Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2021

CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC CÔNG TÁC TỔ CHỨC BẦU CỬ

     Những ngày qua, trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết “xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

Qua đó có thể thấy rằng hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong./.

NHỮNG CHIÊU TRÒ GÂY RỐI, PHÁ HOẠI CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

 

Vẫn những chiêu trò cũ rích, thời gian qua và hiện nay các đối tượng chống phá mới tiến hành chống đối bằng chiêu trò “tự ứng cử”. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, chúng ta cũng đã được chứng kiến một “làn sóng” tự ứng cử của các “nhà dân chủ” và một số văn nghệ sĩ biến chất.Khi không đủ điều kiện và bị loại qua các vòng hiệp thương, các đối tượng này lên mạng xã hội rêu rao những luận điệu hết sức sai trái như: chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải trải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội v.v…

Có thể thấy mục đích cơ bản nhất của chiêu trò “tự ứng cử” mà các “nhà dân chủ” đang thực hiện là nhằm phá hoại bầu cử. Đồng thời, thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, các đối tượng đánh bóng tên tuổi của bản thân trong giới “dân chủ”.

Ngoài ra, những thông tin được các đối tượng xấu đưa ra đã trở thành cái cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài xuyên tạc, biến tướng, vu khống, công kích công tác bầu cử của Việt Nam. Pháp luật nước ta quy định công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định. Không ai có quyền cản trở việc công dân thực hiện những quyền này.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.

Chính vì vậy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”./.

NHẬN DIỆN NHỮNG HOẠT ĐỘNG XUYÊN TẠC VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

     Trong thời gian qua, các trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v… Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước. Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v...

Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA NHỮNG KẺ TỰ XƯNG

Trong thời gian qua, trên các trang mạng xuất hiện nhiều những thông tin xuyên tạc với những chiêu trò cũ rích. Để tăng độ “nóng” cho các luận điệu xuyên tạc, chúng lợi dụng trên truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống kinh tế - xã hội để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên mạng xã hội của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols”- nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa. Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm. Một số đối tượng hoạt động vi phạm pháp luật, bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra theo Điều 331 Bộ luật Hình sự thời gian gần đây, như: Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thị Bích Thủy (Bích Thủy TV), Phan Bùi Bảo Thi... chính là những “Kols” dạng này. Sự vào cuộc kịp thời của các cơ quan chức năng và tính nghiêm minh của pháp luật đã có tác dụng răn đe, thức tỉnh nhiều người. Tuy nhiên, vẫn còn không ít đối tượng, vì nhiều lý do, vẫn tiếp tục bị lôi kéo, dụ dỗ, thực hiện các hoạt động trên không gian mạng theo kiểu lấp lửng, giả giả thật thật, u u minh minh, nhằm ám chỉ, bịa đặt, xâm hại quyền lợi, danh dự tổ chức, cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đáng tiếc, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống./. 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC

 

Thời gian vừa quan, đặc biệt giai đoạn trước và trong thời gian diễn ra Đại hội XIII của Đảng, không ít phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và trang cá nhân của nhiều đối tượng cực đoan trên mạng xã hội rộ lên những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc về nhân sự, các nội dung văn kiện, Điều lệ Đảng và công tác tổ chức đại hội... nhằm mưu đồ phá hoại. Đến nay, cơn “bão” thông tin xấu độc nhằm vào Đại hội XIII của Đảng gần như tắt ngấm. Sự thành công rất tốt đẹp Đại hội XIII của Đảng chính là bằng chứng thuyết phục nhất đẩy lùi, chặn đứng những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động. Qua đó giúp chúng ta thêm một lần nữa thấy rõ hơn âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Với chiêu bài bám vào dòng thời sự chủ lưu, diễn biến tình hình đời sống kinh tế - xã hội trong nước và những biến động trong môi trường quốc tế, các thế lực thù địch tạo cớ theo kiểu “mượn gió để gây bão”. Khi “gió” đã thành “bão” thì nhân cơ hội “bẻ măng”. Chiêu bài không mới nhưng luôn tỏ ra đắc dụng trong không ít trường hợp, vì vậy nó luôn được áp dụng ở những mức độ, phạm vi, quy mô khác nhau, tùy theo diễn biến của tình hình.

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp tạo nên bầu không khí phấn khởi, lạc quan, tin tưởng bao trùm lên đời sống xã hội của toàn dân và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới. Khí thế thi đua mừng xuân, mừng Đảng, mừng Đại hội XIII thành công diễn ra sôi nổi, rộng khắp, tạo nên xung lực mới cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Hiện thực sống động ấy khiến những phần tử cơ hội, chống đối không khỏi cay cú, nên lập tức chuyển hướng tuyên truyền, kích động chống phá. Dịch Covid-19 tái bùng phát ở một số địa phương thời điểm giáp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 đến nay chính là cái cớ để các thế lực thù địch bám vào. Bắt đầu là việc tung tin thất thiệt về dịch bệnh nhằm gây tâm lý hoang mang, lo ngại trong cộng đồng; tiếp đó, thông qua các hình thức như “đối thoại”, “phỏng vấn”, “bàn tròn”, “trực tuyến”, “luận bàn”... nhiều đối tượng và nhóm đối tượng ra sức thực hiện các sản phẩm truyền thông xuyên tạc. Những clip được thực hiện với cái gọi là “sự thật”, “khách quan”... thực chất chỉ là trò đánh tráo khái niệm, bóng gió, ám chỉ, lấy các sự việc, sự kiện liên quan đến dịch bệnh và những khó khăn của một số lĩnh vực trong nền kinh tế để công kích, xuyên tạc nghị quyết của Chính phủ, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta...

Những ai vẫn đang đeo bám vụ án Đồng Tâm?



Vụ án Đồng Tâm có thể coi như đã khép lại cơ hội để các thế thực phản động, số cơ hội chính trị có thể lợi dụng để tuyên truyền chống Nhà nước, lôi kéo kích động gây rối ANTT. Bởi lẽ, sự thật quá rõ ràng, những kẻ giết người đã nhận tội, đời sống của nhân dân đã quay lại quỹ đạo bình thường, do đó, đám kền kền “nhặt xác thối” chẳng còn bám víu vào đâu để chống phá. Ngay cả bà Dư Thị Thành (vợ ông Kình) sau nhiều đêm mất ngủ cũng đã tỉnh ngộ, con cháu ông Kình cũng vì thế mà biết sống tốt hơn để cố chuộc lại lỗi lầm mà ông, cha, anh chị em trong gia đình đã gây ra, nhất là hành động độc ác khi thiêu chết 3 cán bộ, chiến sĩ công an khi làm nhiệm vụ.

NÉT TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP LẠI SÁNG LÊN TRONG ĐẠI DỊCH CÔVID-19

Đại dịch Côvid -19 là hiện thân tiêu biểu của thách thức an ninh phi truyền thống đối với nhân loại trong thế kỷ XXI. Chưa bao giờ, kể từ khi cuộc khủng hoảng của những năm đầu Thế kỷ XX diễn ra đến nay, hậu quả của dịch bệnh lại to lớn, sâu sắc và rộng lớn đến như thế. Cả thế giới hơn một năm qua đang gồng mình chống lại loại virut vô cùng nhỏ bé, nhưng tác hại vô cùng lớn, đến nay, đã có hơn 116 triệu người mắc, hơn 2 triệu người đã bị chết, thiệt hại cả thế giới về kinh tế không thể kể xiết. Ngoài ra, còn có thể để lại di chứng vô cùng nặng nề về sau cho nhân loại.

Đối với Việt Nam, mặc dù chúng ta đã lường trước tác hại và đã kịp thời ứng phó bằng rất nhiều biện pháp quyết liệt, hiệu quả, với sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhưng đại dịch cũng để lại ảnh hưởng không nhỏ, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt 2,91%, cho dù đó là nền kinh tế hiếm hoi trên thế giới tăng tưởng, trở thành mẫu hình cho nhiều nước trên thế giới học tập.

Nhưng để đạt được điều đó, ngoài sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ, các ban ngành, đoàn thể và tham gia đồng tình, ủng hộ của toàn dân, chúng ta còn thấy một nét đẹp truyền thống của dân tộc đã tiếp tục được khơi dậy và tỏa sáng trong đại dịch. Đó là truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau của dân tộc. Trong khó khăn, các hành động đẹp để chia sẻ khó khăn cho người bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh như: ATM gạo, ATM khẩu trang, cùng nhau giải cứu nông sản, rau quả. Nhiều người có tấm lòng hảo tâm đã góp tiền, hàng, mua thực phẩm giúp đỡ người trong vùng dịch. nông sản được mua gom, vận chuyển và phân phát miễn phí… tất cả vì cộng đồng, cùng chia sẻ, cùng động viên nhau vượt qua khó khăn, dịch bệnh.

Những nét đẹp truyền thống đó luôn sáng lên mỗi khi có khó khăn, hoạn nạn, cần tiếp tục được chia sẻ, lan tỏa và lưu truyền mãi mãi trong cộng đồng, trở thành một nét trong bản sắc văn hóa của người dân Việt Nam.

Chủ lực

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

HÃY TÔN VINH HÀNH ĐỘNG ĐẸP ĐỂ CHIA SẺ YÊU THƯƠNG TRONG CỘNG ĐỒNG

Những ngày gần đây, hành động đầy quyết đoán, bất chấp nguy hiểm đến sự an toàn của bản thân, không một chút do dự để cứu cháu bé gần 3 tuổi rơi từ tầng 12 A của Anh Nguyễn Ngọc Mạnh đã khiến dư luận trong nước dậy sóng. Trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên mạng xã hội và trong những cuộc trò chuyện đã có rất nhiều những lời tốt đẹp từ mọi tầng lớp nhân dân dành cho Anh Mạnh. Anh được coi là “Anh hùng giữa đời thường”. Không chỉ có vậy, hành động đó cũng được báo chí nước ngoài ca ngợi, họ cũng cho đây là hành động dũng cảm, đáng được trân trọng và cần được lan tỏa.

Quả đúng vậy, nếu không có hành động nhanh trí, kịp thời của Anh Mạnh thì không biết tính mạng cháu bé có được bảo toàn hay không, chứ đừng nói đến được xuất viện sau mấy ngày điều trị. Khi chia sẻ với báo chí, anh Mạnh chỉ khiêm tốn cho rằng, mình không phải là anh hùng, mà chỉ là người bình thường, và nếu ai thấy sự việc ấy cũng đều làm như vậy.

Là người dân Việt Nam, chúng ta luôn tự hào về tinh thần tương thân, tương ái, đùm bọc, yêu thương, giúp đỡ nhau, sẵn sàng xả thân vì cộng đồng, vì người khác đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Hành động đẹp đó của anh Nguyễn Ngọc Mạnh cần được cả xã hội tôn vinh, chia sẻ, lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng, để cuộc sống này luôn tốt đẹp, đáng sống và tràn đầy hạnh phúc. Đó cũng là mong ước của Đảng, của Bác Hồ và của nhân dân Việt Nam.

Chủ lực

KHÔNG CÓ QUYỀN PHÁN XÉT NHÂN QUYỀN ĐỂ XUYÊN TẠC CÔNG CUỘC PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID – 19 CỦA VIỆT NAM

Đại dịch Coovid -19 xuất hiện vào đầu năm 2020 tại Vũ Hán Trung Quốc, sau đó đã lan nhanh và rộng khắp trên toàn cầu và đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề về kinh tế, xã hội. Đây là cuộc khủng hoảng được coi là lớn nhất, kể từ khi chiến tranh thế giới lần thứ Hai, khiến cho rất nhiều quốc gia trên thế giới có chỉ số tăng trưởng âm, sản xuất, lưu thông đình trệ, thất nghiệp tràn lan, xã hội bất ổn. đến nay, đã có hơn 116 triệu người mắc, hơn 2 triệu người tử vong. Cả thế giới đang căng mình phòng, chống dịch.

Đối với Việt Nam, mặc dù các biện pháp phòng ngừa rất quyết liệt, nhưng vẫn không thể tránh được ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch. Đến nay đã có ba làn sóng dịch bùng phát, nhưng với quyết tâm, đồng lòng, nhất trí phương châm: “chống dịch như chống giặc” của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, dịch bệnh không những được khống chế nhanh chóng, mà còn hạn chế tối đa hậu quả. Đã hơn một năm, với 3 đợt dịch, cả nước mới chỉ có hơn 2 nghìn ca nhiễm bệnh, trong đó có nhiều ca từ nước ngoài về nước, số người tử vong chỉ có 35 người. Nhờ vậy trong năm 2020, Việt Nam vẫn tăng trưởng kinh tế 2,91%, là một trong số ít quốc gia tăng trưởng dương.

Chúng ta đã thành công thực hiện mục tiêu kép “vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội” trở thành hình mẫu cho thế giới và được báo chí, các đại sứ nước ngoài tại Việt Nam và kể cả lãnh đạo nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao. Để có được thành tựu vô cùng to lớn đó, chúng ta có đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chỉ đạo quyết liệt của chính quyền, sự đồng tình, ủng hộ của toàn dân. Với quan điểm, tất cả vì cuộc sống, vì hạnh phúc của nhân dân. Các biện pháp quyết liệt mà chính phủ, chính quyền các cấp ở địa phương đều được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Trong dịch bệnh luôn sáng lên tình người, tình cộng đồng, tất cả vì cộng đồng, vì xã hội, cho dù mỗi người có thể phải hy sinh những lợi ích trước mắt của cá nhân mình.

Tiếc thay, hành động có ý nghĩa cao đẹp của Đảng, chính phủ, của chính quyền và nhân dân Việt Na lại bị xuyên tạc bởi tổ chức nhân quyền, khi cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền trong phòng chống dịch. Đây thực sự là suy nghĩ, đánh giá vô cùng đáng thất vọng, mang đầy ý đồ cố tình hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, vì mục đích không tốt.

Chúng ta, những người Việt Nam đều ghi nhận và ủng hộ bằng lời nói, bằng hành động đối với những quan điểm, chủ trương của Đảng, hành động quyết liệt của Chính phủ, và luôn cho rằng: Nhân quyền cao nhất chính là mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân. Hạnh phúc của một người chỉ trọng vẹn khi đặt trong mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với cả cộng đồng. Điều đó, phù hợp với lý tưởng của Đảng, của nhân dân Việt Nam.

Tổ chức nhân quyền hãy thôi phán xét về Việt Nam theo kiểu áp đặp, thiên lệch như vậy. Chúng tôi không có nhu cầu nhận những pháp xét đó, và kịch liệt phản đối phán xét đó.

Chủ lực

 

XIN ĐỪNG

 Bàn về ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức thiết đối với toàn nhân loại. Việc vứt rác bừa bãi ở địa phương em có ảnh hưởng to lớn đến môi trường sống. Nhưng đây lại là một hiện tượng rất phổ biến hiện nay, được biểu hiện rõ nhất ở những nơi công cộng.

Hiện tượng vứt rác bừa bãi xuất hiện ngày càng nhiều, từ nơi học tập, làm việc cho đến các địa điểm nổi tiếng. Ra ngoài đường phố, ta dễ dàng bắt gặp những người phát tờ quảng cáo. Sẽ không có gì đáng nói nếu như họ không phát một cách tràn lan, bừa bãi, khiến mặt đường chỉ sau vài phút đã tràn ngập giấy rác. Cũng có nhiều người vừa đi đường vừa ăn uống rồi tiện tay vứt vỏ, hộp xuống đường. ngay cả công viên- nơi được coi là có bầu không khí trong lành, giúp con người có những giây phút thư giãn cũng không tránh khỏi nguy cơ ô nhiễm. Thật đáng buồn khi ta ngồi trên ghế đá và thấy bã kẹo cao su được nhét vào khe, váo mặt sau của ghế. Đến thăm các danh lam thắng cảnh, ta cũng thấy đâu đâu cũng rác tràn ngập. Hồ Gươm, Hồ Tây rác nổi lềnh bềnh do người dân xả ra, du khách ném xuống, đặc biệt là trong các dịp lễ Tết. Sông Tô Lịch mặt nước đen, bốc mùi hôi thối do giấy rác, thậm chí là xác súc vật mà những người vô ý thức đã ném xuống. Thật khó để tin được con sông ấy xưa kia đã được ca ngợi:

“Bên bờ vải nhãn hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.”

Việc vứt rác bừa bãi gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và đời sống của con người. Sông, hồ vì rác phủ khắp nên không thể chảy được. Nguy hiểm hơn nếu người dân đem xác súc vật ném xuống đố sẽ là mầm mống của nhiều dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh về đường hô hấp.

LUẬN ĐIỆU "VIỆT NAM LỢI DỤNG COVID-19 VI PHẠM NHÂN QUYỀN" LÀ QUY CHỤP, BẤT CHẤP ĐÚNG SAI

 

Những vu cáo của Tổ chức theo dõi nhân quyền về việc Việt Nam lợi dụng COVID-19 vi phạm nhân quyền là hoàn toàn không có thiện chí, thậm chí là quy chụp bất chấp đúng sai.

Kết quả phòng chống dịch COVID-19 của Việt Nam từ khi đại dịch bùng phát cho đến nay luôn được cộng đồng quốc tế đánh giá là một hình mẫu kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả và để lại nhiều kinh nghiệm cho các quốc gia khác. Ngay trong tuần qua, các báo quốc tế lớn tiếp tục có cái nhìn rất toàn diện, cô đúc lại những kinh nghiệm quý giá nhất từ Việt Nam.

Với tiêu đề "Việt Nam chỉ xếp thứ hai về công tác chống dịch", tờ Business Insider của Mỹ dành lời ngợi khen cho cuộc chiến chống dịch nhanh và mạnh mẽ của Việt Nam. Bài báo dẫn lời ông Kamal Malhotra, Trưởng Đại diện LHQ tại Việt Nam, theo đó, 3 yếu tố được coi là chìa khóa quyết định thành công của Việt Nam đó là truy vết, xét nghiệm và truyền thông đến từng người dân.

Ông Malhotra cũng khẳng định rằng: Luôn có định kiến chống lại thành công của Việt Nam, nghi ngờ tính xác thực của những thông tin, dữ liệu được công bố nhưng thực tế là, tất cả các dữ liệu được ghi lại theo thời gian thực và không hề có ép buộc nào trong các biện pháp được thực hiện ở Việt Nam.

Cũng đề cập tới cuộc chiến chống COVID-19 tại Việt Nam, nhưng tờ L'humanite - Nhân đạo của Pháp đi vào sự kết hợp giữa chống COVID-19 và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Trong bài báo có tiêu đề "Diệt Virus là động lực của tăng trưởng", tờ này cho rằng, Việt Nam đang dựa chính vào thành tích chống dịch để thúc đẩy vị thế và sự phát triển công nghiệp.

Trang tin của Credendo, một tập đoàn bảo hiểm - tín dụng lớn của châu Âu, đã đăng tải một nghiên cứu rất chi tiết. Niềm tin của các nhà đầu tư chính là sự khẳng định cho đường lối chống dịch đúng đắn và hiệu quả của Việt Nam.

Thành quả chống dịch của Việt Nam được lan tỏa đến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt có cả tiếng nói của đại diện của Liên Hợp Quốc.

Tuy nhiên, đi ngược lại với những nhận định này, vừa qua, Tổ chức theo dõi nhân quyền, có trụ sở tại Hoa Kỳ, đã liên tiếp cáo buộc Việt Nam dù chống dịch thành công nhưng đã lợi dụng COVID-19 để biện minh cho các hành động vi phạm nhân quyền. Thậm chí là xuyên tạc khi cho rằng "Việt Nam đang lợi dụng COVID-19 để vi phạm nhân quyền".

Bản Báo cáo của Tổ chức theo dõi nhân quyền mới đây cho rằng, việc Việt Nam triệu tập và xử phạt các cá nhân, tổ chức phát tán thông tin sai lệch liên quan đến đại dịch COVID-19 đã vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, gia tăng vi phạm nhân quyền.

Trong khi mọi nỗ lực của Việt Nam đang được tập trung để bảo đảm cuộc chiến chống COVID-19 thành công, trong đó có việc triệt tiêu nạn tin giả thì đây thực sự là những đánh giá thiếu khách quan, đi ngược lại các tiêu chí bảo đảm quyền con người.

"Việc áp dụng biện pháp nào đó để xóa bỏ những thông tin không chính xác thì chính phủ nào cũng phải áp dụng" - bà Lê Thị Bích Hường, Giảng viên Đại học Ca'Foscari Venezia Italy cho rằng.

Càng đông người tụ tập, virus càng phát tán nhanh thế nhưng, Tổ chức theo dõi nhân quyền vẫn ôm khư khư cái đòi hỏi phi lý về quyền được tụ tập. Họ cho rằng Việt Nam đã cản trở và vi phạm "quyền được hội họp ôn hòa của người dân".

Tháng 2 vừa qua tại châu Âu, cảnh sát đã phải giải tán nhiều đám đông, bắt giữ hàng trăm người biểu tình phản đối các quy định cấm tụ tập và lệnh giới nghiêm, phong tỏa. Còn tại Hoa kỳ đầu năm 2021, số ca nhiễm mỗi ngày đã giảm xuống chỉ còn 1/5 chỉ sau 2 tuần khi người dân chấp hành tốt việc giãn cách và ở nhà nhiều hơn.

Việt Nam với cách làm "chống dịch như chống giặc" đã khẳng định là cách làm đúng và được cả thế giới ghi nhận, đã giúp ngăn chặn hiệu quả nguồn lây dịch bệnh, với chỉ 35 người chết và gần 2.500 ca nhiễm tính đến nay.

Ông Moribe Hiroyuki, Chủ tịch Viện nghiên cứu kinh tế Việt Nam tại Nhật Bản cho biết: "Ở những quốc gia tự do như Mỹ hay châu Âu đã không thể thực hiện các biện pháp mạnh, khiến số người nhiễm và tử vong rất cao. Tuy nhiên, ở Việt Nam, dịch bệnh đã được kiểm soát. Tôi nghĩ những biện pháp đang được triển khai hiện nay là phù hợp".

"Các phương án giãn cách, cách ly chỉ thể hiện sự quyết đoán, quyết tâm của nhà nước để dập dịch, đảm bảo an ninh xã hội và sức khỏe người dân" - Anh Daniel Nguyễn Hoài Tiến, kiều bào Việt Nam tại Hoa Kỳ nói.

Tổ chức theo dõi nhân quyền còn vu cho Việt Nam "bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ của Chính phủ" mà không biết rằng, quan điểm "Không ai bị bỏ lại phía sau" mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện ngay từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam.

Đầu năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện hàng trăm các chuyến bay giải cứu cho hàng chục nghìn công dân từ vùng dịch về nước an toàn.

Theo ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam: "Có 2 khảo sát ở cấp độ toàn cầu về mức độ hài long của người dân với Chính phủ. Việt Nam nằm trong nhóm đầu bảng vì người dân cho rằng Chính phủ đã chỉ đạo và đưa ra các giải pháp rất hiệu quả. Đây chính là câu trả lời rõ nhất vì sao Việt Nam đang rất thành công trong công tác dập dịch. Vì Chính phủ Việt Nam có được sự đồng thuận và niềm tin của người dân Việt Nam".

Thực tế cho thấy trong những đợt bùng phát COVID-19 tại Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn coi con người là quan trọng nhất và thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ sức khoẻ, tính mạng công dân của mình. Không chỉ trong đại dịch COVID-19 mà trước đó, khi Việt Nam lần đầu tiên tham gia hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng đã có những đóng góp tích cực, được quốc tế đánh giá cao.

Việt Nam tích cực đóng góp thúc đẩy nhân quyền trên thế giới

Ngày 22/2 vừa qua, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025

Năm 2013, Việt Nam đã lần đầu tiên trúng cử với số phiếu cao nhất trong số các nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Trong 3 năm tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực và đã để lại những dấu ấn rõ nét.

Việc Việt Nam lần thứ hai tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã khẳng định cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam đã mang lại nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩy quyền con người cả về chính sách và thực tiễn.

"Những kết quả mà Việt Nam đạt được trong phát triển con người gần đây là rất đáng tự hào. Điều ấn tượng là Việt Nam, một quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhưng lại đạt kết quả cao cho xếp hạng chỉ số phát triển con người trên thế giới" - bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam nói./.

Những nguyên tắc của đấu tranh lý luận ở nước ta hiện nay


Không thông qua đấu tranh lý luận để chống lại những quan điểm sai trái, thù địch thì không thể củng cố, bảo vệ và phát triển hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, làm nền tảng cho toàn bộ cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để thực hiện mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Từ di sản về đấu tranh lý luận của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin, có thể rút ra một cách tổng quát những nguyên tắc của đấu tranh lý luận là tính đảng và tính khoa học (hai tính này có quan hệ biện chứng với nhau). Cần quán triệt và vận dụng tính đảng và tính khoa học vào cuộc đấu tranh lý luận ở nước ta hiện nay, phù hợp với bối cảnh mới của tình hình.

Nguyên tắc tính đảng và tính khoa học trong đấu tranh lý luận trong tình hình hiện nay ở nước ta bao gồm một số yêu cầu cơ bản sau:

Nắm vững thế giới quan duy vật khoa học và phương pháp biện chứng mác-xít

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở triết học của tính đảng cộng sản. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, dân chủ hóa xã hội, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng nhưng cũng ngày càng phức tạp. Nhiều hiện tượng “lạ” liên quan đến tâm linh, ngoại cảm xuất hiện mà ngày nay chúng ta chưa thể giải thích hết được trên cơ sở khoa học. Hiện tượng bói toán, lễ chùa, xem ngày xem giờ, đốt vàng mã, cầu trời khấn phật... ngày càng phổ biến, xu hướng mê tín dị đoan có chiều hướng gia tăng trong cán bộ và nhân dân. Tuy vậy chúng ta phải kiên định với thế giới quan duy vật khoa học, vì đây là cơ sở triết học của lý luận cách mạng của chúng ta. Thiếu nó, chúng ta dễ dao động ngả nghiêng, dễ xa rời nguyên tắc một cách tệ hại. Mặt khác cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục thế giới quan duy vật khoa học, tiếp tục đi sâu nghiên cứu để lý giải một cách khoa học những hiện tượng “lạ” trong đời sống ý thức của con người, nghiên cứu những thành tựu khoa học và công nghệ mới nhất để bổ sung, làm phong phú, sâu sắc hơn thế giới quan duy vật biện chứng trong điều kiện mới.

Đấu tranh lý luận của chúng ta đòi hỏi phải mang tính khoa học và dựa trên cơ sở khoa học. Tính khoa học trước hết đòi hỏi phải nắm vững và vận dụng tốt những nguyên tắc của phương pháp biện chứng mác xít - đó là các nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, thực tiễn và lịch sử - cụ thể, kiên quyết chống tư duy bảo thủ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí. Cần nắm vững và vận dụng sáng tạo các quy luật biện chứng và lịch sử để xem xét sự vận động và phát triển của thế giới đương đại trong xu thế toàn cầu hóa, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, dân chủ hóa đời sống xã hội, sự biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới, xu thế đa cực hóa, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển,... Chỉ có quán triệt phương pháp biện chứng mới nâng cao được chất lượng và hiệu quả đấu tranh lý luận, nâng cao được tính chiến đấu, tính sắc bén, tính lô-gíc chặt chẽ trong lập luận, từ đó mới tăng được tính thuyết phục trong phê phán những quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng - lý luận, tránh rơi vào tình trạng phê phán theo kiểu áp đặt, “nói lấy được”, lập luận không nhất quán, chung chung trừu tượng, không dựa trên thực tiễn hoặc lý luận khoa học để phê phán, bác bỏ.

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011 đã khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng, “kim chỉ nam” cho hành động.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh lý luận, cần phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã rút ra bài học số một là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Đây là sự tổng kết sâu sắc về lịch sử và lý luận quá trình cách mạng nước ta, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng từ khi Đảng ta ra đời cho đến nay. Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng phù hợp trong từng thời kỳ lịch sử là một trong những nguyên nhân của thành tựu cách mạng nước ta.

Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc

Cuộc đấu tranh lý luận hiện nay phải trên cơ sở kiên định đường lối đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa, đây là nguyên tắc bất di bất dịch đối với Đảng và nhân dân ta. Xa rời nguyên tắc đó sẽ không tránh khỏi sai lầm về chính trị./.


Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

 

Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, được khái quát trên những nét chính sau:

Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo ra nét đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ nhất nguyên. Chế độ dân chủ nhất nguyên là điều kiện cơ bản để tạo ra một đời sống dân chủ có tính thống nhất cao, một hệ thống chính trị thống nhất và là một đòi hỏi có tính nội tại của chế độ nhà nước và chế độ xã hội trong các điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do vậy, sự nhất nguyên chính trị phải luôn là thuộc tính của nhà nước xã hội chủ nghĩa – một nhà nước đòi hỏi tính thống nhất và tính tổ chức cao trong tổ chức cũng như trong hoạt động của mọi cấu trúc nhà nước để có thể đạt được các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta.

Ba là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hóa giàu, nghèo nhưng có khả năng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu chung của sự phát triển.

Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền tạo ra khả năng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các giai tầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc thực hành và phát huy dân chủ./.

Tam quyền phân lập không phù hợp với Việt Nam

 

Một số cá nhân đã cổ xúy cho việc thực hiện cái gọi là “tam quyền phân lập”. Nghe qua, tưởng là “xây dựng”. Xét kỹ mới thấy, đó chỉ là cái bẫy, khiến ta vô tình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

1.Tư duy cơ giới - nền tảng của học thuyết phân quyền tư sản

Tư tưởng phân quyền có từ thời cổ đại ở phương Tây, với nội dung chính là: “Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án”. Từ thế kỷ XVII - XVIII, trong cao trào chống chế độ quân chủ ở Tây Âu, Montesquieu (Pháp) phát triển toàn diện học thuyết phân quyền. Từ việc lột tả, phê phán bản chất của chế độ chuyên chế là lạm quyền, ông cho rằng, khi quyền lực tập trung vào một mối, một người hay một tổ chức thì nguy cơ chuyên chế là không tránh khỏi. Những tưởng có thể “chống lại” chế độ chuyên chế, “thanh toán” được nạn lạm quyền, ông đề xuất tư tưởng: tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân tách quyền lực; quyền lực tối thượng phải được phân chia thành ba hình thái: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nội dung cốt lõi của tư tưởng đó là: mỗi cơ quan đại diện quốc gia chỉ thi hành một nhiệm vụ, một quyền hạn và chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn ấy mà thôi; phải có sự độc lập giữa các cơ quan, một cơ chế kiểm soát quyền lực, v.v.

Thuyết phân quyền ảnh hưởng sâu sắc, làm cho những quan niệm về tổ chức nhà nước và thực tiễn tổ chức nhà nước tư bản mang nặng tính chất cơ giới. Khởi đầu của sự ảnh hưởng đó là thuyết cơ giới mới của Galilé, với chủ kiến: nguyên nhân của mọi chuyển động là do các lực tác động. Từ đó, tư duy cơ giới đã ảnh hưởng, lan tỏa sang cả các khoa học xã hội. Đối tượng nào cũng được xem như một “cỗ máy”, vận hành theo nguyên tắc cơ giới, kể cả bộ máy nhà nước. Ưu điểm của cách tiếp cận này chỉ giúp thấy được chi tiết cấu trúc, thành phần của các đối tượng, hỗ trợ chuyển nền văn minh từ nông nghiệp sang công nghiệp... Đến đầu thế kỷ XX, chính người phương Tây, tiêu biểu là nhà tư tưởng nổi tiếng Edgar Morin (Pháp) đã kịch liệt phê phán tư duy đó. Bởi nó là “tư duy manh mún, vụn mảnh”, là “một thứ tư duy định hướng vào việc phân cách thành từng ô, chia nhỏ ra và cô lập”; cần phải khắc phục nó bằng tư duy hệ thống. Ở Việt Nam, việc xem xét các vấn đề xã hội bằng tư duy đó cũng đã bị phê phán là phương thức “bộ phận đi đến toàn thể, trên nguyên lý: bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do các bộ phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận”… Rõ ràng, sẽ là không thích hợp khi mở rộng tư duy cơ giới từ lĩnh vực tự nhiên sang lĩnh vực xã hội.

2. Chịu ảnh hưởng bởi tư duy cơ giới, song tư tưởng tam quyền phân lập ở các nước tư bản cũng chỉ là hình thức

Nền tảng lập hiến của các nước tư bản khuôn theo tư tưởng tam quyền phải phân lập, nhìn nhận các hình thái quyền lực trong thế cô lập, đơn tính hay tuyến tính, nên đã yêu cầu lập pháp, hành pháp và tư pháp phải luôn tách biệt với nhau, chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau. Họ không nhận thấy tính chất thống nhất, hữu cơ của quyền lực nhà nước; lập pháp nằm trong mối quan hệ với hành pháp và tư pháp; hành pháp và tư pháp xác định vị trí của mình cũng như vậy. Quyền lực nhà nước vốn dĩ là một chỉnh thể, bao gồm các bộ phận cấu thành quan hệ hữu cơ với nhau và với toàn bộ quyền lực nhà nước, không thể phân tách độc lập và yêu cầu các quyền chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau được. Trên thực tiễn, quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Vì thế, những cố gắng phân quyền trong các hiến pháp tư sản đã bị phá sản trong thực tiễn; tư tưởng của những người “sáng lập” ra nó cũng trở nên vô ích.

Nhiều tổ chức, cá nhân luôn hết lời ca ngợi Hoa Kỳ là một “mẫu hình”, “thể hiện thành công nhất” về “tam quyền phân lập”! Họ có biết rằng, trong thực tiễn nền chính trị Hoa Kỳ, phân quyền chỉ có trong văn bản Hiến pháp mà thôi; dù có phân quyền thế nào chăng nữa, thì lập pháp và hành pháp vẫn “đi đôi” với nhau để thực hiện quyền lực nhà nước rất ngoạn mục. Hiến pháp Hoa Kỳ xác lập: “Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ”. Nhưng Tổng thống thường là đại diện của đảng chiếm đa số trong Hạ viện, thì lập pháp và hành pháp đều trong tay một đảng, lúc này phân quyền đã bị biến dạng. Tổng thống có thể hướng Quốc hội về những chính sách theo ý chí của mình. Trong trường hợp Tổng thống và đa số nghị viên ở hai đảng khác nhau thì lập pháp và hành pháp vẫn xoắn xuýt với nhau. Tổng thống vẫn có nhiều cách để can thiệp vào hoạt động lập pháp bằng: quyền đọc thông điệp trước Quốc hội, vạch chương trình hoạt động hằng năm của Quốc hội, luôn trao đổi và yêu cầu với các nghị sĩ thuộc đảng mình trình dự án luật theo ý chí của Tổng thống trước Quốc hội. Khoản 3, Điều II của Hiến pháp này còn cho phép: “Tổng thống sẽ thông báo thường kỳ cho Quốc hội về tình hình của Liên bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần thiết và thích hợp. Trong trường hợp cần thiết, Tổng thống có quyền triệu tập hai viện hoặc một trong hai viện. Trong trường hợp bất đồng giữa hai viện về thời gian hoãn họp, Tổng thống sẽ quyết định về thời gian cuộc họp sẽ hoãn đến bao giờ mà Tổng thống cho là thích hợp”.

Cái cơ chế “kìm hãm” và “đối trọng” được áp dụng từ học thuyết phân quyền với thực tiễn chính trị Hoa Kỳ không thể tránh khỏi sự mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp. Nhưng do hai nhánh này luôn thống nhất ở khuynh hướng phát triển chung là phục vụ trước tiên cho lợi ích giai cấp tư sản cầm quyền, nên những mâu thuẫn tất yếu cũng được dàn xếp, cùng bắt tay nhau để thực thi quyền lực… Chẳng những thế, sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Mỹ, cái thực thể “Tổng thống có quyền lập pháp” đã tồn tại một thời gian. Ngay cả “vai trò” và “xu hướng” muốn gắn kết các quyền lực đã luôn là kỳ vọng mãi mãi không chỉ của cá nhân Tổng thống mà còn của cả mọi người, lưỡng viện, công chúng và báo chí. Cuối thế kỷ XX, nhà chính trị học James Robinson (Mỹ) nhận định: Quốc hội hầu như nhượng mọi quyền chủ động cho ngành hành pháp; trong hai thập niên vừa qua, gần 80% luật được thông qua đều xuất phát từ ngành hành pháp. Còn với tư pháp? Nhà nghiên cứu luật ở Việt Nam - Bùi Ngọc Sơn đã nhận định rất xác đáng bản chất của vụ “Marbury chống Madison” năm 1803: “Với quyền bảo hiến, Tòa án tối cao Mỹ đã giải thích Hiến pháp theo ý chí của riêng mình, dần dần lấn át quyền lực của Quốc hội và Chính phủ. Hệ quả là, Tòa án tối cao Mỹ, một cơ quan tư pháp với chức năng truyền thống là xét xử những vi phạm pháp luật đã trở thành “Chính phủ của ông Tòa”. Với một thứ tòa án như vậy, tồn tại từ năm 1880 đến 1940, thì sự can thiệp thô bạo của tư pháp vào lập pháp và hành pháp chẳng đã làm nhàu nát ngay cái tư tưởng “tam quyền phân lập” đó sao?

Nhưng tại sao các nước tư bản vẫn cứ ca ngợi “tam quyền phân lập”? Xin thưa, đó chỉ là “cái bánh vẽ”. Bởi, nguyên gốc tư tưởng của những người khởi xướng ra nó là để chống chế độ chuyên chế phong kiến, đúng hơn là khi đó, hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đang lên, nhân danh xã hội đấu tranh, giành quyền cho giai cấp tư sản. Nhưng khi giành được quyền lực, thì họ đâu có thực hành dân chủ cho toàn xã hội, bảo đảm các quyền cho toàn thể dân chúng. Để tránh xung đột, cao hơn là cách mạng xã hội do bất công, chuyên chế tư sản tạo ra, họ đã mượn luôn cái tư tưởng phân quyền để dựng lên những cái hiến pháp được gọi là “công lý” và “tự do” ấy.

Đề cao “tam quyền phân lập”, Hiến pháp Hoa Kỳ đã làm mất ngay quyền lực của dân từ đạo luật gốc này. Trong cái thiết chế “tam quyền” ấy, duy chỉ có Quốc hội là dân được bầu trực tiếp, song cũng chỉ đối với Hạ viện thôi. Còn Tổng thống, dân chúng đâu có được bầu trực tiếp mà phải gián tiếp bầu qua đại cử tri: “Các đại cử tri sẽ họp lại ở từng bang của họ và bằng lá phiếu bầu Tổng thống và Phó Tổng thống”. Riêng với tư pháp, tuy Khoản 2, Điều II xác định: “Tổng thống sẽ bổ nhiệm… các quan tòa của Tòa án Tối cao”, nhưng Khoản 1, Điều III lại xác lập: “Các quan tòa của Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời”… Với nhiều lý do khác, song cũng vì cấu trúc “tam quyền phân lập” mà chính giới Hoa Kỳ phải thừa nhận: “tổng số cử tri đi bầu nhìn chung - kể cả trong các cuộc bầu cử tổng thống - đều thấp hơn so với ở hầu hết các nền dân chủ khác”, v.v.

Rõ ràng, dưới chế độ tư bản, tiếng là phân quyền song chỉ là giả hiệu; hô hào “tam quyền phân lập” chẳng qua là một thủ đoạn chính trị, đúng như nhận định xuyên thời đại của C.Mác: “Cứ 3 năm hoặc 6 năm một lần lại quyết định cá nhân nào trong giai cấp thống trị phải đại diện và đàn áp nhân dân tại Nghị viện”. Về vấn đề này, V.I. Lê-nin cũng đã phân tích: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương ngàn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, - để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”. Chính cái phương thức tam quyền phân lập đó đã làm cho quyền lực của nhân dân bị phân rã, thu hẹp chỉ còn nhất quyền cô lập. “Thành quả” đau xót cuối cùng là “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp tư sản”; quả đúng với bản chất: 1% và 99% mà chính nhân dân Mỹ đã phơi bày cho thiên hạ biết qua phong trào Chiếm lấy phố Wall!

3. Ở Việt Nam, phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hợp lý

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh: Việt Nam là dân tộc hòa bình. Hòa bình là biểu tượng cao nhất, một bản sắc truyền thống dân tộc. Hòa đã trở thành một nét điển hình trong tâm lý dân tộc, bao trùm khắp nhà - làng - nước. Thấu hiểu hợp nhất tam tài, con cháu Tiên Rồng lại luôn hướng đến “nhân hòa”, coi nhân hòa là trung tâm của trời - đất. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam ít có mâu thuẫn, xung đột và chia rẽ; chung sống hòa bình, đoàn kết và thống nhất. Lịch sử truyền thống chính trị các vương triều đã in đậm: “Tập quyền và thống nhất là khuynh hướng chung của các nhà nước phong kiến Việt Nam”. Quyền lực nhà nước phong kiến về cơ bản tồn tại trong thế cân bằng, hòa hoãn và thống nhất. Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc: quyền lực tập trung ở nơi vua, chính quyền trung ương đến địa phương thực thi công vụ theo phép vua.

Các bản Hiến pháp của Việt Nam từ năm 1946 đến nay đã kế thừa những tinh hoa hiến pháp của nhân loại và nhiều giá trị nhân văn của Hiến pháp Hoa Kỳ. Tại Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, hình thức “phân quyền” giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng được thể hiện ở các chương V, VI, VII, VIII. Nhưng bản chất, nội dung “phân quyền” thì lại khác hẳn về chất. Tất cả quyền lực nhà nước thể hiện trong Dự thảo đều có mẫu số chung là nhân dân. Từ nhân dân bầu ra, lập nên, “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”, đồng thời là “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Quyền lực nhà nước là thống nhất. Đây là sự tiến bộ vượt trội của Hiến pháp Việt Nam; phản ánh xu thế thời đại, trình độ phát triển cao hơn hẳn của lập hiến Việt Nam - lập hiến của nhân dân, hiến định quyền lực nhà nước tập trung ở nền tảng xã hội là liên minh “giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Sự thống nhất ở chỗ mọi quyền lực đều tập trung ở nơi dân, phân công quyền hạn là do dân. Nhân dân tập trung quyền lực nhà nước trong tay mình, phân công theo một mối duy nhất là Quốc hội. Bắt đầu từ Quốc hội, nhân dân phân công cho các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Mục tiêu cuối cùng của thống nhất quyền lực nhà nước là phục vụ nhân dân. Đây là tính ưu việt tuyệt đối của Hiến pháp Việt Nam do thiết chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực đem lại. Hiến pháp cấu trúc cả một chương “Chế độ chính trị”. Tại đây, bất cứ một điều nào cũng phản ánh đầy đủ, đúng nghĩa “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Từ Nhà nước, Đảng cho đến Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể chính trị, xã hội… với chức năng, quyền hạn, mối quan hệ chính trị, xã hội, pháp lý của mình đều nằm trong nội hàm nhân dân, hướng tâm phục vụ nhân dân; thực hiện “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” chứ không phải để phân tách, phân rã quyền lực của nhân dân như các thiết chế tam quyền phân lập.

Tóm lại, tư duy cơ giới là nền tảng của hiến pháp tư sản; “tam quyền phân lập” là thủ đoạn chính trị lừa gạt nhân dân của giai cấp tư sản; bản chất của phân quyền tư sản là thâu tóm quyền lực vào tay giai cấp tư sản. Bản chất quyền lực nhà nước ta là thống nhất, trên cơ sở phân công, phối hợp, kiểm soát việc thực hiện quyền hành của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp Việt Nam là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền thống lập pháp, lập hiến của dân tộc, nhân loại và thời đại. Từ tinh thần, nội dung đến các nguyên tắc lập hiến đều của người Việt Nam, do người Việt Nam định đoạt, không chịu sự can thiệp, áp đặt bởi những triết lý lập hiến nào từ bên ngoài. Bởi vậy, “tam quyền phân lập” không phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam./.

“NẠN GIẤY TỜ ĐÃ LÀM TỐN CỦA HAO CÔNG CỦA NHÂN DÂN, NÓ CŨNG LÀM HỎNG TƯ TƯỞNG VÀ TÁC PHONG CỦA CÁN BỘ... LÀ MẸ ĐẺ RA NẠN THAM Ô, LÃNG PHÍ”.

 

Trong bài viết “Chống nạn giấy tờ” đăng tải trên báo Nhân Dân. số 170, ngày 6 tháng 3 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Nạn giấy tờ đã làm tốn của hao công của nhân dân, nó cũng làm hỏng tư tưởng và tác phong của cán bộ... là mẹ đẻ ra nạn tham ô, lãng phí”.  Trong bài viết Người đã chỉ ra những biểu hiện, nguyên nhân, biện pháp khắc phục của nạn giấy tờ. Ở các bộ từ Trung ương đến cơ quan các xã, đặc biệt như các Bộ Tài chính, Canh nông, Nội vụ...

Chính nạn giấy tờ đã làm hỏng tác phong, tư tưởng cán bộ, khiến cán bộ xa rời công tác thực tế, hiệu quả không thiết thực; làm hao công, tốn của của nhân dân; là hiện tượng tai hại của bệnh quan liêu, nguồn gốc của tham ô, lãng phí. Người yêu cầu cán bộ phải thi đua tiễu trừ triệt để bệnh giấy tờ, đó là cách để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, đạo đức của người cán bộ cách mạng.

Hiện nay, lời dạy ấy càng mang tính thời sự sâu sắc. Vận dụng tư tưởng của Người vào quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, cả hệ thống chính trị và trong Quân đội đang đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm đẩy nhanh hiệu quả công việc, tránh quan liêu, hình thức.

Xuất phát từ yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phải đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, Quân đội phải tích cực bài trừ bệnh giấy tờ, thủ tục hành chính rườm rà, quan liêu mệnh lệnh, cán bộ chỉ huy gần gũi bộ đội, bộ đội gần gũi dân, tích cực làm việc thực tế, thiết thực, hăng hái thi đua xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây cũng là một trong những nội dung cải cách hành chính của Quân đội.

QĐND

Vắc xin COVID-19 được phân bổ cho những đơn vị nào?

 Bộ Y tế vừa có Quyết định về việc phân bổ vắc xin phòng COVID-19.

Theo quyết định, CDC của 13 tỉnh, thành phố; 2 Bộ: Công an, Quốc phòng và 21 bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid-19 được tiếp nhận vắc xin đợt đầu, trong đó Hải Dương là tỉnh được phân bổ nhiều nhất cả nước với 33.000 liều.

Hơn 90% người dân Việt Nam chấp nhận tiêm vắc xin COVID-19

 Nghiên cứu thăm dò do một tổ chức quốc tế thực hiện gần đây cho thấy Việt Nam thuộc nhóm có mức độ chấp nhận vắc xin COVID-19 cao nhất, với tỷ lệ hơn 90%.

13 tỉnh, thành sẽ triển khai tiêm vắc xin COVID-19 trong tháng 3 và 4

 Theo Bộ Y tế, 13 tỉnh thành phố hiện đang có dịch sẽ được triển khai tiêm vắc xin COVID-19, gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hòa Bình, Gia Lai, Bình Dương, Điện Biên và Hà Giang.

Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long: Không vì những tai biến có thể xảy ra mà lung lay niềm tin với vắc xin

 Theo Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long: Chắc chắn sẽ có những tai biến không mong muốn xảy ra nhưng không vì lý do đó làm lung lay chiến dịch tiêm vắc xin. Trên toàn cầu cũng có người tham gia gia phong trào anti vắc xin nhưng lợi ích vắc xin ngừa COVID- 19 rất rõ ràng, bảo vệ chính cho bản thân và cộng đồng...

Nhân quyền và dân quyền ở Việt Nam



Nhân quyền là quyền con người mà trước hết là quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được bảo vệ… Hơn ai hết, người dân Việt Nam là những người cảm nhận được những giá trị nhân quyền mà Đảng, Nhà nước mang lại. Trong hơn một năm qua, đại dịch Covid - 19 bất ngời tràn về làm đảo lộn cuộc sống của mọi người dân. Nhưng không như một số nước "tự do" khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với tinh thần "không ai bị bỏ lại"; "chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của nhân dân"…. sự hết mình trong bảo vệ tính mạng, chăm sóc sức khoẻ người dân của các cấp chính quyền, của đội ngũ y, bác sỹ và sự đồng lòng của toàn xã hội trong cuộc chiến chống đại dịch không chỉ khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ mà còn thể hiện rõ bản chất nhân quyền tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.