Một số cá nhân đã cổ xúy cho việc thực hiện cái gọi là “tam quyền phân lập”.
Nghe qua, tưởng là “xây dựng”. Xét kỹ mới thấy, đó chỉ là cái bẫy, khiến ta vô
tình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
1.Tư duy cơ giới - nền tảng của học thuyết phân quyền tư sản
Tư tưởng phân quyền có từ thời cổ đại ở phương Tây, với nội dung chính
là: “Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan
làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật
và các tòa án”. Từ thế kỷ XVII - XVIII, trong cao trào chống chế độ quân chủ ở
Tây Âu, Montesquieu (Pháp) phát triển toàn diện học thuyết phân quyền. Từ việc
lột tả, phê phán bản chất của chế độ chuyên chế là lạm quyền, ông cho rằng, khi
quyền lực tập trung vào một mối, một người hay một tổ chức thì nguy cơ chuyên
chế là không tránh khỏi. Những tưởng có thể “chống lại” chế độ chuyên chế,
“thanh toán” được nạn lạm quyền, ông đề xuất tư tưởng: tổ chức quyền lực nhà nước
theo phương thức phân tách quyền lực; quyền lực tối thượng phải được phân chia
thành ba hình thái: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nội dung cốt lõi của tư tưởng
đó là: mỗi cơ quan đại diện quốc gia chỉ thi hành một nhiệm vụ, một quyền hạn
và chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn ấy mà thôi; phải có sự độc lập giữa các cơ quan,
một cơ chế kiểm soát quyền lực, v.v.
Thuyết phân quyền ảnh hưởng sâu sắc, làm cho những quan niệm về tổ chức
nhà nước và thực tiễn tổ chức nhà nước tư bản mang nặng tính chất cơ giới. Khởi
đầu của sự ảnh hưởng đó là thuyết cơ giới mới của Galilé, với chủ kiến: nguyên
nhân của mọi chuyển động là do các lực tác động. Từ đó, tư duy cơ giới đã ảnh
hưởng, lan tỏa sang cả các khoa học xã hội. Đối tượng nào cũng được xem như một
“cỗ máy”, vận hành theo nguyên tắc cơ giới, kể cả bộ máy nhà nước. Ưu điểm của
cách tiếp cận này chỉ giúp thấy được chi tiết cấu trúc, thành phần của các đối
tượng, hỗ trợ chuyển nền văn minh từ nông nghiệp sang công nghiệp... Đến đầu thế
kỷ XX, chính người phương Tây, tiêu biểu là nhà tư tưởng nổi tiếng Edgar Morin
(Pháp) đã kịch liệt phê phán tư duy đó. Bởi nó là “tư duy manh mún, vụn mảnh”,
là “một thứ tư duy định hướng vào việc phân cách thành từng ô, chia nhỏ ra và
cô lập”; cần phải khắc phục nó bằng tư duy hệ thống. Ở Việt Nam, việc xem xét
các vấn đề xã hội bằng tư duy đó cũng đã bị phê phán là phương thức “bộ phận đi
đến toàn thể, trên nguyên lý: bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do các bộ
phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận”… Rõ ràng, sẽ
là không thích hợp khi mở rộng tư duy cơ giới từ lĩnh vực tự nhiên sang lĩnh vực
xã hội.
2. Chịu ảnh hưởng bởi tư duy cơ giới, song tư tưởng tam quyền phân lập ở
các nước tư bản cũng chỉ là hình thức
Nền tảng lập hiến của các nước tư bản khuôn theo tư tưởng tam quyền phải
phân lập, nhìn nhận các hình thái quyền lực trong thế cô lập, đơn tính hay tuyến
tính, nên đã yêu cầu lập pháp, hành pháp và tư pháp phải luôn tách biệt với
nhau, chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau. Họ không nhận thấy tính chất thống
nhất, hữu cơ của quyền lực nhà nước; lập pháp nằm trong mối quan hệ với hành
pháp và tư pháp; hành pháp và tư pháp xác định vị trí của mình cũng như vậy.
Quyền lực nhà nước vốn dĩ là một chỉnh thể, bao gồm các bộ phận cấu thành quan
hệ hữu cơ với nhau và với toàn bộ quyền lực nhà nước, không thể phân tách độc lập
và yêu cầu các quyền chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau được. Trên thực tiễn,
quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực
chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Vì thế, những cố gắng phân quyền trong
các hiến pháp tư sản đã bị phá sản trong thực tiễn; tư tưởng của những người
“sáng lập” ra nó cũng trở nên vô ích.
Nhiều tổ chức, cá nhân luôn hết lời ca ngợi Hoa Kỳ là một “mẫu hình”, “thể
hiện thành công nhất” về “tam quyền phân lập”! Họ có biết rằng, trong thực tiễn
nền chính trị Hoa Kỳ, phân quyền chỉ có trong văn bản Hiến pháp mà thôi; dù có
phân quyền thế nào chăng nữa, thì lập pháp và hành pháp vẫn “đi đôi” với nhau để
thực hiện quyền lực nhà nước rất ngoạn mục. Hiến pháp Hoa Kỳ xác lập: “Quyền
hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ”. Nhưng Tổng thống thường là đại
diện của đảng chiếm đa số trong Hạ viện, thì lập pháp và hành pháp đều trong
tay một đảng, lúc này phân quyền đã bị biến dạng. Tổng thống có thể hướng Quốc
hội về những chính sách theo ý chí của mình. Trong trường hợp Tổng thống và đa
số nghị viên ở hai đảng khác nhau thì lập pháp và hành pháp vẫn xoắn xuýt với
nhau. Tổng thống vẫn có nhiều cách để can thiệp vào hoạt động lập pháp bằng:
quyền đọc thông điệp trước Quốc hội, vạch chương trình hoạt động hằng năm của
Quốc hội, luôn trao đổi và yêu cầu với các nghị sĩ thuộc đảng mình trình dự án
luật theo ý chí của Tổng thống trước Quốc hội. Khoản 3, Điều II của Hiến pháp
này còn cho phép: “Tổng thống sẽ thông báo thường kỳ cho Quốc hội về tình hình
của Liên bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần
thiết và thích hợp. Trong trường hợp cần thiết, Tổng thống có quyền triệu tập
hai viện hoặc một trong hai viện. Trong trường hợp bất đồng giữa hai viện về thời
gian hoãn họp, Tổng thống sẽ quyết định về thời gian cuộc họp sẽ hoãn đến bao
giờ mà Tổng thống cho là thích hợp”.
Cái cơ chế “kìm hãm” và “đối trọng” được áp dụng từ học thuyết phân quyền
với thực tiễn chính trị Hoa Kỳ không thể tránh khỏi sự mâu thuẫn giữa lập pháp
và hành pháp. Nhưng do hai nhánh này luôn thống nhất ở khuynh hướng phát triển
chung là phục vụ trước tiên cho lợi ích giai cấp tư sản cầm quyền, nên những
mâu thuẫn tất yếu cũng được dàn xếp, cùng bắt tay nhau để thực thi quyền lực…
Chẳng những thế, sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Mỹ, cái thực thể “Tổng
thống có quyền lập pháp” đã tồn tại một thời gian. Ngay cả “vai trò” và “xu hướng”
muốn gắn kết các quyền lực đã luôn là kỳ vọng mãi mãi không chỉ của cá nhân Tổng
thống mà còn của cả mọi người, lưỡng viện, công chúng và báo chí. Cuối thế kỷ
XX, nhà chính trị học James Robinson (Mỹ) nhận định: Quốc hội hầu như nhượng mọi
quyền chủ động cho ngành hành pháp; trong hai thập niên vừa qua, gần 80% luật
được thông qua đều xuất phát từ ngành hành pháp. Còn với tư pháp? Nhà nghiên cứu
luật ở Việt Nam - Bùi Ngọc Sơn đã nhận định rất xác đáng bản chất của vụ
“Marbury chống Madison” năm 1803: “Với quyền bảo hiến, Tòa án tối cao Mỹ đã giải
thích Hiến pháp theo ý chí của riêng mình, dần dần lấn át quyền lực của Quốc hội
và Chính phủ. Hệ quả là, Tòa án tối cao Mỹ, một cơ quan tư pháp với chức năng
truyền thống là xét xử những vi phạm pháp luật đã trở thành “Chính phủ của ông
Tòa”. Với một thứ tòa án như vậy, tồn tại từ năm 1880 đến 1940, thì sự can thiệp
thô bạo của tư pháp vào lập pháp và hành pháp chẳng đã làm nhàu nát ngay cái tư
tưởng “tam quyền phân lập” đó sao?
Nhưng tại sao các nước tư bản vẫn cứ ca ngợi “tam quyền phân lập”? Xin
thưa, đó chỉ là “cái bánh vẽ”. Bởi, nguyên gốc tư tưởng của những người khởi xướng
ra nó là để chống chế độ chuyên chế phong kiến, đúng hơn là khi đó, hệ tư tưởng
của giai cấp tư sản đang lên, nhân danh xã hội đấu tranh, giành quyền cho giai
cấp tư sản. Nhưng khi giành được quyền lực, thì họ đâu có thực hành dân chủ cho
toàn xã hội, bảo đảm các quyền cho toàn thể dân chúng. Để tránh xung đột, cao
hơn là cách mạng xã hội do bất công, chuyên chế tư sản tạo ra, họ đã mượn luôn
cái tư tưởng phân quyền để dựng lên những cái hiến pháp được gọi là “công lý”
và “tự do” ấy.
Đề cao “tam quyền phân lập”, Hiến pháp Hoa Kỳ đã làm mất ngay quyền lực của
dân từ đạo luật gốc này. Trong cái thiết chế “tam quyền” ấy, duy chỉ có Quốc hội
là dân được bầu trực tiếp, song cũng chỉ đối với Hạ viện thôi. Còn Tổng thống,
dân chúng đâu có được bầu trực tiếp mà phải gián tiếp bầu qua đại cử tri: “Các
đại cử tri sẽ họp lại ở từng bang của họ và bằng lá phiếu bầu Tổng thống và Phó
Tổng thống”. Riêng với tư pháp, tuy Khoản 2, Điều II xác định: “Tổng thống sẽ bổ
nhiệm… các quan tòa của Tòa án Tối cao”, nhưng Khoản 1, Điều III lại xác lập:
“Các quan tòa của Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình
đến suốt đời”… Với nhiều lý do khác, song cũng vì cấu trúc “tam quyền phân lập”
mà chính giới Hoa Kỳ phải thừa nhận: “tổng số cử tri đi bầu nhìn chung - kể cả
trong các cuộc bầu cử tổng thống - đều thấp hơn so với ở hầu hết các nền dân chủ
khác”, v.v.
Rõ ràng, dưới chế độ tư bản, tiếng là phân quyền song chỉ là giả hiệu; hô
hào “tam quyền phân lập” chẳng qua là một thủ đoạn chính trị, đúng như nhận định
xuyên thời đại của C.Mác: “Cứ 3 năm hoặc 6 năm một lần lại quyết định cá nhân
nào trong giai cấp thống trị phải đại diện và đàn áp nhân dân tại Nghị viện”. Về
vấn đề này, V.I. Lê-nin cũng đã phân tích: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư
bản dùng trăm phương ngàn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì
những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, - để gạt quần chúng ra, không cho
họ tham gia quản lý nhà nước”. Chính cái phương thức tam quyền phân lập đó đã
làm cho quyền lực của nhân dân bị phân rã, thu hẹp chỉ còn nhất quyền cô lập.
“Thành quả” đau xót cuối cùng là “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp
tư sản”; quả đúng với bản chất: 1% và 99% mà chính nhân dân Mỹ đã phơi bày cho
thiên hạ biết qua phong trào Chiếm lấy phố Wall!
3. Ở Việt Nam, phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước
trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hợp lý
Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh: Việt Nam là
dân tộc hòa bình. Hòa bình là biểu tượng cao nhất, một bản sắc truyền thống dân
tộc. Hòa đã trở thành một nét điển hình trong tâm lý dân tộc, bao trùm khắp nhà
- làng - nước. Thấu hiểu hợp nhất tam tài, con cháu Tiên Rồng lại luôn hướng đến
“nhân hòa”, coi nhân hòa là trung tâm của trời - đất. Cộng đồng các dân tộc Việt
Nam ít có mâu thuẫn, xung đột và chia rẽ; chung sống hòa bình, đoàn kết và thống
nhất. Lịch sử truyền thống chính trị các vương triều đã in đậm: “Tập quyền và
thống nhất là khuynh hướng chung của các nhà nước phong kiến Việt Nam”. Quyền lực
nhà nước phong kiến về cơ bản tồn tại trong thế cân bằng, hòa hoãn và thống nhất.
Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc: quyền lực tập trung ở nơi vua, chính quyền
trung ương đến địa phương thực thi công vụ theo phép vua.
Các bản Hiến pháp của Việt Nam từ năm 1946 đến nay đã kế thừa những tinh
hoa hiến pháp của nhân loại và nhiều giá trị nhân văn của Hiến pháp Hoa Kỳ. Tại
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, hình thức “phân quyền” giữa lập pháp, hành
pháp và tư pháp cũng được thể hiện ở các chương V, VI, VII, VIII. Nhưng bản chất,
nội dung “phân quyền” thì lại khác hẳn về chất. Tất cả quyền lực nhà nước thể
hiện trong Dự thảo đều có mẫu số chung là nhân dân. Từ nhân dân bầu ra, lập
nên, “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”, đồng thời là “cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Quyền lực
nhà nước là thống nhất. Đây là sự tiến bộ vượt trội của Hiến pháp Việt Nam; phản
ánh xu thế thời đại, trình độ phát triển cao hơn hẳn của lập hiến Việt Nam - lập
hiến của nhân dân, hiến định quyền lực nhà nước tập trung ở nền tảng xã hội là
liên minh “giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Sự thống
nhất ở chỗ mọi quyền lực đều tập trung ở nơi dân, phân công quyền hạn là do
dân. Nhân dân tập trung quyền lực nhà nước trong tay mình, phân công theo một mối
duy nhất là Quốc hội. Bắt đầu từ Quốc hội, nhân dân phân công cho các cơ quan
nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Mục tiêu cuối cùng của thống nhất quyền lực nhà nước là phục vụ nhân dân.
Đây là tính ưu việt tuyệt đối của Hiến pháp Việt Nam do thiết chế phân công, phối
hợp, kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực đem lại. Hiến pháp cấu trúc cả một
chương “Chế độ chính trị”. Tại đây, bất cứ một điều nào cũng phản ánh đầy đủ,
đúng nghĩa “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Từ Nhà nước, Đảng cho đến Mặt trận Tổ quốc
các đoàn thể chính trị, xã hội… với chức năng, quyền hạn, mối quan hệ chính trị,
xã hội, pháp lý của mình đều nằm trong nội hàm nhân dân, hướng tâm phục vụ nhân
dân; thực hiện “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” chứ không phải để
phân tách, phân rã quyền lực của nhân dân như các thiết chế tam quyền phân lập.
Tóm lại, tư duy cơ giới là nền tảng của hiến pháp tư sản; “tam quyền phân
lập” là thủ đoạn chính trị lừa gạt nhân dân của giai cấp tư sản; bản chất của
phân quyền tư sản là thâu tóm quyền lực vào tay giai cấp tư sản. Bản chất quyền
lực nhà nước ta là thống nhất, trên cơ sở phân công, phối hợp, kiểm soát việc
thực hiện quyền hành của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp Việt Nam là sự kế thừa
có chọn lọc những giá trị truyền thống lập pháp, lập hiến của dân tộc, nhân loại
và thời đại. Từ tinh thần, nội dung đến các nguyên tắc lập hiến đều của người
Việt Nam, do người Việt Nam định đoạt, không chịu sự can thiệp, áp đặt bởi những
triết lý lập hiến nào từ bên ngoài. Bởi vậy, “tam quyền phân lập” không phù hợp
với thể chế chính trị ở Việt Nam./.