Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

 Đoàn kết sẽ đẩy lùi đại dịch Covid-19

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, được trích trong bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, năm 1961. Tinh thần đoàn kết một lòng luôn thể hiện sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, tạo nên sức mạnh vô địch, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Hiện nay, đoàn kết thể hiện ở sự thống nhất trong toàn Đảng, các cấp, các ngành, các địa phương nhằm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Những ngày qua, trước tình hình dịch bệnh COVID-19 đang hoành hành ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới và diễn biến phức tạp ở Việt Nam, chúng ta lại thấy ở các địa bàn trong toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ biên giới ra hải đảo luôn sáng lên tinh thần đoàn kết chống dịch trong bức tranh tối màu và u ám của đại dịch đã rất lâu mới xuất hiện trên quy mô toàn cầu.

Tinh thần đoàn kết thể hiện qua sự hưởng ứng của các cơ quan, đoàn thể và nhân dân trong thực hiện chủ trương, đường lối “chống dịch như chống giặc”, ngay từ đầu Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc mức độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 và sẵn sàng chấp nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể chậm lại khi thực hiện các biện pháp mạnh mẽ nhằm ngăn chặn dịch lây lan trong cộng đồng. Sự lựa chọn này xuất phát từ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa đã và đang xây dựng ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiện nay, cả hệ thống chính trị và toàn dân đang đoàn kết một lòng thực hiện nghiêm túc chủ trương cách ly xã hội theo tinh thần Chỉ thị số 16-CT/TTg, ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19.

Tinh thần đoàn kết thể hiện qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị chức năng trên tuyến đầu và cả  hậu phương trong chiến dịch phòng, chống COVID-19. Đó là sự đoàn kết của đội ngũ chiến binh áo trắng không quản ngại hiểm nguy, có thể lây nhiễm bất cứ lúc nào để chăm sóc, cứu chữa cho các bệnh nhân, tổ chức xét nghiệm và cách ly những người nghi nhiễm. Phối hợp hiệp đồng với đội ngũ y bác sĩ là lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các cơ quan thông tin truyền thông, các ban, ngành, đoàn thể quần chúng và các lực lượng khác có liên quan đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ tại các chốt gác, khu vực cách ly ở khắp các tuyến, địa bàn trong cả nước.

Tinh thần đoàn kết thể hiện qua những nghĩa cử cao đẹp của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp và các cá nhân đã chung tay đóng góp; người nhiều, người ít tổng cộng hàng trăm tỷ đồng và nhiều loại thiết bị y tế cần thiết như khẩu trang, máy thở, quần áo bảo hộ y tế... Ngày ngày, lại có những tấm gương nhân ái, người tốt, việc tốt ở khắp các địa bàn, được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, thể hiện sự đoàn kết trong phòng, chống dịch bệnh, nào như: Gói hỗ trợ của Chính phủ trong phòng, chống dịch bệnh trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng; các ngân hàng giảm lãi suất để hỗ trợ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh; hình thành các điểm tặng thực phẩm hàng ngày với khẩu hiệu “Ai cần cứ đến lấy, nếu khó khăn hãy cứ đến lấy, hãy lấy một gói mì tôm mỗi ngày”; thành lập các điểm phát khẩu trang miễn phí; nhắn tin ủng hộ quỹ phòng, chống dịch COVID-19... Phải thấy rằng đây là những việc làm hết sức có ý nghĩa, thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tương thân tương ái. Càng trân trọng hơn khi các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đó cũng đang phải đối mặt với những khó khăn nhất định trong bối cảnh đại dịch lây lan toàn cầu. 

Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam đã lan tỏa và vượt ra ngoài biên giới để cùng chung sức với cộng đồng quốc tế trong nỗ lực phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Mặc dù còn khó khăn nhưng Việt Nam đã có những hành động hết sức thiết thực, điển hình như tham gia ủng hộ tiền, vật tư y tế, khẩu trang cho các nước láng giềng là Trung Quốc, Lào, Campuchia để phòng, chống dịch. Đồng thời, tích cực phối hợp với cơ quan chức năng các nước trong vấn đề bảo hộ công dân nước ngoài ở Việt Nam và công dân Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến phòng, chống dịch bệnh. Những ngày qua, liên tục các trường hợp người nước ngoài ở Việt Nam dương tính với vi rút SARS-CoV-2 được điều trị và chữa khỏi. Những người này đã cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ, chữa trị của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đồng thời cảm thấy may mắn khi trong những ngày dịch bùng phát họ được có mặt ở Việt Nam, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tính mạng và sức khỏe của họ được bảo đảm hơn. Bên cạnh đó, với kết quả đạt được rất đáng khích lệ đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã và đang chia sẻ những kinh nghiệm quý rút ra nhằm giúp các nước tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh.

Như vậy, có thể thấy tinh thần đoàn kết dân tộc đã và đang được khơi dậy và phát huy cao độ những ngày qua trong nỗ lực phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và sẽ tiếp tục được phát huy trong thời gian tới, nhất định dịch bệnh sẽ được ngăn chặn và đẩy lùi. 

 

Kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn

 

Kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn

Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, độc lập dân tộc bị xâm phạm, trong tình hình đó, triều đình nhà Nguyễn đã bạc nhược trước kẻ thù, lúc đầu có chống cự yếu ớt, sau đã từng bước nhân nhượng cầu hoà, cuối cùng là cam chịu đầu hàng để giữ lấy ngai vàng và lợi ích riêng của hoàng tộc. Năm 1883 và 1884, triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hàng ước với thực dân Pháp, nước ta bị đặt dưới ách thống trị của chúng. Mặc dầu bị đặt vào tình thế phải chống “cả triều lẫn Tây" nhưng nhân dân ta với tinh thần yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sôi sục đã dấy lên phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ và lan rộng trong cả nước: từ Trương Định, Nguyễn Trung Trực… ở miền Nam; Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng... ở miền Trung đến Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Quang Bích… ở miền Bắc. Nhưng các cuộc khởi nghĩa này đều bị thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến đúng đắn.

Sang đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân ta chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản. Tiêu biểu cho xu hướng này có các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội... Các phong trào này chưa lôi cuốn được mọi tầng lớp nhân dân, tư tưởng dân chủ tư sản chưa có cơ sở xã hội vững chắc. Do vậy phong trào chỉ rộ lên được một thời gian ngắn rồi lần lượt bị đàn áp và thất bại.

Khi phong trào chống sưu thuế ở Huế và các tỉnh miền Trung, trong đó có Hồ Chí Minh tham gia bị đàn áp (1908) cũng là lúc các phong trào yêu nước chống Pháp ở thời điểm cực kỳ khó khăn, bế tắc. Đứng trước cuộc khủng hoảng con đường cứu nước, Hồ Chí Minh xác định: “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Đầu tháng 6-1911, Hồ Chí Minh xuống làm phụ bếp trên chiếc tàu Pháp mang tên Amiran Latusơ Tơrêvin của hãng Năm Sao đang cập bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn). Ngày 5/6/1911, con tàu rời Sài Gòn đi Pháp, Hồ Chí Minh bắt đầu một cuộc hành trình lịch sử - đi tìm con đường cứu nước, con đường giải phóng.

Xuất phát từ lòng yêu nước ra đi tìm đường cứu nước, trải qua gần 10 năm đầy gian truân và thử thách, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục khảo sát nhiều nước thuộc địa và các nước tư bản phát triển Mỹ, Anh, Pháp... Người nhận rõ: chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong hệ thống thuộc địa của chúng. Mỗi thuộc địa là một mắt khâu của chủ nghĩa đế quốc, do vậy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước chỉ tiến hành riêng rẽ thì không thể giành thắng lợi.

Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh về Pari, thủ đô nước Pháp, một trung tâm văn hoá khoa học và cách mạng của châu Âu. Hồ Chí Minh hoạt động trong phong trào công nhân Pari, đến với phái tả của cách mạng Pháp, gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng bênh vực các thuộc địa. Năm 1919, nhân danh những người yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh gửi tới Hội nghị hoà bình Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam đối các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho Việt Nam. Yêu sách đó không được chấp nhận. Người đã rút ra bài học “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình”.

Hồ Chí Minh nghiên cứu những cuộc cách mạng xã hội lớn trên thế giới. Với cách mạng giải phóng dân tộc năm 1776 của Mỹ và cách mạng nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789, Người rút ra kết luận: cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là cách mạng tư sản, cách mạng không đến nơi, không giải phóng những người lao động mà lại đi áp bức các dân tộc khác. Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường đó. Đầu tháng Mười năm 1917, cách mạng vô sản Nga thành công. Tháng 3 năm 1919, Lênin sáng lập Quốc tế Cộng sản. Rồi nhà nước Xôviết chiến thắng cuộc chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc. Từ năm 1920 tiếng vang và ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng Mười lan rộng ra châu Âu và toàn thế giới. Nghiên cứu Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Hồ Chí Minh nhận rõ: chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga mới thành công đến nơi, mang lại tự do bình đẳng thật cho tất cả nhân dân lao động và giúp đỡ giải phóng các dân tộc thuộc địa. Hồ Chí Minh đi đến kết luận: Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga - con đường cách mạng vô sản.

Tháng 7-1920, Người đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’Humanité. Luận cương của Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra “cái cẩm nang thần kỳ cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc” - con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Con đường đó được Hồ Chí Minh khẳng định rõ ràng trong những văn kiện thông qua tại Hội nghị hợp nhất ngày 3-2-1930 “làm tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đi tới xã hội cộng sản”. Sự xác định trên đây của Hồ Chí Minh là một sáng tạo lớn về con đường cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Đó là con đường giải phóng dân tộc một cách triệt để, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là kết quả tất yếu quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh. Đây là sự lựa chọn duy nhất đúng, phù hợp với đòi hỏi và nguyện vọng của dân tộc, nhân dân Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Như vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - nội dung cốt lõi xuyên suốt toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Từ khi trở thành người cộng sản cho đến khi trở thành lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ rõ các bài viết của Người chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn về lý luận của Hồ Chí Minh. Những luận điểm đó có giá trị lâu dài chỉ đạo đường lối cách mạng Việt Nam và đóng góp quan trọng vào việc phát triển lý luận về cách mạng vô sản. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự phản ánh chính xác mục đích, lý tưởng, khát vọng và ham muốn tột bậc của danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh: nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh tính triệt để cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đặt vấn đề giải phóng con người, hạnh phúc của con người ở mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam có hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong cách mạng dân tộc dân chủ có hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, trong đó giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, nhiệm vụ dân chủ được rải ra thực hiện từng bước và phục tùng nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Vì thế, ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước mắt, cấp bách. Kết luận này được Hồ Chí Minh rút ra từ sự phân tích tình hình thực tế và những mâu thuẫn khách quan tồn tại của xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến. Lịch sử phát triển loài người chứng tỏ, độc lập dân tộc là khát vọng mang tính phổ biến. Với dân tộc Việt Nam, đó còn là một giá trị thiêng liêng, được bảo vệ và giữ gìn bởi máu xương, sức lực của biết bao thế hệ người Việt Nam.

Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao hàm trong đó cả nội dung dân tộc và dân chủ. Đó là nền độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời, độc lập hình thức. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn với tự do, dân chủ, ấm no hạnh phúc của nhân dân lao động.

Khi nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh không bao giờ coi đó là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giành độc lập để đi tới xã hội cộng sản; độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là mục tiêu cốt yếu, trực tiếp của cách mạng dân tộc dân chủ, là mục tiêu trước hết của quá trình cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đồng thời là điều kiện hàng đầu, quyết định để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang giai đoạn kế tiếp - cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng dân tộc dân chủ càng triệt để thì những điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội càng được tạo ra đầy đủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa xã hội là con đường củng cố vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc một cách hoàn toàn triệt để. Về lý luận, độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng; mối quan hệ giữa hai giai đoạn của một quá trình cách mạng. Lôgíc lịch sử khách quan cho thấy: thực hiện mục tiêu trước mắt là điều kiện tiên quyết để đi tới mục tiêu cuối cùng và chỉ thực hiện được mục tiêu cuối cùng thì mục tiêu trước mắt mới củng cố vững chắc một cách hoàn toàn, triệt để. Giữa hai giai đoạn cách mạng không có bức tường ngăn cách, cách mạng dân tộc dân chủ xác lập cơ sở, tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội chủ nghĩa khẳng định và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, những người đã trực tiếp làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ. Để đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói nghèo lạc hậu, chặng đường tiếp theo chỉ có thể là đi lên chủ nghĩa xã hội. Do những đặc trưng nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả đã giành được trong cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và phát triển dân tộc.

Tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh mang một nội dung sâu sắc, triệt để: độc lập tự do, ấm no, hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội không chỉ củng cố những giá trị nêu trên, mà còn làm phong phú thêm về mặt nội dung, xác lập các điều kiện để hiện thực hoá các nội dung đó. Hồ Chí Minh khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân chính.

Chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột; công bằng hợp lý - làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; bảo đảm phúc lợi cho người già, trẻ mồ côi; một xã hội có nền sản xuất phát triển gắn liền với sự phát triển khoa học - kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Đó là một xã hội có kỷ cương, đạo đức, văn minh trong đó người với người là bạn bè, đồng chí, anh em, mọi người được phát triển hết khả năng của mình; hòa bình hữu nghị, làm bạn với các nước; một xã hội do nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là xây dựng tiềm lực phát triển của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Với các thiết chế đó và nền tảng tinh thần riêng có, chủ nghĩa xã hội có khả năng vận động liên tục, tự bảo vệ vững chắc các thành quả cách mạng của nhân dân. Trên phạm vi quốc tế, chủ nghĩa xã hội lớn mạnh sẽ có sức hấp dẫn thu hút các dân tộc, đặc biệt các dân tộc chậm phát triển đi theo con đường chủ nghĩa xã hội; mặt khác chủ nghĩa xã hội sẽ là bệ đỡ của hoà bình thế giới, hạn chế và ngăn chặn các cuộc chiến tranh đế quốc, chiến tranh xâm lược, xoá bỏ tình trạng dân tộc này đi áp bức dân tộc khác.

Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội càng phát triển, càng đạt đến độ chín muồi thì các tiềm lực, nhất là tiềm lực vật chất kỹ thuật của dân tộc càng mạnh, đất nước càng có điều kiện củng cố độc lập của mình, tăng cường khả năng phòng thủ. Không có một chế độ xã hội nào có thể đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc bằng chủ nghĩa xã hội. Trong toàn bộ cấu trúc nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội thể hiện khả năng tự bảo vệ và biết cách bảo vệ.

Hồ Chí Minh khẳng định, trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động là người chủ duy nhất. Đó là sự khác biệt về chất giữa chủ nghĩa xã hội với các chế độ xã hội trước đó. Chế độ dân chủ là chế độ do nhân dân làm chủ, dân chủ là vấn đề thuộc bản chất của nhà nước ta. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ xã hội chủ nghĩa phải được phát huy trên tất cả các lĩnh vực, phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được hoàn thiện, nâng cao trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao dân trí. Đây là điều kiện cơ bản và quyết định vận mệnh của dân tộc, tạo ra sức đề kháng trên phạm vi xã hội, loại trừ và có khả năng chống trả bất kỳ một hành động nào đe dọa độc lập, tự do của dân tộc. Thực hiện được một xã hội như vậy thì độc lập dân tộc mới thực sự vững chắc, sự nghiệp giải phóng dân tộc mới thắng lợi một cách hoàn toàn và triệt để.

Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Nhưng để hiện thực hóa tính tất yếu này, theo Hồ Chí Minh cần phải có những điều kiện cơ bản như:

Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định, xác lập, tăng cường vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản là điều kiện cơ bản để độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì cách mạng Việt Nam không thể vận động theo cách mạng vô sản và chắc chắn sự nghiệp độc lập dân tộc sẽ đi theo vết xe đổ của các phong trào cứu nước trước đó. Một khi Đảng Cộng sản đánh mất vai trò lãnh đạo thì chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ sụp đổ, cách mạng bị phản bội và hoàn toàn chệch hướng. Thực tiễn ở Liên Xô và các nước Đông Âu, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã chứng tỏ điều đó.

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, với tư cách là điều kiện cơ bản bảo đảm để độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được thể hiện trên các mặt chủ yếu như: Hoạch định cương lĩnh, đường lối, chủ trương để đưa sự nghiệp của dân tộc phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Lãnh đạo xã hội, trước hết là lãnh đạo nhà nước thực hiện thắng lợi cương lĩnh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bằng cách thông qua tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình. Thông qua công tác kiểm tra, kể cả kiểm tra trong nội bộ Đảng và lãnh đạo công tác kiểm tra trong các tổ chức của hệ thống chính trị để lãnh đạo toàn dân giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính khách quan. Để hoàn thành sứ mệnh của mình, Đảng phải trong sạch, vững mạnh và thường xuyên chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đủ trí tuệ, đủ bản lĩnh vượt qua những thử thách gay gắt nhất, phải thực hiện xây dựng Đảng về mọi mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó công tác cán bộ bao giờ cũng là vấn đề cốt tử.

Hai là, phải xây dựng, củng cố và tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức làm nền tảng khối đại đoàn kết dân tộc. Quan niệm của Hồ Chí Minh về lực lượng cách mạng Việt Nam trong quá trình thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội là hết sức sáng tạo. Người xác định: công - nông là gốc, là chủ lực của cách mạng, các giai tầng, cá nhân yêu nước là bầu bạn của cách mạng. Khi đất nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Người đòi hỏi công nông trí thức đoàn kết lại. Tất cả được tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất.

Hồ Chí Minh cho rằng trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa đều cần đến và không thể thiếu được Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh có hạt nhân cốt lõi là liên minh công - nông và trí thức để đoàn kết toàn dân thành một khối. Hạt nhân và toàn dân là mối quan hệ biện chứng được Hồ Chí Minh quan tâm đúng mức cả hai, không coi nhẹ hoặc thiên lệch bên nào. Mặt trận đó được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, Hồ Chí Minh chỉ rõ Việt Nam là một bộ phận của thế giới, cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới liên hệ chặt chẽ với nhau. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn có những chủ trương, đường lối và biện pháp phù hợp để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, hoà bình dân chủ trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tháng Tám 1945, trong những năm chống Pháp, chống Mỹ, trong thời kỳ hoà bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế.

Ba nhân tố nêu trên gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh kết luận: “Đó là ba bài học lớn mà mỗi cán bộ và đảng viên ta cần ghi sâu vào lòng và phát huy thêm mãi”. Như vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Tính tất yếu đó chỉ được hiện thực hoá khi gắn liền với những điều kiện bảo đảm, trong đó yếu tố quan trọng nhất là xác lập và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiên định tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày nay, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã và đang được Đảng và nhân dân ta giải quyết thành công hàng loạt vấn đề trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối nội và đối ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trung thành với con đường Hồ Chí Minh đã vạch ra. Đảng ta khẳng định trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đề phòng và chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, Cương lĩnh tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Trong công cuộc đổi mới hiện nay con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đang bị chi phối, tác động mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; thách thức rất lớn, nhưng cũng rất nhiều thời cơ, vận hội. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lại có kinh nghiệm thực tiễn hơn 90 năm qua, đặc biệt là thực tiễn của 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, cho phép chúng ta hiểu được thực chất con đường độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay. Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội là nhu cầu sống còn, là sự lựa chọn duy nhất đúng của Bác Hồ, của Đảng Cộng sản Việt Nam và của chính Nhân dân, của dân tộc Việt Nam.

 

Đập tan những luận điệu xuyên tạc, vu khống

Thời gian qua, một số tài khoản facebook có phát trực tiếp nhiều đoạn video clip với nội dung bôi nhọ, nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ lãnh đạo của một số địa phương. Sau khi tự lập các tài khoản facebook, các đối tượng này tự dựng lên các “kênh” giống như đài truyền hình để phát các video clip, đăng tải các hình ảnh có nội dung thù địch, phản động, nhằm mục đích kích động, gây hiểu nhầm cho người xem, phục vụ ý đồ đen tối của cá nhân.

Thủ đoạn của các đối tượng trên là, lợi dụng việc không thỏa mãn với cách giải quyết của các ngành chức năng tại các địa phương có công dân khiếu nại, để thổi phồng sự việc, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, vu khống những người trực tiếp giải quyết vụ việc, vu khống cán bộ lãnh đạo ở các địa phương xảy ra vụ việc.

Trước hết, xin đề cập chuyện công dân khiếu kiện rồi bị các đối tượng xấu lợi dụng.

Sự nghiệp phát triển kinh tế và đổi mới đất nước mà Đảng và nhân dân ta đã, đang thực hiện, nhiều địa phương trong cả nước đã có nhiều dự án liên quan việc thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng để mở đường giao thông, xây dựng các nhà máy, các công trình phúc lợi… phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh.

Xét về góc độ pháp lý, quyết định thu hồi đất đai để xây dựng các dự án đều tuân thủ theo đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật hiện hành, đều được các cấp có thẩm quyền ra quyết định, phù hợp với luật pháp.

Đồng thời, trong quá trình thu hồi, giải phóng mặt bằng, những cá nhân, tập thể có đất, công trình thuộc diện bị thu hồi đều được Nhà nước thực hiện nhiều phương án đền bù thỏa đáng, đảm bảo lợi ích của tập thể và cá nhân, phù hợp với quy định của pháp luật.

Nhiều tập thể, cá nhân, sau khi được đền bù thỏa đáng, đã tuyệt đối chấp hành việc di dời, chuyển giao mặt bằng… mà không có những ý kiến khác hoặc đòi hỏi vô lý ngoài quyền lợi chính đáng đã được thỏa mãn.

Thế nhưng, cũng có một số ít cá nhân, sau khi được đền bù, không thỏa mãn với cách giải quyết của chính quyền đã gửi đơn thư khiếu nại đến các cơ quan công quyền từ huyện đến tỉnh và Trung ương, để đòi hỏi các quyền lợi ngoài quy định của pháp luật hay khiếu nại các quyết định hành chính của chính quyền sở tại…

Lợi dụng vấn đề này, một số đối tượng xấu như đã nói ở trên, lập tức “phân tích”, “bình luận” sự việc theo hướng suy diễn, chụp mũ vô căn cứ, thiếu cơ sở khoa học, rồi “áp” vào điều luật để đưa ra những “kết luận” không đúng sự thật nhằm xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ, nói xấu chế độ, chính quyền…

Qua theo dõi và tìm hiểu các “kênh” phát của các đoạn video clip này, khẳng định rằng, các “kênh” phát trên không được pháp luật Việt Nam cấp phép hoạt động, nên đã vi phạm nghiêm trọng đến pháp luật Việt Nam.

Các kênh phát trên do một số đối tượng bất mãn, tiêu cực đã từng có tiền án, tiền sự cầm đầu, có tiền sử hoạt động chống phá Nhà nước và chế độ… tự tổ chức thành các nhóm người như các hiệp hội; thành lập các “trường quay” tại nhà riêng của các đối tượng với những phương tiện như: bàn làm việc, tự cắt dán logo “đài” phát, máy quay phim, điện thoại…, sau đó đưa hình ảnh đã quay lên facebook… tự nhận giống như một kênh phát của đài truyền hình chính thống…

Các đối tượng này còn lập ra một địa chỉ hộp thư điện tử và số điện thoại, tuyên truyền, mời chào cộng tác viên và người dân gửi tin hoặc đơn thư khiếu nại, tố cáo cán bộ… để những đối tượng này có được những tài liệu và tổ chức xuyên tạc sự thật, vu khống với thái độ thù địch, chống đối Nhà nước, chế độ ta…

Với những luận điệu xuyên tạc sự thật, vu khống cán bộ lãnh đạo các cấp, có thể nói rằng, những đối tượng cầm đầu các nhóm người tự lập ra các “kênh” phát video clip nói trên đã có các hoạt động và hành vi vi phạm pháp luật.

Những đối tượng này có tham vọng xây dựng một “đài truyền hình” với khuynh hướng chính trị đối lập, phát trực tiếp trên facebook và youtube, nhằm “cạnh tranh” với các đài truyền hình chính thống của Việt Nam và cũng là “diễn đàn” để những đối tượng này chống phá chế độ, chống phá sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang hướng đến.

Bởi thế, người dân, nhất là những công dân có những vướng mắc trong việc giải quyết các chính sách, các thủ tục hành chính… nên sáng suốt và tin tưởng vào sự giải quyết của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp.

Mọi người dân, không nên nhẹ dạ cả tin, để rồi bị những đối tượng này lừa gạt, lợi dụng để phục vụ cho quyền lợi và ý đồ cá nhân của họ, vô tình đưa bản thân mình sa vào con đường vi phạm pháp luật…

Chúng ta hãy tỉnh táo và cảnh giác, đập tan mọi ý đồ, luận điệu xuyên tạc và vu khống của các đối tượng xấu.

 

Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch


Trong những thập kỷ gần đây, chúng ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, lợi dụng những khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền kính động, gây mất ổn định, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập... kêu gọi sự can thiệp, hỗ trợ từ bên ngoài đế chống phá cách mạng Việt Nam.


        Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).

        Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:

        - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước.

        - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.

        - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.

        - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.

        Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.

        Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

        Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

        Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.

        Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay.

        Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

        Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta.

        Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.

        Mặc dầu đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay./.

Lý lịch cá nhân 7 đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" ở nước ngoài.

 Ngày 30/1, thông tin trên Cổng thông tin điện tử Bộ Công an cho biết: Căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" là tổ chức khủng bố. Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tiền thân là tổ chức “Tân Dân Chủ”. Trụ sở đặt tại 2807 Anaheim, CA 92814, Mỹ; trang web: chinhphuquocgia.com, cuutuchinhtri.org, phamvanlong.com, cpqgvnlt.com.

7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng cầm đầu, chỉ huy: Đào Minh Quân; Bí danh: Minh Quân, Anh Thương. Sinh: 27/7/1952; Quê quán: Kỳ Hương, Tam Kỳ, Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: PO BOX 2807 ANAHEMIM, CA 92814, Mỹ; Quốc tịch: Mỹ. Vai trò trong tổ chức: “Thủ tướng” tự xưng của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Tháng 8/2017, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân về tội “Khủng bố chống chính quyền nhân dân” theo Điều 84 BLHS Việt Nam
7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng Kelly Triệu Thanh Hoa; Bí danh: Kelly Triệu. Sinh: 13/8/1968. Chỗ ở hiện nay: Mỹ; Quốc tịch: Mỹ. Vai trò trong tổ chức: cấp bậc “chuẩn tướng”, chức vụ “phụ trách thanh niên” của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời"
7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng Lâm Ái Huệ; Bí danh: Lâm Kim Huệ. Sinh: 02/10/1968; Chỗ ở hiện nay: Canada; Quốc tịch: Canada. Vai trò trong tổ chức: cấp bậc “chuẩn tướng”, chức vụ “Thứ trưởng Bộ tài chính” của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”
7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng Phạm Thị Anh Đào; Bí danh: Lisa Phạm; Sinh: 04/6/1979 tại TP. Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: 614 Progressive Way, Denmark, South California 29042, Mỹ; Quốc tịch: Mỹ; Vai trò trong tổ chức: Thành viên tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, nhiệm vụ kích động khủng bố, phá hoại manh động chống phá Việt Nam; Tháng 8/2017, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Phạm Lisa về tội “Khủng bố chống chính quyền nhân dân” theo Điều 84 BLHS Việt Nam
7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng Lý Hồng Thái; Tên khác: Nguyễn Minh Chánh. Sinh: 1952; Quê quán: Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Mỹ; Quốc tịch: Mỹ. Vai trò trong tổ chức: cấp bậc “trung tướng”, chức vụ “Tổng cục trưởng tổng cục võ học”, “Tổng tham mưu phó Quân lực quốc gia VNCH” của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”
7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng Nguyễn Đức Thắng; Sinh: 1930; Chỗ ở hiện nay: Mỹ; Quốc tịch: Mỹ. Vai trò trong tổ chức: cấp bậc “chuẩn tướng”, chức vụ “Chánh văn phòng Thủ tướng” của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
7 đối tượng cầm đầu tổ chức 'Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời'
Đối tượng Quách Thế Hùng; Bí danh: Lê Nguyễn Bình; Sinh: 01/4/1948; Quê quán: thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương; Chỗ ở hiện nay: 5386 Somerset St, Los Angeles, California 90032, Mỹ; Quốc tịch: Mỹ; Nghề nghiệp: Bác sỹ. Vai trò trong tổ chức: “Tổng cục trưởng Tổng cục Quân Huấn”, “Tổng tham mưu phó Quân lực Việt Nam cộng hòa”, cấp bậc “đại tướng” của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời"
Đây là nhũng đối tượng phản động cực đoan, do vậy mọi người cần cảnh giác tránh bị dụ giỗ mua chuộc.