Kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn
Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ
súng xâm lược nước ta, độc lập dân tộc bị xâm phạm, trong tình hình đó, triều
đình nhà Nguyễn đã bạc nhược trước kẻ thù, lúc đầu có chống cự yếu ớt, sau đã
từng bước nhân nhượng cầu hoà, cuối cùng là cam chịu đầu hàng để giữ lấy ngai
vàng và lợi ích riêng của hoàng tộc. Năm 1883 và 1884, triều đình nhà Nguyễn
lần lượt ký các hàng ước với thực dân Pháp, nước ta bị đặt dưới ách thống trị
của chúng. Mặc dầu bị đặt vào tình thế phải chống “cả triều lẫn Tây" nhưng
nhân dân ta với tinh thần yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sôi sục đã
dấy lên phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ và lan rộng trong cả
nước: từ Trương Định, Nguyễn Trung Trực… ở miền Nam; Trần Tấn, Đặng Như Mai,
Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng... ở miền Trung đến Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng
Hoa Thám, Nguyễn Quang Bích… ở miền Bắc. Nhưng các cuộc khởi nghĩa này đều bị
thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến đúng đắn.
Sang đầu thế kỷ XX, phong trào yêu
nước chống thực dân Pháp của nhân dân ta chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản.
Tiêu biểu cho xu hướng này có các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy
Tân, Việt Nam Quang phục hội... Các phong trào này chưa lôi cuốn được mọi tầng
lớp nhân dân, tư tưởng dân chủ tư sản chưa có cơ sở xã hội vững chắc. Do vậy phong
trào chỉ rộ lên được một thời gian ngắn rồi lần lượt bị đàn áp và thất bại.
Khi phong trào chống sưu thuế ở Huế
và các tỉnh miền Trung, trong đó có Hồ Chí Minh tham gia bị đàn áp (1908) cũng
là lúc các phong trào yêu nước chống Pháp ở thời điểm cực kỳ khó khăn, bế tắc.
Đứng trước cuộc khủng hoảng con đường cứu nước, Hồ Chí Minh xác định: “Tôi muốn
đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế
nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Đầu tháng 6-1911, Hồ Chí Minh xuống
làm phụ bếp trên chiếc tàu Pháp mang tên Amiran Latusơ Tơrêvin của hãng Năm Sao
đang cập bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn). Ngày 5/6/1911, con tàu rời Sài Gòn đi
Pháp, Hồ Chí Minh bắt đầu một cuộc hành trình lịch sử - đi tìm con đường cứu
nước, con đường giải phóng.
Xuất phát từ lòng yêu nước ra đi tìm
đường cứu nước, trải qua gần 10 năm đầy gian truân và thử thách, Hồ Chí Minh đã
đi khắp các châu lục khảo sát nhiều nước thuộc địa và các nước tư bản phát
triển Mỹ, Anh, Pháp... Người nhận rõ: chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thế
giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch
các dân tộc nhỏ yếu trong hệ thống thuộc địa của chúng. Mỗi thuộc địa là một
mắt khâu của chủ nghĩa đế quốc, do vậy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi
nước chỉ tiến hành riêng rẽ thì không thể giành thắng lợi.
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh về
Pari, thủ đô nước Pháp, một trung tâm văn hoá khoa học và cách mạng của châu
Âu. Hồ Chí Minh hoạt động trong phong trào công nhân Pari, đến với phái tả của
cách mạng Pháp, gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng bênh vực các thuộc
địa. Năm 1919, nhân danh những người yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh gửi tới Hội
nghị hoà bình Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam đối các quyền tự do, dân
chủ tối thiểu cho Việt Nam. Yêu sách đó không được chấp nhận. Người đã rút ra
bài học “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân
mình”.
Hồ Chí Minh nghiên cứu những cuộc
cách mạng xã hội lớn trên thế giới. Với cách mạng giải phóng dân tộc năm 1776
của Mỹ và cách mạng nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789, Người rút ra kết
luận: cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là cách mạng tư sản, cách mạng không đến
nơi, không giải phóng những người lao động mà lại đi áp bức các dân tộc khác.
Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường đó. Đầu tháng Mười năm 1917,
cách mạng vô sản Nga thành công. Tháng 3 năm 1919, Lênin sáng lập Quốc tế Cộng
sản. Rồi nhà nước Xôviết chiến thắng cuộc chiến tranh can thiệp của 14 nước đế
quốc. Từ năm 1920 tiếng vang và ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng Mười lan
rộng ra châu Âu và toàn thế giới. Nghiên cứu Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917,
Hồ Chí Minh nhận rõ: chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga mới thành công đến nơi,
mang lại tự do bình đẳng thật cho tất cả nhân dân lao động và giúp đỡ giải
phóng các dân tộc thuộc địa. Hồ Chí Minh đi đến kết luận: Cách mạng Việt Nam
phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga - con đường cách mạng vô sản.
Tháng 7-1920, Người đọc Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng
trên báo L’Humanité. Luận cương của Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra “cái cẩm
nang thần kỳ cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc” - con đường giải phóng
dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Con đường đó được Hồ Chí Minh khẳng định
rõ ràng trong những văn kiện thông qua tại Hội nghị hợp nhất ngày 3-2-1930 “làm
tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đi tới xã hội cộng sản”. Sự
xác định trên đây của Hồ Chí Minh là một sáng tạo lớn về con đường cách mạng ở
một nước thuộc địa nửa phong kiến. Đó là con đường giải phóng dân tộc một cách
triệt để, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là kết
quả tất yếu quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh. Đây là sự lựa chọn
duy nhất đúng, phù hợp với đòi hỏi và nguyện vọng của dân tộc, nhân dân Việt
Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, mở ra từ Cách mạng Tháng
Mười Nga năm 1917.
Như vậy, độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - nội dung cốt lõi xuyên suốt toàn bộ
tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự nhất quán trong tư duy
lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Từ khi trở thành người cộng sản
cho đến khi trở thành lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, mối quan tâm hàng đầu của
Hồ Chí Minh là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng thời
kỳ của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ rõ các bài viết của Người chỉ có một
“đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn về lý
luận của Hồ Chí Minh. Những luận điểm đó có giá trị lâu dài chỉ đạo đường lối
cách mạng Việt Nam và đóng góp quan trọng vào việc phát triển lý luận về cách
mạng vô sản. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Trong khi giải quyết những vấn
đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách
mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và
phụ thuộc”.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội là sự phản ánh chính xác mục đích, lý tưởng, khát vọng và ham muốn
tột bậc của danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh: nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được
học hành. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh tính triệt để
cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đặt vấn đề giải phóng con
người, hạnh phúc của con người ở mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng
Việt Nam có hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Trong cách mạng dân tộc dân chủ có hai nhiệm vụ chiến lược cơ
bản, trong đó giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, nhiệm vụ dân chủ được
rải ra thực hiện từng bước và phục tùng nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Vì thế, ở
giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp,
trước mắt, cấp bách. Kết luận này được Hồ Chí Minh rút ra từ sự phân tích tình
hình thực tế và những mâu thuẫn khách quan tồn tại của xã hội Việt Nam thuộc
địa nửa phong kiến. Lịch sử phát triển loài người chứng tỏ, độc lập dân tộc là
khát vọng mang tính phổ biến. Với dân tộc Việt Nam, đó còn là một giá trị
thiêng liêng, được bảo vệ và giữ gìn bởi máu xương, sức lực của biết bao thế hệ
người Việt Nam.
Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao
hàm trong đó cả nội dung dân tộc và dân chủ. Đó là nền độc lập thật sự, độc lập
hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời, độc lập
hình thức. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống
nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, độc lập dân tộc bao giờ cũng
gắn với tự do, dân chủ, ấm no hạnh phúc của nhân dân lao động.
Khi nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân
tộc, Hồ Chí Minh không bao giờ coi đó là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt
Nam. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giành độc lập để đi tới xã hội cộng sản; độc
lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là mục tiêu cốt
yếu, trực tiếp của cách mạng dân tộc dân chủ, là mục tiêu trước hết của quá
trình cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đồng thời là điều kiện hàng
đầu, quyết định để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang giai đoạn kế
tiếp - cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng dân tộc dân chủ càng triệt
để thì những điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội càng được tạo ra đầy đủ.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa xã hội là con đường củng cố vững chắc độc
lập dân tộc, giải phóng dân tộc một cách hoàn toàn triệt để. Về lý luận, độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội
thể hiện mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng; mối quan hệ
giữa hai giai đoạn của một quá trình cách mạng. Lôgíc lịch sử khách quan cho
thấy: thực hiện mục tiêu trước mắt là điều kiện tiên quyết để đi tới mục tiêu
cuối cùng và chỉ thực hiện được mục tiêu cuối cùng thì mục tiêu trước mắt mới
củng cố vững chắc một cách hoàn toàn, triệt để. Giữa hai giai đoạn cách mạng
không có bức tường ngăn cách, cách mạng dân tộc dân chủ xác lập cơ sở, tiền đề
cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội chủ nghĩa khẳng định và bảo vệ
vững chắc nền độc lập dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao
giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, những
người đã trực tiếp làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ. Để đảm bảo
vững chắc độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói nghèo lạc hậu, chặng
đường tiếp theo chỉ có thể là đi lên chủ nghĩa xã hội. Do những đặc trưng nội
tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả đã giành được trong
cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và phát triển
dân tộc.
Tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí
Minh mang một nội dung sâu sắc, triệt để: độc lập tự do, ấm no, hạnh phúc. Chủ
nghĩa xã hội không chỉ củng cố những giá trị nêu trên, mà còn làm phong phú
thêm về mặt nội dung, xác lập các điều kiện để hiện thực hoá các nội dung đó.
Hồ Chí Minh khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng xã hội
chủ nghĩa mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân chính.
Chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí
Minh là một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột; công bằng hợp lý - làm
nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; bảo đảm phúc lợi cho
người già, trẻ mồ côi; một xã hội có nền sản xuất phát triển gắn liền với sự
phát triển khoa học - kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân lao động. Đó là một xã hội có kỷ cương, đạo đức, văn minh
trong đó người với người là bạn bè, đồng chí, anh em, mọi người được phát triển
hết khả năng của mình; hòa bình hữu nghị, làm bạn với các nước; một xã hội do
nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa
xã hội chính là xây dựng tiềm lực phát triển của dân tộc trên tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Với các thiết chế đó và nền tảng tinh
thần riêng có, chủ nghĩa xã hội có khả năng vận động liên tục, tự bảo vệ vững
chắc các thành quả cách mạng của nhân dân. Trên phạm vi quốc tế, chủ nghĩa xã
hội lớn mạnh sẽ có sức hấp dẫn thu hút các dân tộc, đặc biệt các dân tộc chậm
phát triển đi theo con đường chủ nghĩa xã hội; mặt khác chủ nghĩa xã hội sẽ là
bệ đỡ của hoà bình thế giới, hạn chế và ngăn chặn các cuộc chiến tranh đế quốc,
chiến tranh xâm lược, xoá bỏ tình trạng dân tộc này đi áp bức dân tộc khác.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội
càng phát triển, càng đạt đến độ chín muồi thì các tiềm lực, nhất là tiềm lực
vật chất kỹ thuật của dân tộc càng mạnh, đất nước càng có điều kiện củng cố độc
lập của mình, tăng cường khả năng phòng thủ. Không có một chế độ xã hội nào có
thể đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc bằng chủ nghĩa xã hội. Trong toàn bộ cấu
trúc nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội thể hiện khả năng tự bảo vệ và biết
cách bảo vệ.
Hồ Chí Minh khẳng định, trong chủ
nghĩa xã hội, nhân dân lao động là người chủ duy nhất. Đó là sự khác biệt về
chất giữa chủ nghĩa xã hội với các chế độ xã hội trước đó. Chế độ dân chủ là
chế độ do nhân dân làm chủ, dân chủ là vấn đề thuộc bản chất của nhà nước ta.
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ xã hội chủ nghĩa phải được phát huy trên tất cả các
lĩnh vực, phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được hoàn thiện, nâng cao trong
quá trình phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao dân trí. Đây là điều kiện cơ
bản và quyết định vận mệnh của dân tộc, tạo ra sức đề kháng trên phạm vi xã
hội, loại trừ và có khả năng chống trả bất kỳ một hành động nào đe dọa độc lập,
tự do của dân tộc. Thực hiện được một xã hội như vậy thì độc lập dân tộc mới
thực sự vững chắc, sự nghiệp giải phóng dân tộc mới thắng lợi một cách hoàn
toàn và triệt để.
Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Nhưng để hiện thực hóa tính tất yếu này,
theo Hồ Chí Minh cần phải có những điều kiện cơ bản như:
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng
định, xác lập, tăng cường vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản
là điều kiện cơ bản để độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không có
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì cách mạng Việt Nam không thể vận động theo
cách mạng vô sản và chắc chắn sự nghiệp độc lập dân tộc sẽ đi theo vết xe đổ
của các phong trào cứu nước trước đó. Một khi Đảng Cộng sản đánh mất vai trò
lãnh đạo thì chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ sụp đổ, cách mạng bị phản bội và hoàn
toàn chệch hướng. Thực tiễn ở Liên Xô và các nước Đông Âu, đầu những năm 90 của
thế kỷ XX đã chứng tỏ điều đó.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, với tư cách
là điều kiện cơ bản bảo đảm để độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được thể hiện trên các mặt chủ yếu như: Hoạch
định cương lĩnh, đường lối, chủ trương để đưa sự nghiệp của dân tộc phát triển
đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Lãnh đạo xã hội, trước hết là lãnh đạo nhà
nước thực hiện thắng lợi cương lĩnh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội bằng cách thông qua tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình. Thông
qua công tác kiểm tra, kể cả kiểm tra trong nội bộ Đảng và lãnh đạo công tác
kiểm tra trong các tổ chức của hệ thống chính trị để lãnh đạo toàn dân giành
độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò lãnh đạo
cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính khách quan. Để hoàn thành sứ
mệnh của mình, Đảng phải trong sạch, vững mạnh và thường xuyên chỉnh đốn để
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đủ trí tuệ, đủ bản lĩnh vượt qua
những thử thách gay gắt nhất, phải thực hiện xây dựng Đảng về mọi mặt: chính
trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó công tác cán bộ bao giờ cũng là vấn đề cốt
tử.
Hai là, phải xây dựng,
củng cố và tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức
làm nền tảng khối đại đoàn kết dân tộc. Quan niệm của Hồ Chí Minh về lực lượng
cách mạng Việt Nam trong quá trình thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
tiến lên chủ nghĩa xã hội là hết sức sáng tạo. Người xác định: công - nông là
gốc, là chủ lực của cách mạng, các giai tầng, cá nhân yêu nước là bầu bạn của
cách mạng. Khi đất nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Người đòi hỏi công
nông trí thức đoàn kết lại. Tất cả được tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống
nhất.
Hồ Chí Minh cho rằng trong cách mạng
dân tộc dân chủ cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa đều cần đến và không thể
thiếu được Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận được xây dựng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh có hạt nhân cốt lõi là liên minh công - nông và trí thức để đoàn kết
toàn dân thành một khối. Hạt nhân và toàn dân là mối quan hệ biện chứng được Hồ
Chí Minh quan tâm đúng mức cả hai, không coi nhẹ hoặc thiên lệch bên nào. Mặt
trận đó được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, Hồ Chí Minh chỉ rõ Việt Nam là một
bộ phận của thế giới, cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới liên hệ chặt chẽ
với nhau. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn có những
chủ trương, đường lối và biện pháp phù hợp để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của
các lực lượng cách mạng, hoà bình dân chủ trên thế giới. Thắng lợi của cách
mạng Việt Nam Tháng Tám 1945, trong những năm chống Pháp, chống Mỹ, trong thời
kỳ hoà bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ
quốc tế.
Ba nhân tố nêu trên gắn bó chặt chẽ
với nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Hồ Chí Minh kết luận: “Đó là ba bài học lớn mà mỗi cán bộ và đảng viên ta
cần ghi sâu vào lòng và phát huy thêm mãi”. Như vậy, độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Tính tất yếu đó chỉ được hiện
thực hoá khi gắn liền với những điều kiện bảo đảm, trong đó yếu tố quan trọng
nhất là xác lập và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kiên định tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, ngày nay, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã
và đang được Đảng và nhân dân ta giải quyết thành công hàng loạt vấn đề trên
tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối nội và đối ngoại
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trung thành với con đường Hồ Chí Minh đã vạch
ra. Đảng ta khẳng định trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đề phòng và chống nguy cơ chệch hướng xã hội
chủ nghĩa.
Đại hội Đảng đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng đã khẳng định: Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc
đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội năm 1991, đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ
sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta
là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh
sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời
đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều
biến động nhanh, phức tạp, Cương lĩnh tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến
đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước
Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Trong công cuộc đổi mới hiện nay con
đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đang bị chi phối,
tác động mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; thách thức rất
lớn, nhưng cũng rất nhiều thời cơ, vận hội. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn của
Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lại có kinh nghiệm thực
tiễn hơn 90 năm qua, đặc biệt là thực tiễn của 35 năm đổi mới toàn diện đất
nước, cho phép chúng ta hiểu được thực chất con đường độc lập dân tộc tiến lên
chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay. Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã
hội là nhu cầu sống còn, là sự lựa chọn duy nhất đúng của Bác Hồ, của Đảng Cộng
sản Việt Nam và của chính Nhân dân, của dân tộc Việt Nam.