Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021
Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong pháp luật của Việt Nam
- Quyền về việc
làm
Năm 1982 Việt Nam gia nhập Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và từ đó đến nay đã không ngừng
hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc
tế được quy định trong Công ước này.
+ Điều 35 Hiển pháp năm 2013
quy định:
> Công dân có quyền làm việc,
lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng
nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.
>Bên cạnh quy đinh việc quy định quyền
làm việc của người dân, Hiến pháp còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong
việc khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao
động. Đồng thời cũng
chính Nhà nước có nghĩa vụ hàng đầu trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ
lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
> Hiến pháp khẳng định: Người
làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được
hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.
+ Bộ luật Lao động năm 2012
> nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa
vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người lao
động; khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có những điều
kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật vê lao động; có chính sách để
người lao động mua cổ
phần, góp vốn
phat tríển
sản xuât, kinh doanh.
>Nhà nước bảo đảm nguyên tắc
bình đẳng giới trong lao động; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội
nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi,
lao động chưa thành niên.
> Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao
động có các quyền sau:
a) Làm việc, tự
do lựa chọn việc lảm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao ữình độ nghề nghiệp và
không bị phân biệt đối xử;
b) Hưởng lương
phù hợp với
trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ
lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động;
nghi theo chế độ, nghi hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;
c) Thành lập,
gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy
định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động,
thực hiện quy ché dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao
động;
d) Đơn phương
chấm dứt hợp đồng
lao động theo quy đinh của pháp luật;
đ) Đình công.
>
Để bảo đảm quyền lợi cho người
lao động, Nhà nước Việt Nam quy định mức lương tối thiểu tại Điều 91 Bộ luật
Lao động:
Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất
trả cho người lao
động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm
nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.
> quy định cụ thể mức tiền
lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Cụ thể như sau:
1.
Người lao động
làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo
công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày
thường, ít nhất bằng 150%;
b) Vào ngày nghỉ
hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
c) Vào ngày nghi
lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ,
ngày nghỉ có hưởng lương đối vói ngưòi lao động hường lương ngày.
2. Người lao động làm việc vào
ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền
lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.
3. Người lao
động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được ừả thêm 20% tiền lương tính theo
đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.
Pháp luật Việt
Nam cũng có những quy đinh cụ thể về thời gian lao động, thòi gian nghỉ ngơi;
lao động là phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật.
Trong quan hệ
lao động, Nhà nước vừa bảo đảm quyền của người lao động đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng lao động, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý lao động
.đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội.
Điều 33 Hỉến pháp, Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Mọi người có
quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Hiến pháp
khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để
doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
- Quyền tự do
kinh doanh
“Mọi người có
quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.
+Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu
tư được ban hành tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quvền tư do kinh
doanh, dỡ bỏ hàng loạt
thủ tục rườm rà, bất cập theo cơ chế cũ. Đồng thời, pháp luật liệt kê cụ thể
những ngành nghề cấm kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh có điều kiện,
ngoài các ngành nghề này ra thì mọi người có quyền tự do kinh doanh.
Trước đây, doanh
nghiệp chi được phép hoạt động Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã
ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định việc đăng
ký kinh doanh không cẩn ghi ngành nghề, thể hiện rõ việc tự do kinh doanh trong tất cả ngành nghề mà pháp luật
không cấm.
Đối với nhà đầu
tư nước ngoài, họ có quyền lựa chọn phương thức bảo hộ, giải quyết tranh chấp
đầu tư không chỉ qua Tòa án quốc gia mà cả qua cơ chế giải quyết của Trọng tài
quốc tế. Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 2015 không còn quy định tội
kinh doanh trái phép theo đúng tinh thần không hình sự hóa các quan hệ kinh tế,
dân sự.
-Quyền sở hữu
+Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp
luật. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền
khác đối với tài sản. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình
để nắm giữ, chi phối tài sản của minh nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội.
+Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà
nước, pháp luật bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế.
Mọi người có
quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,
tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Tài sản
hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo
hộ và không bị quốc hữu hóa.
Nhà nước chi
thực hiện việc trưng mua hoặc trung dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá
nhân theo giá thị trường trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng,
an ninh hoặc Vì lợi ích quốc gia, tình ứạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.ị
+Bộ luật Dân sự năm 2015 đã
ghi nhận 03 hình thức sở hữu
>Sở hữu toàn dân (từ Điều 197
đến Điều 204),
>sở hữu riêng (Điều 205 và
Điều 206)
>sở hữu chung (từ Điều 207 đến
Điều 220).
+Quyền sở hữu được Nhà nước,
pháp luật bảo vệ.
>
Chủ sở hữu, chủ
thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người
nào có hành vi xầm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
>Chủ sở hữu, chủ thể có quyền
khác đối với tài
sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có
hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi
thường thiệt hại. Người đang chiếm hữu vật được suy đoán là người có quyền hợp
pháp đối với tài sản.
+Bộ luật Dân sự năm 2015 quy
định nguyên tắc chung về thời hiệu xác lập quyền sở hữu do chiếm hữu, được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật mà không phân biệt tài sản đó thuộc sở hữu
của ai.
- Quyền có mức sổng thích đáng
+Bảo đảm cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc cho nhân dân không phải dừng lại ở khẩu hiệu, quan điểm, định
hướng chung chung mà trờ thành nghĩa vụ của Nhà nước được hiến định tại
+ Điều 3 Hiển pháp:
Nhà nước thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi ngưòi có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Nhằm bảo đảm thực hiện quyền này,
trước hết trên lĩnh vực kinh tế,
+Điều 50 Hiến pháp nhấn mạnh:
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế,
gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thưc hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, nhà nưóc tạo điều kiện đê mọi người tham gia
vả được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ. Đồng thời,
một trong lính vực quan trọng có liên quan trực tiếp đến quyen con người cũng Hiến
pháp xác định rõ tại
+ Điều 59 khoản 2 trách nhiệm
của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trên lĩnh vực văn
hóa Hiến pháp tạo cơ sờ pháp lý cho mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận
các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.
- Quyền thành lập và gia nhập công đoàn
+Điều 9 khoản 2 Hiến pháp
khẳng định:
Công đoàn Việt Nam là các tổ chức chính trị-xã
hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành
viên khác cùa Mặt ừận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Nhà nước có nghĩa vụ bảo dám, hỗ trợ, tạo điều kiện chọ Công đoàn
thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
+ Luật Công đoàn năm 2012 quy
định: Người lao động là người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động cồng đoàn.
>Công đoàn cơ sở được tổ chức
rộng rãi trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị-xã hội, tổ chức chánh ừị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy
đinh của pháp luật về lao động, các cơ quan, tồ chức nước ngoài, tổ chức quốc
tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
>Công đoàn có nghĩa vụ bảo vệ
quyền và lợi ích họp pháp, chính đáng của người lao động, tham gia quản lý nhà
nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia, phổi họp với cơ quan nhả nước có tham
quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp
luật về lao động, công đoàn, cán bộ, công chức, viên chức, bảo hiếm xã hội, bảo
hiểm y tế và chế độ, chính sách,
pháp luật khác có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; điều tra .
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
>Hợp tác quốc tế về công đoàn
được thực hiện trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc bĩnh đẳng, tôn ừọng độc lập, chủ
quyền quôc gia, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
-Quyền được
hưởng an sinh xã hội
+Hiến pháp xác định rõ nghĩa
vụ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ
hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trong đó, Nhà nước có chính
sách trợ giúp người cao tuồi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn
cảnh khó khăn khác.
+Bảo hiểm xã hội là một trong
những việc trọng yếu của an sinh xã hội. Chính vì lẽ đó, chính sách, pháp luật
về bâo hiểm xã hội được củng cố, phát triển.
>Trước đây, đối tượng bảo hiểm
xã hội của nước ta chi bó hẹp trong phạm vi công nhân, viên chức Nhà nước và
lực lượng vũ trang, hiện nay chúng ta mới mở rộng bảo hiểm xã hội cho người lao
động trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Không dừng lại ỡ bảo hiểm xã
hội, các loại hình bảo hiểm khác cũng được mở rộng vàthực hiện chế độ bảo hiểm
xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y
tế.
>Điều 186 Bộ luật Lao động năm
2012 quy định:Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc, bảo hiểm y tế băt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế. Đồng
thời, Nhà nước có các biện pháp khuyến khích người sử dụng lao động, người lao
động thực hiện các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.
>Đối với người lao động không
thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo
hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao
động có ừách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động
một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.
>Ngoài những đối tượng thuộc
bảo hiểm bắt buộc, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy
định những đối tượng cụ thể mà Nhà nước có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm y tế cho
họ, có nghĩa là họ đương nhiên được bảo hiểm y tế
>Cùng với các quy định về bảo
hiểm, Chính phủ đã ban hành Nghị định sổ 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp
các đối tượng bảo trợ xã hội. Nghị định này mở rộng cả phạm vi và mức trợ cấp cho
các đối tượng gặp khó khăn trong xã hội. Điều 4 quy định những đối tượng bảo ừợ
xã hội thuộc diện được trợ cấp hàng tháng và Điều 6 quy định những đối tượng được trợ
giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả
thiên tai hoặc nhũng lý do bất khả kháng khác gây ra
-Quyền được chăm
sóc sức khoẻ
Con người là chủ
thể của quyền, có vai trò làm nên lịch sử, quyết định sự thành bại của cá nhân
và của các quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Đối với con người, sức khỏe
là yếu tố quan trọng hàng đầu. Chính vì lẽ đó con người có quyền được chăm sóc
bảo vệ sức khỏe. Theo đó, chăm sóc sức khỏe là nghĩa vụ của Nhà nước đối với
mọi người.
+ Hiến pháp Việt Nam năm 2013
xác định:
Nhà nước, xã hội
đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo
hiếm y tê toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân
tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khẵn.
Nhà nước, xã hội và gia đình có trách
nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia
đình.
>Pháp luật quy định: công dân
có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải ữí, rèn luyện thân thể; được bảo
đảm vệ sinh ừong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống, được
sống trong môi trường trong lành và được phục vụ về chuyên môn y tế.
> Để bảo đảm thực hiện quyền
này trong thực tiễn, Điều 3 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy đinh rõ nghĩa vụ,
trách nhiệm của Nhà nước:
Nhà nước chăm lo bảo vệ và tăng cường sức khoẻ
nhân dân; đưa công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh té
- xã hội và ngân sách Nhà nước; quyết định những chế độ chính sách, biện pháp
để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân. Đồng thời Nhà nước giao cho các cơ quan Nhà nước, các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, các đơn. vị vũ trang nhân dân (gọi chung là các tổ chức Nhà
nước), các cơ sở sản xuất, kirih doanh của tập thể và tư nhân có trách nhiệm
trực tiếp chăm lo, bảo vệ, tăng cường sức khoẻ của những thành, viên trong cơ
quan, đơn vị mình và đóng góp tiền của, công sức theo khả năng cho công tác bảo
vệ sức khoẻ nhân dân.
>Cùng với việc chăm sóc sức
khỏe về y tế, pháp luật còn quy định việc tổ chức nghỉ ngơi và điều dưỡng đối
với người lao động:
Tổng liên đoàn
Lao động Việt Nam, các ngành, các cấp, các tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã
hội, tổ chức tập thể có trách nhiệm mở rộng các cơ sở điều dưỡng, nhà nghỉ và
câu lạc bộ sức khoẻ.
>Nhằm bảo đảm sức khỏe cho
ngưòi lao động, Bộ luật Lao động quy định về tuân thủ pháp luật về an toàn lao
động, vệ sinh lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm
việc. Khi xây dựng mới, mờ rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất
thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp bảo
đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động
và môi trường.
>Khi sản xuất, sử dụng, bảo
quản, vận chuyển các loại máy, thiết bị, vật tư, năng lượng, điện, hoá chất,
thuốc bảo vệ thực vật, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải
được thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh
lao động hoặc tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc
đã công bố, áp dụng.
>Trên cơ sở pháp luật, Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 về Phê duyệt
Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đen năm 2030.
- Quyền về giáo
dục
Thực hiện cam
kết quốc tế về bảo đảm quyền được giáo dục, Hiến pháp pháp luật Việt Nam có
những quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền này trong thực tiễn.
Điều 61 Hiến pháp
khẳng định rõ quan điểm, mục tiêu giáo dục cùa Việt Nam coi phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí phát ừiển nguồn nhân lực, bồi dượng nhân
tài.
Thực hiện mục
tiêu trên, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo
dục; chăm lo giáo dục mầm non
>Hiến pháp, Luật Phổ cập giáo dục
tiểu học năm 1991 quy định rõ: giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không
thu học phí. Nhà nước tiến hành từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát
triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng,
học phí hợp lý
>Điều 10 Luật Giáo dục năm
2005 quy định mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,
nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về
cơ hội học tập.
>Tuy quyền giáo dục xét về bản
chất là bình đẳng đối với mọi người nhưng để thực hiện quyền này, bên cạnh
chính sách, biện pháp chung, Nhà nước có biện pháp riêng tạo đỉều kiện để người
khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề. Đồng thời, Nhà nước có chính sách pháp
luật, biện pháp ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu
tiên sử dụng, phát triển nhân tài.
>Bảo đảm quyền được giáo dục,
Nhà nước chú trọng trong việc giáo dục nghề nghiệp. Điều 6 Luật giáo dục nghề
nghiệp 2014 nêu rõ chinh sách ưu tiên của Nhà nước về phát triển giáo dục nghề
nghiệp:
-Phát triển hệ
thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.
-Đầu tư cho giáo
dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát
triển nhân lực. Ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong tồng chi
ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo.
-Ưu tiên đầu tư
đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các
ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiếri của khu vực, quốc tế’ chú trọng phát triển giáo
dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng ven biển; đầu tư đào tạo các
nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa.
-Hỗ trợ các đối
tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, quân nhân xuất ngũ,
người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật,
trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, ngư dân đánh bắt xa bờ, lao động nông thôn
là người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất
canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được
học tập để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp; thực hiện bình
đẳng giới trong giáo dục nghề nghiệp.
Cùng với chính
sách, biện pháp trên đây, pháp luật còn quy định các đối tượng cụ thể được Nhà
nước miễn học phí.
-Quyền về văn
hóa
Xác định rõ vai
ừò, giá trị của văn hóa, nhận thức văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
Nhà nước chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, bảo đảm quyền về văn hóa của
mọi người.
+ Hiến pháp khẳng định: Nhà nước, xã hội chăm lo xây
dụng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật
nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân.
+Nhằm đáp ứng các yêu cầu của
pháp luật quốc tế về quyền văn hóa, Hiến pháp ghi nhận: “Mọi người có quỵền
hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đòi sống văn hóa, sử
dụng các cơ sở văn hóa”. “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ,
sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”.
+Quyền văn hóa là một trong những quyền con người.
Tuy vậy, để quyền này được thực thi trong thực tiễn thì đòi hỏi những quyền khác cũng phải được
bảo đảm, trước hết là quyền về kinh tế, môi trường.
Chính vì lẽ đó,
Điều 50 Hiến pháp khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn
kết chặt chẽ vói phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
vệ môi trường”. Như vậy quyền về văn hóa, quyền về kinh tế gắn bó chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Điều 9 Luật Di
sản văn hóa 2009 xác định trách nhiệm của Nhà nước “Nhà nước có chính sách bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân
dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đât nước”.
Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam
Quyền của phụ nữ
Việt Nam phê
chuẩn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1982
và xây dựng, hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền của
phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. .
Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đều
khẳng định mọi người đều binh đẳng trước pháp luật không phân biệt giới
tính địa vị, dân tộc...Riêng đối vói phụ nữ, Hiến pháp xác định: Công dân nam,
nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội binh
đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn
diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Tất cả những hành vi phân biệt
đối xử về giới bị nghiêm cấm.
+Luật Đình đẳng giới được ban
hành năm 2006 với mục tiêụ là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như
nhaụ cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực,
tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho
nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát
triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.
+Cũng như nam giới, phụ nữ có
quyền tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức
chính tri, tổ chức
chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp. Nam, nữ bình đẳng trong trong cơ hội thăng tiến, đề
bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo.
+Điều 8 khoản 3 Luật Bầu cử
đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: số lượng phụ
nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do ủy ban thường vụ Quốc hội dự
kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nba mươi lăm phần trăm tổng số người trong
danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.
+Trong quá trình xây dựng, phát triển đất
nước nói chung, bảo đảm quyền con người nói riêng chúng ta coi phát triển kinh
tế là nhiệm vụ trọng tâm nên tạo mọi điều kiện, cơ hội thuận lợi cho mọi người,
ừong đó có phụ nữ tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.
Luật Bình đẳng giới quy định: Nam, nữ bình
đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất,
kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bĩnh đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn
vốn, thị trường và nguồn lao động.
Nhà nước có các
biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: Doanh
nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định
của pháp luật; lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.
+Điều 98 khoản 4 Luật Đất đai
năm 2013 quy định: Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sờ hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ,
tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tải sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận
ghi tên một người.
Trường hợp quyền
sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất hoặc quyền sờ hữu nhà ờ và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản
chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chi ghi họ, tên của vợ hoặc
chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có
yêu cầu.
+Điều 13 Luật Bình đẳng giới
quy định những tiêu chí bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động: Nam, nữ
bình đằng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi
làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao
động và các điều kiện làm việc khác; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được
đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức
danh.
+Ngoài những quy định mang
tính nguyên tắc chung, pháp luật còn có những quy định cụ thể riêng đối với lao
động nữ.
>Nhà nước có chinh sách khuyến khích và giảm thuế cho
các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, có các biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao
động nữ.
>Pháp luật cũng đặt ra các yêu
cầu đối với người sử dụng lao động trong việc bảo vệ và thực hiện chế độ thai
sản, những việc không được sử dụng lao động nữ. Người sử dụng lao động phải có
các biện pháp thúc đẩy binh đẳng giới ữong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời
giờ làm việc, thòi giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.
+Trong lĩnh vực giáo dục, pháp
luật quy định bình đẳng giới trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo;
trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ. Người lao động là nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của
pháp luật.
+Pháp luật quy định nam, nữ
được bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ và trong
việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả
nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.
+Phụ nữ được bình đẳng với nam
giới trong
chăm sóc sức khỏe và tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức
khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng
biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm
HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
>Điều 44 Luật Bảo vệ sức khỏe
nhân dân quy định: “Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được
khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa, được theo dõi sức khoẻ ữong thòi kỳ thai nghén,
được phục vụ y tế khi sinh con tại các cơ sở y tế”.
> Để phụ nữ được bảo đảm thực
hiện quyền này, Bộ Ytế có trách nhiệm củng cố, phát triển mạng lưới chuyên khoa
phụ sản và sơ sinh đến tận cơ sở để bảo đảm phục vụ y tế cho phụ nữ. Các hành
vi nạo phá thai trái phép bị nghiêm cấm.
>Để bảo vệ sức khỏe cho phụ
nữ, pháp luật quy định danh mục các việc làm nặng nhọc, độc. hại mà người sử
đụng lao động không được bắt buộc phụ nữ làm.
+Phụ nữ và nam giới bình đẳng
với nhau trong việc quyết định kết hôn cũng như ly hôn. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và
gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.
Điều 17 Luật Hôn
nhận và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền,
nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền,
nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiên pháp, Luật này và các luật khác
có liên quan”.
Chuẩn mực quốc tế về quyền con người chỉ ra
rằng, mọi người trong khi hưởng thụ các quyền của mình đều có nghĩa vụ đối với
cộng đồng và người khác. Như vậy, con người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ. Để
bảo vệ quyền hôn nhân và gia đĩnh, ngoài việc quy định quyền của vợ, chồng,
pháp luật còn quy định trách nhiệm của vợ chồng: Vợ, chồng bình đằng với nhau
vế quyền, nghĩa vụ ữong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung; không phân biệt giữa lao động ừong gia đìĩih và lao động có thu nhập.
Quyền của trẻ em
Luật Trẻ em năm
2016 quy định trẻ em là
người dưới 16 tuổi. Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà
nước, xã hội, nhà trường và tất cả mọi người. Điều 37, khoản 1 Hiến pháp khẳng
định rõ: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược
đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền
trẻ em”.
Đẻ bảo đảm quyền
trẻ em, Nhà nước định ra cầc nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em: Không
phân biệt đối xử với trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhẩt của trẻ em trong các
quyết định liên quan đến ừẻ em, tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến,
nguyện vọng của trẻ em.
Khi xây dựng
chính sách, pháp luật tác động đến ữẻ em, pháp luật ỹêu cầu phải xem xét ý kiến
của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục
tiêu, chỉ tiêu về trẻ em ừong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
quốc gia, ngành và địa phương.
Nhà nước bảo đảm
nguồn lực, có giải pháp về nhân lực và bảo đảm điều kiện cho việc thực hiện
quyền trẻ em; ưu tiên bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã và vận
động nguồn lực để phát triển mạng lưới cộng tác viên bảo vệ trẻ em tại thôn,
làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tồ dân phố, khu phố, khóm.
Chương II, Mục 1
Luật Trẻ em quy định 35 quyền cụ thể của trẻ em: Quyền sống, được khai sinh và
có quốc tịch; quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyen được chăm sóc, nuôi dưỡng;
quyền được giáo dục, học tập và phat tnên
Đối với người
khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống sẽ
được tiếp nhận vào các sở bảo trợ xã hội.
về chăm sóc sức
khỏe đối với ngườikhuyết tật, Điều 47 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định:
Bộ Ytế, Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Bộ Giáo dục có trách nhiệm tổ chức
chăm sóc và áp dụng các biện pháp phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật.
Trên tinh thần đó, Luật Người khuyết tậtxác định rõ: “Nhà nước bảo đảm để người
khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp.
Về giáo dục, Nhà
nước tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu càu và khả
năng của người khuyết tật.
So với người
bình thường, người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn đối vói giáo dục
phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc
nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được
miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học
bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập. Người khuyết tật được cung cấp
phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng phù hợp với khả năng.
Dạy nghề đổi vởị
người khuyết tật Nhà
nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học
nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những ngưòi khác.
Việc làm đổi với
người khuyết tật
Đối với người
khuyết tật, Nhà nước có biện pháp, chính sách cụ thể ưu đãi họ, trong đó tạo
điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, cố việc làm và làm
việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của ngưòi khuyết tật. Bên cạnh đó, pháp
luật cấm các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân từ chối tuyển dụng người
khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn
tuyển dụng ừái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người
khuyết tật.
Về văn hóa, thể
dục, thể thao, giải trí và du lịch đối với người khuyết tật
Nhà nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục,
thể thao, giải trí và du lịch phù đối với người khuyết tật; tạo điều kiện để họ
được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thạo, giải trí và du lịch.
Việc tự do đi
lại đối với người khuyết tật đòi hỏi phải có những đặc thù. Chính vì lẽ đó, để
tạo điều kiện cho người khuyết tật đi lại được thuận lợi hom, pháp luật quy
định: Đen ngày 01 tháng 01 năm 2020, các công trình công cộng: Trụ sở làm việc
của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ
sở giáo dục, dạy nghề; công ừình văn hóa, thể dục, thể thao phải bảo đảm điều
kiện tiếp cận đối vói người khuyết tật.
Đến ngày 01 tháng 01 năm 2025,
tất cả nhà chung cư, trụ sở làm việc, cồng trình hạ tầng kỹ thuật công cộng,
công ừình hạ tầng xã hội phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết
tật, có nghĩa là phải có lối đi sao cho người khuyết tật có thể đi lại được.
Quyền của người cao tuổi
Tiêu chí để xác
định người cao tuổi dựa vào độ tuổi của người đó. Điều 2 Luật Người cao tuổi 2009 quy
định: Người cao tuổi được quy đinh trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60
tuổi trở lên. Người cao tuổi có nhiều công lao đóng góp cho gia đình, xã hội,
sức khỏe giảm sút rất cần được quan tâm giúp đỡ, chăm sóc đòi sống tỉnh thần,
vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đỉ lại, chăm sóc sức khoẻ
và các nhu cầu về vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp, học tập của người
cao tuổi. Hiến pháp khẳng định: Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã
hội tôn trọng, chăm sóc (Điều 37khoản 3).
Bên cạnh việc
khuyến khích, tạo điều kiện cho người
cao tuổi rèn luyện,
sức khoẻ; tham
gia học tập, hoạt động văn hoá, tinh thần; sống trong môi trường an toàn và
được tôn ữọng về nhắn phẩm, Nhà nước có các biện pháp phát triển ngành ỉão khoa
đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi đồng thời đào tạo nhân
viên chăm sóc người cao tuổi.
Nhằm bảo vệ
người cao tuổi, pháp luật quy định những hành vi bị cấm xâm hại đời sống vật
chất tinh thần người cao tuổi: ngược đãi, xúc phạm, phân biệt đối xử; cản ừở
người cao tuổi thực hiện quyền về tài sản, hôn nhân gia đình và các quyền khác;
lợi dụng người cao tuổi để trục lợi, ép buộc người cao tuổi làm trái pháp luật...
*Quyền của nhóm
người dễ bị tổn thương khác
-Người nghèo
Người nghèo được
coi là đối tượng dễ bị tổn thương cần có sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước và xã
hội. Xã hội loài người ngày càng phát triển và nhu cầu của con người ngày càng
tăng cao. Theo đó, quy định về chuẩn nghèo cũng không phải cố định mà có sự
thay đổi theo các giai đoạn thòi gian khác nhau, ở từng quốc gia khác nhau.
Trước đây, để xác định người nghèo, hộ nghèo chỉ dựa trên tiêu chí thu nhập. Ngày nay xác đinh
người nghèo, hộ nghèo dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau theo cách tính nghèo đa
chiều. Người
nghèo, hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ trong khám, chữa bệnh, tạo việc làm và các chính sách vê
an sinh xã hội. Nhà nước có trách nhiệm thực thi chính sách pháp luật về giảm,
tiến tới xóa nghèo.
Đồng bào các dân
tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi, nơi có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội
khó khăn. Chính vì lẽ đó cùng với việc thực hiện chính sách pháp luật bảo đảm
cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;
nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.Nhà nước còn thực hiện nhiều
biện pháp, chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc
thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.
Ngựời có công
với cách mạng và thân nhân được Nhà nước, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và
tuỳ từng đối tượng được hường các chế độ: Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng
tháng, trợ cấp một lần; bảo hiệm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; được ưu
tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ ữợ để theo học tại cơ sở giáo dục
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học
Nhà nước có
chính sách hỗ trợ ngựời có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về
nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đĩnh người có công với cách mạng
giúp sữa chữa hoặc xây mới nhà ở.
Đối với người
hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc được hưởng trợ cấp hàng tháng căn cứ
vào mức độ suy giảm khả năng lao động theo các mức độ
suy giảm khả
năng lao động. Ngoài ra, những người này còn được hưởng các chế độ:Bảo hiểm y
tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình ừạng bệnh tật
của từng người và khả năng của Nhà nước;
Theo
quy định của pháp luật người
nhiễm HIV/AIDS là người có bệnh cần được cứu chữa. Pháp luật cấm các hành vi kỳ
thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ. Người
nhiễm HIV/AIDS có các quyền còn người, quyền công dân như những người bình
thường khác.
Quan niệm về Quyền Tư pháp độc lập
Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nền dân chủ,
giá trị của văn minh nhân loại, một phương thức tổ chức quản lý xã hội đề cao
pháp luật, dựa trên pháp luật để tổ chức bộ máy, sử dụng pháp luật để duy trì
trật tự xã hội và trật tự công lý trong nhân dân. Do đó, việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền là xu hướng khách quan, một nhu cầu tất yếu đối với các Nhà nước
trên thế giới. Việt Nam chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa để tạo Lập một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Quyền Tư pháp độc lập là một tiêu chí đánh giá Nhà
nước pháp quyền bên cạnh các tiêu chí: sự tối thượng của pháp luật, đặc biệt là
sự tối thượng của hiến pháp và cơ chế bảo vệ sự tối thượng của pháp luật, hiến
pháp – bảo hiến; bảo đảm tính chất chính trị và pháp lý của luật pháp (dân chủ,
công bằng, nhân đạo, hiệu lực, khả thi,…)… Trong tổ chức bộ máy Nhà nước, Lập
pháp và Hành pháp không có sự phân chia tuyệt đối với nhau và Hành pháp vẫn can
thiệp sang lĩnh vực Lập pháp, thậm chí các hoạt động Lập pháp còn là nhu cầu
của Hành pháp, do đó ý nghĩa của quyền Tư pháp độc lập là cơ sở cho việc Tòa án
xét xử một cách công bằng, bảo vệ hiệu quả quyền con người. Montesquieu cho
rằng “không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền
Lập pháp và quyền Hành pháp”. Một nền Tư pháp độc lập là nền tảng cho sự
thịnh vượng của các nền kinh tế bởi vì chỉ có Tư pháp độc lập công dân mới có
thể mong đợi các phán quyết của Tòa án dựa trên sự thật và pháp luật mà không
chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ tác động bất hợp pháp nào. Đặc biệt, quyền Tư pháp
độc lập là phương tiện không thể thiếu để hạn chế chính quyền bằng luật. Vì
vậy, quyền Tư pháp độc lập trở tHành một nguyên tắc quan trọng được mọi hiến
pháp của các nước dân chủ quy định.
Ở Việt Nam, tại Điều 69 của bản Hiến pháp đầu tiên của
nền dân chủ cộng hòa – Hiến
pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Trong khi xét xử, các viên
Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”.
Hiến pháp năm 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: “Khi xét
xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp
năm 1980 ghi nhận ở Điều 131: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Đến Hiến pháp năm 1992 (được
sửa đổi bổ sung năm 2001) thì nguyên tắc này được ghi nhận
ở Điều 130: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách cụ thể hơn so
với các bản Hiến pháp trước đây: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào
việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm”. Như vậy, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập
xét xử là độc lập trong mọi hoạt động tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến
khi kết thúc phiên tòa xét xử, chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử”.
Việc “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử
của Thẩm phán, hội thẩm” cũng là bảo đảm cho nguyên tắc này phải được
thực thi trong thực tiễn.
Tầm quan trọng của quyền Tư pháp độc lập cũng đã được
ghi nhận trong luật quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 xây dựng các
điều kiện để công lý có thể được duy trì (bao hàm về tính độc lập của Tòa án).
Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948 quy định, mọi người đều có “quyền
được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan” (Điều
10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận “quyền
được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập ,
không thiên vị và được Lập ra trên cơ sở pháp luật” (khoản 1 Điều
14), “quyền được xét xử ngay mà không bị trì hoãn vô lý” (khoản
3 Điều 14).
Quyền Tư pháp độc lập đòi hỏi sự khách quan và vô tư
của người làm công tác xét xử. Thẩm phán phải là người được tự do thẩm định,
đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật mà không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một tác
động nào. Có hai khía cạnh về tính độc lập tư pháp là độc lập bên ngoài và độc
lập bên trong. Độc lập với bên ngoài nghĩa là Tư pháp phải hoàn toàn độc lập
với các cá nhân, cơ quan, tổ chức và những tác động khác ảnh hưởng đến tính
đúng đắn, khách quan của cá nhân các Thẩm phán. Độc lập bên trong nghĩa là Thẩm
phán phải độc lập với đồng nghiệp xung quanh, các tHành viên Hội đồng xét
xử, với cấp trên và ngay cả trước lợi ích cá nhân của bản thân họ. Sự vô tư của
Thẩm phán khi xét xử đòi hỏi Thẩm phán có trách nhiệm trước pháp luật và với
chính lương tâm của mình. Độc lập tức là không được tác động đối với việc
xét xử của Tòa án, vô tư là yêu cầu Tòa án không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác
động nào.
Tuy nhiên, quyền Tư pháp độc lập không có nghĩa
là độc lập với mọi sự hạn chế, mà là sự độc lập được giới hạn bởi việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán. Đồng thời, chính việc tuân theo pháp luật là
cơ sở vững chắc để đảm bảo cho sự độc lập của quyền Tư pháp. Nói cách khác, Tư
pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Độc lập tư pháp và tuân theo
pháp luật là hai nội dung không tách rời nhau. Nếu chỉ độc lập mà không tuân
theo pháp luật sẽ dẫn đến biệt Lập, tùy tiện. Chỉ tuân theo pháp luật mà không
dựa trên quyền Tư pháp độc lập có thể tạo ra sự cứng nhắc, máy móc. Quyền Tư
pháp độc lập là điều kiện tiên quyết để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công
lý. Quyền tư pháp tuân theo pháp luật điều kiện bắt buộc bảo đảm cho Tòa án
thực hiện đúng đắn quyền tư pháp.
Quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 2013
Hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng đến quyền tư pháp và tổ chức thực
hiện quyền tư pháp thông qua cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp, vì nhà nước
hiện đại nào cũng phát sinh nhu cầu phải phán xử, xác định các hành vi, các
quyết định của các chủ thể có phù hợp với quy định của pháp luật của nhà nước
đó không. Trong cuốn "Tinh thần pháp luật" nổi tiếng của mình,
Montesquieu đã viết: “Quyền tư pháp bao gồm xét xử hành vi vi phạm pháp luật để
bảo đảm quyền tự do và quyền con người và do đó phải được trao cho một thiết
chế riêng rẽ đó là Tòa án.”. Nên cách hiểu chung nhất hiện nay, Quyền tư pháp
là một trong những quyền lực nhà nước được giao cho Tòa án thực hiện, bao gồm
từ quyền phán quyết đối với các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả vi phạm hiến
pháp; xử lý các tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan
hệ xã hội; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức,…
Ở nước ta, quyền tư
pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp tạo thành quyền lực thống nhất
của Nhà nước, mục đích thực hiện quyền tư pháp là xử lý mọi hành vi vi phạm
pháp luật, giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh, bổ sung,
thay đổi hoặc chấm dứt từ các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do Tòa án
thực hiện bằng thủ tục tố tụng chặt chẽ, dân chủ, công khai và công bằng, nhằm
khôi phục, duy trì trật tự pháp luật, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân bị xâm phạm, góp phần bảo đảm pháp luật được tôn trọng và chấp
hành nghiêm minh. Tại khoản 3 Điều 2 và khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy
định:“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp.”; “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.”. Trong phạm vi bài viết này,
tác giả giới hạn việc nghiên cứu về quyền tư pháp và cơ quan thực thi quyền tư
pháp theo tinh thần quy định của Hiến pháp năm 2013, mà theo đó, hiện vẫn còn
nhiều cách hiểu khác nhau về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp,
bởi ngoài những quy định có liên quan tại Hiến pháp năm 2013, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hiện vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung này.
1. Nhận thức về quyền tư pháp
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến ở nước ta, quyền tư pháp và cơ quan thực
thi quyền tư pháp được quy định rõ. Tuy nhiên, khái niệm về quyền tư pháp thì
chưa được định nghĩa hoặc giải thích chính thống từ cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để được hiểu một cách thống nhất, dẫn đến nhận thức có sự khác nhau về
quyền tư pháp. Xoay quanh nội dung này, hiện có các nhóm quan điểm sau:
+ Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền tư pháp được hiểu là hoạt động
xét xử của Tòa án và những hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trực tiếp
liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích
của Nhà nước và xã hội. Nhóm quan điểm này, quyền tư pháp được thực hiện không
chỉ bởi cơ quan xét xử (tòa án), mà cả Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra
và các cơ quan trợ giúp tư pháp, như: Luật sư, Công chứng, Giám định, Tư vấn
pháp luật,…Những người theo quan điểm này, căn cứ vào Nghị quyết 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020.
+ Nhóm quan điểm thứ hai: Quyền tư pháp là quyền mà Nhà nước giao cho
các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành
chính, kinh doanh, thương mại, lao động,… theo trình tự, thủ tục tố tụng tư
pháp, bao gồm các thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố
tụng hành chính,… Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân ,
Cơ quan thi hành án đều thực hiện quyền tư pháp theo những mức độ khác nhau.
Việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án gắn liền với chức năng xét xử và chỉ
thực hiện khi và chỉ khi xét xử chứ không bao trùm cả chức năng điều tra, chức
năng công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động thực hiện quyền
tư pháp của Tòa án nhân dân chỉ xảy ra khi vụ việc được chuyển đến Tòa án xem
xét, giải quyết và hoàn toàn độc lập với hoạt động điều tra của cơ quan điều
tra, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện
kiểm sát. Do vậy, Quyền tư pháp được hiểu là tập hợp những hoạt động cụ thể do
cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên quan trực tiếp đến việc
giải quyết vụ án, các tranh chấp pháp luật, hướng tới mục đích giải quyết các
vụ án, tranh chấp một cách khách quan, đúng đắn và các hoạt động liên quan đến
thi hành các phán quyết của Tòa án, mà các hoạt động đó thuộc về cơ quan điều tra,
viện kiểm sát, tòa án và thi hành án.
+ Nhóm quan điểm thứ ba: Quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực Nhà nước
được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp
pháp của các hành vi, quyết định áp dụng pháp luật khi có sự tranh chấp về các
quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật. Theo quan điểm này, chủ thể thực
hiện quyền tư pháp chỉ là Tòa án và hoạt động tư pháp chỉ là hoạt động xét xử.
Nói đến tư pháp là nói đến lĩnh vực hoạt động xét xử của Tòa án và ngược lại.
Cùng chung quan điểm này, theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, trong sách chuyên khảo
“Thể chế Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền”, NXB Tư pháp, năm 2004,
trang 11, có viết: “Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực
hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của
các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi
ích giữa các chủ thể pháp luật”
Đồng tình với quan điểm này, nhưng hiểu với phạm vi mở rộng hơn, mức độ sâu sắc
hơn, mà theo đó, nội hàm của quyền tư pháp trước hết là quyền xét xử, quyền
kiểm tra, đánh giá kết luận về tính hợp pháp và có căn cứ của các quyết định,
hành vi tố tụng do các cơ quan tư pháp thực hiện trong suốt quá trình tố tụng
và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Những người ủng hộ quan điểm mở
rộng, lập luận theo hướng Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của
mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu
tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác. Trước yêu cầu bảo đảm
tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng cơ chế để Tòa án tham gia kiểm soát việc thực
hiện các hoạt động tư pháp. Trong bài viết: “Làm thế nào để Thẩm phán và Tòa
án độc lập trong thực thi công lý” của GS. Lê Hồng Hạnh, đăng trên Tạp chí
Pháp luật và Phát triển, số 1/2015, có viết: Trong cơ chế phân công quyền lực,
quyền tư pháp được hiểu là là quyền của Nhà nước xác định và xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật và thực thi công lý thông qua các thể chế phù hợp. Thiết chế
này có chức năng cơ bản nhất, nếu không muốn nói là duy nhất, thay mặt xã hội
thực thi công lý và nó phải được tổ chức, được giao nhiệm vụ, quyền hạn để thực
hiện công việc một cách độc lập tối đa có thể; và công lý phải được thực thi
trong mắt nhân dân. Thiết chế thực thi công lý bao gồm các Thẩm phán. Còn
PGS.TS Trần Văn Độ, cho rằng: Quyền tư pháp là quyền xét xử, tức quyền áp dụng
pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra
trong xã hội. Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan
xét xử duy nhất của Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Vì vậy, xử lý các vi phạm
pháp luật bằng các chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực
Nhà nước đều phải thuộc thẩm quyền của Tòa án. Các cơ quan nhà nước khác tham
gia vào việc xử lý, giải quyết đó không phải là cơ quan tư pháp, không có chức
năng thực hiện quyền tư pháp, mà các cơ quan này chỉ thực hiện các hoạt động tư
pháp. Từ đó, mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử, giao cho Tòa án bảo
đảm áp dụng thống nhất pháp luật là xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền.
Tuy nhiên, chỉ riêng trong lĩnh vực tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 (có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/7/2016) vẫn quy định các Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát có thẩm quyền ban hành các quyết định có liên quan đến việc hạn chế quyền
con người, quyền công dân, trong đó, đặc biệt là các quyền về tự do thân thể,
nhà ở, đồ vật, thư tín, bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét nhà ở,…Chẳng hạn, theo
quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015: Những người sau
đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh
bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
Tương tự như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 193 BLTTHS năm 2015,
những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật này, có quyền
ra lệnh khám xét (khám xét người, khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện , thu giữ thư tín, điện tín,…). Trong khi các quyền này có ảnh
hưởng lớn đến quyền con người, quyền công dân, thì lại chưa được Quốc hội giao
cho Tòa án với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp phán quyết hoặc kiểm
tra việc ra phán quyết để bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân!
2. Cơ quan thực hiện quyền tư pháp
Việc quy định quyền tư pháp phải xuất phát từ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà
nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với đặc thù về thể chế chính
trị, thực tế và truyền thống pháp luật của Việt Nam. Qua nghiên cứu của người
viết, xoay quanh nhận thức về quyền tư pháp là hoạt động của Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án và thiết chế bổ trợ tư pháp cho
rằng, quyền tư pháp chỉ là hoạt động xét xử của Tòa án có một số điểm chưa hợp
lý sau:
Một là, các quan điểm nói trên mới chỉ nói đến chức năng và thẩm
quyền xét xử của Tòa án, mà chưa đề cập đến thẩm quyền nhiều mặt khác của cơ
quan này, bởi lẽ, ở nhiều quốc gia khác, ngoài hoạt động xét xử, Tòa án còn
thực hiện nhiều hoạt động khác, như kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ
của các quyết định mà cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền giải thích, hướng
dẫn, áp dụng pháp luật.
Hai là, nhận thức về quyền tư pháp theo phương diện chủ thể thực
thi quyền tư pháp bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ phân biệt được rõ
ràng chức năng hành pháp và chức năng tư pháp. Các cơ quan điều tra, viện kiểm
sát về bản chất là cơ quan hành pháp và hoạt động của các cơ quan này sẽ tham
gia vào các vụ án hình sự, trong khi đó, các vụ án không phải là hình sự thì
theo quy định của pháp luật nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, nên các
cơ quan điều tra sẽ không xuất hiện và chức năng thực hiện quyền kiểm sát hoạt
động tư pháp của viện kiểm sát lại càng rất mờ nhạt.
Ba là, nếu coi chủ thể thực hiện quyền tư pháp không chỉ là các cơ
quan nhà nước mà còn cả các tổ chức bổ trợ tư pháp, thì điều này dẫn đến, quyền
tư pháp không còn được hiểu đúng theo nghĩa của một nhánh quyền lực trong quyền
lực Nhà nước của bộ máy Nhà nước.
Theo quy định khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, như trên đã dẫn, việc cụ thể
hóa nội hàm về quyền tư pháp, xác định chính danh Tòa là cơ quan thực hiện
quyền tư pháp trong văn bản pháp luật là điều rất cần thiết, từ đó mới quy định
đúng, đủ, chính xác chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, tạo cơ sở pháp
lý cho Tòa án thực hiện có hiệu quả quyền tư pháp, góp phần xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Qua nghiên cứu, theo quan điểm của người viết, nội hàm của quyền tư pháp được
xác định bao gồm các lĩnh vực sau:
Thứ nhất, quyền tư pháp là xét xử và giải quyết các việc khác theo quy
định của pháp luật; áp dụng, kiểm tra, hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp cưỡng
chế Nhà nước hạn chế quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp
luật quy định; kiểm tra, kết luận tính hợp pháp và có căn cứ của các hành vi,
quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Thứ hai, xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý
nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến
quyền con người; quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, quyết định, giám sát việc thi hành bản án, quyết định của
Tòa án;
Thứ tư, trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị
với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp
luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của UBTVQH;
Thứ năm, quyền kiểm soát việc thực hiện các hoạt động tư pháp. Hiến
pháp đã xác định Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, thì trong quá trình
thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử, giải quyết các vụ
việc thuộc thẩm quyền, các hoạt động của cơ quan, tổ chức tiến hành tố tụng
hoặc hỗ trợ cho tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp đều phải chịu sự kiểm
soát tư pháp của Tòa án.
Từ những phân tích nội hàm quyền tư pháp nêu trên, theo quan điểm của người
viết, quyền tư pháp được hiểu: Quyền tư pháp là quyền lực nhà nước giao
cho tòa án thực hiện, bao gồm trước hết là quyền xét xử và giải quyết các việc
khác theo quy định của pháp luật; áp dụng, kiểm tra, hoặc hủy bỏ việc áp dụng
các biện pháp cưỡng chế Nhà nước hạn chế quyền con người, quyền công dân; áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản
của công dân theo quy định của pháp luật; quyết định, giám sát việc thi hành
bản án, quyết định của Tòa án; hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật; kiểm
soát hoạt động tư pháp, hoạt động của cơ quan hành pháp theo cơ chế phân công,
phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước và các quyền khác bảo
đảm để Tòa án thực thi quyền lực tư pháp theo quy định của pháp luật.
Hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước bảo vệ pháp luật có
trách nhiệm duy trì, bảo vệ công lý và trật tự pháp luật, trong đó, Tòa án với
chức năng hiến định là xét xử với vai trò trung tâm và thể hiện rõ nét nhất các
đặc tính của quyền tư pháp. Hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công
tố được thực hiện bởi các cơ quan hành pháp, bởi suy cho cùng Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát về bản chất thuộc cơ quan hành pháp, nên việc sắp xếp các cơ quan
này vào hệ thống các cơ quan tư pháp là không hợp lý, hơn nữa, theo khoản 1
Điều 107 Hiến pháp năm 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Kiểm sát hoạt động tư pháp mà thực chất là
kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, là hình thức kiểm soát quyền lực nhà
nước, xuất phát từ nguyên tắc độc lập xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “ Kiểm sát hoạt động tư
pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các
hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được
thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc
giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.” Vấn
đề đặt ra, kiểm soát quyền lực tư pháp thực hiện như thế nào là hợp lý? Cách giải
thích phù hợp với Hiến pháp hiện nay là quyền kiểm soát hoạt động xét xử, được
Quốc hội giao cho Viện kiểm sát với vai trò công cụ kiểm soát quyền lực nhà
nước nói chung, trong đó có quyền lực tư pháp. Mà nếu như vậy, Viện kiểm sát
phải độc lập với hoạt động xét xử, hoạt động tố tụng thì mới có thể kiểm sát
hoạt động xét xử, kiểm sát hoạt động tố tụng, nghĩa là Viện kiểm sát phải đứng
ngoài tư pháp, không phải là cơ quan tư pháp. Mặt khác, cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát xuất hiện trong quan hệ tố tụng trong từng lĩnh vực là khác nhau,
cụ thể, trong quan hệ tố tụng hình sự thì luôn luôn có sự tham gia của các cơ
quan này theo thẩm quyền pháp luật quy định, nhưng với lĩnh vực dân sự, lao
động, kinh doanh, thương mại,… Cơ quan điều tra không tham gia, còn Viện kiểm
sát chỉ tham gia với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp việc thực hiện chức năng công tố với chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp chưa rõ ràng, nghĩa là lúc nào thì Viên kiểm sát thực hiện quyền
công tố, khi nào thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kiểm sát hoạt động xét xử
của Tòa án.
Cơ quan thi hành án với chức năng nhiệm vụ pháp luật quy định chỉ thi
hành các phán quyết của Tòa án, nên mang tính chất hành chính – tư pháp. Do đó,
hoạt động thi hành án không thuộc phạm vi của quyền tư pháp và cơ quan thi hành
án không phải là cơ quan tư pháp. Ngoài ra, hoạt động của tổ chức luật sư, giám
định,… như tên gọi là hoạt động bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, nhưng
các hoạt động này được tiến hành bởi các tổ chức, cá nhân bên ngoài, không được
giao thực hiện quyền lực nhà nước, nên không coi là hoạt động thực thi quyền tư
pháp.
Trong khi đó, Tòa án là chủ thể thực hiện quyền tư pháp một cách “tuyệt đối”
nên tham gia trong mọi lĩnh vực để phân xử đưa ra phán quyết bảo đảm sự công
bằng, lẽ phải, bảo vệ công lý theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện đất
nước ta đang xây dựng nền tư pháp phụng sự Nhân dân, gần Nhân dân, đáp ứng
những yêu cầu của Nhân dân phải giải quyết nhanh chóng những tranh chấp, sự
việc phát sinh để kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích của người dân thì mức độ và
phạm vi kiểm sát hoạt động xét xử, giải quyết các vụ việc khác của Tòa án cần
được cụ thể hóa bằng văn bản pháp luật.
Tóm lại, theo quan điểm của người viết, Tòa án là cơ quan duy
nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước, chỉ có
Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà
nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước. Do vậy, khi nói đến
quyền tư pháp là nói đến quyền của Tòa án và chỉ là Tòa án; Cơ quan thực hiện
quyền tư pháp duy nhất chỉ là Tòa án.
Tư pháp theo nghĩa Hán Việt được hiểu là: “pháp
đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật”[1],
theo tiếng Latinh “Tư pháp” – Justitia, theo tiếng Anh – Justition,
có nghĩa là “công lý”, “pháp chế”.
Tức là, khi nói đến “Tư pháp” là nói đến công lý, đến
việc phân xử và phán xét các tranh chấp theo quy định pháp luật và lẽ công
bằng. Về bản chất, “Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được
thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp
của các Hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và
lợi ích giữa các chủ thể pháp luật.[2]”
Bản chất của Tư pháp hay hoạt động Tư pháp bắt nguồn
từ quyền lực đặc biệt đó là quyền Tư pháp. Trong đó, quyền Tư pháp là một nội
dung của quyền lực nhà nước, được định danh khi quyền lực nhà nước phân chia
thành ba quyền độc lập với nhau, hỗ trợ cho nhau và kiểm soát lẫn nhau, đó là
các quyền Lập pháp, quyền Hành pháp và quyền Tư pháp.
Trong lịch sử nhân loại, quyền Tư pháp lần đầu tiên
được xuất hiện trong tác phẩm Tinh thần pháp luật của Montesquieu, đã giải
thích: Quyền Lập pháp là quyền làm ra luật… sửa đổi hay hủy bỏ luật (đã ban
Hành), quyền Hành pháp là quyền quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi
các nước, thiết Lập an ninh, đề phòng xâm lược, còn quyền Tư pháp là
quyền trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân[3].
Quan niệm trên cũng được chia sẻ ở nhiều quốc gia và
nhiều nhà nghiên cứu luật học trên thế giới và Việt Nam.
Theo định nghĩa của từ điển Black’s Law Dictionary,
quyền Tư pháp (judicial power) là “thẩm quyền được trao cho tòa án và các
thẩm phán xem xét và quyết định các vụ việc và đưa ra phán
quyết có giá trị bắt buộc thi Hành đối với các vụ việc ấy; quyền giải thích và
áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điều gì đó có phù hợp
hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh việc ấy[4].”
Ở Việt Nam, theo nhiều nhà nghiên cứu, quyền Tư pháp
là: “quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh tế, lao động, Hành chính[5]”; “xét xử các Hành
vi vi phạm hiến pháp, vi phạm pháp luật từ phía công dân và các cơ quan nhà
nước; bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân và trật tự an toàn xã hội[6]”; “phân xử và phán xét tính
đúng đắn, tính hợp pháp của các Hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự
tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật[7].”
Mặc dù còn nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau
về quyền Tư pháp, song nhận thức chung về quyền Tư pháp cốt lõi vẫn là quyền
xét xử, là việc nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột
xã hội trên cơ sở pháp luật và lẽ công bằng, thông qua xét xử, theo các thủ tục
tố tụng luật định. Quyền Tư pháp do đó mà phân biệt với quyền Lập pháp (xây
dựng chính sách, tạo Lập ra các quy tắc chung làm khuôn mẫu cho các Hành vi) và
quyền Hành pháp (quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, tổ chức đời sống theo
pháp luật).
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm
về Tư pháp và quyền Tư pháp đã có những bước phát triển để theo kịp với yêu cầu
tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, đặc biệt là trong xu thế phát triển dân
chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới. Khái niệm về quyền Tư pháp
hiện nay đã không chỉ giới ở chức năng xét xử thuần túy (áp dụng các quy định
của pháp luật vào các tranh chấp cụ thể để xác định sự đúng sai, hợp pháp/bất
hợp pháp trong Hành vi của con người và xác định biện pháp chế tài tương ứng)
mà đã mở rộng thêm nhiều quyền hạn khác bao gồm quyền giải thích pháp luật để
phục vụ việc giải quyết vụ việc ấy, hoặc quyền tuyên vi hiến các Hành vi của cơ
quan nhà nước và quyền tạo ra án lệ…
Mặt dù nội dung quan niệm về phạm vi quyền Tư pháp ở
các quốc gia trên thế giới còn có nhiều điểm khác biệt nhau, tuy nhiên, xu
hướng chung của thế giới về quyền Tư pháp là mở rộng phạm vi của quyền Tư pháp
không chỉ có chức năng xét xử mà còn có chức năng bảo vệ quyền con người, bảo
vệ công lý, lẽ công bằng… Đồng thời, cùng với sự phát triển của nhà nước và
pháp luật thì việc xét xử của Tòa án càng mở rộng sang các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội. Các lĩnh vực tranh chấp khác về quyền lợi và trách nhiệm
cũng được chuyển sang cho Tòa án giải quyết.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
“Nguyên tắc” là “những quy định, phép tắc,
tiêu chuẩn làm cơ sở, làm chỗ dựa để xem xét, làm việc”2. Như vậy,
nguyên tắc theo nghĩa chung nhất là những quy tắc, chuẩn mực định hướng chỉ đạo
đối với hoạt động của con người.Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương phải xuất phát trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt
trong Nhà nước pháp quyền; đồng thời chúng cũng phản ánh mối quan hệ giữa các
cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương được đặt trong tổng thể của quá trình vận hành các nguyên tắc chung
về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+
Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
+
Nguyên tắc tập trung dân chủ;
+
Nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công, phân cấp và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt
lập pháp, hành pháp và tư pháp
+
Nguyên tắc có kế hoạch
+
Nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến của nhân dân;
+
Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;
+
Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Bên
cạnh các nguyên tắc chung đó, chính quyền địa phượng còn được tổ chức và hoạt động
trên các nguyên tắc riêng sau đây:
+Hiện
đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân
Nguyên
tắc này được quy đinh tại Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Trong
điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là nhân loại đã
bắt đầu bước vào kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương phải gắn với ứng dụng công nghệ thông
tin để nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp tốt
nhất.
Hoạt
động của chính quyền địa phương phải được công khai theo quy định của pháp luật,
một mặt bảo đảm người dân được tham gia và giám sát hoạt động của chính quyền,
mặt khác chính quyền địa phương tổ chức, hoạt động đúng pháp luật và thực hiện
đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình.
+Hội đồng nhân dân làm
việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số
Nguyên
tắc này được quy định tại Điêu 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Hội đồng nhân dân được thiêt lập thông qua bầu
cử. Mỗi một đại biểu là thành tố bình đẳng về địa vị pháp lý, về quyền và nghĩa
vụ, cấu thành nên tập thể Hội đồng nhân dân - là cơ quan đại diện cho người dân
do dân bầu.
Vì vậy, để thực hiện chức năng đại diện cho
người dân thì Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định
theo đa số là phù hợp.
Nội
dung nguyên tắc này thể hiện dưới các khía cạnh sau:
+
Hoạt động của Hội đồng nhân dân được tiến hành thông qua kỳ họp
Hội
đồng nhân dân họp mỗi năm ít nhất hai kỳ. Ngoài ra, Hội đồng nhân dân họp bất
thường khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc
ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.
+
Việc ban hành nghị quyết, đề án, báo cáo, biên bản của kỳ họp Hội đồng nhân dân
được tiến hành thông qua biểu quyết.
Nghị
quyêt của Hội đồng nhân dân được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân biểu quyết tán thành; riêng nghị quyết về bãi nhiệm đại biểu
Hội đồng nhân dân được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
-Ủy ban nhân dân hoạt động
theo chế độ tập thể ủy ban nhân dân kết hợp với trảch nhiệm của Chủ tịch ủy ban
nhân dân
Nguyên
tắc này được quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Nội dung nguyên tăc này thể hiện:
+
Đối với những công việc thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân phải được bàn bạc
tập thể và thống nhất ý kiến để triển khai thực hiện.
+
Bên cạnh trách nhiệm tập thể cần kết hợp với vai trò, trách nhiệm của cá nhân
Chủ tịch ủy ban nhân dân.
Chính quyền địa phương có những nhiệm vụ gì
+
Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn địa
phương.
+
Quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp
theo quy định của pháp luật.
+
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hanh chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
+
Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp dưới.
+
Chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả
thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
+ Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn.
Quyền tự do đi lại và cư trú trong pháp luật của Việt nam