Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021
THAM NHŨNG VÀ HỆ LỤY
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[1](nhưng bài viết này chỉ giới hạn ở những người có chức quyền, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị). Đặc điểm chung của tham nhũng là người thực hiện hành vi có chức quyền, sử dụng chức quyền như một phương tiện để trục lợi cho mình, gia đình mình hoặc cho người thân về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần.
Theo Bộ Luật hình sự, Luật PCTN (năm 2005) và Luật PCTN năm 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019), các hành vi tham nhũng bao gồm: "1. Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; đ) Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; g) Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; h) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; k) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; l) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; m) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. 2. Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi"...
Thực tế cho thấy, các hành vi tham nhũng nêu trên đã và đang xảy ra không chỉ ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn có giá trị hàng ngàn tỷ đồng (tham nhũng lớn) mà còn xuất hiện nhiều tại các bệnh viện, các cơ quan công quyền ở cơ sở,v.v.. nơi hằng ngày trực tiếp giải quyết những công việc liên quan lợi ích của nhân dân (tham nhũng vặt). Diễn ra càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích - “tham nhũng lớn” hay “tham nhũng vặt” - những hành vi tham nhũng của những người đang chịu trách nhiệm thực thi công vụ, quản lý trong một tổ chức có động cơ, lợi ích cá nhân, trục lợi trên cương vị của mình, sẵn sàng “ăn không từ thứ gì” cũng đều gây hậu quả nặng nề, cũng đều là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong đó, “tham nhũng lớn” bị phát hiện ngày càng tăng về số lượng, mức độ thiệt hại, số tiền và tài sản thất thoát và rất rất nhiều vụ “tham nhũng nhỏ” diễn ra công khai cũng từng bước được “chỉ mặt vạch tên”.
Tham nhũng không chỉ xảy ra trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai,v.v.. mà còn lan rộng sang các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao; trong các chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách; trong các chương trình cứu trợ cho đồng bào gặp thiên tai; trong quá trình xét duyệt công nhận di tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng,v.v... Tham nhũng làm thay đổi mọi lĩnh vực trong trong đời sống xã hội như kinh tế, luật pháp, dân chủ, luân lý, giáo dục... đã xâm phạm, thậm chí làm xê dịch, thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức trong hệ thống các cơ quan công quyền, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Tham nhũng không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn "tiếp tay" cho các thế lực thù địch, phản động trong việc bôi nhọ, hạ uy tín, vị thế của Đảng trong phạm vi quốc gia cũng như trên trường quốc tế.
Tham nhũng - những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được đã khiến nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao “không giữ được mình”, không gương mẫu trong thực thi trọng trách được giao, nói một đằng, làm một nẻo, không còn xứng đáng với vai trò tiền phong. Họ đã bất chấp việc vi phạm pháp luật mà làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức nghề nghiệp…để vụ lợi, trục lợi cho mình, người thân, cánh hẩu của mình, nhóm lợi ích của mình... dẫn đến làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây bất bình, bức xúc, thậm chí phản ứng của nhân dân đối với các cơ quan công quyền. Vì vậy, bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ[2]; “là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta… làm hỏng tinh thần trong sạch, ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”[3]. Tuy các tệ nạn này biểu hiện trong đời sống xã hội dưới nhiều dạng khác nhau, song các hành vi tham ô, tham nhũng dù là “lớn’ hay “vặt” cũng đều là “ăn cắp của công làm của tư”, “đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[4]…, cho nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải “- Chống nạn tham ô, - Chống nạn lãng phí, - Chống bệnh quan liêu”[5]. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng, chừng nào và ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó ắt có tham ô, lãng phí và nơi nào bệnh quan liêu càng nặng, thì ở đó càng nhiều lãng phí, tham ô, càng nhiều hiện tượng tham nhũng từ nhỏ đến lớn. Tất cả những tệ nạn đó, các hành vi đó, dù xảy ra ở cấp Trung ương hay tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở cũng đều là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân, chúng đều “xâm phạm đến lợi ích của nhân dân”, đều “là kẻ thù của nhân dân và của Chính phủ”. Do đó, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng rất cần thiết, “quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”- mặt trận tư tưởng và chính trị. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Thực hiện theo chỉ dẫn của Người, trong những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là trong thời kỳ miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội để làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, quan liêu - chống thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm” đã được thực hiện, với quyết tâm chính trị cao. Từ Trung ương đến các địa phương đều thống nhất triển khai chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu với tinh thần: 1) “Phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ”[6]; 2) “Phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí” trong “những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn” và “không thể tha thứ cho những việc phô trương, lãng phí như vậy”[7]; 3) Chấm dứt cái thói vô Chính phủ như “xem thường phép luật, chính quyền”, “hy sinh lợi ích của nước nhà để lên mặt mình khảng khái” của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức quyền; 4) Phải chống nạn ăn cắp của công mà các cơ quan quen gọi trộm cắp “đường hoàng” vì “đó là một điều đáng chú ý, một điều đáng nguy hiểm”; đồng thời, cũng phải chống bọn “trộm cắp kín đáo”, “bọn trộm cắp tinh vi”, để chúng “không sống còn được” [8]…
Khi cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, tình trạng tham nhũng bộc lộ ngày càng rõ nét, diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp và có nguy cơ lan rộng, làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Mặc dù Đảng đã có Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí", song hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế. Số vụ việc về tham nhũng được phát hiện còn chưa cao so với tình hình thực tế. Một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm; trong đó, có việc thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm PCTN của Đảng và Nhà nước. Đánh giá thực trạng và dự báo tình hình tham nhũng ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xẩy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”[9]. Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (Ban Chỉ đạo) trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo; lập lại Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là cơ quan tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và PCTN. Trong đó, Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo PCTN, nhằm tạo bước chuyển mới, mạnh mẽ hơn trong công tác đấu tranh PCTN. Tiếp đó, ngày 7/12/2015, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng"; đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy, địa phương, đơn vị gắn tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị với công tác đấu tranh PCTN… Trong đó, nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, cơ quan, đơn vị “phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; chủ động tự phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu”...
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết về PCTN, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực rõ rệt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Báo cáo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN ngày 25/6/2018 khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng được chỉ đạo thực hiện ráo riết, quyết liệt, đạt nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá tích cực. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”. Theo đó, nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành về PCTN vừa có tác dụng giáo dục, răn đe, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm… Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN …
Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái”. Nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị đã bị kỷ luật; trong đó có cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang,v.v.. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng và cũng là biện pháp cảnh tỉnh, răn đe có hiệu quả (vụ án Dương Chí Dũng; vụ án Vũ Quốc Hảo; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như; vụ án Phạm Công Danh; vụ án Hà Văn Thắm; vụ án Giang Kim Đạt; vụ án Đinh La Thăng; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm); vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc); vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ và một số địa phương;... Việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao (vụ Giang Kim Đạt hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỉ đồng; vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỷ đồng; vụ Trịnh Xuân Thanh hơn 45 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng... Đấu tranh PCTN được làm nghiêm từ trên xuống dưới và đó chính là bước đột phá trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với lĩnh vực này, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu… Trong khi đó, không chỉ các vụ “tham nhũng lớn” mà ngay cả “tham nhũng vặt” trong khu vực hành chính, dịch vụ công vẫn còn nhiều, gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính...
TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH PCTN - MỘT NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN
Để phòng ngừa và đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân mà còn là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người dân về quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với cuộc đấu tranh PCTN; đưa nội dung đấu tranh PCTN vào sinh hoạt định kỳ của các tổ chức Đảng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Trong đó, các tổ chức Đảng tăng cường chỉ đạo quyết liệt công tác giáo dục, phòng ngừa tham ô, tham nhũng; các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về PCTN. Đồng thời, nâng cao và phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong thwucj thi trọng trách được giao gắn với đấu tranh PCTN theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường phối hợp và kịp thời cung cấp, công khai thông tin, định hướng tuyên truyền về PCTN, để một mặt tạo sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị; mặt khác thông qua đó, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lợi dụng PCTN để chống phá Đảng, Nhà nước. Chủ động thông tin về kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, bất kể là ai, giữ chức vụ gì; về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm trong đấu tranh PCTN đi liền cùng với việc chủ động tuyên truyền gương người tốt, việc tốt; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng. Thông qua tuyên truyền về kết quả đấu tranh PCTN, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật và đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm, góp phần làm trong sạch bộ máy, tạo động lực, khí thế, sự thống nhất cao về ý chí và hành động để cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.
Thứ ba, tiếp tục gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ" với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và với các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”… Qua đó, mỗi người hằng ngày đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng trực lợi và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, lạm dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”,v.v.. Coi đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi cá nhân trong công tác giáo dục và tự giáo dục, vừa đấu tranh và tự đấu tranh để thiết thực phòng và chống 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ nói chung, về đấu tranh PCTN nói riêng.
Thứ tư, phải công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,v.v.. nhà nước nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện chức trách, công vụ theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Việc công khai, minh bạch không chỉ góp phần để những người "có chức quyền" hiểu rằng mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để vụ lợi, trục lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý mà còn để người dân nhận biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật cũng như đòi hỏi các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định đó. Theo đó, cần công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định,v.v.. đó là “những chìa khóa then chốt” để bảo đảm đấu tranh PCTN hiệu quả, thành công.
Thứ năm, tham khảo kinh nghiệm PCTN của một số nước trên thế giới, để có thể vận dụng trong quá trình xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, hoàn thiện thể chế, phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong đấu tranh PCTN. Bổ sung một số hành vi tham nhũng thuộc tội phạm tham nhũng; ban hành các quy định về bảo vệ, khen thưởng người có thành tích trong công tác PCTN, nhất là người tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/2/2018. Đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ PCTN; tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng đi liền cùng với đó là cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. để góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN. Đồng thời, cùng với quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, trước mắt, phải xây dựng và hoàn thiện chế tài pháp lý để mỗi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức quyền tại các cơ quan công quyền trong hệ thống chính trị “không thể tham nhũng” và “không dám tham nhũng”./.
Sự thật không thể phủ nhận .
Bảo đảm cho mọi công dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, xây dựng kinh tế để cuộc sống toàn dân ngày càng nâng cao, chú trọng bảo đảm an sinh xã hội… đó là những thành tựu có ý nghĩa to lớn mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu đạt được.
.
Những thành tựu đó là không thể phủ nhận, và là bằng chứng cụ thể bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, vu khống, xuyên tạc, bịa đặt về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.
Từ ngày 21-1-2019 đến 1-2-2019, tại Phiên họp thứ 32 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), Nhóm làm việc về Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) tiến hành rà soát tình hình về nhân quyền ở 14 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và trong phiên họp ngày 22-1-2019, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung dẫn đầu đã trình bày Báo cáo quốc gia về bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III. Tiếp đó, tại khóa họp lần thứ 125 của Ủy ban nhân quyền LHQ về Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc dẫn đầu đã trình bày báo cáo Phúc trình lần thứ ba về các nội dung liên quan trong hai ngày 11 và 12-3-2019. Các báo cáo của Việt Nam tại hai kỳ họp đã nêu bật những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong các năm qua, thẳng thắn chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại, bảo đảm Nhà nước Việt Nam sẽ khắc phục hạn chế trong thời gian sớm nhất và tiếp tục nỗ lực bảo vệ, phát triển quyền con người. Chính vì thế, báo cáo của Việt Nam đã được thành viên tham dự các kỳ họp đánh giá cao, và bày tỏ hy vọng Việt Nam sẽ đạt nhiều thành tựu hơn nữa về nhân quyền.
Tuy nhiên, trước, trong và sau hai kỳ họp nêu trên, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã phát động chiến dịch vu cáo, vu khống, bịa đặt, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, nhằm tác động tiêu cực tới dư luận quốc tế, làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam, đồng thời bảo vệ một số cá nhân vốn lâu nay vẫn được họ gán nhãn hiệu là “người bảo vệ nhân quyền, tù nhân lương tâm, nhà báo tự do”…
Nổi lên trong số các tổ chức tham gia những hoạt động này có Theo dõi nhân quyền (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF), Nhà tự do (FH), Ân xá quốc tế (AI), tổ chức khủng bố “Việt tân” và một số tổ chức kỳ quái như “ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hà Lan”, “liên hội người Việt tị nạn tại Đức”, với sự phụ họa của BBC, VOA, RFA, RFI…
Điểm chung dễ nhận thấy nhất của các tổ chức, cơ quan truyền thông này là hoàn toàn không khảo sát thực tế nhân quyền ở Việt Nam, chỉ khai thác, dựa trên các loại tin giả, tin bịa đặt, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen được các thế lực thù địch với Việt Nam tạo dựng, truyền bá trên internet (in-tơ-nét); đồng thời tảng lờ mọi thành tựu nhân quyền mà Việt Nam đạt được; đánh tráo khái niệm để bảo vệ một số người vi phạm pháp luật, bị tòa án xét xử…
Nhưng “bàn tay không che nổi mặt trời”, dù những đối tượng trên điên cuồng chống phá như thế nào cũng không thể phủ nhận được sự thật đang hiện hữu hằng ngày trên đất nước Việt Nam. Liên tục suốt những năm qua đất nước luôn phát triển nhanh chóng, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế, đời sống, thu nhập người dân thay đổi rõ rệt. Mọi người dân đều được bảo đảm và hưởng các quyền chính đáng của mình, cùng có cơ hội phát triển, cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng một nâng cao…
Vì mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm quyền phát triển, quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương, quyền của người lao động, Nhà nước Việt Nam đã ban hành, nỗ lực triển khai nhiều chương trình quốc gia trọng điểm để giảm nghèo bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, chăm sóc sức khỏe cho người dân, xây dựng nông thôn mới, mang lại hiệu quả xã hội tích cực. Tới cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước còn 5,35% (giảm 1,35% so với cuối năm 2017); góp phần tăng thu nhập của hộ nghèo từ 15 đến 20%; thu nhập của dân cư nông thôn được cải thiện, bình quân theo đầu người/năm tăng từ 18,6 triệu đồng (năm 2012) lên 32 triệu đồng (năm 2017). Đến tháng 3-2018, hơn 570 nghìn hộ nghèo ở nông thôn được hỗ trợ về nhà ở; hơn 14 nghìn hộ nghèo tại miền trung được hỗ trợ xây dựng nhà ở để phòng chống bão, lụt; 982 dự án với quy mô 190.841 hộ thuộc chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn thành…
Đáng chú ý là hằng năm, Nhà nước đã chi ngân sách hàng chục tỷ đồng để mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế; đến năm 2017, cả nước có hơn 34,2 triệu người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới sáu tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế; riêng năm 2017 có hơn 66 triệu lượt người nghèo, hơn 15 triệu lượt người cận nghèo khám, chữa bệnh với tổng chi phí được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán khoảng 45 nghìn tỷ đồng. Và cần đề cập các thành tựu khác liên quan khu vực nông thôn, như đến ngày 31-12-2017: 99,4% số xã trên cả nước đã có đường ô-tô tới trung tâm xã, 100% số xã và 97,8% số thôn được điện lưới quốc gia bao phủ; 99,7% số xã có trường tiểu học, trường mẫu giáo; 99,5% số xã có trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hóa…
Trên phạm vi rộng hơn, ở Việt Nam, mọi quyền khác của con người cũng được bảo đảm, hỗ trợ, tạo điều kiện tồn tại, phát triển. Xin dẫn thí dụ từ chính các lĩnh vực mà các thế lực thù địch thường tập trung vu cáo, bịa đặt: - Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tạo khuôn khổ pháp lý để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Hiện có: 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hòa Hảo.
Đến năm 2017, tổng diện tích đất các cơ sở tôn giáo sử dụng là 14.850 ha, thuộc 7.102 tổ chức, cơ sở tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tích cực tham gia hoạt động xã hội, thành lập hơn 450 cơ sở y tế, 270 trường mầm non và 1.000 nhóm, lớp mầm non; hỗ trợ chăm sóc 11.800 đối tượng bảo trợ xã hội. Có 12 báo và tạp chí liên quan tôn giáo được xuất bản, phần lớn tổ chức tôn giáo đều có website riêng. Chỉ tính trong bốn năm (2015 - 2019) đã có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều loại ngôn ngữ. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn đã được tổ chức thành công ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản VESAK 2014, 500 năm Cải chánh đạo Tin lành 2017, sắp tới là Đại lễ Phật đản VESAK 2019. Với sự hỗ trợ của Nhà nước, năm 2017 Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer ở Cần Thơ.
Tại các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước, hiện có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm. Tại Tây Bắc, đến ngày 30-6-2018, đã có 693 điểm nhóm Tin lành và tám Hội thánh cơ sở được thành lập. Ngoài ra, còn nhiều điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tập trung của người các dân tộc thiểu số như Hội Liên hữu Baptist Việt Nam, Hội thánh Lutheran, Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm Việt Nam, Hội thánh Truyền giảng Phúc âm Việt Nam…
Rất nhiều cơ sở tôn giáo trên cả nước nói chung, của người Chăm nói riêng đã được Nhà nước hỗ trợ để trùng tu, tôn tạo đẹp đẽ, khang trang. - Về quyền tự do ngôn luận, báo chí: Luật Báo chí năm 2016 xác định rõ quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; nhấn mạnh quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin và tiếp cận thông tin báo chí, góp ý kiến phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí, bổ sung quy định về liên kết hoạt động báo chí. Cũng như Luật Xuất bản năm 2012, Luật Báo chí 2016 khẳng định nguyên tắc Nhà nước không kiểm duyệt trước khi in, đăng, phát sóng; đồng thời Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các hình phạt đối với các tội “xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”.
Có thể khẳng định chưa bao giờ ở Việt Nam báo chí phát triển như hiện nay và thực tế đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội và nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân và lợi ích của xã hội, hỗ trợ kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. Đến tháng 6-2018, cả nước đã có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm; 195 cơ quan báo và tạp chí điện tử; 67 đài phát thanh, truyền hình ở Trung ương và địa phương với 184 kênh; đến tháng 6-2018, 1.510 trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép; khoảng 650 triệu bản báo được xuất bản hằng năm; 18 nghìn nhà báo được cấp thẻ; 60 nhà xuất bản; 91 kênh truyền hình trên cáp truyền hình trả tiền, internet và vệ tinh, trong đó có 58 kênh nước ngoài; 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú ở Việt Nam. Đáng chú ý, sự phát triển rất nhanh chóng của internet đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa. Theo WeAreSocial (công ty thống kê, đánh giá thông tin kỹ thuật số, di động và các lĩnh vực liên quan), năm 2018 tại Việt Nam đã có 64 triệu người sử dụng internet, 58 triệu tài khoản Facebook, trung bình mỗi người dành 6 giờ 52 phút để truy cập internet…
Đừng lầm tưởng để tự phá hoại bình yên của chính mình
Trong chiến lược "diễn biến hòa bình", chiêu thức thường được các thế lực thù địch tận dụng tối đa nhằm làm sụp đổ một quốc gia là tìm cách bôi nhọ chế độ xã hội hiện tại, thổi phồng những mặt trái của xã hội đó để gây tâm lý bất mãn rồi kích động sự phản kháng trong xã hội.
.Những vụ việc cụ thể, có tính cá biệt, những sai phạm của cá nhân, thường được nâng lên thành bản chất của chế độ xã hội. Đáng tiếc là vẫn có không ít người nhẹ dạ, thiếu thông tin, thiếu tầm nhìn, không tự phát hiện được sự thật đằng sau những luận điệu kích động đó, họ vô tình tự cướp đi bình yên của chính mình.
NGỘ NHẬN VÀ BẤT MÃN DỂ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG
Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...
Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội.
Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ.
Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria... Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn...
Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.
Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.
Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.
LIỆU CÓ MỘT XÃ HỘI HOÀN HẢO HAY KHÔNG?
Để nhận thấy sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề trong xã hội, có thể nhìn sang quốc gia hùng mạnh nhất thế giới là nước Mỹ. Năm 2004, siêu bão Charley quét từ vịnh Mexico qua Florida đến Đại Tây Dương, tàn phá một số vùng của nước Mỹ, làm 22 người chết và thiệt hại 11 tỷ USD. Điều đáng nói, sau cơn bão này, người dân Mỹ mới nhận ra những điều bất ổn trong xã hội mình. Đó là nhân việc bão quét sạch mọi thứ, nhiều doanh nghiệp đã nâng giá bán với mức cắt cổ để kiếm lợi. Máy phát điện từ 250 USD tăng lên 2.000 USD; nước đá từ 2 USD được nâng lên 10 USD; một gia đình muốn dọn hai cây đổ vào nóc nhà thì phải trả giá là 23.000 USD (khoảng 530 triệu VNĐ). Đỉnh điểm là câu chuyện một cụ bà 70 tuổi chạy bão với người chồng và cô con gái khuyết tật đã phải trả 160 USD (khoảng 3,7 triệu VNĐ) một đêm cho buồng trọ giá bình thường chỉ 40 USD. Tờ USA Today khi đó đã bức xúc chạy dòng tít: “Kền kền sau bão” để phê phán thực trạng lợi dụng thảm họa, lợi dụng sự khổ đau của người khác để ép giá cắt cổ. Thế nhưng, điều đáng nói hơn là một số nhà kinh tế tại Mỹ lại phản đối tờ USA Today và cho rằng việc tăng giá như thế là bình thường, vì trong một nền kinh tế thị trường có quy luật cung cầu, cầu tăng mà nguồn cung giảm thì ắt giá sẽ tăng, chứ không có khái niệm “giá cắt cổ”.
Nhìn vào sự việc trên để thấy sự khác biệt ở Việt Nam. Khi xảy ra những trận thiên tai, bão lũ, thảm họa ở bất kỳ khu vực nào thì cả nước đều quan tâm, theo dõi, lo lắng rồi chung tay, quyên góp cùng địa phương đó kịp thời khắc phục hậu quả, giúp người dân ổn định cuộc sống. Các lực lượng chức năng, trong đó quân đội là lực lượng nòng cốt, được huy động để giúp đỡ người dân khẩn trương thu hoạch mùa màng, dựng lại nhà cửa, dọn dẹp vườn ruộng, đường xá, trường học, bệnh viện sau bão. Các hoạt động ấy vừa là nhiệm vụ được cấp trên giao phó nhưng cũng xuất phát từ trái tim. Bởi dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam là một xã hội hướng thiện, yêu thương đùm bọc nhau đã là truyền thống từ xưa tới nay: “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”... Khi nền kinh tế phát triển thường sẽ kéo theo những sự phát triển không đồng đều vì đặc điểm địa lý, lợi thế của mỗi vùng miền, rồi khả năng của mỗi con người cũng khác nhau. Nhận thấy nguy cơ này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm để thiết kế các chế độ, chính sách thúc đẩy sự phát triển của vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người nghèo vươn lên theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Luận bàn về bản chất của quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội .
Hiện nay, một số người đang cổ súy cho cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội; kiến nghị đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” cho Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ”, cho rằng “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, không phục tùng luật Đảng”(!). Vậy đâu là bản chất của những luận điểm như vậy?
.
1. Quan điểm trên thể hiện sự áp đặt luật pháp tư sản vào nước ta
Họ đã lấy luật pháp nhà nước tư sản làm “thước đo”, “tiêu chí” pháp lý cho mọi nhà nước, chế độ xã hội. Đó là thứ “triết lý” về chế độ “dân sự quản lý quân sự của nhà nước tư sản”, theo Khoản 8, Điều I, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Ở đó, không có điều luật nào dành cho các nhánh hành pháp và tư pháp quyền ban hành luật pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Đó là sự vay mượn triết lý luật pháp về “chia tách” quyền lực quân sự (một dạng quyền hành pháp) với quyền lập pháp và tư pháp, bằng trích dẫn Khoản 1, Điều II quy định: “Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ”; Khoản 2, Điều II quy định: “Tổng thống sẽ là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của các lực lượng dự bị ở một số bang”. Còn những người có quyền ban hành pháp luật, thì họ dựa vào Khoản 6, Điều I quy định: “Trong thời gian được bầu làm Thượng nghị sĩ hoặc Hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hòa Kỳ. Trong thời gian đó,... không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội”.
Đó cũng là sự vin mượn tinh thần pháp lý quân sự tư sản: quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự mà không có chiều ngược lại; vào Chỉ thị 1344.10 của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, quy định thành viên quân đội không thể “Là ứng cử viên hay nắm giữ bất kỳ chức vụ nào trong bộ máy dân sự”. Năm 2008, luật pháp của Hoa Kỳ quy định, người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Họ cũng dựa vào Điều lệ Nữ Hoàng (Vương quốc Anh), quy định: Nghiêm cấm các thành viên quân đội nắm giữ các vị trí hoạt động tích cực trong các tổ chức chính trị; đồng thời, hạn chế chặt chẽ việc bổ nhiệm vào các vị trí này trong và sau thời gian quân ngũ”, v.v.
Tuy nhiên, điều đã được nhân loại thừa nhận là: luật pháp của một chế độ nhà nước phải do ý chí, nguyện vọng của nhân dân (chủ thể quyền lực của nhà nước đó) quyết định và chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia đó. Do vậy, việc lấy luật pháp của nước này áp đặt cho nước khác là hoàn toàn phi lý. Không thể dùng pháp luật của nhà nước tư sản soi chiếu sang pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, hai loại nhà nước khác nhau về bản chất. Cũng giống như không thể áp đặt luật pháp của Việt Nam lên nhà nước tư sản. Như vậy, quan điểm “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam là không phù hợp.
2. Bản chất “dân sự hóa” quân đội ở các nước tư sản
Dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, những người có quyền lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của ba nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” (dân quản quân) đã được ghi tạc, ban hành trong luật pháp thì “chắc chắn” việc của quân đội tất yếu là việc của phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng phái nào, phái quân sự nào! Tuy nhiên, trái ngược với những tư tưởng “tam quyền phân lập”, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy một nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” về nó. Muôn vàn ví dụ về quản lý nhà nước đối với quốc phòng của Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ điều này. Trên thực tế, dù luật pháp của Hoa Kỳ có chặt chẽ đến đâu thì các chính đảng vẫn can thiệp cả vào lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Hoa Kỳ đã trải qua 45 đời tổng thống, chỉ có tổng thống đầu tiên là G. Washington không thuộc đảng phái nào; còn 44 tổng thống khác đều là người đứng đầu hay đại diện cho các đảng phái khác nhau. Hầu hết các Tổng thống Hoa Kỳ đều nhất quán thực thi đường lối của đảng đã cử mình làm đại diện tranh cử. Ví dụ như, trong quá trình tranh cử, ông Đô-nan Trăm (ứng cử viên đại diện cho Đảng Cộng hòa) tuyên bố sẽ rút quân đội khỏi Trung Đông nếu trúng cử. Và giờ đây khi là tổng thống, Ông đã thực thi đường lối quân sự đó. Như vậy, tư tưởng, đường lối nhất quán của một chính đảng và một tổng thống đắc cử đã thực thi. Do đó, không có cái gọi là “dân quản quân”, mà thực chất là “đảng quản quân”.
Một vài ví dụ khác, năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman chọn Thống tướng Lục quân G. Marshall mới nghỉ hưu được hơn 5 năm làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong khi Luật An ninh quốc gia Mỹ năm 1947 quy định: “Bộ trưởng phải được chỉ định từ giới dân sự. Đối với cựu quân nhân Mỹ, họ chỉ có thể được đảm đương chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sau 10 năm kể từ khi họ giải ngũ”. Mới đây, ông J. Mattis, Đại tướng, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ, mới nghỉ hưu năm 2013 vẫn được Tổng thống Đô-nan Trăm đề cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng viện phê chuẩn ngày 20-01-2017, trong khi luật pháp Hoa Kỳ năm 2008 quy định: “người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm bộ trưởng quốc phòng” và “quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự, không có chiều ngược lại”. Điều trên cho thấy nguyên tắc “dân quản quân” đã không được thực hiện triệt để.
Nhiều nước trên thế giới, như: Nga, U-crai-na, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia,… Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thường là quân nhân. Ở Nga, đến năm 2001 mới có ông S. B. I-va-nốp là người dân sự đầu tiên làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng đến năm 2012, Tổng thống V. Putin sử dụng lại người nhà binh, bổ nhiệm Đại tướng S. Sôigu làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Quyết định đó được các chuyên gia quân sự đánh giá cao, cho rằng, người đứng đầu quân đội phải nắm rõ việc quân sự, phải có uy với cấp dưới, khi cần quản lý nhà nước đã có cố vấn, thư ký hỗ trợ; nếu người dân sự làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì sẽ khó thể hiện tính quyết đoán, nhất là giải quyết những vấn đề đột xuất, đòi hỏi quyết đoán nhanh trong điều kiện khó khăn, căng thẳng.
Có thể thấy, bản chất chế định pháp lý người đứng đầu quân đội (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) ở Mỹ và một số quốc gia khác không phải là quân nhân, mà là dân sự, đó không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội mà là sử dụng con người dân sự cụ thể để quản lý công việc quân sự. Tuy nhiên, chế định này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Vì vậy, quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam, cho rằng “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, không phục tùng luật Đảng” chỉ là sự thiếu hiểu biết về tri thức pháp lý và quản lý nhà nước về quốc phòng của một số người mà thôi.
3. Thực chất mục đích của quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội là kết hợp “diễn biến hòa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam
Với việc đưa ra quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội, một số người đã đánh tráo khái niệm “dân sự quản lý quân sự” với “dân sự hóa” Quân đội; họ đánh đồng việc dân sự quản lý quân sự với biến việc của quân sự thành việc của dân sự, làm cho người khác hiểu sai về bản chất vấn đề.
Mặc dù chế định “dân sự quản lý quân sự” ở các nước tư sản không thực hiện được (như đã đề cập ở trên), song những người đưa ra quan điểm “dân sự hóa” Quân đội không bao giờ đề cập tới sự thật này. Họ ra sức ca ngợi và cổ súy cho pháp lý và đời sống luật pháp tư sản theo hướng cái gì cũng “tốt đẹp”, “thiên đường”; làm cho người ta tưởng việc “dân sự hóa” quân đội của nhà nước tư sản là tốt đẹp, dễ làm, nhà nước xã hội chủ nghĩa cứ theo thế mà làm. Đây là thủ đoạn chính trị tinh vi, kết hợp giữa “diễn biến hóa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Thực chất mục đích của quan điểm cổ vũ “dân sự hóa” Quân đội theo hướng pháp lý “dân sự quản lý quân sự” của nhà nước tư sản là nhằm tác động, thay đổi đường lối, cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; nguyên tắc hoạt động quốc phòng là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, mục đích chính trị cuối cùng của quan điểm cổ súy “dân sự hóa” Quân đội, không phải cái gì khác hơn là nhằm loại bỏ quyền lãnh đạo Quân đội và hoạt động quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước hiến định. Đây là một âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch - một thủ đoạn, âm mưu tinh vi, xảo quyệt, từ đánh tráo khái niệm, đến tiêm nhiễm, thẩm thấu tư tưởng, chuyển hóa cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và hoạt động quốc phòng, cuối cùng là kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ mưu đồ của họ; cảnh giác, đề phòng, ngăn ngừa, đấu tranh bác bỏ tư tưởng, quan điểm sai trái này.
Phòng, chống sự tha hóa quyền lực .
Quyền lực càng cao, càng tuyệt đối, sẽ tha hóa càng lớn nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Sự tha hóa quyền lực, dù lớn hay nhỏ đều gây tác hại cho xã hội và ảnh hưởng xấu đến uy tín, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của đảng cầm quyền và sự quản lý của Nhà nước.
.SỰ THA HÓA QUYỀN LỰC TINH VI, PHỨC TẠP
Thực tiễn cho thấy, sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở nước ta thời gian qua diễn ra bằng nhiều phương thức rất đa dạng, tinh vi, phức tạp, từ việc dùng quyền hạn của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực nhằm trục lợi cho mình và nhóm lợi ích… Hầu hết sai phạm đều có liên quan đến cán bộ, đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong việc quyết định chủ trương, chính sách, cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ…
Không chỉ có cán bộ lãnh đạo, quản lý tha hóa quyền lực mà cả những công chức, viên chức trong đó có cán bộ tham mưu, giúp việc, trợ lý, thư ký riêng… cũng lợi dụng vị trí công tác được phân công để trục lợi cá nhân, phe nhóm, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, sự tha hóa quyền lực vừa trắng trợn vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ “trên - dưới”, “trong - ngoài” bằng “luật ngầm” đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều ngành. Thậm chí, trong chừng mực nhất định, đã xuất hiện dấu hiệu tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên gắn với tội phạm có tổ chức.
Điều đáng lưu tâm là, sự tha hóa quyền lực đã có nhiều dư luận, nhiều người biết, nhưng để phòng, chống được các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực lại không hề dễ dàng, vì sự đan xen trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ gắn với người có chức vụ, có quyền hạn ở các cấp, các lĩnh vực.
Ranh giới giữa khuôn khổ quyền hạn được giao và sự năng động, sáng tạo rất mong manh và những tình huống trong thực tiễn rất đa dạng, phong phú. Nếu không làm rõ được vấn đề này cộng với “cách nhìn” phiến diện rất dễ dẫn đến “chụp mũ” cho cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, làm lợi cho Đảng, cho dân nhưng nhiều khi lại bị cho là lạm quyền, lộng quyền hoặc cố ý làm trái, dẫn đến làm thui chột động lực phát triển.
Mặt khác, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp, vì nó gắn với người có chức vụ, có quyền hạn nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng, có trường hợp bao che, phản kích quyết liệt lại lực lượng kiểm tra.
Thực tế, chủ yếu các vụ việc tha hóa quyền lực đều nhằm trục lợi - tức là tham nhũng, nên nảy sinh sự cấu kết rất chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ, bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bất chấp cả đạo lý. Những vụ việc tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý biểu hiện rất đa dạng, tinh vi, theo từng vụ, việc và thường “vây quanh” một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức lợi dụng kẽ hở trong các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước để trục lợi.
Sự tha hóa quyền lực có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa đã và đang tác động làm nảy sinh, phát triển sự tha hóa quyền lực của cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng với diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý.
Chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đủ rõ, chưa phù hợp, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp còn đan xen, nhiều kẽ hở, dễ bị lợi dụng... Nội dung các quy định của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực, nhất là những nội dung về tính chất, mức độ và mối quan hệ giữa các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực của cán bộ chưa được phân tích, làm rõ một cách đầy đủ, sâu sắc.
Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, “nể nang, né tránh, ngại va chạm”, “dễ người dễ ta”, “dĩ hòa vi quý”, tâm lý làng, xã, đồng hương cộng với tư duy tiểu nông đã ăn sâu trong nhiều người Việt, tạo ra một tâm lý xã hội ngại đấu tranh, ngại nói thẳng, hoặc có việc dính dáng đến bản thân, gia đình là đi “nhờ vả”,… đã tạo điều kiện để một số cán bộ, đảng viên thực thi công vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi.
Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu về phòng, chống sự tha hóa quyền lực chưa sâu sắc, toàn diện hoặc chưa đủ rõ.
Chủ nghĩa cá nhân, tham vọng danh lợi, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức. Không ít cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, tinh thần hy sinh cống hiến vì sự nghiệp của Đảng, lười học tập, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nghiêm, thiếu công tâm, khách quan; vẫn còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, “lợi ích nhóm”, né tránh, thoả hiệp hoặc áp đặt độc đoán, mất dân chủ, chưa gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, sợ trách nhiệm, lấy tập thể làm bình phong cho những ý đồ cá nhân.
Công tác cán bộ, quản lý đội ngũ cán bộ chậm đổi mới, một số khâu chưa được chuẩn hóa, còn sơ hở và thiếu tính khoa học, quá nhiều tiêu chuẩn kiểu định tính mà ít tiêu chuẩn mang tính định lượng; phương pháp, quy trình tuyển chọn, quy hoạch, bố trí, sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, nhất là việc thay thế cán bộ có biểu hiện tha hóa quyền lực, yếu kém, miễn nhiệm, cho từ chức đối với cán bộ không đủ tiêu chuẩn chậm được thực hiện.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn lúng túng trong xác định mô hình tổ chức, bố trí cán bộ, nhất là chưa chuyển trọng tâm từ xử lý vấn đề lịch sử chính trị sang nắm bắt, giải quyết và xử lý những vấn đề chính trị hiện nay.
Vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ở không ít nơi chưa được phát huy, chưa có cơ chế nêu cao vai trò, trách nhiệm của báo chí, các cơ quan truyền thông trong kiểm soát quyền lực.
Chưa coi trọng việc sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận về kiểm soát quyền lực nói chung, phòng, chống sự tha hóa quyền lực nói riêng, đến Đại hội XII của Đảng, vấn đề này mới được đặt ra một cách quyết liệt.
Công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bảo đảm hiệu lực, liệu quả, còn biểu hiện trên nóng, dưới lạnh. Việc xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên tha hóa quyền lực trong không ít trường hợp chưa kịp thời, nghiêm minh, đồng bộ, triệt để, dứt điểm nên tính phòng ngừa, răn đe và giáo dục chưa cao.
PHẢI KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ ĐƯỢC QUYỀN LỰC
Để phòng, chống sự tha hóa quyền lực, tức là phải kiểm soát chặt chẽ được quyền lực, trước hết là quyền lực của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi. Trong phạm vi bài viết, xin nêu một số giải pháp chính sau đây:
Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Hai là, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát. Xây dựng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phản biện, chất vấn, giải trình để bảo đảm công khai, minh bạch; xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy, né tránh, trả thù, trù dập. Nghiên cứu xây dựng quy định phát huy vai trò, trách nhiệm, quyền của các đại biểu dự đại hội đảng các cấp trong suốt cả nhiệm kỳ, trước hết là quyền chất vấn, kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy viên do mình bầu ra. Xây dựng các quy định về báo cáo công việc liên quan đến công tác cán bộ (tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng....) của cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp. Hoàn thiện và đổi mới các quy định của Đảng, trước mắt cần làm rõ, cụ thể hóa nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ta.
Nâng cao nhận thức để mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ về nội dung, phương thức cầm quyền giống và khác gì nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng để áp dụng thực hiện đúng có hiệu quả.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ.
Khi xem xét về sự tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên đều phải xét từ góc độ hai phía, người có quyền lực và đối tượng chịu sự tác động của quyền lực đó. Trong thực tế, sự tha hóa quyền lực thường xảy ra giữa cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống chính trị, nhất là của người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước với cán bộ, đảng viên dưới quyền thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý mà thường qua đó các bên đều có lợi ích nhất định. Do đó, việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền... từ cấp Trung ương đến cơ sở là cực kỳ quan trọng, quyết định tới kết quả hoạt động của cả hệ thống chính trị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Bốn là, đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Đặc biệt, cần quy định hạn chế cấp hàm và cấp phó tối đa của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cấp phó trong nội bộ các cơ quan đảng. Nếu quá nhiều cấp hàm và cấp phó sẽ khó cho việc kiểm soát quyền lực mà hiệu lực, hiệu quả công tác sẽ không cao. Đồng thời, rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, trong đó cần quy định rõ ràng nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, của người đứng đầu và từng cấp phó, công chức, viên chức, nhân viên để mọi người thực hiện đúng với vị trí công việc của mình, nhất là ở những nơi “nhất thể hóa” bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực. Trong đó, cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ theo hướng đồng bộ hóa các quy định của Nhà nước theo chủ trương, quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân.
Tổ chức tốt việc thu thập và giải quyết đơn thư tố cáo hành vi tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là người đứng đầu. Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong phát hiện dấu hiệu tha hóa quyền lực để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.
Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với việc phòng, chống tha hóa quyền lực, tham nhũng, tập trung thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành kiểm tra Đảng là kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm. Xử lý “công minh, chính xác, kịp thời”, đồng bộ, “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có vùng trắng, không có ngoại lệ, không có nhân nhượng, không có điểm dừng” đối với những cán bộ, đảng viên, dù bất kể là ai, giữ cương vị gì có các hành vi tha hóa quyền lực, tham nhũng.
Sáu là, tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm về phương thức cầm quyền và việc kiểm soát quyền lực với các đảng cầm quyền trên thế giới. Đảng phải chú trọng xây dựng bộ máy rất tinh gọn, không bao biện, làm thay chính quyền; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy tư tưởng dân chủ chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động của đảng; bảo đảm hoạt động cầm quyền và hiệu quả cầm quyền của đảng phản ánh lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuần tự thúc đẩy dân chủ trong các khâu bầu cử, ra quyết sách, quản lý và giám sát. Lấy phát triển dân chủ trong đảng để dẫn dắt dân chủ trong chính quyền và xã hội.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực. Trong bài “Sao cho được lòng dân” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 12-10-1945, với bút danh Chiến Thắng, Người đã viết: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng…”; “Người ta còn bửu môi nói đến bà “thủ trưởng” nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ trỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều”...
Nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân .
Không gian xã hội trên Internet (không gian mạng) mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội và cá nhân. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích to lớn, các đe dọa từ không gian mạng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia.
.
Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Ảnh:hocluat.vn
Nếu không được bảo vệ, không gian mạng có thể tạo ra những nguy cơ lớn về an ninh, chủ quyền quốc gia, cũng như các mối nguy hại khác. Vì vậy, nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân là rất quan trọng và cấp thiết.
Lợi ích và các mối đe dọa an ninh trên không gian mạng
Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ Internet, đặc biệt là sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của các kết nối không dây 3G, 4G, 5G, mạng xã hội, các thiết bị di động thông minh và dịch vụ điện toán đám mây, con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến Internet trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian xã hội đó được gọi là “không gian mạng” hay “không gian ảo”.
Không gian mạng rất rộng lớn, gồm cả các trình duyệt web (Google, Chrome, Mozilla Firefox , Opera, Safari...); các trang web tin tức (VnExpress, Yahoo! Tin tức, Zing news, VTC New...); các mạng xã hội (Facebook, Twitter, YuMe, Instagram, Zing me, Youtube, Skype, WeChat, Google Plus, Go.vn...); các tìm kiếm, tra cứu (Google map, Bing, Google Docs...); các tiện ích (chuyển tiền, việc làm, email, thiệp điện tử...); các trang mạng mua bán, kinh doanh, học tập, âm nhạc, giải trí...
Trên không gian mạng, các cá nhân có thể tương tác, trải nghiệm, trao đổi ý kiến, trò chuyện nhóm, chia sẻ thông tin, tổ chức diễn đàn, cung cấp hỗ trợ xã hội, tìm kiếm việc làm, kinh doanh, sáng tạo phương tiện truyền thông nghệ thuật, chơi trò chơi,... Không gian mạng thật sự trở thành không gian sinh tồn mở rộng, không gian kiến tạo và gia tăng sức mạnh quốc gia với nguồn tài nguyên số vô tận. Hoạt động trên không gian mạng tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người.
Cùng với những lợi ích to lớn, các đe dọa từ không gian mạng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật nhà nước sẽ bị lộ, lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động.
Không gian mạng có thể thành môi trường để các tổ chức khủng bố quốc tế tuyên truyền, tuyển lựa, huấn luyện và chỉ đạo hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội. Một cuộc chạy đua vũ trang trên không gian mạng và chiến tranh mạng đang trở thành hình thái chiến tranh mới, nguy cơ về một cuộc chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia đang hiện hữu. Những điều này tạo ra vô số mối nguy lớn về an ninh và chủ quyền quốc gia.
Không những thế, không gian mạng còn có thể gây nguy hại cho cơ quan, tổ chức, trường học, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp, gia đình và cá nhân. Khi công tác bảo mật hệ thống mạng không được coi trọng đúng mức, không gian mạng sẽ bị phát tán mã độc, bị tấn công, gây thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người (bắt cóc, tống tiền, sát hại,...). Ngay cả những trò chơi, nếu không được kiểm soát cũng gây nguy hiểm đến tính mạng con người, chẳng hạn như trò chơi “Thử thách Momo” trong thời gian gần đây.
Theo số liệu từ Kaspersky Security Network, Việt Nam nằm trong top 3 quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất năm 2018. Kaspersky Lab nhận định: “Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, những mối đe dọa về vấn đề an ninh mạng ngày càng tinh vi hơn. Đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 bùng nổ, Việt Nam sẽ phải đối mặt và chịu nhiều ảnh hưởng bởi những thay đổi phức tạp của an ninh mạng” (1). Một thống kê khác cho thấy, hai năm 2017 và 2018, số lượng lỗ hổng an ninh tăng đột biến với hơn 15.700 lỗ hổng, gấp khoảng 2,5 lần những năm trước đó; năm 2018, hơn 9.300 cuộc tấn công vào mạng Việt Nam, hơn 1,6 triệu lượt máy tính bị mất dữ liệu (2).
Các chuyên gia bảo mật cũng đưa ra cảnh báo về xu hướng tấn công mạng năm 2019, đó là tấn công lừa đảo trực tuyến sẽ thay thế bằng tấn công phần mềm, hacker chuyển mục tiêu dài hạn sang các chiến dịch ngắn hạn, phạm vi mục tiêu nhỏ với bộ công cụ khai thác phần mềm hay “thả lưới” toàn bộ thị trường. Sử dụng công cụ phần mềm mở rộng kết nối với các ứng dụng nhắn tin chat bot (như Facebook Messenger) để tấn công. Đặc biệt, mã độc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể cũng xuất hiện trong năm nay.
Trong khi đó, nhận thức của người dân về an ninh mạng còn rất hạn chế, tầm quan trọng của an ninh mạng đối với kinh doanh, tài chính và an ninh quốc gia chưa được đánh giá đúng. Các giải pháp an ninh mạng hoặc chưa đủ tốt, hoặc giá thành quá đắt đỏ để tiếp cận, gây nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ không gian mạng.
Một số giải pháp nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng
Với khả năng kết nối vô hạn của mạng thông tin toàn cầu, đặc biệt với các thiết bị Internet vạn vật (IoT) sẽ tiếp tục đặt ra các thách thức hết sức to lớn đối với công tác bảo đảm an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia, phòng, chống khủng bố và tội phạm mạng. Để chủ động ứng phó các thách thức này, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng, cần làm tốt một số mặt công tác sau:
Một là, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng.
Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Bảo vệ chủ quyền quốc gia còn là bảo vệ không gian mạng của quốc gia, bao gồm, bảo vệ các hệ thống thông tin; các chủ thể hoạt động trên không gian mạng; hệ thống dữ liệu, tài nguyên mạng; các quy tắc xử lý và truyền số liệu. Đảm bảo quyền bình đẳng trong tham dự quản lý mạng Internet quốc tế; độc lập trong vận hành hạ tầng cơ sở thông tin thuộc lãnh thổ quốc gia; bảo vệ không gian mạng quốc gia không bị xâm phạm và quyền quản trị truyền tải cũng như xử lý số liệu của quốc gia.
Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần nhận thức rõ các nguy cơ đến từ không gian mạng như: tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, tội phạm mạng, đặc biệt là nguy cơ chiến tranh mạng đang là thách thức gay gắt về an ninh, và bảo đảm an ninh mạng đang trở thành trọng tâm ưu tiên của quốc gia. Vì vậy, cần quán triệt các quan điểm của Đảng về phát triển khoa học công nghệ và chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các định hướng hành động của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng và nhận thức rõ rằng, đe dọa trên không gian mạng là một trong những mối đe dọa thực tế và nguy hiểm nhất đối với an ninh quốc gia hiện nay.
Hai là, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.
Phổ biến các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 (Mục 2, Điều 285-294) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19-8-2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.
Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.
Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng.
Ba là, bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái phát sinh trên không gian mạng.
Hoạt động tấn công không gian mạng rất đa dạng và tinh vi như: làm mất kết nối Internet, đánh sập các website của chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, file, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua usb, đĩa CD, địa chỉ IP, server…
Ở mức độ cao hơn, các thế lực thù địch có thể thông qua block cá nhân lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Thanh Niên Dân Chủ,… núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ” để xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng.
Các thế lực thù địch còn lợi dụng báo điện tử, các website, dịch vụ thư điện tử, mạng xã hội facebook, Zalo, Twitter, diễn đàn,... để phát tán các tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ mối đoàn kết giữa Đảng và Nhân dân hoặc sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá. Các trang mạng có nhiều nội dung thông tin xấu, độc như Dân Làm Báo, Quan Làm Báo; Boxit, Dân Luận, Chân Dung Quyền Lực…
Bốn là, nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ và sử biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả trong trường hợp bị tấn công trên không gian mạng.
Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; giúp đỡ, tạo điều kiện cho người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
Mỗi người cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng trên ổ cứng ngoài, mạng nội bộ hoặc trên các dịch vụ lưu trữ đám mây (Google Drive, OneDrive); kiểm tra lộ lọt thông tin tài khoản cá nhân qua Trung tâm xử lý tấn công mạng Việt Nam(3).
Người dùng không nên vào những trang web lạ (hoặc trang web đen), những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm. Khi phát hiện bị tấn công trên không gian mạng, nhanh chóng ngắt kết nối mạng; sử dụng các công cụ giải mã độc; báo cho người có trách nhiệm qua đường dây nóng.
Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chuyên trách an ninh mạng, lãnh đạo, quản lý các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường trong giáo dục nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng.
Các cơ quan chuyên trách an ninh mạng (Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an; Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Bộ Quốc phòng; lực lượng bảo vệ an ninh mạng tại bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia) cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, các nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng. Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học.
Lãnh đạo, quản lý các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường cần nắm vững mọi hoạt động và tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, quần chúng, có nội dung giáo dục, định hướng, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kịp thời; có trách nhiệm trong quản lý thông tin có liên quan tới cán bộ, đảng viên và quần chúng, có kế hoạch bảo vệ chính trị nội bộ trên không gian mạng./.
Gieo rắc sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng - Một thủ đoạn nguy hiểm .
Cũng như trước mỗi sự kiện lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thì các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị lại tung ra như “nấm độc sau mưa” những ý kiến - quan điểm bất mãn, sai trái, xuyên tạc nhằm gieo rắc sự hoài nghi, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
.NHỚ LẠI NHỮNG CẢNH BÁO CỦA HỒ CHÍ MINH
Từ rất sớm, trong bài Những lời thấm thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đối với sự lãnh đạo của Đảng - mỗi người chúng ta nhất là các nhân sĩ trong đảng phái dân chủ, nên kiên quyết tiếp thụ, phục tùng và nương tựa vào sự lãnh đạo của Đảng”(1). Đồng thời, nhằm chấn chỉnh tâm lý, tư tưởng hoài nghi dẫn đến xa rời sự lãnh đạo của Đảng, Người giải thích: “Về công tác, chúng ta không nên coi mình như là người khách, mà nên ra sức tham gia mọi công việc. Trong mọi công việc, chúng ta nên thật thà chịu sự lãnh đạo của Đảng, chứ không nên do dự, hoài nghi chút nào. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà xa rời sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, là một điều không thể tưởng tượng”(2). Như vậy, theo Hồ Chí Minh, một trong những phẩm chất quan trọng nhất của những người cách mạng - đảng viên chân chính, là phải có niềm tin “thật thà chịu sự lãnh đạo của Đảng” và “không nên do dự, hoài nghi chút nào”.
Không dừng lại ở đó, Hồ Chí Minh còn suy rộng ra, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới nếu vẫn hoài nghi về sự thắng lợi của phong đấu tranh cho hòa hình quốc tế thì hòa bình sẽ thất bại. Vì vậy, trong Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, tháng 8-1959, Người cảnh báo: “Về phong trào đấu tranh cho hòa bình, có người ngờ chiến tranh sẽ xảy ra, nhất là Mỹ vẫn cứ thử bom nguyên tử. Nếu không có phe xã hội chủ nghĩa vững chắc, không có phong trào hòa bình thế giới rộng lớn thì chiến tranh sẽ nổ hoặc thế giới lại trở lại như 41 năm về trước... Nếu 1 người hoài nghi, 100 người hoài nghi, hàng vạn người hoài nghi thì hoà bình sẽ thất bại”(3).
Trước những thời khắc cam go của cách mạng, nhất là sau một số bất cập, sai sót liên quan đến cải cách ruộng đất, không ít người hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, một mặt, để phê bình những người đang hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, mặt khác, để khẳng định những thành tựu lớn lao của dân tộc có được dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: “Có người hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, có đúng không? Nếu Đảng lãnh đạo không đúng thì Cách mạng Tháng Tám có thành công không? Kháng chiến có thắng lợi không? Hơn 8 triệu nông dân miền Bắc có ruộng cày không?...”(4). Đồng thời, Người giải thích cặn kẽ: “Đảng là người, Đảng là cán bộ, là đảng viên, tất nhiên có sai lầm. Nhưng trong cải cách ruộng đất, thắng lợi vẫn là chủ yếu… vì có chủ nghĩa Mác - Lênin, có mục đích phục vụ nhân dân, có phê bình và tự phê bình, cho nên kiên quyết sửa chữa…”(5).
“BỔN CŨ SOẠN LẠI” CỦA NHỮNG KẺ GIEO RẮC “BỆNH HOÀI NGHI”
Không khó để nhận ra những thủ đoạn của những kẻ chống phá, bất mãn với những “bổn cũ soạn lại” như tìm mọi cách bôi nhọ, hạ thấp và tiến tới phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đến nay. Chúng rêu rao: Thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, “là ăn may”. Chúng còn nói xằng rằng, những thành tựu đổi mới nếu có cuối cùng cũng chỉ “chui vào túi của bọn độc tài”, còn nhân dân thì không được thụ hưởng điều gì... Chúng xảo quyệt “lập lờ đánh lận con đen” - đưa ra những hạn chế, khiếm khuyết liên quan đến quá trình lãnh đạo của Đảng, nêu ra những bất cập, khó khăn trong công cuộc đổi mới đất nước... để rồi quy kết, chụp mũ, la lối lên rằng tham nhũng là bản chất của chế độ ta, sự tồn tại của Đảng là căn nguyên dẫn đến mọi trì trệ, yếu kém, sai lầm; muốn đất nước phát triển thì phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng...
Đặc biệt, trong bối cảnh toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang tích cực chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, với những chiêu trò lặp đi lặp lại “đến hẹn lại lên”, các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu xằng bậy, hằn học. Lợi dụng mạng xã hội, chúng lồng ghép “thêm râu thêm ria” bằng những thông tin, hình ảnh “nửa thật nửa giả”. Tuy nhiên, dù có “đổi mới” bằng hình thức này hay hình thức khác, dù có “cách tân” tinh vi, tiểu xảo đến đâu, thì những “ngụy lý luận” chúng đưa ra vẫn chỉ là những “bổn cũ” đã từng “diễn” trong bao nhiêu năm qua, như: Muốn thực sự có dân chủ cho người dân và xã hội phát triển phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; chỉ có “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới triệt tiêu được căn nguyên gây ra tham nhũng, tiêu cực; “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sứ mệnh lịch sử”, “không còn đủ khả năng để độc quyền lãnh đạo đất nước”; muốn đất nước phát triển thì phải bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa, đổi bổ sung năm 2013)…
KHÔNG THỂ HOÀI NGHI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Dù có “lắm mưu nhiều kế” thế nào đi chăng nữa, thì các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị cũng không thể bác bỏ được một sự thật hiển nhiên là: Không ai hết, và hơn tất cả lực lượng chính trị nào khác, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Kiểm điểm công việc của Đảng từ hơn 60 năm trước (tháng 1-1949) đã khẳng định: “... Đảng ta là Đảng duy nhất lãnh đạo phong trào cách mạng ở nước ta”(6).
Nhân kỷ niệm 89 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2019) và mừng Xuân Kỷ Hợi, trong bài viết Đảng vững mạnh, Đất nước phát triển, Dân tộc trường tồn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng một lần nữa tiếp tục khẳng định: “Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 89 năm, từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, làm nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam; đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Thực tế gần một thế kỷ qua cho thấy, ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, giành được hết thắng lợi này đến thành công khác”(7).
Một lần nữa, chúng ta phải khẳng định rằng, kể từ ngày ra đời đến nay, Đảng ta vẫn là một tổ chức lãnh đạo duy nhất được đại đa số nhân dân tuyệt đối tin tưởng. Vượt qua những khó khăn, thử thách, thẳng thắn chỉ ra và thật thà sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế, quyết tâm một lòng vì dân vì nước, Đảng đã lãnh đạo đưa đất nước tiến lên, gặt hái nhiều thành tựu quan trọng. Những thành công bước đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập, sự ghi nhận, tôn trọng, khâm phục về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới đối với Việt Nam - một đất nước từng “không có tên trên bản đồ thế giới”, đời sống nhân dân có những phát triển vượt bậc cả về vật chất và tinh thần... là những minh chứng rõ nhất, đúng nhất, khách quan nhất về vai trò lãnh đạo sáng suốt và tất yếu của Đảng ta.
Không phải các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị không biết hoặc thiếu thông tin về tình hình đất nước, về những việc mà Đảng Cộng sản Việt Nam làm được, mà chúng cố tình hiểu sai, cố tình bóp méo, “bôi đen”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; cố tình nói xấu, vu khống, “thổi phồng”, “bơm căng” các khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm sai lệch những giá trị thực, tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng.
Điều nguy hiểm từ những luận điệu trên nằm ở chỗ, chúng làm cho một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ và những người ở nước ngoài, vì mơ hồ và thiếu ý thức nên vô tình “tiếp tay” cho sự vu khống xuyên tạc, vì thiếu bản lĩnh và nhạy cảm chính trị nên dễ “a dua, a tòng”, đặc biệt, vì thiếu niềm tin và sức đề kháng nên dễ bị nhiễm “căn bệnh hoài nghi”...
Về vấn đề này, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, đó là cách nhìn nhận, đánh giá thiếu khách quan, đầy thiên kiến: “Còn anh em ngoài Đảng nghi ngờ Đảng thì có một phần. Khuyết điểm là: thấy cây nhưng không thấy rừng”(8).
PHƯƠNG THUỐC KHẮC PHỤC “BỆNH HOÀI NGHI”
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước mắt là chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Chúng ta đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp phải giải quyết. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, hơn bao giờ hết, phải quán triệt và thực hiện tốt các vấn đề căn cốt sau:
Thứ nhất, thường xuyên đổi mới để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; trong đó, tập trung quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm Chỉ thị Số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đặc biệt, phải nhận thức sâu sắc đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, để mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng các cấp, đoàn kết, thống nhất cả về ý chí và hành động bên Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị; cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và cả hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi Chỉ thị Số 35-CT/TW của Bộ Chính trị.
Thứ hai, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trước thềm đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để tăng cường hơn nữa công tác này trong tình hình mới, đặc biệt khi chúng ta đang chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, trong đó có việc lựa chọn nhân sự bầu vào cấp ủy, cơ quan lãnh đạo các cấp, cần chú trọng hai vấn đề chủ yếu sau: Một là, tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên về quan điểm, nội dung, phương hướng, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Hai là, tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên ngay từ cơ sở gắn với thực hiện nghiêm trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc quản lý thông tin, tài liệu, giữ gìn bí mật quốc gia.
Thứ ba, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành Cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với sai phạm. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những sơ hở trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng đề chống phá.
Thứ tư, tăng cường đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nhất là âm mưu, thủ đoạn lôi kéo cán bộ, đảng viên và nhân dân để gieo rắc tâm lý, tư tưởng hoài nghi về vai trò và khả năng lãnh đạo của Đảng ta. Lãnh đạo, chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, định hướng về tư tưởng chính trị, hướng dẫn hành động đúng.
Từ nay đến năm 2020, trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các địa phương cần sàng lọc các đối tượng trên địa bàn, kể cả cán bộ, đảng viên sử dụng internet, mạng xã hội vi phạm Luật An ninh mạng, xử lý theo quy định của pháp luật. Khẩn trương thực hiện quy hoạch báo chí; ban hành quy định về tạp chí, thậm chí cấp lại giấy phép hoạt động; tổng kết 2 năm thực hiện Luật Báo chí; đề xuất sửa đổi những nội dung cần thiết...
Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được; tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, không quá say sưa với thắng lợi, ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Trước mắt, và coi đây là giải pháp chiến lược, chủ đạo nhất để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Với niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình, trong đó có nhiệm vụ chính trị, trung tâm và có ý nghĩa trọng đại trong thời gian tới là tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(9)./.
Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở Việt Nam hiện nay .
Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Ở nước ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị.
. Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước.
Trong văn bản pháp luật, thuật ngữ “bầu cử” được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước. Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) nhằm bầu ra một đại biểu (chức danh) với điều kiện phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Định nghĩa trên cho phép phân biệt bầu cử với phương pháp khác trong việc thành lập cơ quan nhà nước, như bổ nhiệm, chỉ định.
Ngoài những cuộc bầu cử mang tính chất chính trị (thành lập cơ quan nhà nước), bầu cử còn được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, chính trị, như các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng… Bầu cử cũng thường được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức thương mại và tư nhân, từ các câu lạc bộ cho đến các hội từ thiện và các tập đoàn,...
Khác với cuộc bầu cử được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước ban hành. Thông thường, cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử. Ở một số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tòa án cũng được thành lập thông qua bầu cử.
Bầu cử cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chính quyền cho chính họ. Điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rõ rằng, để Nhà nước có được quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", thì phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị.
Cần phân biệt giữa bầu cử với chế độ bầu cử, theo đó, chế định bầu cử là một tổng thể gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử cùng những quan hệ được hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử: từ lúc công dân ghi tên trong danh sách bầu cử đến lúc các lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử. Đó là tổng thể các quan hệ xã hội hợp thành trình tự bầu cử.
Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt “bầu cử” với “quyền bầu cử”. Quyền bầu cử được hiểu là khả năng của công dân được Nhà nước bảo đảm tham gia vào quá trình thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan chính quyền địa phương. Quyền bầu cử là tổng thể những quy định cụ thể cho công dân.
Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử.
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định 4 nguyên tắc bầu cử: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín.
Nguyên tắc phổ thông
Pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử.
Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử.
Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân của nước ta quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội:
- Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử;
- Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân;
- Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật);
- Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri;
- Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử;
- Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn.
Nguyên tắc bình đẳng
Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào.
Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân.
Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.
Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng.
Nguyên tắc trực tiếp
Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.
Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.
Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình, mà bầu ra thành viên của tuyển cử đoàn, sau đó tuyển cử đoàn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước. Bầu cử gián tiếp có thể qua hai cấp, như bầu Tổng thống Mỹ (cử tri bầu ra Đại cử tri đoàn), Thượng nghị viện Pháp; hoặc bầu qua ba cấp, như bầu Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc).
Nguyên tắc bỏ phiếu kín
Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.
Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín.
Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Có nguyên tắc được quy định rõ trong một quy định, có nguyên tắc được thể hiện bằng nhiều quy phạm pháp luật khác nhau.
Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử.
Tóm lại, bầu cử là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong xây dựng chính quyền nhà nước. Chế độ bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ. Chế độ bầu cử là một trong những trụ cột trong cấu trúc dân chủ ở bất cứ nhà nước nào, bất cứ tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nào. Dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình với bóng. Ở đâu có bầu cử tự do và trung thực, thì ở đó một chế độ dân chủ được nảy nở và phát triển. Dân chủ có nghĩa là nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước; các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín.
Bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên thuộc hệ thống chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản cầm quyền. Việc thiết kế, thực thi chế độ bầu cử tiến bộ, phù hợp, thực sự dân chủ là công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ cơ quan chính quyền nhà nước, cũng như đối với tất cả các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. /.
“Chọc thủng” cái gì? “Phá vỡ” chỗ nào? .
Một dạo, chúng ta hay nói tới mũi nhọn kinh tế. Lắm khi nhiều mũi nhọn quá mà cơ cấu kinh tế hóa thành… quả mít. Bây giờ lại bàn đến đột phá thì phải tính căn cơ, cần “chọc thủng”, cần “phá vỡ” chỗ nào?
Những ngày này các đảng bộ cơ sở trong cả nước đang bước vào đại hội Đảng. Chúng tôi có dịp dự một số đại hội. Đến đâu cũng thấy tinh thần thảo luận rất sôi nổi. Rất nhiều đại biểu nói tới tư duy đột phá, khâu đột phá, giải pháp đột phá. Từ dự thảo văn kiện đến các ý kiến tham luận đều không quên nhắc đột phá, đột phá tích cực, đột phá mạnh mẽ. Đại hội - Đảng cấp tỉnh, cấp Trung ương đương nhiên cần nhấn mạnh tư duy đột phá, nhưng cấp chi bộ, đảng bộ cơ sở ở không ít nơi cũng xác định, không đột phá thì sẽ tụt hậu.
Người viết bài này vốn là một chiến sĩ trong quân đội, từng có 20 năm mặc áo lính. Khi tôi học sĩ quan, giáo viên chiến thuật giảng giải: Đột phá có nghĩa là chọc thủng, phá vỡ một số đoạn trong hệ thống phòng ngự của đối phương. Khi địch vỡ trận thì ta mở đường tiến quân, thừa thắng xốc tới.
Hiểu theo nghĩa quân sự là như thế, còn trong tư duy chính trị, kinh tế, xã hội cũng cần có sự đột phá. Đại hội Đảng các cấp bàn đến vấn đề này, tất nhiên rất phù hợp, thể hiện tính tiên phong, mở đường. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “Thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ”.
Tại đại hội một số đảng bộ cơ sở (cấp phường, xã và tương đương), thấy có nhiều Báo cáo chính trị nêu rõ khâu đột phá trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ. Đột phá để xác định mắt xích chủ yếu tiến công vào; để dồn sức, ưu tiên đầu tư, phân công cán bộ giỏi tập trung vào đó; để từ việc hoàn thành những nhiệm vụ này mà thúc đẩy các nhiệm vụ khác. Nói nôm na là cần có những cú huých, những “quả đấm thép”. Ở cơ sở vùng nông thôn thường nghe các đại biểu lựa chọn khâu đột phá: phân bổ nguồn lực để đầu tư hạ tầng; có cơ chế đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí; phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp; mở mang làng nghề và giải quyết việc làm… Thế rồi, một số đại biểu lại nêu những đột phá khác: nào là tiếp tục giữ độ bền của phong trào nông thôn mới; nào là tập trung cải cách hành chính; nào là bảo vệ môi trường nông thôn trong khi phát triển công nghiệp, dịch vụ… Thảo luận một hồi, thấy ý kiến nào cũng đúng, cũng hay, nhưng xem ra quá nhiều đột phá. Cứ ghi trung thành các ý kiến thì có khi lên tới “hàng tá” khâu đột phá. Một dạo, chúng ta hay nói tới mũi nhọn kinh tế. Lắm khi nhiều mũi nhọn quá mà cơ cấu kinh tế hóa thành… quả mít. Bây giờ lại bàn đến đột phá thì phải tính căn cơ, cần “chọc thủng”, cần “phá vỡ” chỗ nào?
Vấn đề là ở chỗ đó. Trung ương cũng chỉ nhằm vào ba đột phá chiến lược thôi. Tại sao cơ sở lại “xài” nhiều đột phá đến thế? Thì ra có nhiều đại biểu, nhiều nơi đã nhầm lẫn khâu đột phá với khâu… phải làm. Tôi di chuyển từ nhà lên thành phố làm việc chặng đường 15 km bằng ô tô, hay xe máy, xe đạp là chuyện thường ngày. Như vậy làm gì có khâu đột phá trong việc đi lên thành phố. Nhưng trong một tình huống đặc biệt nào đó, như trời mưa bão, như đoạn đường đang sửa, như đang có dịch bệnh hoành hành thì mới cần đến việc xử lý tình huống. Xử lý tình huống không thể coi là khâu đột phá, giải pháp đột phá.
Khâu đột phá nhiều khi bắt đầu từ việc chọc thủng những cái yếu kém, trì trệ lâu nay. Bao năm rồi, thậm chí bao nhiệm kỳ rồi vẫn không làm sao phá nổi cái “boong-ke” ấy. Vậy thì lần này, phải phá cho bằng được, thế chính là đột phá! Chẳng hạn, phải làm sạch địa bàn, không để ma túy hoành hành ở làng nọ, tổ dân phố kia. Chẳng hạn, phải chấm dứt tham nhũng vặt ở khu vực hành chính. Chẳng hạn, phải hợp nhất chức danh trưởng thôn và bí thư chi bộ… Đó là những việc không dễ, cần tập trung làm, làm quyết liệt, làm kiên trì, chỉ bàn tiến, không bàn lùi.
Đương nhiên, không phải bất cứ cái gì quyết làm một lần là xong. Có thể xong hoàn toàn, có thể từng bước, từng bộ phận. Điều quan trọng là phải làm với tinh thần, quyết tâm cao nhất, giải pháp đồng bộ. Nên chọn một vài khâu đột phá chứ không nên lựa chọn quá nhiều khâu. Và khi nêu những giải pháp đột phá thì phải theo hướng “kế hoạch một, biện pháp mười”, xác định rõ bước đi, cách làm, ai làm, để không rơi vào tình trạng đầu voi đuôi chuột, “lắm sãi không ai đóng cửa chùa”./.
Cộng đồng là những ai? .
Hiện nay, (nhất là sau Tết Tân Sửu), cứ mỗi sớm mai thức dậy, mở tivi hay vào mạng xã hội, mọi người đều hồi hộp và lo lắng khi nhận thông tin về dịch bệnh Covid-19 đang tái phát trở lại. Những tin đại loại như: "Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Quốc gia Phòng chống dịch covid-19, sáng nay, ngày..., lại có thêm 3 ca mắc mới, trong đó, 1 ca nhập cảnh và 2 ca lây nhiễm trong cộng đồng". Vậy từ cộng đồng ở đây được hiểu thế nào?
Cộng đồng là một từ Hán Việt hai thành tố. Cộng (共), có nghĩa là "chung vào, cùng nhau", đồng (同)có nghĩa "cùng (như một)". Cộng đồng có nghĩa gốc là "cùng chung với nhau" và từ đó, có nghĩa (đang được sử dụng) trong tiếng Việt hiện nay là "toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội" (Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2020).
Cộng, với nghĩa là "chung, cùng", tiếng Việt còn có các từ kết hợp với thành tố này. Cộng hoà (hoà: cùng với nhau) là danh từ hoặc tính từ, "chỉ [chính thể] có quyền lực tối cao (không thuộc về vua chúa mà) thuộc về các cơ quan dân cử". Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chính là Nhà nước Công Nông đầu tiên của Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945 mang đặc trưng đó. Cộng cư (cư: ở), có nghĩa "[các dân tộc] sống cùng, sống chung trên một vùng đất, một địa bàn" (đồng nghĩa với quần cư). Ví dụ: Nơi đây, là nơi cộng cư của 3 dân tộc thiểu số ít người nhất. Cộng sinh (sinh: sống) chỉ "[sinh vật không cùng một loài] sống chung và cùng làm lợi cho nhau". Chẳng hạn, các sinh vật trong quá trình chung sống, chúng cung cấp cho nhau các điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển liên tục, từ đó, các đối tác đều cùng hưởng lợi cho sự sinh tồn của chúng; cộng sự (sự: việc làm) chỉ "những người cùng làm chung một nhiệm vụ trong một tổ chức". Ví dụ: Ông ấy đã cùng với các cộng sự hoàn thành công trình này; v.v.
Trở lại với từ cộng đồng, ta thấy có nhiều kết hợp mở rộng: cộng đồng xã hội (xã: nhiều người cộng lại, hội: họp lại), chỉ "tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, đặc điểm sinh tụ và cư trú"; cộng đồng làng xã là “tập hợp những người sống theo quan hệ xóm làng ở nông thôn”; cộng đồng ngôn ngữ chỉ “tập hợp những người cùng nói một ngôn ngữ nào đó”; cộng đồng người Chăm là “tập hợp tộc người Chăm với sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán...”; cộng đồng người Việt ở nước ngoài chỉ “những người gốc Việt hiện không sinh sống ở trong nước mà đang ở các quốc gia khác”; Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp - Cộng đồng Pháp ngữ là “các quốc gia có sử dụng tiếng Pháp là ngôn ngữ chính hoặc ngôn ngữ thứ hai...”; v.v.
Khi báo chí viết "Hôm nay, Việt Nam không phát hiện ra một ca nhiễm virus corona nào trong cộng đồng", thì từ "cộng đồng" ở đây được hiểu là "tất cả những ai đang sống trong chính thể nước Việt Nam (theo phạm vi cùng một lãnh thổ có biên giới quốc gia) nói chung" (phân biệt với người nhập cảnh vào Việt Nam từ nước khác). Nhưng nếu viết "Hải Dương hay TP Chí Linh (cũng thuộc Hải Dương) hôm nay không có ca nhiễm nào trong cộng đồng" thì người viết đã hạn chế đối tượng sang một điểm quy chiếu hẹp hơn và "cộng đồng" ở đây được "khoanh vùng" chỉ Hải Dương hoặc TP Chí Linh (2 đơn vị địa danh thuộc một tỉnh) sau khi đã có sự cô lập, theo dõi. Thậm chí, khi nói "Sau khi bệnh nhân số N được phát hiện, chính quyền sở tại đã tạm cách li khu phố X để theo dõi dịch bệnh trong phạm vi cộng đồng" thì cộng đồng (đang được nói đến) chỉ trong một phạm vi rất hẹp (một khu phố hay một thôn bản, một phường hay một xã...).
Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2021
Ngũ “dám” .
Nếu trước đây thường chỉ yêu cầu người lãnh đạo “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, thì trong nhiệm kỳ tới, cán bộ lãnh đạo các cấp ngoài “ba dám” trên thì còn phải thêm “hai dám” nữa là “dám nói; dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước”.
Nghỉ hưu mà chưa bao giờ nghỉ đọc, bởi như ông nói, cả đời gắn bó với công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cái sự đọc đã ngấm sâu vào máu thịt, nên có muốn dứt ra cũng không được. Mỗi lần gặp nhau, ông hào hứng trò chuyện, chia sẻ, cung cấp cho tôi những thông tin mà ông thu lượm được từ việc đọc sách báo và theo dõi sát sao chuyện thời cuộc.
Theo thói quen thân tình, lần này gặp, tôi lại “mào đầu”: - Có gì mới không, thưa nhà “bình luận thời thế?”. Ông bảo: - Có đấy! Một trong những điểm mới trong tiêu chí nhân sự giới thiệu bầu vào cấp ủy các cấp đợt này, đặc biệt là nhân sự giới thiệu vào Ban Chấp hành Trung ương, Đảng ta nhấn mạnh phải giới thiệu, lựa chọn những người “dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước; dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”. Nếu trước đây thường chỉ yêu cầu người lãnh đạo “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, thì trong nhiệm kỳ tới, cán bộ lãnh đạo các cấp ngoài “ba dám” trên thì còn phải thêm “hai dám” nữa là “dám nói; dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước”.
Vốn am tường chữ nghĩa, hiểu chuyện chính trường, ông phân tích: “Dám” có nghĩa là không ngại, không sợ làm những việc khó, việc nan. Đối với cán bộ lãnh đạo, “dám nghĩ” thể hiện tư duy đổi mới, bứt phá nhằm khai thông mở lối phát triển để đạt hiệu quả tối ưu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; “dám làm” thể hiện thái độ hành động quyết liệt, khẩn trương, chủ động xông pha, tiên phong dấn thân vào những công việc khó khăn, nhiệm vụ phức tạp nhằm làm chuyển biến tình hình theo chiều hướng tích cực; “dám chịu trách nhiệm” thể hiện bản lĩnh cứng cáp, tinh thần vững vàng của người “đứng mũi chịu sào” trước mọi “sóng to gió cả”, không lùi bước trước nguy nan và luôn có ý thức đón nhận cả thành công và thất bại, thậm chí đối mặt với những rủi ro ngoài ý muốn.
Tuy vậy, cán bộ thời nay chỉ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” thôi chưa đủ, mà hơn thế, phải “dám nói” để thể hiện dũng khí cương trực, thẳng thắn, công tâm của mình trước khi nhận định, xem xét, phán quyết một vấn đề nào đó. Vì trên thực tế, có một bộ phận cán bộ tuy có khả năng diễn đạt tốt, nhưng không phải ai cũng thể hiện quan điểm xác đáng, lập trường rõ ràng, chính kiến dứt khoát của mình. Thế nên mới có một bộ phận cán bộ ứng xử theo lối dĩ hòa vi quý, gió chiều nào theo chiều ấy, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, làm cho cái tốt không có điều kiện nảy nở, phát huy, cái sai không được phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời. Cái sự không “dám nói” của cán bộ suy cho cùng cũng là một hình thức tự thủ tiêu tinh thần đấu tranh chân chính, một biểu hiện tinh vi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi.
Cán bộ trước hết là con người, cũng có các nhu cầu thiết thân như mỗi người dân bình thường. Nhưng khi đã tự nguyện dấn thân vào con đường chính trị, thì cán bộ chỉ được làm những gì pháp luật cho phép (còn người dân thì được làm tất cả những gì pháp luật không cấm). Khi nói đến việc “dám hy sinh lợi ích cá nhân” nghĩa là đòi hỏi cán bộ phải tự giác gác lại những nhu cầu tầm thường, ham muốn có tính chất riêng tư mà khi bộc lộ ra có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp chung, lợi ích chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị; đồng thời phải luôn nghiêm khắc với bản thân, không bị lóa mắt trước cái bả “tiền tài danh vọng” và “tửu sắc” đầy mê hoặc có thể biến mình từ bậc “chính nhân quân tử” thành kẻ “phàm phu tục tử” trong một thời gian rất ngắn. “Dám hy sinh lợi ích cá nhân” còn có nghĩa là sẵn sàng, tự giác chấp nhận một phần thiệt thòi về mình, không lợi dụng vị trí công tác, quyền lực, chức trách, nhiệm vụ được giao để thu vén, vơ vét lợi lộc cho cá nhân và gia đình, làm tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, cộng đồng và đất nước.
Ở chiều sâu hơn, “dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước” chính là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, lấy lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc làm thước đo định hướng, chi phối việc tu dưỡng, rèn luyện, học tập, công tác của bản thân; hành xử đúng mực và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, không bao giờ vì lợi ích riêng mà xâm phạm, gây hại lợi ích chung. Vì thế, “dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước” không chỉ là tiêu chí nói lên một trong những khía cạnh của bản lĩnh ưu tú, dũng khí nổi trội, phẩm chất cao quý của người lãnh đạo, mà còn được ví như một “thanh bảo kiếm” có khả năng ngăn chặn những cám dỗ tầm thường, ham muốn nhỏ nhen có thể gây nên những “ung nhọt” hủy hoại tâm hồn, đạo đức cán bộ thời nay./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)