Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Quan niệm về Quyền Tư pháp độc lập

 


Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nền dân chủ, giá trị của văn minh nhân loại, một phương thức tổ chức quản lý xã hội đề cao pháp luật, dựa trên pháp luật để tổ chức bộ máy, sử dụng pháp luật để duy trì trật tự xã hội và trật tự công lý trong nhân dân. Do đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là xu hướng khách quan, một nhu cầu tất yếu đối với các Nhà nước trên thế giới. Việt Nam chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để tạo Lập một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Quyền Tư pháp độc lập là một tiêu chí đánh giá Nhà nước pháp quyền bên cạnh các tiêu chí: sự tối thượng của pháp luật, đặc biệt là sự tối thượng của hiến pháp và cơ chế bảo vệ sự tối thượng của pháp luật, hiến pháp – bảo hiến; bảo đảm tính chất chính trị và pháp lý của luật pháp (dân chủ, công bằng, nhân đạo, hiệu lực, khả thi,…)… Trong tổ chức bộ máy Nhà nước, Lập pháp và Hành pháp không có sự phân chia tuyệt đối với nhau và Hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực Lập pháp, thậm chí các hoạt động Lập pháp còn là nhu cầu của Hành pháp, do đó ý nghĩa của quyền Tư pháp độc lập là cơ sở cho việc Tòa án xét xử một cách công bằng, bảo vệ hiệu quả quyền con người. Montesquieu cho rằng “không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền Lập pháp và quyền Hành pháp”. Một nền Tư pháp độc lập là nền tảng cho sự thịnh vượng của các nền kinh tế bởi vì chỉ có Tư pháp độc lập công dân mới có thể mong đợi các phán quyết của Tòa án dựa trên sự thật và pháp luật mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ tác động bất hợp pháp nào. Đặc biệt, quyền Tư pháp độc lập là phương tiện không thể thiếu để hạn chế chính quyền bằng luật. Vì vậy, quyền Tư pháp độc lập trở tHành một nguyên tắc quan trọng được mọi hiến pháp của các nước dân chủ quy định.

Ở Việt Nam, tại Điều 69 của bản Hiến pháp đầu tiên của nền dân chủ cộng hòa – Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Hiến pháp năm 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: “Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 1980 ghi nhận ở Điều 131: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Đến Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) thì nguyên tắc này được ghi nhận ở Điều 130: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách cụ thể hơn so với các bản Hiến pháp trước đây: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm”. Như vậy, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập  xét xử là độc lập trong mọi hoạt động tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử, chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử”. Việc “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm” cũng là bảo đảm cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn.

Tầm quan trọng của quyền Tư pháp độc lập cũng đã được ghi nhận trong luật quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 xây dựng các điều kiện để công lý có thể được duy trì (bao hàm về tính độc lập của Tòa án). Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948 quy định, mọi người đều có “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan” (Điều 10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập , không thiên vị và được Lập ra trên cơ sở pháp luật” (khoản 1 Điều 14), “quyền được xét xử ngay mà không bị trì hoãn vô lý” (khoản 3 Điều 14).

Quyền Tư pháp độc lập đòi hỏi sự khách quan và vô tư của người làm công tác xét xử. Thẩm phán phải là người được tự do thẩm định, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật mà không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một tác động nào. Có hai khía cạnh về tính độc lập tư pháp là độc lập bên ngoài và độc lập bên trong. Độc lập với bên ngoài nghĩa là Tư pháp phải hoàn toàn độc lập với các cá nhân, cơ quan, tổ chức và những tác động khác ảnh hưởng đến tính đúng đắn, khách quan của cá nhân các Thẩm phán. Độc lập bên trong nghĩa là Thẩm phán phải độc lập  với đồng nghiệp xung quanh, các tHành viên Hội đồng xét xử, với cấp trên và ngay cả trước lợi ích cá nhân của bản thân họ. Sự vô tư của Thẩm phán khi xét xử đòi hỏi Thẩm phán có trách nhiệm trước pháp luật và với chính lương tâm của mình. Độc lập  tức là không được tác động đối với việc xét xử của Tòa án, vô tư là yêu cầu Tòa án không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác động nào.

Tuy nhiên, quyền Tư pháp độc lập  không có nghĩa là độc lập  với mọi sự hạn chế, mà là sự độc lập được giới hạn bởi việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán. Đồng thời, chính việc tuân theo pháp luật là cơ sở vững chắc để đảm bảo cho sự độc lập của quyền Tư pháp. Nói cách khác, Tư pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Độc lập tư pháp và tuân theo pháp luật là hai nội dung không tách rời nhau. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật sẽ dẫn đến biệt Lập, tùy tiện. Chỉ tuân theo pháp luật mà không dựa trên quyền Tư pháp độc lập có thể tạo ra sự cứng nhắc, máy móc. Quyền Tư pháp độc lập là điều kiện tiên quyết để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý. Quyền tư pháp tuân theo pháp luật điều kiện bắt buộc bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng đắn quyền tư pháp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét