Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Quyền tự do đi lại và cư trú trong pháp luật của Việt nam

 


+ Điều 23 Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài v nước.”

+Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) tiếp tục khẳng định

>Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan...

> Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.

* Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với sự hiện diện của các tôn giáo được truyền vào từ bên ngoài và các tôn giáo được hình thành ừong nước. Có tới 95% dân số Việt Nam có đòi sống tín ngưỡng, tôn giáo trong đó có khoảng 24,3 triệu tín đồ (so vi 20 triệu người năm 2009), gần 83,000 chức sắc trên cả nước có khoảng 27.900 cơ sở thờ tự và 53 trường đào tạo chức sắc tôn giáo. Quyền tự do thực hành tôn giáo, tham gia các sinh hoạt tôn giáo của những người theo tôn giáo được tôn trọng và bảo đảm. Hằng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc túi ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức. Nhiều cơ sở thờ tự được cải tạo hoặc xây mới. Hiện nay Việt Nam có 41 tổ chức thuộc tôn giáo đã được nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động1. Chính sách nhất quán của Nhà nước là tôn trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

          Điều 24 Hiến pháp năm 2013, quy định:

 “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đằng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do túi ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng túi ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

+ Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã quy định cụ thể về

>quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người (Điều 6)

>quyền của tổ chức tôn giáo, tôn giáo trực thuộc (Điều 7),

> Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam (Điều 8)

>Nghĩa vụ của tồ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 9);

> các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

+Điều 164 BLHS quy định về tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác.

* Các quyền tự do, dân chủ khác về dân sự, chính trị

Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

+ Luật Báo chí năm 2016 quy định cụ thể về quyền tự do báo chí của công dân.

+Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, có hiệu lực từ 1/7/2018 đã quy định cụ thể việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân.

+Quyền lập hội, hiện nay Chính phủ giao Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo Luật về lập hội. Luật biẻu tình giao BCA chủ trì soạn thảo. Song do còn nhiều ý kiến khác nhau nên Dự thảo Luật đã được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, tuy nhiên còn có nhiều ý kiến khác nhau và cần có thêm thời gian nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nên Chính phủ đồng ý đề nghị Quốc hội cho lùi thời gian thông qua.

* Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân

+Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định:

 “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em".

+ Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 xác định

> Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đinh là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

> quy định các hành vi bị cấm: tảo hôn, cưõng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; yêu sách của cải trong kết hôn; cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn

> Ngoài các quy định trên thì nguyên tắc hôn nhân tự nguyện cũng được quy định rải rác trong các điều, khoản tại những văn bản quy phạm pháp luật khác. Và tự nguyện trong hôn nhân và căn cứ đầu tiên làm nên hạnh phúc gia đình - tế bào của xã hội.

+BLHS (Chương XVII - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình),

+BLDS (quy định về quyền kết hôn, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ dân sự, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình...),

+Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình... và các văn bản dưới luật.

 * Quyền tham gia quản lý nhà nước

+Quyền tham gia quản lý nhà nước được quy định từ Điều 27 đến Điều 30 Hiến pháp năm 2013 bao gồm các quyền như: Quyền bầu cử, ứng cử; Quyền tham gia thảo luận, kiến nghị với các cơ quan nhà nước và biểu quyết khỉ nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý; Quyền khiếu nại, quyền t cáo và trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan nhà nước

+Cụ thể hóa các quyền này Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015.

Điểm mới trong luật bầu cử 2015 là mở rộng cử tri là người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+Bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tổ cảo và trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan nhà nước Quốc hội dã ban hành Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tiếp công dân năm 2013 là những đạo luật quan trọng quy định cụ thể về quyền khiếu nại, quyền tố cáo và cơ chế thực hiện bảo vệ quyền của công dân, gắn với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và trách nhiệm tiếp công dân của các cơ quan nhà nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét