Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong pháp luật của Việt Nam

 


- Quyền về việc làm

Năm 1982 Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và từ đó đến nay đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế được quy định trong Công ước này.

+ Điều 35 Hiển pháp năm 2013 quy định:

> Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Nghiêm cấm phân biệt đối x, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.

 >Bên cạnh quy đinh việc quy định quyền làm việc của người dân, Hiến pháp còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Đồng thi cũng chính Nhà nước có nghĩa vụ hàng đầu trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

> Hiến pháp khẳng định: Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.

+ Bộ luật Lao động năm 2012

> nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người lao động; khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật vê lao động; có chính sách để người lao động mua cổ phần, góp vốn phat tríển sản xuât, kinh doanh.

>Nhà nước bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong lao động; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên.

 > Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động có các quyền sau:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc lảm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao ữình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận vi người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghi theo chế độ, nghi hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy ché dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

d) Đơn phương chấm dứt hp đồng lao động theo quy đinh của pháp luật;

đ) Đình công.

> Đ bảo đảm quyền lợi cho người lao động, Nhà nước Việt Nam quy định mức lương tối thiểu tại Điều 91 Bộ luật Lao động:

 Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho ngưi lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của ngưi lao động và gia đình họ.

> quy định cụ thể mức tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Cụ thể như sau:

1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

c) Vào ngày nghi lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối vói ngưòi lao động hường lương ngày.

2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được ừả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Pháp luật Việt Nam cũng có những quy đinh cụ thể về thời gian lao động, thòi gian nghỉ ngơi; lao động là phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật.

Trong quan hệ lao động, Nhà nước vừa bảo đảm quyền của người lao động đng thời bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý lao động .đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội. Điều 33 Hỉến pháp, Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Hiến pháp khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

- Quyền tự do kinh doanh

“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

+Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư được ban hành to cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quvền tư do kinh doanh, dỡ bỏ hàng loạt thủ tục rườm rà, bất cập theo cơ chế cũ. Đồng thời, pháp luật liệt kê cụ thể những ngành nghề cấm kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài các ngành nghề này ra thì mọi người có quyền tự do kinh doanh.

Trước đây, doanh nghiệp chi được phép hoạt động Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định việc đăng ký kinh doanh không cẩn ghi ngành nghề, thể hiện rõ việc tự do kinh doanh trong tt cả ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, họ có quyền lựa chọn phương thức bảo hộ, giải quyết tranh chấp đầu tư không chỉ qua Tòa án quốc gia mà cả qua cơ chế giải quyết của Trọng tài quốc tế. Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 2015 không còn quy định tội kinh doanh trái phép theo đúng tinh thần không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự.

-Quyền sở hữu

+Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của minh nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

+Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước, pháp luật bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế.

Mọi người có quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.

Nhà nước chi thực hiện việc trưng mua hoặc trung dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc Vì lợi ích quốc gia, tình ứạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.ị

+Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận 03 hình thức sở hữu

>Sở hữu toàn dân (từ Điều 197 đến Điều 204),

>sở hữu riêng (Điều 205 và Điều 206)

>sở hữu chung (từ Điều 207 đến Điều 220).

+Quyền sở hữu được Nhà nước, pháp luật bảo vệ.

> Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xầm phạm quyền của mình bng những biện pháp không trái vi quy định của pháp luật.

>Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối vi tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Người đang chiếm hữu vật được suy đoán là người có quyền hợp pháp đối với tài sản.

+Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc chung về thời hiệu xác lập quyền sở hữu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật mà không phân biệt tài sản đó thuộc sở hữu của ai.

-        Quyền có mức sổng thích đáng

+Bảo đảm cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân không phải dừng lại ở khẩu hiệu, quan điểm, định hướng chung chung mà trờ thành nghĩa vụ của Nhà nước được hiến định tại

+ Điều 3 Hiển pháp:

Nhà nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi ngưòi có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Nhằm bảo đảm thực hiện quyền này, trước hết trên lĩnh vực kinh tế,

+Điều 50 Hiến pháp nhấn mạnh:

 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thưc hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, nhà nưóc tạo điều kiện đê mọi người tham gia vả được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ. Đồng thời, một trong lính vực quan trọng có liên quan trực tiếp đến quyen con người cũng Hiến pháp xác định rõ tại

+ Điều 59 khoản 2 trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trên lĩnh vực văn hóa Hiến pháp tạo cơ sờ pháp lý cho mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.

-        Quyền thành lập và gia nhập công đoàn

+Điều 9 khoản 2 Hiến pháp khẳng định:

 Công đoàn Việt Nam là các tổ chức chính trị-xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác cùa Mặt ừận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhà nước có nghĩa vụ bảo dám, hỗ trợ, tạo điều kiện chọ Công đoàn thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

+ Luật Công đoàn năm 2012 quy định: Người lao động là người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động cồng đoàn.

>Công đoàn cơ sở được tổ chức rộng rãi trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chánh ừị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy đinh của pháp luật về lao động, các cơ quan, tồ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

>Công đoàn có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp, chính đáng của người lao động, tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia, phổi họp với cơ quan nhả nước có tham quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật về lao động, công đoàn, cán bộ, công chức, viên chức, bảo hiếm xã hội, bảo him y tế và chế độ, chính sách, pháp luật khác có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; điều tra . tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,

>Hợp tác quốc tế về công đoàn được thực hiện trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc bĩnh đẳng, tôn ừọng độc lập, chủ quyền quôc gia, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

-Quyền được hưởng an sinh xã hội

+Hiến pháp xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trong đó, Nhà nước có chính sách trợ giúp người cao tuồi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.

+Bảo hiểm xã hội là một trong những việc trọng yếu của an sinh xã hội. Chính vì lẽ đó, chính sách, pháp luật về bâo hiểm xã hội được củng cố, phát triển.

>Trước đây, đối tượng bảo hiểm xã hội của nước ta chi bó hẹp trong phạm vi công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang, hiện nay chúng ta mới mở rộng bảo hiểm xã hội cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Không dừng lại ỡ bảo hiểm xã hội, các loại hình bảo hiểm khác cũng được mở rộng vàthực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

>Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế băt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế. Đồng thời, Nhà nước có các biện pháp khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động thực hiện các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

>Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có ừách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.

>Ngoài những đối tượng thuộc bảo hiểm bắt buộc, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định những đối tượng cụ thể mà Nhà nước có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm y tế cho họ, có nghĩa là họ đương nhiên được bảo hiểm y tế

>Cùng với các quy định về bảo hiểm, Chính phủ đã ban hành Nghị định sổ 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội. Nghị định này mrộng cả phạm vi và mức trợ cấp cho các đối tượng gặp khó khăn trong xã hội. Điều 4 quy định những đối tượng bảo ừợ xã hội thuộc diện được trợ cấp hàng tháng và Điều 6 quy định những đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc nhũng lý do bất khả kháng khác gây ra

-Quyền được chăm sóc sức khoẻ

Con người là chủ thể của quyền, có vai trò làm nên lịch sử, quyết định sự thành bại của cá nhân và của các quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Đối với con người, sức khỏe là yếu tố quan trọng hàng đầu. Chính vì lẽ đó con người có quyền được chăm sóc bảo vệ sức khỏe. Theo đó, chăm sóc sức khỏe là nghĩa vụ của Nhà nước đối với mọi người.

+ Hiến pháp Việt Nam năm 2013 xác định:

Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiếm y tê toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khẵn.

Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

>Pháp luật quy định: công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải ữí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh ừong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống, được sống trong môi trường trong lành và được phục vụ về chuyên môn y tế.

> Để bảo đảm thực hiện quyền này trong thực tiễn, Điều 3 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy đinh rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước:

 Nhà nước chăm lo bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; đưa công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh té - xã hội và ngân sách Nhà nước; quyết định những chế độ chính sách, biện pháp để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân. Đồng thời Nhà nước giao cho các cơ quan Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các đơn. vị vũ trang nhân dân (gọi chung là các tổ chức Nhà nước), các cơ sở sản xuất, kirih doanh của tập thể và tư nhân có trách nhiệm trực tiếp chăm lo, bảo vệ, tăng cường sức khoẻ của những thành, viên trong cơ quan, đơn vị mình và đóng góp tiền của, công sức theo khả năng cho công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

>Cùng với việc chăm sóc sức khỏe về y tế, pháp luật còn quy định việc tổ chức nghỉ ngơi và điều dưỡng đối với người lao động:

Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, các ngành, các cấp, các tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức tập thể có trách nhiệm mở rộng các cơ sở điều dưỡng, nhà nghỉ và câu lạc bộ sức khoẻ.

>Nhằm bảo đảm sức khỏe cho ngưòi lao động, Bộ luật Lao động quy định về tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Khi xây dựng mới, mờ rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường.

>Khi sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển các loại máy, thiết bị, vật tư, năng lượng, điện, hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải được thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động hoặc tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc đã công bố, áp dụng.

>Trên cơ sở pháp luật, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011    - 2020, tm nhìn đen năm 2030.

- Quyền về giáo dục

Thực hiện cam kết quốc tế về bảo đảm quyền được giáo dục, Hiến pháp pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền này trong thực tiễn.

Điều 61 Hiến pháp khẳng định rõ quan điểm, mục tiêu giáo dục cùa Việt Nam coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí phát ừiển nguồn nhân lực, bồi dượng nhân tài.

Thực hiện mục tiêu trên, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non

>Hiến pháp, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 quy định rõ: giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí. Nhà nước tiến hành từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý

>Điều 10 Luật Giáo dục năm 2005 quy định mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.

>Tuy quyền giáo dục xét về bản chất là bình đẳng đối với mọi người nhưng để thực hiện quyền này, bên cạnh chính sách, biện pháp chung, Nhà nước có biện pháp riêng tạo đỉều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề. Đồng thời, Nhà nước có chính sách pháp luật, biện pháp ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài.

>Bảo đảm quyền được giáo dục, Nhà nước chú trọng trong việc giáo dục nghề nghiệp. Điều 6 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 nêu rõ chinh sách ưu tiên của Nhà nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp:

-Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.

-Đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nhân lực. Ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong tồng chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo.

-Ưu tiên đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiếri của khu vực, quốc tế’ chú trọng phát triển giáo dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng ven biển; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa.

-Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, ngư dân đánh bắt xa bờ, lao động nông thôn là người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học tập để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp; thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục nghề nghiệp.

Cùng với chính sách, biện pháp trên đây, pháp luật còn quy định các đối tượng cụ thể được Nhà nước miễn học phí.

-Quyền về văn hóa

Xác định rõ vai ừò, giá trị của văn hóa, nhận thức văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, Nhà nước chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, bảo đảm quyền về văn hóa của mọi người.

+ Hiến pháp khẳng định: Nhà nước, xã hội chăm lo xây dụng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân.

+Nhằm đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế về quyền văn hóa, Hiến pháp ghi nhận: “Mọi người có quỵền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đòi sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”. “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”.

+Quyền văn hóa là một trong những quyền con người. Tuy vậy, để quyền này được thực thi trong thực tiễn thì đòi hỏi nhng quyền khác cũng phải được bảo đảm, trước hết là quyền về kinh tế, môi trường.

Chính vì lẽ đó, Điều 50 Hiến pháp khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ vói phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Như vậy quyền về văn hóa, quyền về kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.

Điều 9 Luật Di sản văn hóa 2009 xác định trách nhiệm của Nhà nước “Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đât nước”.

 Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam

Quyền của phụ nữ

Việt Nam phê chuẩn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1982 và xây dựng, hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. .

Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đều khẳng định mọi người đều binh đẳng trước pháp luật không phân biệt giới tính địa vị, dân tộc...Riêng đối vói phụ nữ, Hiến pháp xác định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội binh đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Tất cả những hành vi phân biệt đối xử về giới bị nghiêm cấm.

+Luật Đình đẳng giới được ban hành năm 2006 với mục tiêụ là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhaụ cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.

+Cũng như nam giới, phụ nữ có quyền tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính tri, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Nam, nữ bình đẳng trong trong cơ hội thăng tiến, đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo.

+Điều 8 khoản 3 Luật Bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.

+Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước nói chung, bảo đảm quyền con người nói riêng chúng ta coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm nên tạo mọi điều kiện, cơ hội thuận lợi cho mọi người, ừong đó có phụ nữ tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

 Luật Bình đẳng giới quy định: Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bĩnh đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

Nhà nước có các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật; lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

+Điều 98 khoản 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sờ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tải sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sờ hữu nhà ờ và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chi ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

+Điều 13 Luật Bình đẳng giới quy định những tiêu chí bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động: Nam, nữ bình đằng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

+Ngoài những quy định mang tính nguyên tắc chung, pháp luật còn có những quy định cụ thể riêng đối với lao động nữ.

>Nhà nước có chinh sách khuyến khích và giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, có các biện pháp tổ chức nhà trẻ, lp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ.

>Pháp luật cũng đặt ra các yêu cầu đối với người sử dụng lao động trong việc bảo vệ và thực hiện chế độ thai sản, những việc không được sử dụng lao động nữ. Người sử dụng lao động phải có các biện pháp thúc đẩy binh đẳng giới ữong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thòi giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.

+Trong lĩnh vực giáo dục, pháp luật quy định bình đẳng giới trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Người lao động là nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

+Pháp luật quy định nam, nữ được bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ và trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.

+Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong chăm sóc sức khỏe và tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

>Điều 44 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định: “Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa, được theo dõi sức khoẻ ữong thòi kỳ thai nghén, được phục vụ y tế khi sinh con tại các cơ sở y tế”.

> Để phụ nữ được bảo đảm thực hiện quyền này, Bộ Ytế có trách nhiệm củng cố, phát triển mạng lưới chuyên khoa phụ sản và sơ sinh đến tận cơ sở để bảo đảm phục vụ y tế cho phụ nữ. Các hành vi nạo phá thai trái phép bị nghiêm cấm.

>Để bảo vệ sức khỏe cho phụ nữ, pháp luật quy định danh mục các việc làm nặng nhọc, độc. hại mà người sử đụng lao động không được bắt buộc phụ nữ làm.

+Phụ nữ và nam giới bình đẳng với nhau trong việc quyết định kết hôn cũng như ly hôn. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Điều 17 Luật Hôn nhận và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiên pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”.

Chuẩn mực quốc tế về quyền con người chỉ ra rằng, mọi người trong khi hưởng thụ các quyền của mình đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng và người khác. Như vậy, con người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ. Để bảo vệ quyền hôn nhân và gia đĩnh, ngoài việc quy định quyền của vợ, chồng, pháp luật còn quy định trách nhiệm của vợ chồng: Vợ, chồng bình đằng với nhau vế quyền, nghĩa vụ ữong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động ừong gia đìĩih và lao động có thu nhập.

Quyền của trẻ em

Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, nhà trường và tất cả mọi người. Điều 37, khoản 1 Hiến pháp khẳng định rõ: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.

Đẻ bảo đảm quyền trẻ em, Nhà nước định ra cầc nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em: Không phân biệt đối xử với trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhẩt của trẻ em trong các quyết định liên quan đến ừẻ em, tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em.

Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến ữẻ em, pháp luật ỹêu cầu phải xem xét ý kiến của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em ừong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương.

Nhà nước bảo đảm nguồn lực, có giải pháp về nhân lực và bảo đảm điều kiện cho việc thực hiện quyền trẻ em; ưu tiên bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã và vận động nguồn lực để phát triển mạng lưới cộng tác viên bảo vệ trẻ em tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tồ dân phố, khu phố, khóm.

Chương II, Mục 1 Luật Trẻ em quy định 35 quyền cụ thể của trẻ em: Quyền sống, được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyen được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được giáo dục, học tập và phat tnên

Đối với người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống sẽ được tiếp nhận vào các sở bảo trợ xã hội.

về chăm sóc sức khỏe đối với ngườikhuyết tật, Điều 47 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định: Bộ Ytế, Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Bộ Giáo dục có trách nhiệm tổ chức chăm sóc và áp dụng các biện pháp phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật. Trên tinh thần đó, Luật Người khuyết tậtxác định rõ: “Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp.

Về giáo dục, Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu càu và khả năng của người khuyết tật.

So với người bình thường, người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn đối vói giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập. Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng phù hợp với khả năng.

Dạy nghề đổi vởị người khuyết tật Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những ngưòi khác.

Việc làm đổi với người khuyết tật

Đối với người khuyết tật, Nhà nước có biện pháp, chính sách cụ thể ưu đãi họ, trong đó tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, cố việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của ngưòi khuyết tật. Bên cạnh đó, pháp luật cấm các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng ừái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật.

Về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch đối với người khuyết tật

Nhà nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch phù đối với người khuyết tật; tạo điều kiện để họ được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thạo, giải trí và du lịch.

Việc tự do đi lại đối với người khuyết tật đòi hỏi phải có những đặc thù. Chính vì lẽ đó, để tạo điều kiện cho người khuyết tật đi lại được thuận lợi hom, pháp luật quy định: Đen ngày 01 tháng 01 năm 2020, các công trình công cộng: Trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công ừình văn hóa, thể dục, thể thao phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối vói người khuyết tật.

Đến ngày 01 tháng 01 năm 2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm việc, cồng trình hạ tầng kỹ thuật công cộng, công ừình hạ tầng xã hội phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật, có nghĩa là phải có lối đi sao cho người khuyết tật có thể đi lại được.

Quyền của người cao tuổi

Tiêu chí để xác định người cao tuổi dựa vào độ tuổi của người đó. Điều 2 Luật Người cao tuổi 2009 quy định: Người cao tuổi được quy đinh trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Người cao tuổi có nhiều công lao đóng góp cho gia đình, xã hội, sức khỏe giảm sút rất cần được quan tâm giúp đỡ, chăm sóc đòi sống tỉnh thần, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đỉ lại, chăm sóc sức khoẻ và các nhu cầu về vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp, học tập của người cao tuổi. Hiến pháp khẳng định: Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc (Điều 37khoản 3).

Bên cạnh việc khuyến khích,     tạo điều kiện cho người cao tuổi rèn luyện,

sức khoẻ; tham gia học tập, hoạt động văn hoá, tinh thần; sống trong môi trường an toàn và được tôn ữọng về nhắn phẩm, Nhà nước có các biện pháp phát triển ngành ỉão khoa đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi đồng thời đào tạo nhân viên chăm sóc người cao tuổi.

Nhằm bảo vệ người cao tuổi, pháp luật quy định những hành vi bị cấm xâm hại đời sống vật chất tinh thần người cao tuổi: ngược đãi, xúc phạm, phân biệt đối xử; cản ừở người cao tuổi thực hiện quyền về tài sản, hôn nhân gia đình và các quyền khác; lợi dụng người cao tuổi để trục lợi, ép buộc người cao tuổi làm trái pháp luật...

*Quyền của nhóm người dễ bị tổn thương khác

-Người nghèo

Người nghèo được coi là đối tượng dễ bị tổn thương cần có sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước và xã hội. Xã hội loài người ngày càng phát triển và nhu cầu của con người ngày càng tăng cao. Theo đó, quy định về chuẩn nghèo cũng không phải cố định mà có sự thay đổi theo các giai đoạn thòi gian khác nhau, ở từng quốc gia khác nhau. Trước đây, để xác định người nghèo, hộ nghèo chỉ dựa trên tiêu chí thu nhập. Ngày nay xác đinh người nghèo, hộ nghèo dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau theo cách tính nghèo đa chiều. Người nghèo, hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ trong khám, chữa bệnh, tạo việc làm và các chính sách vê an sinh xã hội. Nhà nước có trách nhiệm thực thi chính sách pháp luật về giảm, tiến tới xóa nghèo.

Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi, nơi có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội khó khăn. Chính vì lẽ đó cùng với việc thực hiện chính sách pháp luật bảo đảm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.Nhà nước còn thực hiện nhiều biện pháp, chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Ngựời có công với cách mạng và thân nhân được Nhà nước, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tuỳ từng đối tượng được hường các chế độ: Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; bảo hiệm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ ữợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học

Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngựời có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đĩnh người có công với cách mạng giúp sữa chữa hoặc xây mới nhà ở.

Đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc được hưởng trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động theo các mức độ

suy giảm khả năng lao động. Ngoài ra, những người này còn được hưởng các chế độ:Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình ừạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà nước;

Theo quy định của pháp luật người nhiễm HIV/AIDS là người có bệnh cần được cứu chữa. Pháp luật cấm các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ. Người nhiễm HIV/AIDS có các quyền còn người, quyền công dân như những người bình thường khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét