Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

Tự do tư tưởng: Từ khát vọng đến thực tiễn sinh động ở Việt Nam .

Tự do tư tưởng là quyền cơ bản của con người đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc khẳng định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948. Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng khẳng định điều này. Tuy nhiên, trên mạng xã hội thời gian gần đây xuất hiện một số hội, nhóm tự xưng như “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập” hay “Hội nhà báo Việt Nam độc lập” cho rằng Việt Nam “bóp nghẹt tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do ý kiến...”. Vậy, cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào? . BẢN CHẤT CỦA QUYỀN TỰ DO SÁNG TÁC Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khóa VI về văn hóa, văn nghệ đã khẳng định: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng. Trong lịch sử, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc giành được độc lập, tự do và đã mang lại quyền tự do sáng tác chân chính cho văn nghệ sĩ. Bản chất quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và được quy định bởi trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với Tổ quốc và CNXH. Tác phẩm văn nghệ không vi phạm pháp luật, không phản động (chống lại dân tộc, chống lại CNXH, phá hoại hòa bình) và không đồi trụy (truyền bá tội ác, sự sa đọa, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền được lưu hành và đặt dưới sự đánh giá, phán xét của công luận và sự phê bình”. Là một chính đảng ra đời từ khát khao độc lập, tự do của nhân dân, hơn ai hết, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng quyền tự do sáng tạo tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật. Sức hút của ánh sáng từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thu hút phần lớn văn nghệ sĩ và trí thức tham gia cách mạng, vượt mọi khó khăn, gian khổ, đồng hành cùng nhân dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ. Đó cũng là nền tảng để báo chí, văn học, nghệ thuật Việt Nam trong 30 năm kháng chiến đạt được những thành tựu to lớn, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Từ thời chiến bước sang thời bình, từ thời bao cấp đến những năm đổi mới, trong từng bước chuyển mình của đất nước, đời sống báo chí, văn học, nghệ thuật của đất nước cũng diễn ra sự vận động không ngừng cả ở chiều sâu lẫn diện rộng. Đó là quãng đường đầy trăn trở với những tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của công chúng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước những đòi hỏi từ thực tiễn, Đảng cũng vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, đổi mới tư duy mạnh mẽ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo phát triển báo chí, văn học, nghệ thuật. Thành tựu của 30 năm đổi mới, trong đó có thành tựu to lớn của báo chí, văn học, nghệ thuật đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, trên một số website không chính thức thời gian qua, đã có nhà văn viết bài phủ định sạch trơn thành tựu của báo chí, văn học, nghệ thuật cách mạng, cho rằng đó lànhững tác phẩm tuyên truyền một chiều, “tô hồng thực tế” theo chỉ đạo của Đảng. Một số văn nghệ sĩ vì bất mãn mà phát tán trên mạng xã hội những luận điểm, cho rằng “cơ chế độc đảng” ở Việt Nam hiện nay đang bóp nghẹt tự do sáng tạo tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật (!?). Đáng tiếc là những nhà văn đó đã nói ngược với chính mình, phủ nhận chính những tác phẩm của mình từng được các nhà phê bình và bạn đọc đánh giá cao. Thiết nghĩ, đối với những người mà vì động cơ cá nhân, sẵn sàng phủ nhận chính mình thì có lẽ cũng không cần bàn luận gì thêm, bởi đối với họ, những phát ngôn được gắn mác “dân chủ” hay “đấu tranh” cũng không ngoài lợi ích cá nhân, vì sự bất mãn cá nhân. Còn một số khác, lại dùng ngòi bút của mình đưa ra những khuyến nghị rất nghiêm túc, cho rằng trước đây, báo chí, văn học, nghệ thuật phục vụ Đảng để đấu tranh giành tự do; nay là lúc Đảng để cho báo chí, văn học, nghệ thuật được phát triển tự do. Xét ở một góc độ nào đó, thì khuyến nghị trên cần được xem xét và đưa ra những luận giải một cách nghiêm túc, sao cho “thấu lý đạt tình”, tránh quy chụp và áp đặt! Bởi lẽ đó là suy nghĩ, nhận thức của một số văn nghệ sĩ hiện nay. Luận giải để phản biện với khuyến nghị này, chúng tôi cũng nghiêm túc cho rằng, việc đảng chính trị lãnh đạo nhà nước và xã hội là vấn đề khách quan.Bất kể quốc gia nào cũng có vai trò lãnh đạo của đảng chính trị.Đảng nào giành được quyền lực, trở thành đảng cầm quyền đều có đường lối, mục tiêu của họ với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.Bởi vậy, báo chí, văn học, nghệ thuật đương nhiên không thể tách rời sự lãnh đạo đó. Trong khi các đảng cầm quyền khác trên thế giới thường né tránh nói về ảnh hưởng của họ đối với báo chí, văn học, nghệ thuật thì Đảng Cộng sản Việt Nam lại công khai và nhận trách nhiệm lãnh đạo về mình, coi đó là điều kiện quyết định bảo đảm quyền tự do sáng tạo tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật ở Việt Nam. Và điều đó, đã được Hiến pháp 2013 hiến định. Cũng cần phải nói thêm rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của báo chí, văn học, nghệ thuật, hay nói cách khác, mục tiêu hoạt động của Đảng là nhằm bảo đảm cho nhân dân được hưởng đầy đủ quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do hưởng thụ, sáng tác, quảng bá những tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật chân chính. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ bản Yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919 gửi nhà cầm quyền Pháp đã nêu yêu cầu về tự do báo chí, tự do lập hội. Năm 1943, dù chưa giành được chính quyền, Đảng vẫn xây dựng Đề cương Văn hóa Việt Nam, chủ trương phát triển nền văn hóa Việt Nam theo hướng Dân tộc, Khoa học và Đại chúng… Sơ lược như vậy để thấy rằng, vấn đề đảng chính trị lãnh đạo báo chí, văn học, nghệ thuật, dù bằng những phương thức khác nhau, là vấn đề kháchquan. Hơn nữa, sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học, nghệ thuật không có mục tiêu nào khác nhằm phát triển lĩnh vực này theo những giá trị của truyền thống dân tộc và giá trị nhân loại, theo các chuẩn mực Chân - Thiện - Mỹ.

TỰ DO NÀO CŨNG PHẢI VÌ CÔNG LÝ VÀ CỘNG ĐỒNG

Vẫn có những quan điểm lạc lõng cho rằng: “Dưới chế độ đảng trị thì dẫu có cả nghìn tờ báo, kênh phát thanh-truyền hình, báo chí Việt Nam vẫn chỉ là báo chí một chiều, thông tin theo định hướng”; rồi “văn họcnghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học-nghệ thuật minh họa nghị quyết”… Cứ theo quan điểm của những người phủ nhận vai trò của Đảng thì để có nền báo chí, văn học nghệ thuật “thực sự”, các nhà báo, văn nghệ sĩ phải có quyền thông tin vô hạn độ, “thông tin trong thế giới phẳng không có biên giới, không có vùng cấm”, hay các văn nghệ sĩ được quyền tự do tuyệt đối trong sáng tạo và công bố tác phẩm. Vậy hiện nay, trên thế giới đã có quốc gia nào có nền báo chí, văn học-nghệ thuật đạt đến trình độ “tự do tuyệt đối” như vậy chưa? Ở Vương quốc Anh, mọi người có thể công khai diễn thuyết trong trường hợp nhất định và có không gian xác định nhưng nếu có người hô “đả đảo Chính phủ nước Anh”, “đả đảo Nữ hoàng” hoặc tuyên truyền bạo lực, thì sẽ bị coi là tội phạm và bị bắt. Ở Pháp, năm 1881, nền Cộng hòa lần thứ Ba của nước Pháp đã ban hành một đạo luật về tự do báo chí. Đạo luật này đến nay vẫn cơ bản còn giá trị. Cùng với việc công nhận quyền tự do báo chí, đạo luật 1881 đã xác lập giới hạn trong tự do báo chí, bằng việc đưa ra các định nghĩa về tội phạm báo chí. Ở Mỹ, nơi được các nhà “dân chủ” xem như một hình mẫu của “thế giới tự do” khi họ viện dẫn Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ quy định Quốc hội không có quyền ban hành văn bản hạn chế tự do báo chí. Tuy nhiên, họ quên rằng, rất nhiều đạo luật, bộ luật đã cụ thể hóa vấn đề này. Đạo Luật Trấn áp Phản loạn của nước Mỹ quy định: “việc viết, in, phát biểu hay phổ biến… mọi văn bản sai sự thực, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống chính quyền đều là tội”. Hay Điều 238, Bộ Luật Hình sự của Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết, tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”. Như vậy, ở nhiều quốc gia khác nhau, cùng với việc công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng trong Hiến pháp, các bộ luật đều có những quy định cụ thể, đưa ra những giới hạn nhất định để bảo đảm việc thực thi các quyền con người phù hợp với sự ổn định và phát triển đất nước. Cách đây không lâu, một hãng phim Mỹ tung ra thị trường bộ phim “Sự ngây thơ của các tín đồ Hồi giáo” đã khiến toàn thể tín đồ đạo Hồi trên thế giới phẫn nộ, gây nên nhiều cuộc biểu tình, bạo động, bao vây, đe dọa an ninh các sứ quán Mỹ ở nhiều nước. Còn ở Pháp, ngày 7-1-2015 được xem là ngày đen tối nhất trong lịch sử báo chí nước Pháp, khi một nhóm khủng bố tấn công trụ sở tòa soạn Báo Charlie Hebdo, sát hại 12 người vì lý do tờ báo này đã vẽ tranh châm biếm tôn giáo của họ. Trước sự kiện thảm sát này, Giáo hoàng Francis đã cho rằng: “Tự do báo chí không phải vô giới hạn khi tự do đó xúc phạm tới tín ngưỡng tôn giáo”. Ông Ban Ki Mun, khi đương chức Tổng thư ký Liên hợp quốc cũng lên tiếng: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng… Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”. Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc (năm 1948) khẳng định: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

SỨ MỆNH PHẤN ĐẤU CHO CHÂN - THIỆN - MỸ

Những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên đã chứng tỏ rằng, ở mọi quốc gia trên thế giới, không hề và không thể có nền báo chí, văn học - nghệ thuật nào “tự do tuyệt đối”, ‘tự do vô hạn”. Nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình, khi bình luận về những yêu sách “tự do tuyệt đối” của một số nhà “dân chủ tự phong” đã cho rằng: Ở nước ta hiện nay, không còn “vùng cấm” trong văn nghệ không có nghĩa là văn nghệ sĩ được tự do tuyệt đối bởi như mọi lĩnh vực khác trong xã hội, văn học - nghệ thuật cần và phải có sự quản lý. Như mọi người, văn nghệ sĩ cũng là một công dân phải tuân thủ pháp luật, và như mọi ngành nghề hoạt động văn chương, nghệ thuật, báo chí cũng phải theo luật, cụ thể là Luật Xuất bản, Luật Báo chí. Là thế nên nói không có, không còn “vùng cấm” không có nghĩa là văn nghệ sĩ được sống và sáng tạo “ngoài vòng pháp luật”. Là văn nghệ sĩ Việt Nam, tất cả đều được tự do sáng tác nhưng khi công bố tác phẩm, xuất bản tác phẩm đều phải tuân thủ Luật Xuất bản, Luật Báo chí. Không chỉ coi trọng quyền tự do sáng tạo của giới báo chí, văn nghệ sĩ, trong các nghị quyết của Đảng luôn chú ý đến tính đặc thù, đặc biệt tinh tế của giới báo chí, văn nghệ sĩ. Ngay thời kỳ đầu đổi mới, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khóa VI đã nhấn mạnh: “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện”. Đảng cũng luôn tự phê bình và phê bình công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, văn học - nghệ thuật. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X nhìn nhận: “năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của một số cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế; nội dung và phương thức lãnh đạo chậm đổi mới; chưa lường hết được tác động phức tạp, tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, dẫn tới sự lúng túng, thụ động khi định hướng và xử lý những vấn đề mới phát sinh. Nhiều chính sách đối với văn nghệ và văn nghệ sĩ đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, tham mưu, quản lý văn nghệ thiếu hiểu biết về văn học-nghệ thuật, ít học tập, ngại tiếp xúc nên hiệu quả lãnh đạo, quản lý còn thấp...”. Nêu lên nội dung này, chúng tôi muốn nhìn nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật luôn ở hai mặt của một vấn đề. Ở đâu, lãnh đạo sát, đúng thì ở đó báo chí, văn học, nghệ thuật phát triển mạnh.Ở đâu năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy còn hạn chế thì báo chí, văn học, nghệ thuật bị kìm hãm hoặc kém phát triển.Cách nhìn nhận như vậy càng cho chúng ta thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng với báo chí, văn học, nghệ thuật. Thành tựu phát triển của báo chí, văn học, nghệ thuật từ khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. Chỉ trong 30 năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành 29 nghị quyết, kết luận, chỉ thị về văn hóa, báo chí - xuất bản, văn học - nghệ thuật. Cũng với quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò to lớn của báo chí, văn học, nghệ thuật, đó là những thành tố nòng cốt của nền văn hóa, là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn nội sinh quan trọng để phát triển đất nước. Đời sống văn hóa, văn nghệ đã có những biến đổi sâu sắc sau 30 năm đổi mới với sự tiến bộ, phong phú, đa dạng cả về hình thức và nội dung, số lượng và chất lượng; đã đạt được những thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực: sáng tác, lý luận và phê bình, sử dụng và truyền bá, quản lý và lãnh đạo, đào tạo và bồi dưỡng. Văn hóa - nghệ thuật đã tích cực khám phá, nhận thức, phản ánh, tác động, cải biến hiện thực; đã thực sự trở thành động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu văn hóa, tinh thần ngày càng cao của nhân dân./.

Không thể xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo .

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam ngày nay do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ đó là quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin. . Tư tưởng đó xuyên suốt các giai đoạn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930), qua các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cho đến ngày nay-sự nghiệp xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế. Thế nhưng, vì những mục tiêu xấu độc, trên internet, mạng xã hội (MXH) có kẻ cho rằng “Nhà nước Việt Nam theo mô hình Xô viết”, chế độ “độc tài toàn trị'', ''lệ thuộc vào nước ngoài''... Vậy lịch sử và thực tiễn chế độ xã hội XHCN ở Việt Nam đã vận động và phát triển như thế nào? Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo-Chính cương vắn tắt của Đảng (năm 1930)-xác định mục tiêu trước mắt của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Về xã hội: “Dân chúng được tự do tổ chức; nam, nữ bình quyền”… Về chính trị: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”… Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng gắn chế độ dân chủ với nền độc lập dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng cao từ những giá trị tư tưởng lớn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (năm 1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (năm 1789). Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”… “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Vào năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đang ở giai đoạn quyết liệt, kế thừa, phát triển tư tưởng gắn liền chế độ dân chủ với độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Bắc-Nam sum họp một nhà (năm 1975), mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh”. Tuy nhiên, nhận thức về chế độ dân chủ có lúc cũng phạm những sai lầm. Thời kỳ từ khi đất nước được hoàn toàn giải phóng đến trước Đại hội VI (1975-1985), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng xã hội theo mô hình cũ của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng “Nhà nước chuyên chính vô sản”; về kinh tế đó là xây dựng “nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung” với hai thành phần duy nhất là kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Do đó, nhiều quyền về chính trị, kinh tế của người dân không được tôn trọng, bảo đảm. Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XI (năm 2011) và Đại hội XII (năm 2016), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chuyển sang đường lối đổi mới. Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng chế độ XHCN gắn với độc lập dân tộc. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)” được Đại hội XI của Đảng thông qua, xác định mục tiêu tổng quát của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam là xây dựng xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;… có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hơn các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể khẳng định Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật của Việt Nam không chỉ tương thích với pháp luật quốc tế mà còn tiên tiến hơn nhiều quốc gia, trong đó có việc ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Thực tế, có quốc gia phát triển cao nhưng chưa phê chuẩn “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, hoặc có quốc gia không gia nhập “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”. Trong khi đó, Việt Nam đã gia nhập cả hai công ước nói trên. Không phải ngẫu nhiên Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội và Nhà nước. Lịch sử hơn 80 năm, từ khi ra đời đến nay (1930-2018), Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là tổ chức chính trị dẫn dắt dân tộc Việt Nam sớm đi vào trào lưu văn minh của nhân loại. Đại hội XII của Đảng xác định đường lối đối ngoại, quan hệ quốc tế của Việt Nam là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước”(1). Trong giai đoạn 1989-1991, Việt Nam luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức, việc xác định “đối tác”, “đối tượng” của cách mạng là vấn đề chính trị mới và nhạy cảm. Hội nghị Trung ương 8, khóa IX của Đảng đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “đối tác” và “đối tượng” của cách mạng Việt Nam có nguyên tắc và linh hoạt: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh…”, trong đối tác có thể có đối tượng và ngược lại. Như vậy, thay vì quan điểm chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh-lấy ý thức hệ làm tiêu chí “bạn”, “thù”, thì nay Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tiêu chí bạn-thù. Đồng thời, lấy nguyên tắc tôn trọng chế độ chính trị, hai bên cùng có lợi làm tiêu chí để hợp tác với các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, ý thức hệ. Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và sự ra đời của internet, MXH, nguy cơ những cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ trang cổ điển dường như giảm đi, thì nguy cơ mất chế độ xã hội từ những chiến lược “mềm”-chiến lược “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn lợi dụng internet, MXH có xu hướng tăng lên. Ứng phó với cuộc chiến này, vũ khí của chúng ta không chỉ bằng công tác tư tưởng, chính trị, mà còn bằng pháp luật và các chế tài theo luật định. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước gần đây đã tăng cường hoạt động nhằm từng bước chuyển hóa chế độ xã hội ở Việt Nam sang con đường tư bản chủ nghĩa. Những vụ án liên quan đến tội “lợi dụng quyền tự do ngôn luận…” gần đây là một ví dụ. Chẳng hạn, Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (ngày 16-8-2018). Trước đó, vụ Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Đà Nẵng) cùng tội danh và cùng thủ đoạn sử dụng internet, MXH để tung tin xuyên tạc chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 19-9-2018, TAND tỉnh Hòa Bình xét xử bị cáo Đào Quang Thực về tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Những bản án nghiêm khắc cho các đối tượng chống phá chế độ nói trên để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân là cần thiết. Chế độ dân chủ nhân dân, nay là dân chủ XHCN do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc. Chế độ đó đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử và phát triển cùng với nền văn minh nhân loại. Toàn thể dân tộc Việt Nam không cho phép bất cứ ai, với bất cứ lý do gì để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội mà cả dân tộc đã đổ không biết biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu để giành và bảo vệ chế độ đó.

Từ "óc địa phương" tới "lợi ích nhóm": Phòng và chống .

Óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa và tư duy nhiệm kỳ, tự diễn biến, tự chuyển hóa, lợi ích nhóm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Để phòng và chống, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. . TỪ CÁC CHỨNG BỆNH CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN Óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa để chỉ những chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân được Hồ Chí Minh dùng trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (1927); “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ” (1947); “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” (1-3-1947) và “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947)... Trong đó, óc địa phương được Người nêu trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, ở phần “Những khuyết điểm sai lầm”. Trong tác phẩm này, sau khi nêu đích danh các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc lãnh tụ, Người viết tiếp trong mục: g) Óc địa phương và chỉ rõ: “Bệnh này tuy không xấu bằng các bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ”(1). Theo Người, nguyên nhân sinh ra óc địa phương, “đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng lợi ích to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể”(2). Óc bè phái là “ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống, họ phải mấy cũng không nghe”(3) được Hồ Chí Minh nêu trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”. Còn địa phương chủ nghĩa là “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ.Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung. Thí dụ, muốn lấy tất cả cán bộ và vật liệu cho địa phương mình, không bằng lòng để cấp trên điều động cán bộ và vật liệu đến những nơi cần thiết”(4) được Người nêu trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” và “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ”. Với ý nghĩa đó, óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa ở phạm vi nhỏ thì cản trở sự phát triển của một hoặc vài cá nhân, cơ quan, đơn vị; ở phạm vi lớn thì ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, khi óc bè phái, óc địa phương, địa phương chủ nghĩa trở thành một vấn nạn, khi hiện tượng “1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; 2.Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; 3. Ham dùng nhữngngười tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình”(5)… dẫn đến “hỏng cả công việc của Đảng”, làm mất đi sự “liêm khiết, công bình, chính trực” của các cơ quan công quyền. Vì óc địa phương, địa phương chủ nghĩa nên tệ nạn bè phái, ưa dùng người địa phương, “cánh hẩu” ngày càng phát triển trong mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trong công tác cán bộ. Từ đặt lợi ích của mình và những người mình ưa, mình thích lên trên lợi ích tập thể, lợi ích đất nước, những người có óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa đã liên kết lại thành một nhóm, tranh giành vị trí, quyền lực, đấu đá nhau… để mưu lợi ích cho mình và nhóm mình - lợi ích nhóm. Lợi ích nhóm “tiêu cực” theo nghĩa đang hiểu ở đây có nội hàm là lợi ích của một nhóm người được hình thành trên cơ sở: 1) Lợi ích cá nhân không chính đáng; 2) Trục lợi, kiếm chác, tham nhũng để làm lợi cho nhóm mình; 3) Hành động phi pháp, coi thường pháp luật; 4) Xâm hại đến lợi ích Nhà nước và tập thể... Hồ Chí Minh đã dùng từ óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa để chỉ ra một bộ phận “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã kéo bè, kéo cánh; ưa dùng những người bà con, thân tín cùng họ, cùng xóm, cùng quê, cùng chung lợi ích để ủng hộ và che chắn cho nhau. Họ lợi dụng quyền lực, dùng số đông để bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, không dùng, thậm chí dồn những người tốt, có tài nhưng không “hẩu”, không cùng “nhóm” để cô lập, thao túng. Những kẻ cậy quyền, ỷ thế này quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ theo nguyên tắc: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe… Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”(6)… Không chỉ nghiêm khắc chỉ ra sự nguy hiểm và phê phán rất nặng những chứng bệnh cá nhân chủ nghĩa, nhân danh tổ chức, nhân danh tập thể, lợi dụng quyền lực, địa vị được giao để trục lợi cho mình và những người thân cùng phe, cùng “cánh hẩu” với mình “làm quan phát tài”, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: “Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào”(7). Theo Người, nguyên nhân của những người mắc bệnh óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa là vì lợi dụng quyền hành, trụclợi cho mình và “nhóm lợi ích”, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền và xa rời quần chúng… Đó là những kẻ suy thoái đạo đức, lối sống, làm suy yếu Đảng, làm giảm lòng tin của quần chúng với Đảng; do đó, phải kiên quyết tẩy sạch các chứng bệnh nguy hiểm đó để xây dựng chính quyền liêm khiết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Lợi ích nhóm được đề cập khá rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đó là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”; trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng: “Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm”(8). Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” cũng đã chỉ rõ các biểu hiện của lợi ích nhóm như: “Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích... Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi…”. ĐẾN CHỦ ĐỘNG PHÒNG VÀ CHỐNG Thực tế cho thấy, óc địa phương, óc bè phái, địa phương chủ nghĩa và tư duy nhiệm kỳ, tự diễn biến, tự chuyển hóa, lợi ích nhóm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ. Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để móc nối, thông đồng với nhau, lách luật, vi phạm luật nhằm tham ô, tham nhũng; dùng của công để biếu xén lẫn nhau, sử dụng các biện pháp để chuyển tài sản nhà nước, tập thể sang cho cá nhân; dùng mọi thủ đoạn để tham nhũng, móc ngoặc với các đại gia, doanh nghiệp để hợp thức hóa việc ăn cắp, tham nhũng của công; lợi dụng sự móc ngoặc giữa các doanh nghiệp với nhau và với các quan chức để dành những gói thầu, những khoản ưu đãi từ tiền công quỹ, chạy chức, chạy quyền và nhất là cách mua bán, đút lót, hối lộ, thông đồng của một nhóm người để mưu cầu chức, quyền, danh vị,v.v.. trong xã hội đã không còn là hiện tượng đơn lẻ. Trong khi đó, chừng nào mà các nhóm lợi ích nêu trên càng phát triển, càng mang lại lợi ích cá nhân cho một số người thì chừng đó, càng khoét sâu sự mất công bằng trong xã hội; càng bóp nghẹt dân chủ, nội bộ nghi kỵ lẫn nhau dẫn đến khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội ngày càng phân hóa. Lợi ích nhóm không chỉ là vấn nạn mà trở thành nguy cơ lớn đe dọa sự phát triển lành mạnh, bền vững của đất nước, sự tồn vong của quốc gia, của chế độ xã hội chủ nghĩa; là nguy cơ chính làm trầm trọng và tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển, gây bất ổn trong xã hội nói chung, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, địa phương, đơn vị nói riêng. Thực trạng đó đi ngược lại với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của dân tộc, vì vậy, “nếu không có cơ chế ngăn chặn, lợi ích nhóm (tiêu cực) phát triển sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, đơn vị, cơ quan; làm suy thoái, tha hóa về đạo đức, lối sống của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên (đặc biệt là những người có chức, có quyền). Điều đó sẽ làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ”(9). Từ những cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để thiết thực ngăn chặn, phòng và chống các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân, nhất là lợi ích nhóm, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Một là, cấp ủy, chính quyền và ban, ngành chức năng các cấp nâng cao hơn nữa trong nhận thức và hành động về yêu cầu tấtyếu phải thực hiện nghiêm túc, trọn vẹn, thường xuyên, liên tục di huấn của Hồ Chí Minh: cán bộ, đảng viên phải luôn “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”: đặt lợi ích của tập thể, lợi ích của đất nước, lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, của gia đình mình, dòng họ mình theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”…; “phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”; phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất; mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng và phát huy vai trò quần chúng nhân dân tham gia xây dựng Ðảng, đấu tranh phòng, chống sự suy thoái của cán bộ, đảng viên và sự phát triển của các nhóm lợi ích. Hai là, gắn thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc và nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, phải phát huy vai trò nêu gương, nói đi đôi với làm; phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, luôn học tập để cầu tiến bộ. Thường xuyên tự phê bình và phê bình như rửa mặt hằng ngày, để không vì danh vị mà nịnh bợ, chạy chọt, mua chuộc; không vì sang giàu mà sa vào tham ô, tham nhũng, tha hóa đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Ba là, tăng cường công tác quản lý, giao nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu từ cấp chi bộ. Thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ và chế tài rõ ràng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu trong thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao và xử lý nghiêm những người lạm quyền, lộng quyền, tham ô, tham nhũng, v.v..để mưu lợi cho cá nhân, gia đình và nhóm lợi ích. Đồng thời, đẩy mạnh công khai và minh bạch hóa các hoạt động của các cơ quan công quyền gắn với công tác kiểm tra; nhất là kiểm tra chéo các hoạt động công vụ; ngăn chặn khả năng hình thành “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Bốn là, nghiêm túc trong kê khai tài chính của cá nhân, gia đình cán bộ, công chức, bảo đảm minh bạch các nguồn thu nhập; đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên; trong việc ngăn chặn sự hình thành các nhóm lợi ích. Thực hiện nghiêm Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” và Quy định số 102-QĐ/TW về “Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm” của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”, để không có vùng cấm, không có biệt lệ, không có “thần hộ mệnh” cho bất cứ ai vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Đảng./.

Cảnh giác với những phương thức, thủ đoạn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc nhằm xóa bỏ nền tảng lý luận trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Đặc biệt, chúng triệt để xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi lem thân thế, sự nghiệp của Người, hòng đưa tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng việc Hồ Chí Minh vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng dựng chuyện phi thực tế về thân thế, đời tư của Hồ Chí Minh hòng bôi nhọ lãnh tụ; triệt để lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong thực hiện quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và các vụ việc tiêu cực, tham nhũng xảy ra để xuyên tạc rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế của thời đại. Với những thủ đoạn đó, chúng hy vọng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới của đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Từ đó, lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Nhằm tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch ráo riết sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn, trong đó, tập trung vào một số phương thức hoạt động cơ bản, như: Thông qua internet, mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Các tổ chức phản động lưu vong, như: “Việt Tân”, “chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… đã lập hơn 400 trang web, blog, hàng chục tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, như VPR, VOA, RFI... lập ra các diễn đàn để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng cũng tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế xuyên tạc tư tưởng và thân thế, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt triệt để tổ chức các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo ở các nước có đông đảo bà con Việt kiều đang sinh sống, làm việc, như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài; thông qua tiếp xúc gặp gỡ các đoàn ra nước ngoài làm việc, tham quan. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới. Cùng những việc làm trên, chúng tìm cách tác động các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện thay đổi cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây, trong đó có thay đổi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đồng thời tìm cách móc nối, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất trong Đảng, Nhà nước viết bài, tung tin tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; kích động tâm lý hoài nghi của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng từ bên trong xã hội. Cần khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Một tư tưởng, hệ tư tưởng được đánh giá là cách mạng, khoa học khi và chỉ khi xuất phát và phản ánh đúng thực tiễn, soi đường cho hoạt động thực tiễn, thúc đẩy thực tiễn phát triển, điều này luôn đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh. Với thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và với một trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của dân tộc và của nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình. Tư tưởng đó là sự thống nhất, quan hệ biện chứng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, không chỉ giải quyết vấn đề lý luận, mà cao hơn là tư duy hành động, giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn đuốc soi đường đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, để kiến tạo nên một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam, là thời đại Hồ Chí Minh, là một mốc son sáng ngời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là một chân lý không ai có thể phủ nhận được. Hồ Chí Minh, Người là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế, đấu tranh không biết mỏi mệt cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại; là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, đã cống hiến cả cuộc đời mình để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Với những cống hiến vĩ đại cho dân tộc và cho nhân loại, với tấm gương đạo đức sáng ngời, Người đã được cả dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn vinh, ngưỡng vọng. Chính vì lẽ đó, những luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi lem, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Người chỉ là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học cũ rích, vô giá trị mà thôi. Với sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, thời gian qua công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả quan trọng. Đặc biệt, các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác quản lý an ninh thông tin mạng; triển khai biện pháp phát hiện, đấu tranh với các đối tượng tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bắt giữ, xử lý nghiêm minh nhiều đối tượng vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tuyên truyền và đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh còn tồn tại những hạn chế nhất định, như: Sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn hạn chế, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác này; công tác phòng ngừa, đấu tranh chưa gắn kết, phối hợp nhịp nhàng, có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, thụ động; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người còn hạn chế... Những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người hòng phủ nhận hệ tư tưởng lý luận của Đảng ta và toàn xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động này, cần tập trung vào một số công tác trọng tâm như sau: Một là, công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người luôn phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác này một cách thực chất, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị lớn, có sức thuyết phục cao, sức lan tỏa sâu rộng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh. Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối nội và đối ngoại nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong và ngoài nước về bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh bằng minh chứng cụ thể từ những thắng lợi trong lịch sử dân tộc và trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay; về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng, âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm chống phá Việt Nam, để từ đó thúc đẩy mọi người tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh. Tiếp tục phát huy thế mạnh của các kênh thông tin, đặc biệt là tăng cường xây dựng các trang web, các blog, diễn đàn trên mạng xã hội để đăng tải các tin, bài viết phong phú, đa dạng nhằm tuyên truyền về vị trí, tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay. Qua đó, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người. Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, khẳng định vị thế, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước; làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt trong đời sống, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, tư tưởng của xã hội ta. Qua đó nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán quan điểm, tư tưởng xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Bốn là, tiếp tục tăng cường công tác quản lý Nhà nước về báo chí, truyền thông, internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Qua đó chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc của số phóng viên thoái hóa, biến chất; phát hiện các tài liệu, bài viết xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người để có biện pháp xử lý kịp thời. Chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các trang mạng độc hại, các blog “đen” thường đăng tải các tin, bài, phim có nội dung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Năm là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho các tầng lớp nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế nhằm khẳng định sự thắng lợi của XHCN ở nước ta. Đó là minh chứng sinh động nhất nhằm bảo vệ vị thế, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đập tan luận điệu xuyên tạc, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch.

Lấy phiếu tín nhiệm phải là thực chất .

Những người đại diện cho dân cần nói đúng tiếng nói của dân, cần thể hiện sự trung thực, công tâm, khách quan bằng lá phiếu của mình. . Làm thế nào để việc "chấm điểm" cán bộ trở nên thực chất.Việc “chấm điểm” giữa nhiệm kỳ với các thành viên là dịp để thấy sự tín nhiệm ấy được thể hiện như thế nào? Trách nhiệm của từng người giữ chức vụ trong Đảng, Chính phủ và Quốc hội ra sao? Có những vấn đề gì đặt ra về cơ chế giám sát, thực hiện giám sát để việc lấy phiếu tín nhiệm luôn là khách quan, là thực chất. Lâu nay, có nhiều câu chuyện khiến người dân ít đặt niềm tin vào việc lấy phiếu bầu hay phiếu tín nhiệm. Chẳng phải các ông Đinh La Thăng, Vũ Huy Hoàng đã từng có tỷ lệ phiếu tín nhiệm khá cao đó sao? Trịnh Xuân Thanh cũng đã từng đạt hơn 75% phiếu bầu trúng cử đại biểu Quốc hội đó sao? Chẳng phải có người đứng đầu cấp ủy, đứng đầu đơn vị hôm trước được khen thưởng, hôm sau bị kỷ luật mà trước đó, lấy phiếu tín nhiệm lại chiếm tỷ lệ cao, không ai bằng đó sao? Lại có những trường hợp xét theo năng lực cá nhân, xét tình hình nội bộ có thể thấy trước tỷ lệ phiếu tín nhiệm thấp như thế nào, nhưng khi công bố, khi cất nhắc, sắp đặt, người được lấy phiếu tín nhiệm vào ghế lãnh đạo thì con số ấy khác xa thực tế mà chính người trực tiếp đặt bút tích vào phiếu cũng không hiểu được vì sao lại thế. Đó là một thực tế và đáng buồn, nó còn ở nhiều nơi, nhiều cấp. Thậm chí dù không công khai nhưng hiện tượng chạy phiếu tín nhiệm là có. Vì đâu xảy ra thực trạng này? Điều dễ nhận thấy là dường như một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu vắng tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình. Họ bàng quang với mọi sự, mũ ni che tai, dễ dàng bỏ qua những khuyết điểm, hạn chế của người được lấy phiếu tín nhiệm. Một bộ phận khác thì cố tình né tránh, xu nịnh lãnh đạo với những mối quan hệ theo kiểu lợi ích. Thế thì làm sao mong có được lá phiếu thực sự khách quan? Rồi nữa, chuyện lợi dụng quyền lực, coi chức vụ quyền hạn là cái vỏ bọc để thực hiện hành vi sai trái cũng đã được nói tới từ lâu nhưng chưa phải đã kiểm soát được nó. Bởi vậy, một số người dù không đủ tư cách nhưng lại dùng quyền hành của người đứng đầu gây áp lực với người dưới quyền, với cấp ủy, tổ chức đảng. Như vậy thì làm sao nói rằng, phiếu tín nhiệm đã thực sự dân chủ! Việc giám sát của các tổ chức, đoàn thể, người dân đối với người có chức vụ, quyền hạn tưởng như rất rõ ràng và dễ thực hiện nhưng quy định, yêu cầu là một chuyện. Còn thực tế lại là câu chuyện khác. Và câu hỏi, cơ chế nào, làm thế nào để các tổ chức, đoàn thể, người dân giám sát được quyền lực và người có quyền lực, thì cho đến giờ vẫn là một câu hỏi khó. Khi quyền lực không được giám sát, khi người có hành vi sai trái, có dư luận nọ, kia vẫn thăng quan, tiến chức, khi việc lấy phiếu tín nhiệm mà không lấy hiệu quả làm thước đo, khi người có chức vụ, quyền hạn cho phép mình đứng trên tất cả, kể cả luật pháp thì phiếu tín nhiệm cũng chả có ý nghĩa bao nhiêu. Chính bởi vậy, khi hỏi rằng "đã thực sự khách quan, minh bạch khi lấy phiếu tín nhiệm hay chưa? Người dân đã thực sự tin tưởng vào sự thực chất của phiếu bầu, phiếu tín nhiệm với các chức vụ hay chưa?" thì câu trả lời sẽ thẳng thắn rằng: chưa? Chính bởi vậy, sau những cuộc lấy phiếu tín nhiệm, chỉ có người liêm sỉ mới chuyển động. Và cũng chính bởi vậy, người dân mong mỏi rằng, những người đại diện cho dân cần nói đúng tiếng nói của dân, cần thể hiện sự trung thực, công tâm, khách quan bằng lá phiếu của mình. Có như vậy, người được “chấm điểm” mới thấy rõ trách nhiệm để sửa mình, để nêu gương, để phấn đấu. Và có như vậy, người dân mới tin rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu mới là thực chất./

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên .

Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, việc thấu hiểu, thể hiện, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có nhiều vấn đề rất đáng cảnh báo. . Một biểu hiện suy thoái “kép” Với tư cách là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân, tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” (biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị) và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” (biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống). Theo kết quả điều tra dư luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), một trong 4 vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc chung, vì nhân dân, vì đất nước. Đã là trách nhiệm thì phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì “thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có hệ lụy xảy ra. Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn. Những vụ việc sai phạm liên quan đến nhiều cựu cán bộ lãnh đạo ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… đều liên quan đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở các doanh nghiệp, cơ quan, địa phương này. Đề cao trách nhiệm nêu gương để phòng ngừa, giảm thiểu suy thoái Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”. Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ. Theo đồng chí Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần có “5 tự”: Phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; Phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; Phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; Phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; Phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao. Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái

Bản chất và nguyên tắc pháp luật của Nhà nước Việt Nam là gì?

Xét về lịch sử, pháp luật ra đời cùng với đấu tranh giai cấp và nhà nước… Trong khi xung đột giai cấp diễn ra ngày càng gay gắt và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được thì cần thiết phải có một loại quy phạm xã hội điều chỉnh cuộc đấu tranh đó. Quy phạm đó là pháp luật do giai cấp thống trị thiết lập để duy trì trật tự xã hội. Trong các xã hội hiện đại, pháp luật do các cơ quan dân cử (quốc hội, nghị viện) xây dựng. Tuy nhiên, nội dung chính trị của những quy phạm pháp luật vẫn do các đảng chính trị cầm quyền chi phối nhằm duy trì, bảo vệ chế độ xã hội hiện hữu. Nguyên tắc của pháp luật là tính quy phạm, phổ biến, bắt buộc, bình đẳng đối với tất cả thành viên xã hội và các tổ chức được nhà nước bảo đảm bằng các phương thức, trong đó có phương thức cưỡng chế, như các cơ quan tư pháp (tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án…). Xét về chức năng, pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội; đồng thời đó cũng là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bản chất, mục tiêu và nguyên tắc pháp luật của Nhà nước Việt Nam được ghi trong Hiến pháp 2013: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Ở quy định nói trên (“Nhà nước pháp quyền XHCN”), nội dung chính trị là: (1) Vai trò lãnh đạo cầm quyền Nhà nước và xã hội thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam; (2) “Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước”. Điều 4, Hiến pháp quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN trước hết và chủ yếu ở quy định: (1) “Luật pháp giữ vị trí tối cao đối với nhà nước và xã hội; (2) “Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân”. Đồng thời, người dân có trách nhiệm tuân thủ pháp luật. Điều 15, Hiến pháp quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Những quy định trong luật sửa đổi và trong những bộ luật mới gần đây đã thể hiện rõ bản chất và nguyên tắc của pháp luật Nhà nước Việt Nam, phù hợp với sự phát triển của khoa học-công nghệ, sự phát triển xã hội. Bộ luật Hình sự 2015 về cơ bản giữ lại những điều quan trọng trong Bộ luật Hình sự 2009 về ''các tội xâm phạm an ninh Quốc gia” và "các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính''. Đó là các điều: Điều 79 về Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sửa đổi thành Điều 109 Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và bổ sung thêm chế tài đối với người chuẩn bị phạm tội và người đã tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; Điều 88 về Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chuyển thành Điều 117 với những quy định cụ thể hơn: Tội làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Điều 258 về Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được sửa đổi thành Điều 343 (nội dung vẫn giữ nguyên). Bộ Luật An ninh mạng (và nghị định của Chính phủ về luật này) ra đời đáp ứng an ninh quốc gia, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội (còn được gọi là xã hội ảo) nhằm bảo vệ an ninh mạng, như một nhu cầu thiết yếu của đời sống, của xã hội hiện đại. Khác với các thời kỳ lịch sử trước, các thế lực thù địch thường sử dụng lực lượng vũ trang để xâm lược đất nước ta. Ngày nay các thế lực thù địch, bao gồm cả những phần tử cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị đã và đang lợi dụng internet, mạng xã hội để tập hợp lực lượng, kích động biểu tình, gây rối, kêu gọi lật đổ chính quyền nhân dân, chuyển hóa chế độ Việt Nam sang con đường tư bản, lệ thuộc vào nước ngoài. Bộ Luật An ninh mạng nhằm đáp ứng yêu cầu an ninh quốc gia, đồng thời bảo đảm môi trường mạng lành mạnh cho hoạt động xã hội. Một số quy định hạn chế quyền của cá nhân, tổ chức liên quan là điều tất nhiên. Luật An ninh mạng chỉ đưa ra những hạn chế đối với các hành vi sử dụng không gian mạng chống Nhà nước Việt Nam, xâm phạm quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đó là những hoạt động: (1) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; (2) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…; (3) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế-xã hội… xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; (4) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc…; (5) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội... (6) Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi” (Điều 8). Xét về quyền và lợi ích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, Luật An ninh mạng hoàn toàn không hạn chế về quyền và lợi ích của nhóm đối tượng trên, ngược lại, Luật An ninh mạng còn bảo vệ người dân và doanh nghiệp bằng việc bảo đảm một môi trường thông tin chân thực, lành mạnh, không bị “ô nhiễm” thông tin như đối với không khí, nước uống và thực phẩm sạch cho tinh thần. Luật An ninh mạng, nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin mạng… có các quy định cụ thể yêu cầu những tài khoản cá nhân, trang mạng lưu trữ tư liệu, tra cứu thông tin… bao gồm cả việc đặt máy chủ tại Việt Nam như nhiều quốc gia trên thế giới (mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước Việt Nam) nhằm loại bỏ thông tin xấu độc, độc hại ngay tại gốc là điều hợp lý. Dựa trên thực tiễn, Luật Phòng, chống tham nhũng đã có nhiều quy định cụ thể, chặt chẽ nhằm ngăn chặn tệ nạn này. Chẳng hạn: Điều 20 (Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn…), quy định: Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu… không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán-tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho… Điều 22 (Quy định về tặng và nhận quà): Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng…; Cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng. Nhìn lại những bộ luật mới và bộ luật sửa đổi mà Quốc hội vừa thông qua cho thấy, đây là một bước phát triển mới về tư duy chính trị-pháp lý của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bước tiến đó không chỉ dựa trên sự kế thừa và phát triển tư duy chính trị, pháp lý của các giai đoạn lịch sử mà còn bắt nhịp với sự phát triển chung của các quốc gia, dân tộc trong thời đại về nhiều mặt, trong đó có khoa học, công nghệ về hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trên không gian mạng, các thế lực thù địch vẫn đang tán phát những luận điệu lèo lái, xuyên tạc nhiều bộ luật mà Quốc hội Việt Nam mới thông qua. Mục tiêu của chúng là xuyên tạc bản chất của chế độ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Có thể nói, chiến lược của chúng hiện nay đang tập trung vào việc khuyến khích các phần tử cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị lợi dụng internet, mạng xã hội phá hoại chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam. Đây là một trong những vấn đề mới trên lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia nói chung, an ninh mạng và an ninh tư tưởng chính trị nói riêng, cần được nhận thức đầy đủ.
“Mắc bệnh thành tích” là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đảng viên và tổ chức đảng mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. “Mắc bệnh thành tích” trong lĩnh vực nào cũng nguy hiểm nhưng “bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng là nguy hiểm hơn cả, vì xây dựng Đảng được coi là nhiệm vụ then chốt. . “Bệnh thành tích” là mặt tiêu cực của thành tích, đó là thành tích giả, thành tích ảo, thành tích ngụy tạo, thành tích do tô hồng, thổi phồng mà có, hoặc có thể là thành tích thật nhưng cá nhân, tập thể đạt được không phải do sự nỗ lực, cố gắng trong thi đua mà đạt thành tích bằng mọi giá, “lạng lách, đánh võng” giữa các quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước, thông qua sự bắt tay giữa các “nhóm lợi ích”. Hiện nay, “bệnh thành tích” được nhắc nhiều trong các lĩnh vực như phát triển kinh tế, giáo dục, thể thao, công tác Đoàn và phong trào thanh niên… nhưng trên thực tế, Đảng ta là Đảng cầm quyền, nên “bệnh thành tích” trong mọi lĩnh vực cuối cùng đều dồn tụ về công tác xây dựng Đảng. Theo TS. Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Chống “bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất sớm trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947. Thời kỳ này, Người gọi “bệnh thành tích” là “bệnh hữu danh vô thực” với các biểu hiện như: “làm được ít thì suýt ra nhiều để làm một bản báo cáo cho oai”, “khuyết điểm thì giấu đi không nói đến”, “làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà”, “việc gì cũng không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ nhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”. Có thể khẳng định, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và khóa XII) về công tác xây dựng Đảng chính là những lời tuyên chiến rõ ràng, quyết liệt nhất của Đảng ta đối với “bệnh thành tích” trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. “Bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng hiện nay biểu hiện ngay trong công tác phổ biến, tuyên truyền, quán triệt các nghị quyết của Đảng. Trì hoãn, làm lướt, làm ngơ việc phổ biến nghị quyết của Đảng đến cán bộ, đảng viên khi nghị quyết đó “bắt đúng bệnh” của địa phương, đơn vị mình. Theo báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương (khóa XI), đã có những địa phương cố tình trì hoãn phổ biến Hướng dẫn của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương về chất vấn trong cấp ủy và không chú trọng tổ chức thực hiện ở các cấp vì sợ thực hiện sẽ phát hiện ra những hạn chế, khuyết điểm trong đảng bộ và người đứng đầu địa phương, đơn vị mình. Bên cạnh đó, việc phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nghị quyết của Đảng hiện nay còn có hiện tượng có những giải thích, bình luận làm sai lệch quan điểm, đường lối của Đảng. Những vấn đề có lợi cho “lợi ích nhóm” của người đứng đầu thì phổ biến sâu và lái theo ý đồ của người phổ biến để trục lợi. “Bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng còn biểu hiện qua việc né tránh những vấn đề quan trọng, bức xúc của xã hội. Những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương hay của đơn vị lẽ ra cần được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi thường được ém nhẹm bởi lý do tế nhị, nhạy cảm hoặc được đóng dấu mật để che mắt dư luận. Cùng với đó là hiện tượng thổi phồng, đánh bóng những tập thể, cá nhân nhằm tô vẽ cho những “nhóm lợi ích”. Hiện tượng một số cơ quan báo chí “đánh hội đồng” một tập thể, cá nhân nào đó theo “đơn đặt hàng” hay tập trung tin, bài quá nhiều về một cá nhân, một tập thể trước kỳ mỗi kỳ bầu cử chính là biểu hiện rõ nét của “bệnh thành tích”. Đặc biệt, đã có dư luận về việc một số địa phương, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp lớn theo xu hướng “liên kết nhóm” với các cơ quan truyền thông đại chúng dưới “vỏ bọc” hợp tác, hỗ trợ truyền thông, thông qua đó hạn chế việc đề cập các khuyết điểm, thường chỉ chú trọng thành tích mà không thông tin, tuyên truyền đúng mức tính chất, mức độ các vụ việc tiêu cực xảy ra tại địa phương, cơ quan, doanh nghiệp đó “Bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng đang “bám rễ” vào cả mảng công tác tinh hoa, đó là công tác lý luận. Không ít cấp ủy chi tiêu tốn kém cho những công trình, đề tài “đao to, búa lớn” nhằm lấy thành tích cho người đứng đầu mà không tìm ra cái mới, cái thiết thực cho công tác lãnh đạo. Trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật, “bệnh thành tích” rất rõ qua những ồn ào trong việc tặng thưởng các danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú hay những cơn “mưa” giải thưởng văn học-nghệ thuật, trong khi nhiều tác phẩm, nghệ sĩ đạt giải cao lại không tìm được chỗ đứng trong lòng công chúng. “Bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng về tổ chức đang có những biểu hiện nghiêm trọng. Cụ thể như việc “bổ nhiệm trong chuyến tàu vét” khi đến lúc “hoàng hôn nhiệm kỳ” từng diễn ra ở Thanh tra Chính phủ trước đây hay Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam là một ví dụ. Chuyện “tân quan, tân chính sách”, mỗi cán bộ khi trở thành người đứng đầu cố “vẽ” thêm những tổ chức mới nhằm xin thêm biên chế hoặc tình trạng “giảm đầu mối” hình thức hiện nay là nguyên nhân khiến cho công tác tinh giản biên chế, tổ chức theo yêu cầu của Bộ Chính trị chưa thực hiện được. “Bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng về tổ chức còn thể hiện qua việc kết nạp đảng viên chạy theo số lượng mà chưa chú ý vấn đề chất lượng. Nhiều cấp ủy đảng hay “kêu khó” trong công tác phát triển Đảng để biện minh cho những việc làm trái nguyên tắc của mình mà không thấy rằng kết nạp nhầm đảng viên còn nguy hại hơn nhiều. “Bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng hiện nay gây bức xúc dư luận nhiều nhất là việc lợi dụng các quy định của Đảng về tỷ lệ lãnh đạo để “bổ nhiệm thần tốc” những người thân quen của người đứng đầu. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần yêu cầu ngành tổ chức - cán bộ trả lời câu hỏi về các hiện tượng “chạy ai, ai chạy”, “thứ nhất hậu duệ, thứ nhì phả hệ, thứ ba quan hệ, thứ tư tiền tệ, thứ năm trí tuệ”…Tình trạng “con voi chui lọt lỗ kim” trong đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ đang là vấn nạn nhức nhối hiện nay. “Bệnh thành tích” còn có cả trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Biểu hiện trong lĩnh vực này tuy ít, nhưng vô cùng nguy hiểm. Như việc một số cấp ủy chạy theo thành tích xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra dàn trải, tràn lan để báo cáo nhưng không thực hiện hoặc kiểm tra qua loa, đại khái, trở thành “tấm khiên” che đỡ cho các tập thể, cá nhân vi phạm hoặc tình trạng chọn những điển hình tiên tiến để kiểm tra nhằm tạo vẻ đoàn kết, bình yên giả tạo hoặc đánh bóng tên tuổi cho cá nhân, tổ chức cấp trên. Hậu quả của “bệnh thành tích” trong công tác xây dựng Đảng là vô cùng lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ ta. Từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ ràng rằng, đây là một hiện tượng xã hội nguy hại, cần có cách thức phòng, chống phù hợp với những bước đi, việc làm kiên trì và kiên quyết trong từng giai đoạn. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức đúng, đầy đủ về những vấn đề này, thấy rõ thực trạng, hiểu rõ nguyên nhân, nắm chắc cả khó khăn và thuận lợi khi tiến hành phòng, chống, để từ đó thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh này khỏi xã hội. Các tổ chức đảng cần đẩy mạnh công tác tư tưởng, với những nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phù hợp (trong sinh hoạt chi bộ, thông qua tuyên truyền miệng, tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tận dụng mặt tích cực của mạng xã hội…) để qua đó cung cấp cho đảng viên và quần chúng cái nhìn sâu sắc về nguồn gốc, bản chất, sự phát sinh, phát triển, biểu hiện và những biến tướng của “bệnh thành tích”, các biện pháp phòng, chống trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Chống “bệnh thành tích” phải được tổ chức ngay từ những tổ chức đảng nhỏ nhất như tổ đảng, chi ủy, chi bộ cho đến Trung ương. Trước hết, với các tổ chức cơ sở đảng, chống “bệnh thành tích” phải xuất phát từ việc xây dựng các nghị quyết, quy chế, quy định sát đúng, kiên quyết không để các nghị quyết, quy chế, quy định của tập thể trở thành nơi hợp thức hóa những ý chí cá nhân của người đứng đầu. Phải gắn liền giữa chống “bệnh thành tích” với “tư duy nhiệm kỳ”, nếu không nhận rõ vấn đề này thì các cấp ủy dễ bị mất sức chiến đấu, vô hiệu hóa hoặc trở thành bình phong cho người đứng đầu trong việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết. Trong công tác thi đua hiện nay, các tập thể, cá nhân cần bám sát mục tiêu, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong từng thời gian, nắm chắc Luật Thi đua – Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn để lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức phong trào thi đua một cách thiết thực, hiệu quả chính là biện pháp cơ bản nhất để chống “bệnh thành tích”. Phải quan tâm khắc phục tình trạng những nơi không đủ điều kiện, khả năng nhưng vẫn cố tham gia phong trào để đạt thành tích nhằm đánh bóng những “nhóm lợi ích” hay người đứng đầu. Đặc biệt, với những lĩnh vực mà “bệnh thành tích” đang có “biểu hiện nặng” như kết quả phát triển kinh tế-xã hội, giáo dục, thể thao, công tác Đoàn và phong trào thanh niên… thì cần có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục của cấp ủy các cấp. Phát huy quyền làm chủ tập thể của đảng viên và quần chúng trong mỗi tổ chức đảng hiện nay là biện pháp rất quan trọng để chống “bệnh thành tích”. Quần chúng rất tinh tường trong đánh giá đâu là thành tích thật, đâu là “bệnh thành tích”. Phát huy quyền làm chủ tập thể phải gắn liền với nâng cao trình độ hiểu biết của quần chúng về phong trào thi đua, như thế sẽ tránh được tình trạng lôi kéo, tập hợp quần chúng của những “nhóm lợi ích” trong mỗi tập thể. Cán bộ chủ chốt, đặc biệt là người đứng đầu có vai trò quyết định trong chống “bệnh thành tích”. Thực chất, “bệnh thành tích” tuy là của tập thể nhưng thường gắn liền với người đứng đầu. Việc chọn người đứng đầu có ý thức phục vụ nhân dân, làm việc với tinh thần tôn trọng khách quan, đúng nguyên tắc, kỷ cương, kỷ luật, có lý, có tình; đặt lợi ích tập thể và lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết… thì sẽ chống “bệnh thành tích” có hiệu quả. Giải pháp tổng thể để phòng, chống “bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng chính là thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu ra, trong đó trọng tâm là nhiệm vụ thứ nhất “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Với mỗi đảng viên và tổ chức đảng, việc thực hiện chương trình, kế hoạch của cấp mình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị chính là việc làm cụ thể, thiết thực nhất để góp phần vào công cuộc chống “bệnh thành tích” trong xây dựng Đảng hiện nay

Thủ đoạn “bẻ lái” một số vụ án hình sự trước thềm bầu cử

 Trong thời gian qua, các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đã luôn tìm cách “bẻ lái”, chính trị hóa một số vụ án hình sự nhằm tạo cớ, tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài vào Việt Nam, phục vụ hoạt động chống phá Nhà nước.

Các đối tượng suy diễn, cắt ghép thông tin nhằm làm sai lệch bản chất vụ án, vu khống các cơ quan chức năng, quy kết để gây ra sự nghi ngờ, hoang mang trong dư luận quần chúng, nhất là thời điểm chuẩn bị diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.

Điển hình, vào ngày 9/3, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Quốc Khánh, quê quán tại Lưu Phương, Kim Sơn, Ninh Bình; ngày 29/3, Công an TP Hà Nội thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Lê Trọng Hùng, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cả 2 đối tượng đều bị bắt theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015, về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ngay sau khi các đối tượng bị bắt, khởi tố, lập tức trên các trang truyền thông như “Việt Tân”, “Nhật ký yêu nước”, “Dân làm báo”, RFA, VOA… cùng facebook, blog của một số phần tử chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc, vu khống cơ quan chức năng trong hoạt động khởi tố hình sự đối với các vụ án nói trên. Các đối tượng cho rằng, việc cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam các bị can trên là “chỉ dấu cho thấy đang có đợt trấn áp trước bầu cử” nhằm bóp nghẹt, bịt miệng các “tiếng nói trái chiều”… Từ đó, họ cổ suý, kêu gọi những người “hoạt động vì dân chủ” lên tiếng đả kích, chống phá trên mạng internet.

Các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị muốn nhân cơ hội này để “tung diều trước gió”, vu cáo các cơ quan chức năng bắt Trần Quốc Khánh và Lê Trọng Hùng là vì lý do các đối tượng này tự ứng cử.

Với các thông tin sai lệch được đưa lên blog, trang mạng xã hội, các đối tượng xuyên tạc vụ án theo chiều hướng tiêu cực, hướng lái dư luận với mục đích, ý đồ xấu. Trên thực tế, việc điều tra vụ án đối với các bị can trên được tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp lý. Việc khởi tố, bắt tạm giam bị can là khi cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự, cần khởi tố để điều tra, làm rõ, xét xử theo quy định.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên cơ sở luật pháp không phụ thuộc vào thời điểm trước, trong hay sau bầu cử. Do đó, không thể vu cáo cho rằng vì chuẩn bị bước vào thềm bầu cử nên chính quyền Việt Nam mới tiến hành bắt bớ để ngăn chặn số người tự ứng cử. Hoàn toàn không có việc do các đối tượng này tự ứng cử nên mới bị bắt, đó là lập luận sai trái với động cơ xấu.

Ngay sau khi các đối tượng này bị bắt, tổ chức khủng bố Việt Tân đăng thông tin trên website, fanpage với chủ đề: “Tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị bắt giam”. Trong bài viết, tổ chức này đưa ra các luận điệu rằng “chỉ vì phổ biến Hiến pháp và tự ứng cử đại biểu Quốc hội mà ông Lê Trọng Hùng (facebooker Hùng Gàn Lê), SN 1979, đã bị nhà nước Việt cộng bắt giam với cáo buộc “Tàng trữ, phát tán tài liệu chống nhà nước”.

Thông tin này được tổ chức khủng bố Việt Tân tung ra nhằm “đánh lận con đen”, lừa bịp, dẫn dắt dư luận theo hướng Lê Trọng Hùng và Trần Quốc Khánh bị bắt chỉ vì ứng cử đại biểu Quốc hội chứ không phải vì hành vi phạm pháp, chống phá Nhà nước. Tuy nhiên, khi đăng tải thông tin lại bỏ đi bản chất vụ án là các đối tượng đã có quá trình dài vi phạm pháp luật hình sự, bất chấp các hoạt động giáo dục, ngăn ngừa của cơ quan chức năng.

Trong bài viết “Bắt những người tự ứng cử đại biểu Quốc hội: sự vi phạm Hiến pháp” vào ngày 29/3, trang RFA đăng tải thông tin vu cáo rằng “trước lúc bị bắt, vào ngày 18/3, trên Facebook cá nhân của mình, ông Lê Trọng Hùng đã đăng tải các hình ảnh và tài liệu cho thấy ông đã nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại Ủy ban bầu cử thành phố Hà Nội”.

Dẫn lời của một đối tượng chống đối chính trị trong nước, RFA quy kết: “Việc bắt ông Lê Trọng Hùng với một vị bác sĩ đang ứng cử đại biểu Quốc hội, thì tôi thấy họ chà đạp lên chính luật pháp mà họ đặt ra. Bắt vào thời điểm khác còn có thể bào chữa cho việc bắt bớ, đàn áp tự do ngôn luận. Bắt ngay lúc người dân được tự do ra ứng cử thì rõ ràng họ muốn nói việc ứng cử không phải việc của dân”.

Thực tế, việc bắt và khởi tố các đối tượng theo quy định của pháp luật được các cơ quan tố tụng làm rất chặt chẽ, thận trọng, đảm bảo đúng người, đúng tội, song các phần tử chống đối, cơ hội chính trị lại cố tình định hướng, xuyên tạc để làm sai lệch bản chất của vụ án nhằm hướng dư luận theo hướng tiêu cực. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các hành vi là khách quan, bất kỳ ai, vị trí nào, nếu sai phạm đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, theo các điều khoản tương ứng.

 Do đó, không có cớ gì khi các đối tượng này vi phạm pháp luật hình sự, hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm lại không bị khởi tố. Thời điểm diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 là lúc mà các đối tượng chống đối ra sức tuyên truyền chống phá, bản thân các đối tượng cũng nhân cơ hội này để tăng cường “múa bút”, tuyên truyền xuyên tạc chống Đảng, Nhà nước, nhân dân nên việc bị cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định pháp luật là lẽ hiển nhiên. Khởi tố vụ án hình sự đối với các bị can có hành vi vi phạm pháp luật hình sự là việc làm cần thiết để đảm bảo giá trị pháp lý căn bản, đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại.

Nguyễn Huân

Cand.com.vn

 

Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại.

 Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

Một lối suy diễn quy chụp, vô lương

Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

Cơ sở khoa học để từng bước hiện thực hóa khát vọng chính đáng, nhân văn

Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại.

Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN.

Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước.

Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9-4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.

THIỆN VĂN

Qdnd.vn