Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

KHAI MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ 13, BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII

Sáng 5-10, Hội nghị Trung ương 13 khai mạc thảo luận, xem xét về: Tình hình KT-XH năm 2020, kế hoạch phát triển KT-XH năm 2021; tiếp tục hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu một số vấn đề cần tập trung thảo luận, xem xét, quyết định tại Hội nghị Trung ương lần này.

Dự báo các tình huống để chuẩn bị phương án đối phó phù hợp.

Về tình hình kinh tế - xã hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương dành thời gian nghiên cứu, thảo luận, đánh giá khách quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội nước ta từ đầu năm đến nay và dự báo cả năm 2020; chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Các đại biểu cần tập trung thảo luận, đi sâu phân tích, đánh giá tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, sự suy thoái kinh tế toàn cầu và những biến động lớn của thị trường thế giới đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra; sự cần thiết, tính đúng đắn của các chính sách, biện pháp phòng, chống dịch, khắc phục hậu quả do đại dịch và hạn hán, thiên tai gây ra nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, hạn chế tối đa sự suy giảm và từng bước phục hồi đà tăng trưởng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tính bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý cần nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng, dự báo có cơ sở khoa học về tình hình những tháng cuối năm 2020 và các năm 2021, 2022; đánh giá đúng kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu năm 2020, kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020; đồng thời đề ra mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu và những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng cần tập trung ưu tiên lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 và các năm tiếp theo; dự báo hết các tình huống để chuẩn bị các phương án đối phó phù hợp, kể cả trong tình huống xấu nhất.

Tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng

Từ sau Hội nghị Trung ương 11 (tháng 10-2019) đến nay, dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã được gửi, lấy ý kiến đóng góp qua đại hội đảng bộ cấp cơ sở; đại hội cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương đúng kế hoạch đề ra; tiếp tục gửi xin ý kiến các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân vào khoảng giữa tháng 10 này. Sau đó, các Tiểu ban tổng hợp, tiếp thu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp và các tổ chức, cá nhân để hoàn thiện, trình Bộ Chính trị và Trung ương xem xét hoàn chỉnh các văn kiện và hoàn tất việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo các Tiểu ban khẩn trương nghiên cứu cập nhật tình hình mới, tiếp thu các ý kiến đóng góp xác đáng, bước đầu thu nhận được từ đại hội đảng bộ cấp cơ sở và trên cơ sở, một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, tiếp tục hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện trình Hội nghị Trung ương lần này xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Trung ương dành thời gian nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, góp ý cụ thể vào các dự thảo mới và Tờ trình, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; chú ý đến những nội dung bổ sung, sửa đổi; bảo đảm sự phù hợp, nhất quán về nội dung, trước hết là những nội dung mới được bổ sung, điều chỉnh lần này giữa các văn kiện theo đúng nguyên tắc: Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm; các báo cáo khác là báo cáo chuyên đề, chuyên sâu, phải đồng bộ, thống nhất.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Trung ương xem xét thông qua nội dung dự thảo Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trình Đại hội XIII của Đảng để gửi xin ý kiến các đại biểu Quốc hội khoá XIV, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, dự kiến vào trung tuần tháng 10 này.

Giới thiệu 107 nhân sự lần đầu tham gia Ủy viên Trung ương chính thức

Từ cuối tháng 12-2018 đến tháng 9-2020, để chuẩn bị nguồn nhân sự cho Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, sau khi Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến, trên cơ sở đề xuất của Tiểu ban Nhân sự, Bộ Chính trị đã 4 lần phê duyệt nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII với tổng số 227 đồng chí. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo mở 5 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho các đồng chí được quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Tháng 7-2020, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gửi thư đến các Ủy viên Trung ương khoá XII, đề nghị từng Ủy viên trung ương đề xuất ý kiến về cá nhân mình và giới thiệu nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thay thế mình.

Trên cơ sở đề xuất của Tiểu ban Nhân sự, Bộ Chính trị đã họp thông qua cơ cấu và nguồn nhân sự để giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Căn cứ quyết định của Bộ Chính trị, Tiểu ban Nhân sự đã thông báo cho các địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức việc giới thiệu nhân sự. Tính đến ngày 20-8-2020, đã có 116/116 địa phương, cơ quan, đơn vị giới thiệu 119 Ủy viên Trung ương khóa XII (cả chính thức và dự khuyết) tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; 107 vị lần đầu tham gia Ủy viên chính thức và 44 vị tham gia Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII.

Việc tổ chức lấy phiếu giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương đã được các cấp uỷ, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc, cơ bản bảo đảm tiến độ, đúng quy trình, hướng dẫn của Tiểu ban Nhân sự. Tiểu ban Nhân sự đã chỉ đạo 10 cơ quan chức năng và địa phương liên quan (Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội và Ban Thường vụ Thành uỷ TP HCM) tiến hành thẩm định, kiểm tra, rà soát tiêu chuẩn, điều kiện đối với các nhân sự đã được giới thiệu (bao gồm nhân sự tái cử và nhân sự tham gia lần đầu).

Trên cơ sở Phương hướng và Quy trình công tác nhân sự đã được Trung ương thông qua, Tiểu ban Nhân sự và Bộ Chính trị đã họp nhiều lần, xem xét một cách khách quan, công tâm, toàn diện, thảo luận kỹ lưỡng dự kiến danh sách giới thiệu ứng cử Uỷ viên Trung ương Đảng khóa XIII. Bộ Chính trị trình Trung ương kết quả giới thiệu nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương và ý kiến của Bộ Chính trị về các nhân sự được giới thiệu. Đồng thời, tại Hội nghị này, Bộ Chính trị báo cáo Ban Chấp hành Trung ương về nhân sự tham gia Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII (bao gồm danh sách tái cử và danh sách tham gia lần đầu).

Tổng Bí thư Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII phải bám sát phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIII, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương trên các địa bàn, lĩnh vực công tác; đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương, nhất là ở những lĩnh vực trọng yếu, địa bàn phức tạp, trọng điểm; đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng trước mắt cũng như lâu dài. Khi xem xét, lựa chọn, giới thiệu nhân sự phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng; phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ là chính nhưng cũng cần quan tâm, chú ý đến cơ cấu hợp lý, cân đối giữa các địa bàn, lĩnh vực công tác và các khối; giữa Trung ương và địa phương; cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số và yếu tố vùng miền hợp lý... Tuy nhiên, không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn; bảo đảm dân chủ, công bằng, công tâm, khách quan, minh bạch; kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực trong quá trình thực hiện công tác nhân sự, gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: Công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương là công việc vô cùng hệ trọng. Ban Chấp hành Trung ương cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, bám sát phương hướng và Quy trình công tác nhân sự, nghiên cứu kỹ danh sách giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII để thảo luận, cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng. Căn cứ vào kết quả Hội nghị Trung ương lần này cũng như ý kiến góp ý của Trung ương, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo việc tiếp tục chuẩn bị, xem xét, bổ sung hoàn thiện các phương án về nhân sự, bảo đảm đủ về số lượng, đúng về tiêu chuẩn, chất lượng và hoàn chỉnh các hồ sơ để báo cáo Trung ương xem xét, quyết định thông qua trước khi trình Đại hội XIII của Đảng.

“LỎM” - KẺ MÙ MỜ VỀ HỌC THUẬT LẠI MƯỢN HỌC THUẬT HÒNG THỰC HIỆN MƯU ĐỒ ĐEN TỐI

 Trên trang Boxitvn.net ngày 22/9/2020 xuất hiện bài viết của kẻ có bút danh là “Lỏm” tung ra bài viết với tiêu đề: “Phản động” rút cuộc là gì? Sau một loạt những viện dẫn từ điển nọ, ngôn ngữ kia; truy nguồn gốc từ, sự kiện lịch sử, từ cuộc Cách mạng Pháp, rồi “Cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc, đến “cải cách ruộng đất” ở Việt Nam… cho ra vẻ học thuật, khoe mẽ như uyên thâm để dễ lòe người đọc, “Lỏm” đã hiện nguyên hình là một kẻ phản động chính hiệu khi dùng chính những tri thức lệch lạc, phản khoa học của mình để đả phá cách mạng.

Trước hết, bài viết này muốn nói cho “Lỏm” biết rằng, dù có cố gắng viện dẫn, lẻo mép đến thế nào thì vẻ học thuật của “Lỏm” cũng chẳng lòe được ai. Bởi vì một kẻ bị khuyết thiếu, tật nguyền về nhận thức thì sao có thể nói chuyện học thuật, dùng học thuật làm công cụ cho mưu đồ đen tối của mình mà đạt được mục đích. Về mặt học thuật, rõ ràng là “Lỏm” chưa thể phân biệt được nghĩa của hai từ “phản động” và “phản ứng”, khi “Lỏm” cho rằng “các từ phản ứng hay phản động thực chất đều là một”; “phản động đơn giản là chống lại sự chuyển động”; “phản động tự thân nó không có nghĩa xấu”; rồi lại cho rằng “phản ứng càng tốt thì lại càng được khen, phản động càng giỏi lại càng dễ bị ăn đòn”?!.

Có thể khẳng định rằng tất cả những người ít nhiều quan tâm đến học thuật nếu không bị khuyết thiếu, tật nguyền về nhận thức thì đều hiểu rằng không phải mọi “phản ứng” đều là “phản động”. Phản ứng nào đó có là phản động hay không cần đặt, xem xét phản ứng đó trong mối quan hệ với “cách mạng”. Mặc dù trong bài viết của “Lỏm” tung ra, “Lỏm” cũng đã cố ý nói đến “cách mạng”, nhưng hiểu về “cách mạng” của Lỏm lại tiếp tục có vấn đề, nói theo ngôn ngữ khoa học thì là phiến diện, siêu hình; xem xét từ góc độ chính trị thì là “phản động” chính hiệu. Nếu không phải là kẻ bị khuyết thiếu, tật nguyền về nhận thức thì đích thị là “Lỏm” đáng cố ý đánh tráo khái niệm “cách mạng” để phục vụ cho mưu đồ chính trị đen tối của y. “Lỏm” cho rằng “Cách mạng” là thay đổi số mệnh một cách triệt để, bằng cách chết đi để được tái sinh; cách mạng là đập bỏ mọi thứ để làm lại…

Thương thay cho “Lỏm”, một kẻ đang được sống trong thời đại văn hóa, văn minh mà tư duy lại cũ kỹ quá đỗi, phiến diện, siêu hình như tư duy học thuật ở thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII, không thể lớn lên, trưởng thành hơn cùng thời đại. “Cách mạng” nói chung cũng không đơn thuần là “đập bỏ mọi thứ để làm lại” như cách hiểu của “Lỏm”; “Cách mạng là thay cũ đổi mới”, nhưng phải là “cái mới” theo đúng nghĩa của nó, nó không đơn thuần chỉ là cái ra sau mà “cái mới” đúng nghĩa phải là cái đúng đắn, tiến bộ, hợp quy luật. Và như vậy, rõ ràng “phản ứng” và “phản động” không đồng nhất, không phải là một. “Phản động” chỉ ý kiến hoặc hành động (“phản ứng” theo cách hiểu của Lỏm) phản đối, chống đối các phong trào chính trị hoặc phong trào xã hội đúng đắn, tiến bộ - phản đối, chống đối cách mạng. Nếu thực sự mù mờ về học thuật thì đừng nói chuyện học thuật đừng hy vọng dùng học thuật hòng thực thiện mưu đồ chính trị đen tối – phản động./.

TRUNG DŨNG

TÀ ĐẠO Ở ĐIỆN BIÊN VÀ ÂM MƯU LẬP “NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ MÔNG”


Điện Biên là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh phía Tây Bắc của Tổ quốc, biên giới dài hơn 455km, tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Đặc biệt, ở địa phương này, người Mông chiếm số đông với hơn 38%, tiếp sau là người Thái chiếm hơn 35%. Người Kinh chỉ chiếm 17,3%.

Với vị trí chiến lược, những năm qua, tỉnh Điện Biên luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn, nhiều dự án để giúp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống một bộ phận nhân dân còn rất nhiều khó khăn, cùng với đặc điểm tự nhiên của tỉnh nên những năm qua, các thế lực thù địch, phần tử xấu triệt để lợi dụng để kích động, tuyên truyền, lôi kéo nhân dân tham gia hoạt động ly khai, tự trị, tuyên truyền đạo trái pháp luật… 

Sau khi cơ quan chức năng giải tán vụ tụ tập đông người, phá rối an ninh ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé (tháng 5/2011) và đập tan âm mưu phối hợp trong ngoài tiếp tục gây rối, gây bạo loạn lần 2 tại khu vực biên giới Việt-Trung (tháng 10/2012), tình hình hoạt động tuyên truyền, tập hợp lực lượng lập “Nhà nước Mông” tại địa bàn tỉnh Điện Biên tiếp tục có những diễn biến mới phức tạp, manh động.

Lôi kéo những người theo tà đạo “Giê sùa” để thành lập Nhà nước riêng

Trong bài viết trước, VOV đã đề cập 2 nhóm tà đạo xuất hiện ở Điện Biên từ năm 2015 với tên gọi “Giê sùa” và “Bà cô Dợ”, lôi kéo hơn 1500 người tham gia ở các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ, Điện Biên Đông… Bản chất là xuyên tạc Kinh thánh, lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người tin theo “Nhà nước Mông” và nhiều lần gửi tiền tài trợ cho số đối tượng cầm đầu tại địa bàn với tổng số hơn 300 triệu đồng.

Đáng chú ý, một số điểm nhóm theo “Giê sùa” đã công khai cầu nguyện, mong muốn chúa “Giê sùa” về phù hộ, dẫn dắt để có được “Nhà nước Mông”. Một số đối tượng đã công khai tuyên bố “Ở Mường Nhé hoạt động Nhà nước Mông không thành thì người Mông ở huyện Tuần Giáo sẽ làm, mọi người phải tin theo Giê sùa để lập Nhà nước Mông, ai làm lộ thông tin sẽ giết người đó”. Một số đối tượng cầm đầu hoạt động lập “Nhà nước Mông” đã chỉ đạo các đối tượng theo đạo “Giê sùa” thu thập các thông tin vu cáo chính quyền đàn áp, tiêu diệt người Mông với âm mưu gửi các tổ chức phản động ở bên ngoài nhờ can thiệp, giúp đỡ… làm cho tình hình an ninh trật tự trong vùng đồng bào Mông diễn biến rất phức tạp.

Các đối tượng triệt để sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông, lỗ hổng trong quản lý sim trả trước, mạng internet, điều kiện địa hình, địa vật, vùng giáp biên, mối quan hệ dòng tộc, đồng tộc, niềm tin tôn giáo mù quáng và các tà đạo “Giê sùa”, “Bà cô Dợ” để tuyên truyền, tập hợp lực lượng tiếp tục gây bạo loạn tại địa bàn. Số đối tượng cầm đầu ở nước ngoài ráo riết xuyên tạc kinh thánh, triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội facebook… để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia hoạt động lập “Nhà nước Mông”; tài trợ tiền cho số cầm đầu trên địa bàn.

Âm mưu lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” bất thành

Đầu năm 2018, các cơ quan chức năng ở tỉnh Điện Biên phát hiện một số đối tượng trên địa bàn móc nối với một số đối tượng phản động ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái… và số đối tượng đã trốn ra nước ngoài nhen nhóm hoạt động trở lại. Số đối tượng này từng tham gia nhóm “7 cánh” do Tráng A Chớ ở xã Mường Toong, huyện Mường Nhé cầm đầu, hiện đang chấp hành án phạt tù về tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Mục đích của tổ chức này là cướp đất, cướp chính quyền, thay thế chính quyền tại huyện Mường Nhé bằng một chính quyền riêng của người Mông, do người Mông làm chủ, có bộ máy, tổ chức riêng, có chữ viết, có con dấu, cờ, đồng tiền, lực lượng công an quân đội riêng của người Mông, có cương lĩnh riêng.

Chúng đã nhiều lần họp bàn thống nhất cách thức hoạt động, xây dựng “cương lĩnh”, “điều lệ”, vẽ mẫu “cờ”, đúc “sao”, “dấu”, “trang phục”, vũ khí, phương tiện phục vụ hoạt động lập “Nhà nước Mông”… với âm mưu gây bạo loạn vũ trang, lật đổ chính quyền nhân dân huyện Mường Nhé, lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” và gửi đơn đề nghị Liên Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế công nhận.

Âm mưu của chúng là gây bạo loạn vũ trang, đánh chiếm huyện Mường Nhé, lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” từ đó mở rộng ra các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh. “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” gồm 4 cấp : Trung ương- cấp tỉnh- cấp huyện- cấp bản, sau đó mở rộng ra các tỉnh Tây Bắc.

Đầu tháng 3/2019, các đối tượng tụ tập về huyện Mường Nhé để thực hiện chủ trương bắt cóc, thủ tiêu cán bộ nhằm gây tiếng vang, đưa yêu sách với chính quyền.

Tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, kiên quyết đấu tranh, trấn áp những phần tử phản động… một chuyên án đã được thành lập, phối kết hợp từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu, sự phức tạp của địa hình tại khu vực biên giới Việt- Lào, sự manh động, liều lĩnh của các đối tượng… Cuối cùng, âm mưu lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” đã bị vô hiệu hóa.

Kết quả đã bắt giữ được 15/20 đối tượng cầm đầu, cốt cán; vận động 8 đối tượng ra đầu thú, xác minh làm rõ, triệu tập đấu tranh vô hiệu hóa 28 đối tượng liên quan, thu giữ 400 triệu đồng, 1 tập tài liệu (49 trang) chữ Mông Latinh có hình quân hàm, quốc huy, sao, cương lĩnh, điều lệ, 3 súng tự chế, 155 viên đạn, 17 sao “7 cánh” bằng kim loại, 22 chiếc áo, 14 chiếc quần trang phục “công an Mông”, “bộ đội Mông”và nhiều tài liệu khác.

Căn cứ kết quả đấu tranh, cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, khởi tố, bắt tạm giam 15 bị can và khởi tố, ra quyết định truy nã đối với 5 bị can đang lẩn trốn.

Với 5 đối tượng lẩn trốn, tổ công tác đã khắc phục khó khăn, không quản ngại nắng mưa, đêm tối liên tục luồn rừng, trèo đèo, lội suối để lần theo dấu vết, truy bắt các đối tượng tại biên giới Việt-Lào thuộc các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ của Điện Biên và tại các huyện Mường Tè, Nậm Nhùn, Sìn Hồ của tỉnh Lai Châu; huyện Phong Sa Ly, tỉnh Phong Sa Ly của Lào khiến các đối tượng liên tục phải tìm cách thay đổi nơi lẩn trốn.

Cuối tháng 12/2019, ngay khi phát hiện 5 đối tượng này đang lần trốn, móc nối với số đối tượng phản động ở tỉnh Lai Châu tổ chức tuyên truyền, lôi kéo người tụ tập về bản Giàng Ly Cha, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè để gây bạo loạn, lập “Nhà nước Mông”, các đơn vị chức năng đã phối hợp giải tán vụ tụ tập, đồng thời triển khai các tổ công tác trên các tuyến đường dọc tuyến gianh giới giữa tỉnh Điện Biên với tỉnh Lai Châu để nắm tình hình, ngăn chặn không để người ở địa bàn kéo sang tỉnh Lai Châu tụ tập.

Đến ngày 3/1/2020, các lực lượng chức năng đã giải quyết xong vụ tụ tập, bắt giữ các đối tượng chủ mưu, cầm đầu cốt cán, trong đó có 4/5 đối tượng truy nã, thu giữ được 5 con dấu phục vụ hoạt động lập “Nhà nước Mông” mà nhóm này đang cất giấu tại xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé.

Tháng 3 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã đưa ra xét xử công khai 14 bị cáo vì có các hoạt động tuyên truyền, chống phá Nhà nước xảy ra tại huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên).

Theo nhận định của Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Điện Biên, Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Nam, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiến pháp quy định và đủ các yếu tố cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại các Điều 109, Điều 88, Điều 389 Bộ Luật hình sự.

Kết thúc phiên tòa, Sùng A Sính, Lầu A Lềnh với vai trò chủ mưu cầm đầu, là người khởi xướng việc lập nhà nước Mông và trực tiếp soạn thảo điều lệ, cương lĩnh, mô hình tổ chức, đúc sao hàm… chịu mức án chung thân. 12 bị cáo còn lại chịu mức án từ 24 tháng đến 20 năm tù giam./. 

Nguồn VOV

Ảnh:
- Xét xử những đối tượng âm mưu lập "Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông". Ảnh: Vũ Lợi/VOV- Tây Bắc.
- TAND tỉnh Điện Biên xét xử công khai 14 bị cáo vì có các hoạt động tuyên truyền, chống phá Nhà nước xảy ra tại huyện Mường Nhé. Ảnh: Vũ Lợi/VOV- Tây Bắc.
- Tang vật thu giữ trong vụ án âm mưu thành lập "Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông".
Hải Đăng st

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thực chất là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ bằng lý luận, lời nói hay nghị quyết mà phải hành động thực tiễn, “nói đi đôi với làm”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành công để Đảng ta thực sự là một chính đảng, khoa học, cách mạng và nhân văn, của giai cấp công nhân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước

 Thời gian gần đây, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Quan điểm sai trái, thù địch mà họ tiến hành trên mặt trận này là tiến công vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, cần có những định hướng, giải pháp cụ thể nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các luận điệu trên, đây là những nội dung chính được đề cập trong bài viết này.

Đấu tranh với các quan điểm sai trái trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật

 Văn học, nghệ thuật đã và đang đồng hành cùng lịch sử dân tộc, phát huy sứ mệnh nuôi dưỡng, bồi đắp những tư tưởng, tình cảm nhân văn, trong sáng, cổ vũ, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, văn học, nghệ thuật cũng là “mảnh đất” thường bị các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm gieo rắc những tư tưởng phản động, chống phá Đảng và chế độ ta. Do đó, nhận diện để đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là việc làm rất cần thiết hiện nay.

Cần nhận diện đúng các vấn đề về chủ quyền Biển Đông

 

    Vấn đề Biển Đông luôn “nóng” không chỉ riêng với các quốc gia có chủ quyền tại đây mà còn là sự kiện được cộng đồng quốc tế quan tâm. Đồng thời, đây cũng chính là mảnh đất để các thế lực thù địch, bất mãn, cơ hội sử dụng một số chiêu trò điển hình như: Lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ yêu sách chủ quyền trên Biển Đông để tán dương, ca tụng và đòi thả tự do cho các đối tượng có hành vi chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam như Lê Đình Lượng, Nguyễn Năng Tĩnh, Nguyễn Văn Hóa, Trần Hoàng Phúc… Khuếch trương “thành tích chống Cộng”, họ tự cho mình có vai trò trong việc hướng lái nhân dân chống lại âm mưu và hành động của Trung Quốc tại Biển Đông, qua đó xuyên tạc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề Biển Đông, cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ”.

     Từ thực tiễn trên, chúng ta cần có cách nhìn nhận đúng đắn vấn đề này. 

    Trước hết, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử, mọi hành vi phạm tội đều phải bị xử lý theo luật định, trong đó có hành vi chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Lợi dụng cái gọi là “tự do ngôn luận”, các thế lực thù địch thường chụp mũ đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia thành “tù nhân lương tâm”, từ đó kêu gọi, gây sức ép đòi thả tự do.

     Các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân; xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, chế độ XHCN, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cho nên, các đối tượng phạm tội phải bị xử theo luật định, không thể quy chụp thành “tù nhân lương tâm”, việc kêu gọi thả tự do cho các đối tượng trên hoàn toàn vô lý, lố bịch.

    Thứ hai, quan điểm của Việt Nam về giải quyết vấn đề Biển Đông là rõ ràng, nhất quán. Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng khẳng định: “...Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

    Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”.

    Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trước những thách thức của thời cuộc, chúng ta luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo, phù hợp tư tưởng ấy của Bác; lấy việc giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ, giữ vững chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông.

    Thực tiễn đã chứng minh, trong bối cảnh Trung Quốc thường xuyên có các hành động xâm phạm quyền, chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, Đảng, Nhà nước ta đã chủ trương giải quyết thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển.

    Thực tế cho thấy, bằng chủ trương giải quyết các vấn đề liên quan chủ quyền ở Biển Ðông thông qua biện pháp hoà bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả thoả thuận quan trọng với các nước trong khu vực và giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

    Thứ ba, việc Bộ Ngoại giao Mỹ và một số nước khác lên tiếng công khai phản đối Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam về tình hình Biển Ðông. Đây là vấn đề Việt Nam và các quốc gia có chủ quyền trên Biển Đông cũng như cộng đồng quốc tế hoan nghênh. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng sự kiện trên để kích động Việt Nam theo Mỹ, chống Trung Quốc.

     Về vấn đề này cần quán triệt sâu sắc quan điểm đối tác, đối tượng của Đảng, đó là: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta.

    Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”. Xác định đúng đối tượng, đối tác của Việt Nam là vấn đề hết sức quan trọng, là cơ sở để đề ra đường lối đối nội, đối ngoại cùng với chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là một vấn đề khá “nhạy cảm” trong quan hệ quốc tế.

    Nhưng không phải vì thế mà chúng ta né tránh, để rồi rơi vào trạng thái mơ hồ, mất cảnh giác, mất tính chiến đấu và khó có thể vạch ra chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay cũng vậy, chúng ta phải đặc biệt tỉnh táo trước chiêu bài của các phần tử thù địch, phản động. Cảnh giác không thể trở thành con bài chính trị, nhất là của các nước lớn, điều đó sẽ hết sức nguy hiểm cho lợi ích quốc gia, dân tộc.

    Thứ tư, âm mưu và hành động độc chiếm Biển Ðông của Trung Quốc là hết sức rõ ràng, đòi hỏi chúng ta phải luôn đấu tranh mạnh mẽ, bền bỉ, không khoan nhượng, sử dụng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế. Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước, giữ vững mối đoàn kết, bang giao với tất cả các nước; không để xảy ra xung đột, chiến tranh.

    Việt Nam không để lệ thuộc về kinh tế; không để bị cô lập, chi phối về chính trị; không để bị lôi kéo đi theo nước này để chống lại nước khác; không để đối đầu về quân sự, không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

    Chúng ta kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích; kiềm chế, không để nước ngoài lấn chiếm và tránh không để xảy ra xung đột, đụng độ. Vì vậy, quan điểm “bài Trung, thân Mỹ” hoàn toàn không có trong đường lối đối ngoại hay trong quan điểm giải quyết vấn đề Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta.

    Giá trị của hòa bình được đổi bằng biết bao xương máu của các thế hệ ông cha. Do đó, chúng ta phải biết trân trọng, nâng niu, giữ gìn. Dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, hơn lúc nào hết chúng ta thấu hiểu nỗi đau mà chiến tranh gây ra. Do đó, chúng ta bằng mọi biện pháp duy trì hoà bình, ổn định để phát triển; trường hợp chiến tranh là bất khả kháng để tự vệ nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Do vậy, mỗi người dân cần tỉnh táo, bình tĩnh, không để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, kích động; cần thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề Biển Đông, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc biển, đảo của Tổ quốc

TMT.05.10.20

Cảnh giác với thủ đoạn chống phá Đại hội XIII của Đảng

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước đang đến rất gần. Thời điểm đại hội cận kề, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt động chống phá, tung ra luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm làm suy giảm niềm tin, phá hoại Đại hội XIII của Đảng. Hướng lái đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa như:    

          Chúng tung ra nhiều bài viết, video clip với lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin hòng làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng. Để phủ định học thuyết Mác-Lênin, trên đài BBC, RFA, VOA, các trang phản động, mạng xã hội Facebook, YouTube…; không ít ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin là phản dân chủ, việc kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin là một sai lầm từ lý luận đến thực tiễn.

          Xuyên tạc bản chất ưu việt của chế độ XHCN, thể chế chính trị ở Việt Nam, hướng lái từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Đây là cái đích trong chiến lược “Diễn biến hoà bình”; tác động vào nhận thức, nội bộ nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, hiện thực hóa mục tiêu chệch hướng XHCN, thủ tiêu chế độ xã hội, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.

          Xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, công tác cán bộ, nhân sự Đại hội XIII, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng trong nhiệm kỳ qua… suy diễn xuyên tạc, vẽ ra tình cảnh “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, “Tổ quốc lâm nguy”, “nội bộ lục đục, mất đoàn kết”… Thực tế chỉ là ngụy tạo để đòi hỏi phải “cải cách”, “đổi mới” chính trị từ gốc là từ bỏ nền tảng tư tưởng, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng.

          Tạo nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, tác động vào niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Kích động người dân, nhất là phần tử cơ hội, bất mãn, khoét sâu yếu kém, hạn chế, bất cập, tạo tâm lý bức xúc, chống đối, mất an ninh, trật tự trong đời sống xã hội.

          Triệt để lợi dụng kênh truyền thông internet, mạng xã hội, các trung tâm truyền thông, các trang mạng, blog hải ngoại tạo thành “chiến dịch” đồng loạt, “tiền hô hậu ủng”, cổ suý, hậu thuẫn, tuyên truyền, xuyên tạc đánh vào nhận thức, tâm lý người dân theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.

          Lợi dụng sự kiện có thật, khoét sâu vào những thiếu sót, yếu kém, hạn chế trong đời sống xã hội để tạo cớ xuyên tạc, vu cáo như: Các vụ án kinh tế, tham nhũng, tình hình Biển Đông, sự cố môi trường, vụ việc Đồng Tâm, dịch bệnh, vụ án Hồ Duy Hải, Lương Hữu Phước... Trên cơ sở đó, suy diễn, xuyên tạc theo chiều hướng tiêu cực, nhằm tạo ra những nhận thức lệch lạc, tâm lý bức xúc, ức chế, bất mãn đối với chế độ, chính quyền; kích động hành vi chống đối, biểu tình, bạo loạn, lật đổ.

          Củng cố các tổ chức đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự”, mua chuộc, lôi kéo, tập hợp lực lượng, tổ chức, kêu gọi biểu tình trái pháp luật. Phương châm của họ là “tích tiểu thành đại”, các hoạt động, tập hợp lực lượng đủ lớn, đủ mạnh, thúc đẩy các cuộc biểu tình, “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu” là sức ép, phương thức để lật đổ thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

          Rõ ràng đây là những âm mưu thâm độc, nguy hiểm với phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, mỗi cán bộ, đảng viên, mọi quân nhân và nhân dân cần phải đề cao cảnh giác, nhận diện, đấu tranh./.

          TMT.05.10

Phê phán những nhận thức lệch lạc, luận điểm sai lầm về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng sáng rõ và đầy đủ hơn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

 Lợi dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động đang thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhận thức rõ tính chất phức tạp, âm mưu, thủ đoạn nham hiểm để từ đó đề ra các giải pháp kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ và đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là đòi hỏi cấp thiết hiện nay.

Phê phán một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin

 Trong bối cảnh các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hòng gây nhiễu loạn về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mưu đồ “giải trừ ý thức hệ”, làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ ta, thì việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện mới là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay.

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch

 

Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ mang tính đột phá, như: trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu cực lớn và nhanh,... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông được các thế lực thù địch tận dụng triệt để, tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội với mưu toan làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động về tư tưởng, mất phương hướng về chính trị để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, các phương tiện trực tuyến, các diễn đàn, hội nghị quốc tế, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc và tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch.

Các thế lực thù địch lợi dụng hệ thống thông tin mạng toàn cầu với lượng thông tin lớn, có thể tán phát cả trong và ngoài nước, tốc độ truyền tin nhanh, truy cập dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn,… để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, blog có nội dung lôi kéo, kích động, chống phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Các trang tin này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin hấp dẫn, nhằm thu hút, lôi kéo người truy cập, lợi dụng vào đó để cài các thông tin có tính chất phản động, chống đối để gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề có tính nhạy cảm, làm cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ dễ có cái nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang “ưa chuộng” là làm giả các website, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, v.v. Đáng chú ý là, để tạo lòng tin cho người đọc và thu hút nhiều người truy cập, quản trị các website này đã cung cấp nhanh và đúng những thông tin mà báo chí chính thống tại Việt Nam đã đăng, sau khi thu hút được số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Từ các trang mạng này, nhiều người truy cập sẽ mắc mưu và bị động, lúng túng khi tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng thường triệt để sử dụng mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, Yahoo,... để nhanh chóng kết nối các thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, tung tin bịa đặt, gây tâm lý hoang mang, dao động trong xã hội.

Trong lĩnh vực quân sự, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như: vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất sẽ làm cho các hình thái, tính chất, quy mô, phương thức và thủ đoạn tác chiến của các cuộc chiến tranh trong tương lai trở nên tinh vi, nguy hiểm, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đây. Thực tế này, làm cho người dân, cũng như mỗi quân nhân có trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng. Và nó trở thành một trong những “cái cớ” mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền cho quan điểm “vũ khí luận”, nhằm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí, v.v. Thực trạng trên, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và những khó khăn trong đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.

Để kịp thời phát hiện ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên, quân nhân cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mọi tổ chức, lực lượng nhằm tạo ra được nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất trong mỗi tổ chức, cá nhân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta; tuyệt đối không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, xác định: tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Vì vậy, cần khắc phục triệt để các biểu hiện giản đơn khi cho rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ thuần túy là vấn đề khoa học và công nghệ hiện đại, không liên quan đến vấn đề chính trị nên không tác động, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng Việt Nam. Chỉ có nhận thức đúng mới có thái độ và trách nhiệm cao trong tham gia cuộc đấu tranh với những thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Từ đó, mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có hiệu quả và khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.

Thứ hai, tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho lực lượng chuyên trách đấu tranh chống địch lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta. Tham gia cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, không phải là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Trong khi đó, điều kiện, khả năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng sử dụng, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta còn hạn chế. Vì vậy, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, có năng lực chuyên môn, trình độ về mọi mặt để giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh này. Thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào cũng đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái với một bản lĩnh chính trị hèn yếu, một nền tảng lý luận nghèo nàn, một hệ thống tri thức không đầy đủ, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin yếu kém, ít am hiểu những vấn đề thực tiễn xã hội đang diễn ra, v.v. Vì vậy, vấn đề vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần phải bồi dưỡng lực lượng chuyên trách trong đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện để họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, trình độ, tư duy, lý luận cao, có phương pháp luận nhạy bén, sắc sảo, am hiểu thời cuộc; mục tiêu xa hơn là trở thành những “chuyên gia” giỏi về lý luận, những cây “bút chiến” sắc bén. Trong đó, chú trọng bồi dưỡng chuyên biệt cho lực lượng này, bảo đảm cho họ thành thạo về công nghệ thông tin, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng tốt ngoại ngữ để thu thập, tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các thông tin, các tình huống đặt ra.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các chính sách và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tích cực tham gia đấu tranh,  cần quan tâm chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện về mọi mặt, cả về bảo vệ chính trị, bảo vệ “sinh mệnh chính trị” của những người tham gia; chú trọng cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều chiều và có định hướng đúng để phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và từng cá nhân trong sử dụng mạng xã hội; thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, triệt để Luật An ninh mạng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để nhận diện, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động do các thế lực thù địch tuyên truyền, tán phát trên không gian mạng. Cơ quan chức năng các cấp cần quản lý chặt chẽ, đúng quy định việc truy cập, khai thác thông tin trên mạng xã hội, internet và phòng, chống việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước./.

TMT. 05.10.20

Một số giải pháp tiếp tục thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên

 

 Sau hơn 8 năm thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đã có sự chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành, trách nhiệm nêu gương (TNNG) của cán bộ, đảng viên chưa được chú trọng, còn hình thức và mờ nhạt. Trước tình hình đó, cần tiếp tục đề cao TNNG của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII với một số giải pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp chiến lược về TNNG.

Đây vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên (CBĐV) đối với Đảng, với nhân dân và chính bản thân mình. Để nhận thức đúng, đầy đủ về TNNG, mỗi CBĐV phải nghiêm túc học tập và quán triệt đầy đủ nội dung trong các quy định của Đảng về nêu gương. Mỗi CBĐV phải xác định nêu gương vừa là đạo lý, vừa là trách nhiệm, nhiệm vụ thường xuyên, phải được thể hiện trong cuộc sống, trong công tác.

Đặc biệt, đối với CBĐV giữ các chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, TNNG càng phải được đề cao và phải được thực hiện nghiêm túc. Phải xác định trách nhiệm thực hiện các nội dung nêu gương trên tất cả các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, thực hiện tự phê bình và phê bình, mối quan hệ với nhân dân, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và giữ gìn đoàn kết nội bộ.

Các nội dung nêu gương gắn với các chuẩn mực đạo đức của CBĐV trong từng tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của CBĐV, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thực hành chuẩn mực đạo đức chính là quá trình thực hiện TNNG.

Các cấp ủy cần xây dựng quy chế, quy định và công khai các nội dung nêu gương của CBĐV trước tập thể. Thực hiện nghiêm TTNG theo phương châm chức vụ càng cao càng phải mẫu mực trên các mặt, nói phải đi đôi với làm, cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu gương cho thành viên trong tổ chức. Người có chức vụ càng cao, càng có sự ảnh hưởng rộng đến tập thể. Do đó, nêu gương tốt trong nhận thức và hành động của cán bộ lãnh đạo có tác động tích cực đến từng thành viên trong tổ chức.

Ha là, nâng cao hiệu quả, chất lượng của phong trào thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến.

Để thực hiện tốt TNNG của CBĐV trong giai đoạn hiện nay, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phong trào thi đua. Trong đó, trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức, cơ quan, đơn vị xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện, CBĐV phải tự giác, nghiêm túc đăng ký thực hiện chương trình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chất lượng, hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phụ thuộc vào hoạt động lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và chương trình, kế hoạch thực hiện của CBĐV.

Do đó, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của phong trào thi đua, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, mỗi cấp ủy cần căn cứ vào đặc điểm của đơn vị mình để xây dựng nội dung thực hiện phong trào thi đua, gắn với các nội dung cụ thể trong việc học tập tấm gương của Bác Hồ. Mỗi CBĐV gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao xây dựng chương trình hành động, bản cam kết thực hiện TTNG gắn với phong trào thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 Bốn là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện TNNG của CBĐV, gắn với đánh giá, khen thưởng, kỷ luật CBĐV.

Nêu gương đã trở thành một quy định của Đảng, mỗi CBĐV có trách nhiệm thực hiện một cách nghiêm túc, tuy nhiên, không phải CBĐV nào cũng tự giác, làm gương, nêu gương. Do đó, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện TNNG của CBĐV, phải xây dựng kế hoạch giám sát chuyên đề trong việc thực hiện quy định của Đảng về nêu gương.

Qua quá trình kiểm tra, giám sát, phát hiện những điển hình trong nêu gương để nhân rộng, những hạn chế của CBĐV trong thực hiện TNNG để kịp thời chấn chỉnh. Kết quả kiểm tra, giám sát việc thực hiện TNNG là căn cứ để đánh giá, khen thưởng, kỷ luật CBĐV. Để làm tốt việc này, cần xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra cụ thể. Quán triệt đến tổ, đoàn kiểm tra thực hiện nghiêm kế hoạch, không nể nang, né tránh; phải công tâm, khách quan trong việc đánh giá kết quả thực hiện TNNG.

Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện TNNG của CBĐV.

Trước tình trạng một bộ phận không nhỏ CBĐV suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân trong việc giám sát việc thực hiện TNNG của CBĐV là một giải pháp không kém phần quan trọng. Quy định số 124-QĐ/TW ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và CBĐV, quy định hai nội dung giám sát, gồm: (1) Các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; (2) Việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, CBĐV.

Khi phát hiện hoặc tiếp nhận báo cáo, phản ảnh về những biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và CBĐV, Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội báo cáo bằng văn bản hoặc phản ảnh trực tiếp với cấp ủy, tổ chức đảng cùng cấp để xem xét, xử lý.

Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về TNNG của CBĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Quy định”10.

Do đó, nhân dân cần nhận thức đúng, đầy đủ về quyền giám sát trực tiếp của mình hoặc gián tiếp thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội đối với CBĐV. Khi phát hiện những biểu hiện vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước; những biểu hiện thiếu gương mẫu về đạo đức, lối sống, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền, can thiệp không đúng thẩm quyền, trách nhiệm về công tác cán bộ, tham nhũng, hối lộ, lãng phí công quỹ, tài sản; sống, sinh hoạt, tiêu dùng, giải trí xa hoa, lãng phí; để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín để vụ lợi, hoặc sống xa hoa, phô trương, lãng phí… kịp thời phản ánh với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp ngăn chặn, xử lý.

Thực hiện TNNG của CBĐV trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý theo các quy định của Trung ương càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh những năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và tiến tới Đại hội XIII. Nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng và cũng là phẩm chất quan trọng của người CBĐV, do đó hơn bao giờ hết, mỗi CBĐV phải thực sự thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ý thức, TNNG, trong đó CBĐV giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương./.

Giữ gìn và phát huy giá trị cốt lõi phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây cũng là sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta - truyền thống tôn vinh và ghi nhớ công lao những người đã có công với đất nước và dân tộc.


“Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý mà nhân dân ta dành tặng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi ấy thể hiện tình cảm yêu mến đặc biệt và niềm tin sâu sắc của nhân dân đối với Quân đội ta, một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất của con người Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam trong những chặng đường đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và bảo vệ hòa bình, lương tri của nhân loại. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” gồm nhiều yếu tố, trong đó trung với Đảng, hiếu với dân là giá trị cốt lõi, phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp và truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo các tư liệu lịch sử, tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” xuất hiện ngay từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược. Khi đó nhiều đơn vị bộ đội được lệnh về chiến khu Việt Bắc để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Bộ đội trú quân trong các bản làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân, dựa vào dân và hết lòng giúp đỡ nhân dân. Chính trong những năm tháng này đã nảy nở và phát triển những tình cảm và niềm tin yêu của nhân dân với bộ đội. Ở chiến khu Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ” và cũng từ chiến khu Việt Bắc tên gọi yêu quý ấy lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay.

Từ khi ra đời  đến nay, Quân đội ta luôn được nhân dân tin yêu, mến phục; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng nên phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao đẹp, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đây là sự khái quát cô đọng, phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta. “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành niềm tự hào, tài sản tinh thần vô giá, góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu, làm cho Quân đội ta vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vĩ đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Nhiệm vụ của Quân đội ta là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó thực chất là lý tưởng “trung với Đảng, hiếu với dân”. Lý tưởng này là sự biểu hiện tập trung nhất bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Đối với cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất và đúng đắn. Trung với Đảng không chỉ được thể hiện ở việc kiên định với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng mà còn thể hiện ở tình cảm cách mạng luôn nỗ lực phấn đấu để thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng đó. Đồng thời phải có đủ năng lực và bản lĩnh để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trung với Đảng thì phải hiếu với dân. Bởi vì: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Quân đội ta từ Nhân dân mà ra, là quân đội của dân, do dân, vì dân nên hiếu với dân có nghĩa là Quân đội ta phải luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Nhân dân. Trong quan hệ với Nhân dân phải thực hiện đúng 12 điều kỷ luật và 10 lời thề danh dự của quân nhân, làm cho quân với dân gắn bó như cá với nước. Đây cũng chính là ngọn nguồn chiến thắng của Quân đội ta mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tiếp tục kế thừa và phát huy.

Trong chiến tranh, “trung với Đảng, hiếu với dân” thể hiện ở tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong thời bình, lòng trung với Đảng, hiếu với dân thể hiện ở sự giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng, tin tưởng vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Đó là sự thống nhất và hòa quyện giữa lý trí và tình cảm, giữa nhận thức và cảm xúc. Không có sự thống nhất và hòa quyện này lòng trung thành với Đảng có thể chỉ dừng lại ở lời nói hoặc khẩu hiệu chung chung mà không biến thành hành động cụ thể, thành lối sống, nếp nghĩ của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, tinh thần này còn thể hiện ở ý thức cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch, bảo vệ môi trường hòa bình của đất nước. Thực hiện những nhiệm vụ này, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nỗ lực học tập, rèn luyện để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, không để bị động, bất ngờ.

 Trong công tác dân vận, Quân đội luôn là lực lượng xung kích đi đầu. Đặc biệt ở các khu kinh tế - quốc phòng, quân đội cùng với các lực lượng khác đã khắc phục mọi khó khăn, bám sát nhân dân, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đã triển khai được nhiều dự án, giúp nhân dân ổn định cuộc sống. Sự giúp đỡ đó không chỉ dừng lại ở vật chất mà quân đội còn tích cực hướng dẫn nhân dân tổ chức đời sống và cách thức sản xuất; cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, dạy chữ cho con em các dân tộc thiểu số; bảo vệ nhân dân trước những thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Những hoạt động này được Quân đội ta thực hiện thường xuyên, đạt hiệu quả cao, qua đó làm cho tinh thần hiếu với dân thật sự được tỏa sáng. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm giúp đỡ nhân dân lúc thiên tai, hoạn nạn được Đảng, Nhà nước và Nhân dân đánh giá cao, là sự tiếp nối truyền thống, bản chất của Quân đội ta những năm qua, là sự gắn bó máu thịt tình quân dân.

Vấn đề quan trọng hàng đầu của quân đội bất kỳ quốc gia nào bao giờ cũng là vấn đề chính trị. Đó thực chất là bản chất giai cấp, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, quân đội do ai tổ chức, lãnh đạo, chiến đấu vì lợi ích của ai. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có và không bao giờ có quân đội mang bản chất của nhiều giai cấp. V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính trị trọng hơn quân sự”, “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

Thực tiễn đã chứng minh, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất to lớn của phong trào cách mạng thế giới. Mặc dù tính chất của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thay đổi, song sự thoái trào này gây nên sự hoài nghi, dao động ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng cơ hội này tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã hội cũng như vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ tìm mọi cách để thay đổi trật tự thế giới theo hướng có lợi cho chủ nghĩa tư bản. Khi đã nhận thất bại trong những cuộc đối đầu lịch sử, chủ nghĩa đế quốc và tay sai vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Họ tiếp tục sử dụng chiêu bài “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn và phương thức ngày càng tinh vi. Họ ra sức tuyên truyền tư tưởng phi chính trị hóa quân đội, tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng; cổ xúy tư tưởng tư sản, đòi đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập, đánh tráo các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ quân đội chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần. Đây là những chiêu bài của chủ nghĩa đế quốc sử dụng để phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa, làm xuất hiện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn, thách thức trong việc củng cố và phát huy giá trị “trung với Đảng, hiếu với dân” của Quân đội ta.

Tuy nhiên, chính những luận điệu xuyên tạc trắng trợn của các thế lực thù địch làm cho âm mưu của chúng càng lộ rõ, càng làm tăng tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, đặc biệt đội ngũ cán bộ chính trị là phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục tư tưởng chính trị, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn giác ngộ sâu sắc giá trị “trung với Đảng, hiếu với dân”. Bởi giữ vững giá trị này là sự thể hiện kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, cũng là giá trị cốt lõi của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta trước Đảng và Nhân dân. Trong đó “trung với Đảng, hiếu với dân” là giá trị cốt lõi, hạt nhân chi phối các giá trị khác của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt nhiệm vụ này là sự thể hiện tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trước những biến động của thời cuộc hiện nay./.


 

ĐỂ MỘT NGƯỜI LÀM QUAN, TRĂM HỌ ĐƯỢC NHỜ

Chúng ta vẫn luôn lên án, đấu tranh với những cán bộ có biểu hiện “quan cách mạng”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vun vén cho gia đình, dòng họ, lợi ích cục bộ địa phương. Thế nhưng, khi trong gia đình, dòng họ, làng, xã có người làm cán bộ thì chúng ta lại luôn đòi hỏi họ phải quan tâm, cất nhắc, sắp xếp việc làm cho người thân quen; ưu ái, tạo điều kiện giúp quê hương phát triển, bất chấp thực tế. Người nào không đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi đó thì bị quy là “quan cách mạng”, xa dân, thậm chí vô ơn.

ĐỂ MỘT NGƯỜI LÀM QUAN, TRĂM HỌ ĐƯỢC NHỜ

Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn. 

Thực tế cho thấy, không ít trường hợp cán bộ thiếu bản lĩnh đã gục ngã trước sức ép trên dẫn đến vi phạm nguyên tắc, quy định và có các quyết định thiếu đúng đắn. Thời gian qua, đã có nhiều vụ việc nâng đỡ, bổ nhiệm cán bộ là người thân quen không đúng quy định, quy trình về công tác cán bộ; bổ nhiệm cán bộ không đủ các tiêu chí; tìm cách lách các quy định để bổ nhiệm người thân, người "cánh hẩu"... khiến dư luận bức xúc. Kiểu suy nghĩ "cuốc giật vào lòng" khiến không ít người có chức vụ, quyền hạn đã ra các quyết định, như: Đầu tư xây mới, nâng cấp, cải tạo các công trình, phát triển hạ tầng, khu/cụm công nghiệp... cho quê hương dù chưa cần thiết, không phù hợp thực tế, điều kiện, tiềm năng. Không ít bài học về kiểu đầu tư không phù hợp với quy hoạch phát triển của địa phương dẫn đến các dự án này không phát huy hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực đầu tư từ ngân sách, làm mất cơ hội phát triển của địa phương khác.

Câu chuyện này tuy không mới, song nó vẫn tồn tại âm ỉ trong nhiều gia đình, dòng họ, địa phương và tạo nên sức ép vô hình đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đất nước sẽ ra sao nếu cán bộ nào cũng chỉ chăm chăm quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển làng, xã, quê hương nơi mình sinh ra, lớn lên? Chúng ta phê phán cán bộ, đảng viên có biểu hiện trục lợi, hành dân nhưng cũng phải phê bình những người "hành quan" với tư tưởng, suy nghĩ "một người làm quan, cả họ được nhờ".

Vì thế, để vượt qua được sức ép này, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ phải luôn giữ vững bản lĩnh, nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”, đặt việc công lên trên, lên trước việc tư; phải biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, nhân dân và của Đảng như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên. Càng cán bộ cấp cao thì càng cần xóa bỏ “tư duy làng, xã” để quan tâm, chăm lo phát triển chung cho người dân, địa phương, lĩnh vực mình công tác, quản lý. Cùng với đó, chính mỗi người thân trong gia đình, dòng họ, làng xóm của cán bộ cũng phải thay đổi tư duy, cách nghĩ, tạo điều kiện thuận lợi, môi trường trong sạch, lành mạnh để cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng chung của Đảng. Có như thế, một người làm quan thì trăm họ sẽ được nhờ.

Theo QDND

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2020

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY

 

Trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, tuổi trẻ sẽ có rất nhiều điều kiện, cơ hội để phát huy truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ đi trước, vươn lên khẳng định mình trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện mới cũng đặt ra cho thế hệ trẻ rất nhiều những thách thức, nhất là những tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường nó tác động không nhỏ đến thế hệ thanh, thiếu niên hiện nay. Do vậy các thế lực thù địch và các phần tử xấu của xã hội luôn xem thanh, thiếu niên là đối tượng đặc biệt để chúng thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Vì thế, thế hệ trẻ cần nêu cao cảnh giác, kịp thời nhận diện, vạch trần những thủ đoạn của chúng là nhiệm vụ cấp thiết, thường xuyên và lâu dài của mọi tổ chức, cá nhân và cả hệ thống chính trị.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của mọi tầng lớp nhất là đối tượng thanh, thiếu niên. Đây chính là thời cơ để các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ truyền thông và mạng xã hội để tác động lên tâm lý hòng lôi kéo thế hệ trẻ. Chúng đăng tải nhiều tài liệu có nội dung độc hại phản động, thông tin lập lờ, suy diễn không đúng bản chất, với dụng ý xấu, như: phủ nhận những thành quả của Đảng, Nhà nước cả trong quá khứ, hiện tại cũng như vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực, tạo ra các diễn đàn trên mạng để nhiều người trẻ truy cập và định hướng bình luận theo hướng tiêu cực, nhằm gieo rắc sự hoài nghi, chán nản, dẫn tới mất phương hướng chính trị. Phát tán những ấn phẩm đồi trụy, bạo lực, cổ súy cho lối sống thực dụng làm tha hóa biến chất của con người, khơi dậy ham muốn bản năng, chạy theo hưởng lạc, không chịu học tập, làm việc và cống hiến. Căn bệnh “nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị” đang là hiện trạng có thật của một số ít thanh, thiếu niên. Khi sự ham muốn bản năng trở thành mục đích duy nhất thì tất yếu dẫn đến sao nhãng quá trình học tập và rèn luyện; sự bồng bột, thiếu thực tế, dễ dao động, dễ bị lôi kéo, lối sống đua đòi, dẫn đến một bộ phận giới trẻ coi trọng lối sống vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần. Bàng quang, vô cảm, không đấu tranh với những cái sai và cũng không ủng hộ, bảo vệ những cái đúng; không ít thanh niên chưa thực sự vững tin vào tương lai, vào sự phát triển của đất nước, giảm sút ý chí phấn đấu vươn lên, ngại khó khăn, gian khổ, lệch lạc trong suy nghĩ và hành động; Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, lôi kéo một số ít du học sinh, nghiên cứu sinh đang học tập, công tác ở nước ngoài để tuyên truyền phản động; tập hợp, bồi dưỡng kiến thức độc hại cho một số thanh niên có xu hướng phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, sử dụng chiêu trò tăng học bổng, hỗ trợ kinh phí từ các NGO, liên kết đào tạo, thẩm thấu những “giá trị” xã hội tư bản một cách tự nhiên, nhưng rất thâm độc, nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này với âm mưu làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong tương lai. Họ gieo rắc vào giới trẻ khái niệm “cấp tiến”, “tự do”, “dân chủ” vô tổ chức, bất chấp luật pháp, tung hô những ý kiến “phản biện” ảo tưởng, xa rời thực tiễn. Hậu quả là một số bạn trẻ đã “sập bẫy”, hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả xây dựng đất nước; tự đề cao cái tôi cá nhân, lối sống vị kỷ, cá biệt có trường hợp tha hóa biến chất về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch. Với những thay đổi tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” làm chuyển hóa tư tưởng, dẫn tới quá trình “tự diễn biến” ở lớp người đang là rường cột, tương lai của đất nước, nếu thanh niên không được trang bị lý luận, nhận thức đúng để đủ sức “đề kháng” sẽ gây hậu quả khó lường.

Vì vậy phải giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thanh thiếu niên và công tác thanh thiếu niên trong giai đoạn mới để giúp cho thế hệ trẻ của chúng ta nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, để chúng không lôi kéo, kích động. Thường xuyên coi trọng giáo dục ý thức cách mạng để thanh niên biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất, văn hóa tầm thường. Thế hệ trẻ hiện nay là tương lai của đất nước, đồng thời cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để lôi kéo để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do vậy mỗi đoàn viên, thanh thiếu niên cần phải xây dựng cho mình tư tưởng vững vàng trước thông tin xấu độc, đồng thời luôn kiên định, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng sự quản lý điều hành cua rNhaf nước; kịp thời phát hiện và tích cực đấu tranh, ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch với thủ đoạn “Diễn biến hoà bình”, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành một công dân tốt, đóng góp trẻ của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.