu hiểu và của những câu hỏi có thể khiến bạn nhìn lại chính mình. Đừng quên nhấn đăng ký và bật chuông. Bởi mỗi lần bạn chọn đồng hành, bạn đang góp phần biến kênh này thành ngọn lửa chung của 100.000 tâm hồn tìm kiếm sự thật và tri thức”, kênh này nhấn mạnh.

Việc lan truyền những nội dung như vậy không chỉ gây tổn hại đến uy tín và hình ảnh của lực lượng CAND, những người đang ngày đêm bảo vệ an ninh, trật tự cho xã hội mà còn là một dạng chiến tranh tâm lý tinh vi. Khi niềm tin của nhân dân vào lực lượng chức năng bị xói mòn bởi những hình ảnh dối trá, mục tiêu sâu xa của các thế lực thù địch về chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ từng bước được thực hiện.

Đây không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, có thể bị xử lý nghiêm theo các điều khoản của Bộ luật Hình sự: tội vu khống (Điều 156), mà còn là đòn đánh nguy hiểm vào nền tảng niềm tin xã hội. Hiến pháp năm 2013, Luật An ninh mạng 2018, Nghị định 72/2013/NĐ-CP và Nghị định 15/2020/NĐ-CP đã quy định rất rõ: hành vi xuyên tạc, bôi nhọ, giả mạo thông tin để chống phá, gây thiệt hại danh dự, nhân phẩm của lực lượng thi hành công vụ là không thể dung thứ.
2-2.jpg -0
Đối tượng Nguyễn Hoàng Q. tại cơ quan Công an.

Mới đây, Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an TP Cần Thơ đã làm việc với đối tượng Nguyễn Hoàng Q. (sinh năm 1995, ngụ phường Cái Răng, TP Cần Thơ) về hành vi đăng tải các bài viết, video clip có nội dung xuyên tạc, bịa đặt; nói xấu Đảng, Nhà nước và Bộ Công an. Tại Cơ quan công an, Q. thừa nhận hành vi sai trái của mình và khai nhận mục đích đăng tải các bài viết, video clip này nhằm tăng lượng tương tác, theo dõi để bán hàng trực tuyến. Từ giữa tháng 8/2025 đến nay, Q. đã đăng tải hơn 10 bài viết, video clip có nội dung bịa đặt, xuyên tạc, sai sự thật, nói xấu Đảng, Nhà nước, Bộ Công an; phân biệt vùng miền.

Trước đó, Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Đồng Tháp đã mời làm việc đối với H.C. L. (xã Long Hưng) xử lý về hành vi sử dụng tài khoản TikTok đăng tải video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, xúc phạm chính quyền và lực lượng Công an. Tại Cơ quan công an, L. khai nhận đã tải nội dung trên mạng về và biên tập thành video và đăng lên TikTok cá nhân mục đích là để câu like, tăng lượng tương tác trên nền tảng TikTok. Qua làm việc, L. thừa nhận hành vi vi phạm, chưa nhận thức đầy đủ về mức độ nghiêm trọng của hành vi, thiếu kiến thức pháp luật về an ninh mạng và tự nguyện tháo gỡ các video có nội dung xuyên tạc, chưa kiểm chứng đã đăng trước đó, cam kết không tái phạm.

Tương tự, Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Điện Biên trước đó cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng đối với Tòng Văn T. (sinh năm 2001, trú tại Mường Ảng) về hành vi sử dụng AI để tạo dựng video không có thật, mang nội dung xuyên tạc, xúc phạm lực lượng CSGT.

Theo đó, T. đã đăng tải lên tài khoản YouTube “Tuyền Vlog” đoạn video dài hơn 3 phút với tiêu đề gây sốc: “Đang đi chơi thì bị cảnh sát giao thông đuổi”. Trong clip, hình ảnh và tình huống được dàn dựng bằng công nghệ AI, mô phỏng CSGT truy đuổi người dân, được lồng ghép với các hiệu ứng và lời bình mang tính công kích, bôi nhọ lực lượng chức năng.

Làm việc với Cơ quan công an, T. thừa nhận toàn bộ nội dung clip là sản phẩm dựng giả với mục đích “giải trí” và thể hiện khả năng sử dụng công nghệ AI. Ngoài mức phạt tiền, cơ quan chức năng yêu cầu T. gỡ bỏ video sai sự thật nói trên và thực hiện xin lỗi công khai lực lượng CSGT ngay trên kênh YouTube cá nhân.

Mỗi người dân phải là một “lá chắn số”

Trong quý III-2025, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử đã thu hồi 1 giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền; chặn, gỡ 10.713 bài viết chống phá Đảng, Nhà nước, vi phạm pháp luật Việt Nam (tỷ lệ 96%) trên Facebook; gỡ 705 video vi phạm (tỷ lệ 92%) trên YouTube; chặn, gỡ bỏ 798 nội dung vi phạm (tỷ lệ 97%) trên TikTok. Đồng thời, theo dõi, giám sát hoạt động của 6 doanh nghiệp nước ngoài xuyên biên giới.

Trong thời đại bùng nổ công nghệ, AI đang mở ra những tiềm năng đột phá, nhưng cũng kéo theo những mối nguy chưa từng có tiền lệ. AI đang trở thành công cụ xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, những người ngày đêm giữ gìn bình yên Tổ quốc. Những kẻ cơ hội không tiếc công sức “phù phép” các hình ảnh, video bằng công nghệ AI, đánh trúng những chủ đề nhạy cảm như xử lý vi phạm, điều tra tội phạm, dựng cảnh bắt bớ, điều tra giả mạo, đấu tranh chống tham nhũng... khiến người dân hoang mang, nghi kị vào lực lượng thực thi pháp luật.

Chúng lợi dụng việc một số tin báo điện tử trong nước đăng tin bài, hình ảnh phản ánh sai phạm của lực lượng Công an địa phương trong thực thi nhiệm vụ và hành vi tiêu cực của CSGT để xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật nhằm bôi nhọ, làm mất uy tín lực lượng Công an nói chung và CSGT nói riêng.

Đáng lo hơn, nhiều video còn được chia sẻ trên các nền tảng lớn như YouTube, TikTok với hàng trăm nghìn lượt xem trước khi bị gỡ bỏ, tạo hiệu ứng lan truyền tiêu cực, với mục đích hạ uy tín, gây hoang mang, kích động dư luận. Không ít trường hợp, chúng giả danh cán bộ công an, tạo lập giấy triệu tập “ảo”, rồi đe dọa, cưỡng đoạt tiền của người dân. Hậu quả là hàng loạt người dân cả tin đã sập bẫy lừa đảo, vừa mất tiền, vừa mất niềm tin vào lực lượng Công an, những người ngày đêm gìn giữ bình yên cuộc sống.

Những kẻ đứng sau trò bẩn này luôn “gắn mác” cho mình là “phản biện”, “đấu tranh dân chủ”, “chống tiêu cực”, nhưng thực chất là xuyên tạc, bóp méo sự thật, phục vụ cho những mưu đồ chính trị phản động. Chúng giả danh tiếng nói “của dân” nhưng lại đang gieo rắc sự nghi kỵ, chia rẽ trong xã hội.

Trong bối cảnh này, điều cần hơn bao giờ hết là xây dựng một “lá chắn số” từ chính cộng đồng: đó là ý thức cảnh giác, là khả năng miễn dịch thông tin, là tinh thần trách nhiệm với môi trường mạng. Mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, xác minh thông tin trước khi chia sẻ, không vô tình tiếp tay cho các sản phẩm độc hại. Khi phát hiện thông tin giả mạo, hãy báo ngay cho cơ quan chức năng để phối hợp xử lý kịp thời.

Bên cạnh đó cần sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng, tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể người dân. Cơ quan chức năng cần chủ động rà soát, điều tra và xử lý nghiêm minh những kẻ tung tin giả, lừa đảo, phá hoại hình ảnh CAND. Truyền thông chính thống cần tăng cường tuyên truyền, cung cấp thông tin chuẩn xác, kịp thời vạch trần các chiêu trò lợi dụng AI để xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND trong thời đại số./.


Khuyết danh ST.

LỊCH SỬ KHÔNG THỂ LÃNG QUÊN!!!

     Trong hành trình tìm kiếm những hố chôn tập thể tù nhân cộng sản ở Phú Quốc, đã có nhiều đại lễ cầu siêu được tổ chức trọng thể và xúc động. Các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, cùng hàng vạn người dân đã tham gia bày tỏ niềm xúc động và xót thương vô hạn.

Trong số 40.000 tù nhân cộng sản ở địa ngục trần gian này, có tổng cộng hơn 4.000 người đã bị sát hại theo cách man rợ nhất mà loài người chưa được biết đến. Cho đến tận hôm nay, 45 năm sau khi đất nước đã hòa bình, mà mới chỉ có hơn 1000 hài cốt của người tù cộng sản trong nhà lao Phú Quốc được tìm thấy.
     Phần lớn số hài cốt liệt sĩ được tìm thấy trong các hố chôn tập thể. Các liệt sĩ được đưa về nghĩa trang, được thờ phụng. Dù hầu hết những liệt sĩ này chưa xác định được danh tính, nhưng họ còn may mắn hơn 3.000 liệt sĩ khác.

Theo những cựu tù Phú Quốc kể lại, sau mỗi cuộc tàn sát tù binh, chúng khiêng xác tù binh chất lên máy bay rồi ném ra biển cho cá mập ăn. Chính cai ngục Bảy Nhu vẫn thường dọa các chiến sỹ cách mạng rằng sẽ giết hết rồi ném xác xuống biển.

Chúng đào sẵn những hố sâu cả chục mét, rộng cả trăm mét vuông trong rừng để chôn các chiến sĩ cách mạng. Cứ sau mỗi cuộc tàn sát, chúng ném xác tù binh xuống, rải hóa chất cho nhanh phân hủy, rồi lấp một lớp đất. Vài hôm sau, có cuộc tàn sát mới, chúng lại ném xác tù binh xuống. Mỗi hố chôn tập thể có vài lớp xương cốt tù binh là vì thế.

Một cuộc “hủy diệt” đẫm máu diễn ra vào một buổi sáng đầu tháng 7/1965 vẫn còn in đậm trong tâm trí các cựu tù binh Phú Quốc. Hôm đó, địch cho tập hợp toàn bộ tù binh thành một hàng dài rồi bắt chào cờ ba sọc, bắt hô “Đả đảo Đảng cộng sản Việt Nam”.

Những người lính kiên trung gan vàng dạ sắt đứng lặng như tượng, không ai giơ tay chào cờ, cũng chẳng ai lên tiếng. Nhiều đồng chí còn hô vang khẩu hiệu: “Đảng cộng sản muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”. Người thì hô vang: “Đả đảo Mỹ - Diệm”.

Điên tiết, bọn cai ngục như chó dại xông đến đánh đập bằng báng súng, dùi cui. Uất quá, các tù binh vùng lên đánh trả, bất chấp mạng sống. Tiếng súng vang rền. Khi khói súng tan, các tù binh nằm sõng xoài trên đất, máu chảy lênh láng. Cả thảy 78 tù nhân đã hy sinh.

Cũng vào mùa mưa năm đó, bọn cai ngục đối xử quá tàn tệ, tra tấn giết hại mấy chục tù nhân, nên Đảng ủy phát động tuyệt thực để yêu cầu cai ngục chấm dứt việc hành hạ.

Những lần trước, tuyệt thực vài hôm thì địch buộc phải nhân nhượng giải quyết. Nhưng lần này đã kéo dài đến ngày thứ 11 mà chúng mặc kệ. Đúng lúc đó, có một phái đoàn Chữ thập đỏ quốc tế đến kiểm tra, bọn cai ngục xuống nước năn nỉ tù binh chấm dứt tuyệt thực, nhưng tù binh không nghe, yêu cầu chúng phải thực hiện đúng công ước Genever về chính sách đối đãi với tù nhân chiến tranh, thì mới chấp nhận thôi tuyệt thực.

Cáu tiết, bọn cai ngục dùng dùi cui, súng ống nhằm những tù binh bệnh tật, đói lả, tiều tụy đánh đập. Uất quá, một số anh em nổi dậy cướp súng đánh lại chúng. Bị đánh trả bất ngờ, bọn quân cảnh bỏ chạy ra ngoài. 4 khẩu đại liên trên chòi canh xối đạn như mưa vào phòng giam. 15 phút sau, tiếng súng ngưng, hơn 100 xác tù nhân được khiêng ra ngoài, máu chảy ngập phòng giam. Các các tù nhân được chúng khênh lên xe, chở vào trong rừng, ném xuống hố chôn nào chẳng rõ.

Trong ký ức các tù binh cộng sản Phú Quốc, thì cuộc tàn sát khủng khiếp nhất của bọn cai ngục diễn ra vào sáng 6/5/1972. Hôm đó, chúng bất ngờ cho tập hợp toàn thể tù nhân phân khu B8 ra ngoài sân trống để lục soát toàn phân khu sau khi nghe tin mật báo trong phân khu đang có cuộc đào hầm vượt ngục.
 
Chúng cho người lùng sục khắp phân khu, săm soi từng tấc đất, bới móc từng xó xỉnh. Anh em tù nhân ngồi chờ trực suốt mấy tiếng đồng hồ dưới cái nắng nóng như đổ lửa, vừa đói, vừa khát.

Cuộc lùng sục kéo dài đến tận trưa mà không mang lại kết quả gì. Mãi đến 11 giờ địch mới cho anh em tù nhân trở vào phân khu rồi đưa lương thực, thực phẩm đến cho họ nấu nướng. Số lượng tù nhân quá đông, lại nấu bằng chảo gang lớn nên đến tận chiều anh em mới được ăn bữa sáng. Do ăn chậm, nên bọn giám thị và quân cảnh kéo vào trong trại đánh đập tù nhân. Uất ức quá, anh em vùng lên đánh lại, bọn chúng sợ hãi bỏ chạy, những tên bên ngoài nổ súng yểm trợ.

Đạn rít veo véo, cát bụi mịt mù. Chỉ trong khoảnh khắc ngắn, 248 tù binh bị trúng đạn, người chết, người thương. Đây là cuộc tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhà tù Phú Quốc.

Thiếu tướng Lê Phú Cường, cựu tù nhân Phú Quốc kể lại câu chuyện và sự thật kinh hoàng về một vụ giết người hàng loạt bằng cuốc xẻng, cán búa, dùi cui, báng súng AR15… rồi chôn tập thể vào mùa mưa năm 1970 đã được hé lộ.

Tác giả của vụ thảm sát dã man ấy là tên đồ tể hạng bự khét tiếng, thiếu tá Mã Sinh Quy, người Nùng, Tiểu đoàn trưởng quân cảnh số 7. Hôm đó, đảo Phú Quốc trời tối sầm, giông gió nổi lên. Tên Quy huy động hàng trăm trại viên quân kỷ, là lính quân đội Sài Gòn bị kỷ luật vào rừng đào một cái hố rộng, đào xong, hắn đuổi đám lính này về trại.

Trên 100 lính quân cảnh từ tiểu đoàn quân cảnh số 7 từ khắp các đại đội cùng hắn lăm lăm lưỡi lê, súng ống đến các trại giam. Hắn tuyển chọn đủ 100 tù binh, gồm những người bệnh tật, ốm yếu. Hắn lùa các tù binh ra miệng hố mà đám trại viên quân cảnh vừa đào, chẳng nói chẳng rằng, hắn hét to: “Giếttt”. Tức thì cả bọn quân cảnh như bầy sói dữ, vác cuốc, xẻng, búa lao đến cứ thế nhằm đầu tù binh mà bổ, tù binh nào chống cự liền lĩnh trọn loạt đạn.

Những chiếc búa, rìu, xẻng bổ thẳng vào đầu, khiến máu đỏ với óc văng tung tóe, nhiều tù binh nhảy xuống hố tránh rìu, xẻng, chúng khiêng xác quẳng xuống hố, đè lấp cả người sống. Đất từ miệng hố ào ào trút xuống, chôn cả người chết lẫn người sống. Nhiều tù binh gượng sức bới đất ngoi lên tìm không khí để thở. Đám quân cảnh lập tức xông đến bổ thẳng xẻng vào đầu cho chết, rồi lấp đất kín.

Trong buổi cầu siêu cho 4 ngàn liệt sĩ, gồm cả linh hồn 3 ngàn liệt sĩ vẫn còn nằm trong lòng đất hoang lạnh, hoặc mãi mãi dưới biển sâu, cô Vũ Thị Minh Nghĩa (cựu Biệt động thành) rưng rưng xúc động: “Hàng ngàn người tù xấu số đã bị ném xuống Vịnh Thái Lan làm mồi cho cá dữ và đáy biển sâu, nên việc đưa họ trở về là không thể. Việc kiếm tìm cho đầy đủ cơ số hàng nghìn người đã chết vì địa ngục trần gian nhà tù Phú Quốc là một nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý nhưng không thể hoàn thành”!

Đời Đời Nhớ Ơn Các Anh Hùng,Liệt Sỹ Đã Anh Dũng Chiến Đấu,Hy Sinh Vì Hòa Bình,Độc Lập Tự Do Của Tổ Quốc!
Yêu nước ST.

CÓ NHỮNG ZÁO XƯ NHƯNG CHƯA CHẮC ĐÃ LÀ ZÁO XƯ?!

THẤY GÌ QUA BÀI VIẾT CỦA GS TS PHAN HỒNG TRUNG (PHẠM TỨ KỲ)?

     Sau khi bài viết “Cần ban hành Luật bảo vệ sự thật lịch sử” của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn được đăng trên báo Quân đội Nhân dân. Dư luận xã hội đã chú ý đến một tiếng nói mạnh mẽ nhằm ngăn chặn xu hướng bóp méo, tẩy trắng lịch sử đang có hướng gia tăng.

Ngay sau đó, GS Phạm Tứ Kỳ đăng trên trang cá nhân của mình bài viết: “Bảo vệ sự thật lịch sử nào?”. GS cho rằng có “Hai loại sự thật lịch sử”. Đây là lập luận mang tính chủ quan, nhầm lẫn giữa “sự thật lịch sử” và “nhận thức lịch sử”. 
Cách đặt câu hỏi của GS nó hàm ý rằng: Lịch sử tồn tại hai loại sự thật song song, có những sự thật “cần” bảo vệ và những sự thật “không cần” bảo vệ.

Đây là một cách tiếp cận sai về bản chất.
Trong khoa học lịch sử, sự thật lịch sử là duy nhất, chỉ có một. Bởi nó là những gì đã thực sự xảy ra, được kiểm chứng bằng nguồn tư liệu khách quan.

Điều có thể khác nhau không phải là “sự thật”, mà là nhận thức của con người về sự thật đó. Nhận thức có thể thay đổi theo thời đại, theo trình độ học thuật, theo lượng tư liệu mới; còn bản thân sự thật thì không.

Việc đặt câu hỏi theo hướng “Sự thật cần bảo vệ”? Đã dẫn tới lẫn lộn giữa hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, khiến tranh luận bị đẩy vào sự mơ hồ, không có cơ sở khoa học.

GS Phạm Tứ Kỳ cho rằng xã hội tồn tại “hai loại sự thật lịch sử”:
- "Sự thật lịch sử thứ nhất". 
- "Sự thật lịch sử thứ hai".

Đây là cách phân loại không tồn tại trong sử học, đi ngược lại phương pháp luận khoa học và tiềm ẩn nguy cơ rất lớn: hợp thức hóa việc bóp méo lịch sử thông qua “diễn giải chủ quan”.

Trong sử học, không có chuyện phân chia lịch sử thành các “tầng sự thật”. Việc GS tạo ra “hai loại sự thật lịch sử” đồng nghĩa với việc:
- Mỗi cá nhân có thể chọn một “sự thật” hợp ý mình
- Mỗi phe nhóm có thể tạo ra một “phiên bản lịch sử” riêng. 
- Mọi luận điểm xuyên tạc đều có thể được biện minh bằng “đó là loại sự thật thứ hai”.

Đây chính là cơ sở lý luận nguy hiểm, vô tình tiếp tay cho những xu hướng lật sử, tẩy trắng những hành vi phản quốc, thậm chí đảo chiều bản chất của các cuộc chiến tranh.

 Khi lập luận mơ hồ trở thành “đường vòng” cho xuyên tạc lịch sử như: 
“Yêu nước theo cách riêng của họ”. 
“Pháp không có ý đồ xâm lược Việt Nam, chỉ mượn đường Việt Nam để đánh Trung Quốc”
Những ví dụ này không phải “sự thật lịch sử”, mà là nhận định cá nhân, thậm chí sai lầm về mặt tư liệu và phương pháp.

Cách đưa ra các ví dụ mang tính ngụy biện như vậy rất dễ đánh tráo khái niệm, lấy quan điểm cá nhân thay cho sự thật, lấy diễn giải tùy ý để thay thế cho bằng chứng khoa học. Đây chính là điều các lực lượng lật sử, tẩy trắng quá khứ đang sử dụng:
- Biến kẻ bán nước thành “người yêu nước theo cách riêng”.
- Vô hình dung biến cuộc chiến xâm lược thành “hiểu nhầm lịch sử”.
- Biến kẻ cướp nước thành “đối tác cải cách”. 

Bài viết của GS vô tình, hoặc hữu ý, rơi vào đúng cách lập luận này, gây ra hậu quả nhận thức nghiêm trọng bởi "Sự thật lịch sử" đòi hỏi tiêu chí:
- Khách quan
- Trung thực
- Dựa trên tư liệu không bị chi phối bởi cảm xúc hay ý đồ chính trị, tư tưởng cá nhân.

Phương pháp tiếp cận của GS Phạm Tứ Kỳ, với những khái niệm và cách lập luận thiếu chặt chẽ, không chỉ sai về học thuật mà còn tiềm ẩn, mở đường cho sự tùy tiện hóa lịch sử, điều mà giới lật sử đang tích cực lợi dụng.

Lịch sử của một dân tộc là nền tảng căn bản của:
- Ý thức hệ.
- Tinh thần độc lập.
- Bản sắc của quốc gia.
- Đạo lý truyền thống của dân tộc. 

Vì vậy việc bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là yêu cầu khoa học mà còn là nhiệm vụ chính trị, xã hội của mỗi công dân, đặc biệt là giới học thuật.

Quan điểm của GS Phạm Tứ Kỳ, dù có thể được trình bày dưới danh nghĩa là phản biện, nhưng nó đang đi lệch chuẩn mực phương pháp luận, làm rối loạn nhận thức xã hội và vô tình tiếp tay cho các luận điệu xuyên tạc.

Trong bối cảnh lật sử, tẩy trắng lịch sử đang được tiến hành một cách tinh vi và bài bản, điều cần thiết không phải là tạo thêm các loại “sự thật lịch sử”, mà là kiên quyết bảo vệ sự thật lịch sử duy nhất, đã được chứng minh bằng tư liệu và bằng máu của bao thế hệ./.
Khuyết danh ST.

BẬC ANH HÙNG VÀ KẺ TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC!

     Xưa kia, Vua QUANG TRUNG đã từng vang dội hào hùng đầy khí phách, đọc truyền Hịch trước ba quân Tướng sĩ rằng:
Đánh Cho Để Dài Tóc
Đánh Cho Để Đen Răng
Đánh Cho Giặc, Ngựa Xe Tan Tác
Đánh Cho Chúng, Manh Giáp Không Còn
Đánh Cho Để Sử Sách Biết Mà Lưu Truyền
Nước VIỆT NAM Ta Anh Hùng Luôn Có Chủ.
🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

Còn như Gia Long, tuy xứng đáng là một vị Quân Chủ kiêu hùng, nghị lực mạnh mẽ hiếm có, nhưng đồng thời cũng là một tên khốn kiếp hèn hạ, tàn nhẫn vô song, lương tâm táng tận. Để đạt mục đích là cùng bè lũ tay chân quần thần, sẵn sàng bất chấp thủ đoạn, bán nước cầu vinh, khiếp nhược trước ngoại bang. Tuy thừa hưởng được Phúc ấm của Tổ Tiên 09 đời Chúa Nguyễn mà sống sót, vượt qua bao hiểm nạn, gây dựng nên cơ nghiệp, nhưng cũng bắt đầu từ hắn là lập ra truyền thống cho con cháu đời sau học tập kế thừa cái thói cắt đất cho giặc, quỳ gối mời gọi và còn giúp ngoại bang vào tàn hại dân mình, giày xéo quê hương.

Gia Long Nguyễn Ánh (bỏ chữ Phúc lót đệm - vô Phúc) chính là vết nhơ đen tối của lịch sử, xứng đáng để cho hậu thế muôn đời sau phỉ nhổ căm hận.

May mắn thay, trong 13 đời Vua thì vẫn còn có 03 vị Minh Quân anh hùng là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân một lòng yêu nước, thương dân, biết đứng lên kháng giặc ngoại xâm, gỡ gạc lại một chút thanh danh tốt đẹp cho Triều đình phong kiến nhà Nguyễn.

Giữa đất trời, tự có một Cán Cân
Trong lòng dân, luôn rõ ràng Công Lý.
Thương dân. Dân lập Đền Thờ
Hại dân. Dân chửi thối mồ, mục xương.
Ai là bậc Anh Hùng hào kiệt? Ai là kẻ khốn kiếp tội đồ? Đã rõ ràng vậy./.
Khuyết danh ST.

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA QUỐC HỘI VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

BÀI 5: GỠ NÚT THẮT THỂ CHẾ, TẠO ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI

     Trong hành trình phát triển của mỗi quốc gia, thể chế đóng vai trò như những con đường cao tốc lớn cho phát triển. Tuy nhiên, muốn thể chế đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thì cần sự thấu hiểu, đồng thuận xã hội. Trong những năm qua, Quốc hội khẳng định vai trò rất quan trọng trong gỡ nút thắt thể chế và tạo đồng thuận xã hội.

THỂ CHẾ THÔNG SUỐT ĐỂ ĐẤT NƯỚC CẤT CÁNH

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII xác định thể chế là một trong 3 đột phá chiến lược. Trong đó nhấn mạnh, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công-tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đặt thể chế ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng.

Phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ tám (Quốc hội khóa XV), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư Tô Lâm) nhấn mạnh, trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”. Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, những tồn tại, hạn chế kéo dài đã nhiều năm cần khẩn trương khắc phục, không để cản trở phát triển, gây lãng phí, lỡ thời cơ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị nhưng trọng trách rất lớn đặt lên vai của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và Chính phủ.

Gỡ nút thắt thể chế là một quá trình dài hơi, đầy cam go, đòi hỏi không chỉ bản lĩnh chính trị mà còn năng lực chuyên môn, tư duy cải cách mạnh mẽ. Quốc hội đã phát huy mạnh mẽ vai trò trong việc hoàn thiện thể chế; việc sửa đổi, bổ sung một số điều Hiến pháp năm 2013 đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, nhất là về sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, sát thực tiễn”. Cùng với đó, Quốc hội đã đồng hành cùng với Chính phủ tháo gỡ những khó khăn trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đại biểu Quốc hội phát huy tinh thần chủ động, tích cực trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, được ghi nhận là điểm sáng của Quốc hội Việt Nam.

Quốc hội cũng là một trong những cơ quan đi đầu trong chuyển đổi số. Việc giảm tài liệu giấy, triển khai các hệ thống làm việc trực tuyến, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phát triển hạ tầng số góp phần hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Từ đó, hỗ trợ cho công việc của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, góp sức hoàn thành khối lượng công việc lập pháp kỷ lục. Phát huy kết quả đã đạt được, trong nhiệm kỳ tới, vấn đề kỷ cương, kỷ luật trong công tác xây dựng pháp luật được các đại biểu Quốc hội đặc biệt quan tâm với mong muốn hạn chế các trường hợp không đáp ứng thời gian, đồng thời, bảo đảm chất lượng các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội.

Trong bối cảnh mới, yêu cầu cải cách thể chế đối với Quốc hội không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên, mà trở thành trọng trách chính trị cấp bách, mang ý nghĩa sống còn cho sự phát triển đất nước. Những nhiệm vụ Đảng giao cho Quốc hội cũng như sự kỳ vọng của Nhân dân đối với Quốc hội ngày càng lớn hơn, đòi hỏi Quốc hội tiếp tục đổi mới tư duy. Một yêu cầu cấp thiết là phải kiểm tra, rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn cho quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

GIẢI QUYẾT NHANH CHÓNG NHỮNG BẤT CẬP TỪ TỪ THỰC TIỄN

Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới nêu rõ, xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, tiếp thu có chọn lọc giá trị tinh hoa của nhân loại, bảo đảm tính hệ thống, nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực, đưa thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số, nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước.

Quá trình xây dựng, ban hành pháp luật gắn bó chặt chẽ thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra là một trong những định hướng đổi mới quan trọng nhất của quy trình xây dựng pháp luật. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 được Quốc hội thông qua đã thể chế được chủ trương, định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về đổi mới tư duy, quy trình xây dựng pháp luật. Với những quy định mới của luật, quy trình xây dựng một bộ luật được rút ngắn và thông qua tại một kỳ họp.

Theo quy định của luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, trình cơ quan có thẩm quyền của Đảng phê duyệt. Với việc thẩm quyền quyết định Chương trình lập pháp hằng năm được chuyển từ Quốc hội sang Ủy ban Thường vụ Quốc hội giúp đơn giản hóa trình tự, thủ tục. Luật cũng mở ra cơ chế để giải quyết nhanh chóng những vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn. Theo đó, luật bổ sung quy định về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt để phản ứng chính sách kịp thời trước các yêu cầu cấp bách của thực tiễn. Các quy định mới của luật đặt cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan chủ trì thẩm tra và các cơ quan liên quan trong tư thế luôn sẵn sàng, hòa chung nhịp đập của cuộc sống.

TẠO ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI NGAY TỪ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT

Việc đánh giá tác động của dự thảo luật, nghị quyết được thực hiện trên 4 khía cạnh: Hệ thống pháp luật, kinh tế-xã hội, giới (nếu có) và thủ tục hành chính (nếu có). Đồng thời, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 bổ sung cơ chế tham vấn sâu rộng, có sự tham gia của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các bộ, cơ quan ngang bộ, trong quá trình xây dựng chính sách. Qua đó giúp tiếp thu, hoàn chỉnh chính sách, nâng cao chất lượng dự thảo văn bản, sớm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 bổ sung cơ chế tham vấn sâu rộng, có sự tham gia của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các bộ, cơ quan ngang bộ, trong quá trình xây dựng chính sách. Qua đó giúp tiếp thu, hoàn chỉnh chính sách, nâng cao chất lượng dự thảo văn bản, sớm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Mở rộng tham vấn và đánh giá tác động của dự thảo luật cũng chính là xây dựng nền tảng để tạo đồng thuận xã hội ngay từ quá trình xây dựng pháp luật. TS Nguyễn Sĩ Dũng, Ủy viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhấn mạnh, việc đánh giá tác động chính sách và đánh giá tác động điều chỉnh cần được thực hiện một cách thực chất, dựa trên bằng chứng, số liệu và mô hình phân tích khoa học. Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, quy trình lập pháp phải mở và có sự tham gia thực chất của xã hội. Pháp luật là sản phẩm của xã hội, do đó, phải được xây dựng trên cơ sở tham vấn rộng rãi người dân, doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp và giới chuyên gia. Việc công khai các dự thảo luật, các phản biện và giải trình tiếp thu là cách tốt nhất để tạo đồng thuận xã hội và nâng cao chất lượng chính sách. Có thể khẳng định rằng, khi pháp luật tạo được sự đồng thuận xã hội thì việc đi vào cuộc sống cũng thuận lợi và nhanh chóng hơn bởi được sự đồng tình, ủng hộ của người dân, họ không chỉ là đối tượng tác động mà còn là người thụ hưởng chính sách.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, Ủy viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhấn mạnh: Pháp luật là sản phẩm của xã hội, do đó, phải được xây dựng trên cơ sở tham vấn rộng rãi người dân, doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp và giới chuyên gia. Việc công khai các dự thảo luật, các phản biện và giải trình tiếp thu là cách tốt nhất để tạo đồng thuận xã hội và nâng cao chất lượng chính sách.

Ngay tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV đang diễn ra, dự kiến, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 53 dự án luật, nghị quyết. Với khối lượng công tác lập pháp của Kỳ họp thứ mười là lớn nhất trong lịch sử các kỳ họp Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, đây là minh chứng sinh động cho tinh thần pháp luật phải đi trước một bước, mở đường cho đổi mới sáng tạo, lấy cuộc sống và lợi ích của Nhân dân làm thước đo của chính sách.

Ngay tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV đang diễn ra, dự kiến, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 53 dự án luật, nghị quyết. Với khối lượng công tác lập pháp của Kỳ họp thứ mười là lớn nhất trong lịch sử các kỳ họp Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, đây là minh chứng sinh động cho tinh thần pháp luật phải đi trước một bước, mở đường cho đổi mới sáng tạo, lấy cuộc sống và lợi ích của Nhân dân làm thước đo của chính sách.

Có thể nói, với bản chất và những giá trị thực chất vì Tổ quốc, vì Nhân dân của Quốc hội Việt Nam kể từ khi ra đời tới nay thì những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch về Quốc hội Việt Nam là hoàn toàn sai trái và sẽ bị thực tế khách quan phủ nhận./.

Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc triển khai 4 nghị quyết của Bộ Chính trị.
Theo QĐND
Khuyết danh ST.