Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021
Các quyền dân sự, chính trị trong pháp luật của Việt Nam
* Quyền sổng,
bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm
- Quyền sống
+Hiến pháp 2013 khẳng
định:“Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không
ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19),
“Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sổng, sức
khỏe của người khác và cộng đồng” (Điều 38).
+Đây là lần đầu tiên trong Hiến pháp quy
định quyền sống, mặc
dù trước đây quyền này luôn được bảo đảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào nếu người
đó không phạm một tội bị bản án của tòa án tuyên hình phạt tử hình đã có hiệu
lực pháp luật và không được Chủ tịch nước ân giảm.
+Quyền sống không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là
sự toàn vẹn về tính mạng mà còn bao gồm cả tự do về tinh thần, bảo đảm sự tồn tại
của con người như việc chống chiến tranh, tội phạm chiến tranh, phòng, chống
các hành vi xâm hại tính mạng con người, giảm tỷ lệ chết ở bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Cụ thể hóa các
quy định của Hiến pháp, quyền sống được quy định trong các bộ luật BLDS,BLHS,BLTTHS 2015 và Luật Trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước năm 2010
Ví
dụ:
Điều 33 BLDS, quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể,
quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.
Chương XIV, từ
Điều 123 đến Điều 156 BLHS quy định về các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự của con người.
BLTTHS khẳng
định công dân có quyền bất khả xâm phạm
về thân thể quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm; mọi hành vi xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của cá nhân đều bị xử lý theo pháp
luật. (Điều
10, Điều 11).
+Quyền sống và hình phạt tử hình, Việt Nam vẫn áp dụng án tử hình
trong hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, số điều luật có khung hình phạt tử hình đã
được giảm đi đáng kể (BLHS 1985 – 44; 1999-29, BLHS SĐ 2009-22 2015-18).
Theo BLHS sự năm 2015, ngoài việc giảm
dần hình phạt tử hình ở một số tội danh, Bộ luật cũng quy định chặt chẽ về
những giới hạn và bảo đảm về thủ tục tố tụng khi áp dụng hình phạt tử hình như: tử hình là hình phạt đặc
biệt chỉ áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; không áp dụng hình phạt
tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang
nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc
khi xét xử; không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi
con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên.
-Quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm
Điều 20 Hiến
pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
+ BLHS, BLTTHS, BLDS, Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam và nhiều văn bản pháp luật khác đều quy định:
>Nghiêm cấm tra tấn, bức cung,
dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính
mạng, sức khỏe của con người (Điều 10 BLTTHS);
>Mọi người có
quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể và quyền được bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân con người (Điều 33 và Điều 34 BLDS);
>Nghiêm cấm
tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền
và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 4,8 Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam);
> Chương XXIV, BLHS quy định về các tội xâm
phạm hoạt động tư pháp trong đó có các tội như:
Tội dùng nhục
hình (Điều 373)
Tội bức cung (Điều 374).
Tội làm nhục
đồng đội (Điều 397),
Tội hành hung
đồng đội (Điều 398),
Tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 420);
>BLTTHS quy định các biện pháp
hạn chế bức cung, dùng nhục hình như:
Ghi âm, hoặc nghi hình có âm thanh khi hỏi
cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điềul83);
Quy định rõ
trách nhiệm của các cơ quan tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa
thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng để họ tham dự (Điều 183).
Trường hợp khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội
đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có
âm thanh liên quan tại phiên tòa (Điều 313).
Ngày 28/11/2014 Quốc hội đã phê chuẩn Công ước Chống
tra tấn và các hình thức trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người
-Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể
người, hiến xác
+Đây là quyền mới được bổ sung
trong hiến pháp.
Mọi người có
quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay
bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự
đồng ý của người được thử nghiệm.( Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người
và hiến, lấy xác)
Điều 33 BLDS:
Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay
bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý cua
người đó và tổ chức có thẩm quyền thực hiện
(Điều 11) Luật
hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác cũng có các quy định
cụ thể về hành vi bị cấm trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến,
lấy xác như lấy trộm mô, bộ phận cơ thể người; lấy trộm xác; ép buộc người khác
phải cho mô, bộ phận cơ thể người hoặc lấy mô, bộ phận cơ thể của người không
tự nguyện hiến
Điều 154, BLHS
năm 2015:Người
nào mua, bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể ngưòi khác có thể bị xử lý hình
sự
*Quyền được bảo
vệ khỏi bị bắt, giam giữ tụy tiện
-
Khoản 2 Điều 20
Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án
nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp
phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định”.
-BLHS có một
loạt các điều khoản quy định về trách nhiệm hình sự đối với những hành
vi phạm các tội phạm liên quan đến việc xâm phạm quyền tự do thân thể của con
người như
+ Tội bắt, giữ hoặc giam người
trái pháp luật (Điều 157),
+Tội ra bản án trái pháp luật
(Điều 370),
+ Tội ra quyết định trái pháp
luật (Điều 371)...
-BLTTHS
+
Khẳng định nguyên tắc cơ bản và cốt
lõi trong hoạt động tố tụng là phải đảm bảo “Tôn trọng và bảo vệ quyền
con người, quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân” (Điều 8),
+ Nhấn mạnh nguyên tắc đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân
thể của công dân
+ Quy định cụ thể trình tự,
thủ tục tiến hành những hoạt động giữ người, bắt người bao gồm giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm
tội quả tang; bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt
tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ (các Điều 110, 111,112,113, 503).
* Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng
nhân phẩm của những người bị bắt, tạm giữ
+Quyền của người bị tạm giữ,
tạm giam được quy định trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm
pháp luật. Theo đó, hình phạt đối với người phạm tội không chỉ nhằm trừng trị
người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý
thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội
mới.
+ Luật Thi hành tạm giữ, tạm
giam năm 2015 đã quy định nhiều quyền của người bị tạm giữ, tạm giam như
>quyền được phổ biến về các
quyền và nghĩa vụ của mình;
>được thực hiện quyền bầu cử,
quyền bỏ phiếu trung cầu ý dân theo quy định của pháp luật;
> được gặp gỡ đại diện hợp
pháp để thực hiện giao dịch dân sự;
> được yêu cầu trả tự do khi
hết thời hạn tạm giữ, thòi hạn tạm giam
>ngoài ra người bị tạm giữ,
tạm giam cũng được bảo đảm các chế độ nơi tạm giữ, tạm giam như chế độ ăn,
mặc, ở;
> quyền được gặp thân nhân;
quyền được giáo dục, đào tạo; quyền được khám chữa bệnh;
> quyền được khiếu nại, tố
cáo; được tham vấn luật sư, trợ giúp pháp lý.
+Luật Thi hành án hình sự năm
2010 khẳng định
>một trong các nguyên tắc thi
hành án hình sự là “tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp
hành án” (Khoản 3 Điều 4),
> “kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo
trong việc thi hành án” (Khoản 4 Điều 4),
>nghiêm cấm“xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của người chấp hành án”(Khoản 9 Điều 9).
>Luật Thi hành án hình sự cũng
dành riêng một chương quy định về thi hành án phạt tù và chế độ quản lý, giam
giữ, giáo dục phạm nhân (Chương III, từ Điều 21 đến Điều 53) nhằm bảo vệ các
quyền cơ bản, như quyền tự do thân thể, quyền sống, vui chơi, giải trí, không
bị tra tấn.
+BLHS, BLTTHS và Luật Thi hành
án hình sự đều có những chế định đặc thù đối với người chưa thành niên phạm tội
nhằm đảm bảo nguyên tắc nhân đạo và phù hợp với những đặc điểm riêng của những
đối tượng này.
Ví dụ: Phạm nhân nữ có
thai nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi ở hợp
lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc ý tế...được nghi lao
động trước và sau khi sinh con theo quy định của Bộ luật lao động (Điều 45 Luật
Thi hành án hình sự).
*Quyền được xét
xử công bằng
+Điều 31 Hiến pháp năm 2013
quy định:
> Quyền được coi là không có tội cho
đến khi có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và phải chứng minh theo
trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS năm 2015.
>
Quyền được Tòa
án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai.
>
Không ai bị kết
án hai lần vì một tội phạm
>.
Quyền tự bào
chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
>Quyền được bồi thường thiệt
hại về VC, tinh
thần và phục hồi danh dự
Ví
dụ Vụ Nguyễn Thanh Chấn…
*Quyền bình
đẳng, không phân biệt đổi xử
Bình đẳng, không
phân biệt đối xử được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về
quyền con người.
+Điều 16 Hiến pháp Việt Nam năm 2013
nêu rõ
“Mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”.
Nguyên tắc hiến
định này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
+Khoản 1 Điều 3 BLDS quy định: “Mọi cá
nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối
xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”.
+
Luật Quốc
tịch năm 2008 khẳng định “mọi cá nhân và thành viên của mọi dân tộc sinh sống
trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam”.
+Luật Hôn nhân gia đình năm
2014 (Điều 2, Điều 17, Điều 29, Điều 68...) ghi nhận rõ quyền bình đẳng
giữa vợ và chồng, con trai và con gái, con nuôi và con đẻ, con trong giá
thú và ngoài giá thú... trong các quan hệ hôn nhân và gia đĩnh.
+Trong quản lý nhà nước, quản
lý xã hội,
>Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 xác định nguyên tắc bầu cử:
“Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành
theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.
> Các luật như Luật Tổ chức
Quốc hội năm 2014 (Điều 19, Điều 20), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015 (Điều 5)... đều quy định nguyên tắc quyền bình đẳng của mọi công dân trong
việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
+Trong hoạt động tố tụng, Điều
3 BLTTHS quý định nguyên tắc xử lý:
>
“Mọi người phạm
tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giói tính, dân tộc, tín ngưỡng,
tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội”; Đối vói pháp nhân thương mại phạm tội,
> “Mọi pháp nhân thương mại
phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và
thành phần kinh tế”.
>Điều 12 Luật Tổ chức Toà án
nhân dân năm 2014 quy định: “Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều binh
đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòá
án”.
+Trong hoạt động kinh doanh, Luật
Doanh nghiệp năm 2014, Điều 10 Luật Thương mại năm 2005... Các luận này đều
khẳng định vị thế pháp lý bình đẳng và nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa
các doanh nghiệp và các thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
*Quyền được bảo
vệ bí mật đời tư
+
Điều 21, Hiến
pháp năm 2013 quy định:
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy
tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
được pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại,
điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc
mở, kiểm soát, thu giữ trái luậtthư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức
trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.
+
BLHS có các điều luật cụ thể bảo vệ quyền này
*Qưyền bất khả xâm phạm về chỗ ở
+Điều 22 Hiến pháp năm 2013
quy định:
Công dân có
quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai
được tự ý vào chỗ
ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật
định”.
Đây là điểm mới
của Hiến pháp 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây.
Chỗ ở của một
người là nơi người đó sống đòi sống riêng thường ngày, cũng là nơi “ẩn chứa” những bí mật của cá nhân, của
gia đình (bí mật đời tư). Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, nghĩa là: công
dân có quyền lựa chọn, bảo vệ nơi ở hợp pháp của mình; có quyền đồng ý
hoặc không đồng ý để ngưòi khác vào chỗ ở của mình, trừ trường hợp có quy
định của pháp luật. So với các quy định tại
Hiến pháp năm
2013 có những
điểm khác biệt như sau:
>Về chủ thể của quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở: có sự thay đổi cơ bản, quyền sở hữu không chỉ được áp dụng cho “công dân”
mà cho tất cả mọi người.
Bởi về bản chất,
quyền sờ hữu là một trong các quyền con người và gắn liền với tài sản. Bất khả
xâm phạm về chỗ ở nghĩa là không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu
người đó không đồng ý, trừ trường hợp khám xét chỗ ở do pháp luật quy định.
Việc xâm phạm vào chỗ ở của cá nhân mà không được người đó đồng ý là hành vi vi
phạm pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các quy định
của BLHS về tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 158);
+Bộ luật TTHS quy định trình tự, thủ tục
khám người, khám nơi ở, nơi làm việc.
Tuy nhiên, quyền
bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước
chỉ bảo hộ quyền đó của công dân khi có sự xâm phạm bất hợp pháp của tổ chức, cá nhân
khác.
Trong trường hợp
cá nhân sử dụng chỗ ở để vi phạm pháp luật, che giấu tội phạm hoặc cất giấu
công cụ, tang vật, phương tiện phạm tội... thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có quyền tiến hành khám xét chỗ ở.
Việc tiến hành
khám xét chỗ ở của một người không được thực hiện vào ban đêm trừ trường họp có
những lý do không thể trì hoãn được.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét