“Nguyên tắc” là “những quy định, phép tắc,
tiêu chuẩn làm cơ sở, làm chỗ dựa để xem xét, làm việc”2. Như vậy,
nguyên tắc theo nghĩa chung nhất là những quy tắc, chuẩn mực định hướng chỉ đạo
đối với hoạt động của con người.Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương phải xuất phát trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt
trong Nhà nước pháp quyền; đồng thời chúng cũng phản ánh mối quan hệ giữa các
cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương được đặt trong tổng thể của quá trình vận hành các nguyên tắc chung
về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+
Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
+
Nguyên tắc tập trung dân chủ;
+
Nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công, phân cấp và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt
lập pháp, hành pháp và tư pháp
+
Nguyên tắc có kế hoạch
+
Nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến của nhân dân;
+
Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;
+
Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Bên
cạnh các nguyên tắc chung đó, chính quyền địa phượng còn được tổ chức và hoạt động
trên các nguyên tắc riêng sau đây:
+Hiện
đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân
Nguyên
tắc này được quy đinh tại Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Trong
điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là nhân loại đã
bắt đầu bước vào kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương phải gắn với ứng dụng công nghệ thông
tin để nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp tốt
nhất.
Hoạt
động của chính quyền địa phương phải được công khai theo quy định của pháp luật,
một mặt bảo đảm người dân được tham gia và giám sát hoạt động của chính quyền,
mặt khác chính quyền địa phương tổ chức, hoạt động đúng pháp luật và thực hiện
đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình.
+Hội đồng nhân dân làm
việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số
Nguyên
tắc này được quy định tại Điêu 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Hội đồng nhân dân được thiêt lập thông qua bầu
cử. Mỗi một đại biểu là thành tố bình đẳng về địa vị pháp lý, về quyền và nghĩa
vụ, cấu thành nên tập thể Hội đồng nhân dân - là cơ quan đại diện cho người dân
do dân bầu.
Vì vậy, để thực hiện chức năng đại diện cho
người dân thì Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định
theo đa số là phù hợp.
Nội
dung nguyên tắc này thể hiện dưới các khía cạnh sau:
+
Hoạt động của Hội đồng nhân dân được tiến hành thông qua kỳ họp
Hội
đồng nhân dân họp mỗi năm ít nhất hai kỳ. Ngoài ra, Hội đồng nhân dân họp bất
thường khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc
ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.
+
Việc ban hành nghị quyết, đề án, báo cáo, biên bản của kỳ họp Hội đồng nhân dân
được tiến hành thông qua biểu quyết.
Nghị
quyêt của Hội đồng nhân dân được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân biểu quyết tán thành; riêng nghị quyết về bãi nhiệm đại biểu
Hội đồng nhân dân được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
-Ủy ban nhân dân hoạt động
theo chế độ tập thể ủy ban nhân dân kết hợp với trảch nhiệm của Chủ tịch ủy ban
nhân dân
Nguyên
tắc này được quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Nội dung nguyên tăc này thể hiện:
+
Đối với những công việc thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân phải được bàn bạc
tập thể và thống nhất ý kiến để triển khai thực hiện.
+
Bên cạnh trách nhiệm tập thể cần kết hợp với vai trò, trách nhiệm của cá nhân
Chủ tịch ủy ban nhân dân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét