Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

 THỜI TRAI TRẺ TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA BÁC: Cánh chim bằng bay trên bão táp

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước với 30 năm bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố. Đó là quãng đời “thanh niên sôi nổi” vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai. Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài phần nào ghi chép lại câu chuyện về bản lĩnh, ý chí của một người trai chí lớn đã truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau…
Bến cảng Nhà Rồng và ngày 5-6-1911 là cột mốc đánh dấu hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng chúng tôi muốn cùng bạn đọc lùi lại một mốc khác, đó là mùa Thu năm 1910, khi tròn 20 tuổi, Người đã dừng chân ven bờ biển Phan Thiết. Hành trình cứu nước đã bắt đầu từ những bước chân buổi ấy…
Người thầy bất đắc dĩ và khát vọng đi xa
Phan Thiết, một ngày mùa Thu tháng 9 năm 1910. Chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành dừng chân mà lòng ngổn ngang trăm mối. Cuốn Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử (do Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006) ghi: Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành khi đang là học sinh với lòng yêu nước thương dân đã tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên và bị thực dân Pháp theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành), một vị quan thanh liêm đang làm việc ở Huế cũng bị chúng khiển trách.
Sang năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha, lúc đó là Phó bảng vào huyện Bình Khê thuộc tỉnh Bình Định nhậm chức tri huyện. Sau đó Người được cha gửi vào Quy Nhơn học tiếng Pháp. Những tưởng việc học hành sẽ thuận lợi nhưng chẳng bao lâu, tháng 1 năm 1910, cha Người bị triều đình bãi chức và triệu hồi về Huế. Việc học tập của Nguyễn Tất Thành nguy cơ dang dở.
Tháng 9 năm ấy, Nguyễn Tất Thành quyết định từ Quy Nhơn vào Sài Gòn. Sau này, trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.
Nhưng hành trình đâu dễ dàng. Đến Phan Thiết thì hết tiền, Người phải xin vào làm trợ giáo, dạy môn Thể dục tại Trường Dục Thanh, một ngôi trường tư thục nằm kề bên bờ sông Cà Ty, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).
Theo hồi ức của các học sinh: Thầy Thành dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc trò. Thầy thường phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước. Vừa phụ trách thể dục, thầy vừa chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh thăm phong cảnh trong vùng...
Ngoài giờ lên lớp với số tiền lương ít ỏi, theo tư liệu ghi chép chỉ vỏn vẹn 8 đồng, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý để đọc. Lần đầu tiên Người được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltair, Montesquieu, càng thôi thúc Người tìm đường ra nước ngoài.
Cuối năm Canh Tuất (1910), Nguyễn Tất Thành rời Trường Dục Thanh về Sài Gòn tiếp tục con đường đã định… Năm 1960, tập sách Bác Hồ do nhiều tác giả viết in tại Hà Nội đã được Bác Hồ xem. Khi đọc, Bác nói với đồng chí thư ký:
- Bác không có ý định dừng lại Phan Thiết song đến đó thì tiền lộ phí đã cạn mới quyết định ở lại tìm việc làm để có tiền đi tiếp cuộc hành trình.
Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành xin vào học một trường kỹ thuật do Pháp quản lý, dạy về hàng hải. Sau này, đồng chí Hà Huy Giáp kể lại, có lần Bác nói: "Bác đâu có ý định học thợ, nhưng trong lúc lang thang để tìm cách sang phương Tây, mà có nơi cho mình học, có cái ăn là mình vô thôi".
Ít lâu sau, Người đã tìm đến thăm cha lúc này cũng ở miền Nam. Người cha già dặn dò: "Tìm thăm cha là tốt, nhưng cái cần hơn vẫn là tìm đường cứu dân tộc". Lời dặn ấy như càng củng cố thêm khao khát tột cùng bấy lâu nay Nguyễn Tất Thành nung nấu.
Người con hiếu thảo gửi tiền cho cha khi nhận tháng lương đầu bếp ít ỏi
Ngày 2-6-1911, Nguyễn Tất Thành nộp đơn xin việc làm ở tàu Amiral Latouche Tréville, một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách, đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp. Một ngày sau, anh bắt đầu làm phụ bếp ở tàu với tên mới: Văn Ba.
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn sang Pháp. Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Hơn mười năm sau chính anh đã trả lời nhà báo, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam:
Khi là một cậu bé ở tuổi 13, tôi lần đầu tiên đã nghe đến những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái và tình anh em - đối với chúng tôi tất cả người da trắng đều là người Pháp. Tôi muốn tìm hiểu nền văn minh của Pháp để biết xem cái gì ẩn đằng sau những từ ấy. Nhưng ở các trường Pháp dành cho người bản xứ, người Pháp dạy như dạy con vẹt. Người ta ngăn cấm chúng tôi tiếp xúc với sách báo, không chỉ là những nhà văn mới mà ngay cả Rousseau và Montesquieu. Tôi đã làm gì? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Người An Nam bị xem là nông nô. Chúng tôi không chỉ bị cấm du lịch, mà còn bị cấm đi lại trong nước. Đường sắt được xây dựng cho các mục đích chiến lược riêng: trong con mắt người Pháp, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng những tuyến đường này. Tôi đã ra đi bằng đường biển. Lúc đó tôi 19 tuổi. Ở Pháp, các cuộc bầu cử đang diễn ra. Giới tư sản đang lừa phỉnh nhau’.
Rõ ràng là sự lựa chọn đi ra nước ngoài bằng đường biển của Bác Hồ là có chủ đích tìm đường cứu nước. Trả lời phỏng vấn này trùng khớp với những thông tin sau này về tiểu sử của Người.
Con tàu xuyên đại dương ngay trong tháng 6 đã ghé cảng Singapore rồi Colombo, Sa’id (Ai Cập). Ngày 6-7-1911, sau một tháng vượt biển, tàu đến nước Pháp. Ở đây, Nguyễn Tất Thành tận mắt chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Anh trăn trở: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.
Làm phụ bếp trên tàu nhưng khát vọng được học tập để mở mang vẫn cháy bỏng. Ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa. Đơn có đoạn viết: “…Tôi rất ham học. Tôi muốn sẽ trở nên có ích cho nước Pháp đối với các đồng bào của tôi, đồng thời có thể giúp họ hưởng được những ân huệ của giáo dục...”.
Thế nhưng nước Pháp không văn minh và bác ái như khẩu hiệu, lá đơn được quay về thuộc địa và người ta vì dị ứng với việc Người tham gia biểu tình năm 1908 đã bác bỏ nguyện vọng đó.
Giữa tháng 10 năm ấy, theo hành trình, con tàu Amiral Latouche Tréville quay trở về Sài Gòn rồi lại ra đi. Sổ lĩnh lương tàu mà bản chụp hiện còn lưu tại Viện Hồ Chí Minh ghi rõ, Người nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911. Dù làm việc vất vả nặng nhọc, có thể mất mạng bất cứ lúc nào, nhưng mức lương lại rất bèo bọt. Sổ ghi, sau khi đóng tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, góp vào quỹ bảo hiểm cho thủy thủ người Pháp thì chỉ còn nhận được vỏn vẹn 10 franc.
Có một chi tiết thật xúc động, theo chính Hồ sơ của Chánh mật thám ghi lại: Nhận lương ít ngày thì ngày 31-10-1911, từ Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.
Giọt nước mắt bác ái rớt giữa đại dương
Bước sang năm 1912, con tàu tiếp tục hành trình đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algeria, Tunisia, Democratic Republic of the Congo, Dahomey, Senegal, Réunion…
Đến đâu, Nguyễn Tất Thành cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Đến Dacar, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca nô xuống vì sóng to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.
Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo”.
Anh kể lại điều anh từng trông thấy trên bờ biển Phan Rang, Phan Thiết trước lúc ra đi: “Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.
Bóng tối dưới chân tượng nữ thần tự do
Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại: Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.
Thời gian ở Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.
Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do".
Học tập khát vọng cháy bỏng
Lao động vất vả nhưng khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời: “…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.
Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh.
Đến nước Anh, lên bờ, làm gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.
Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.
Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: "Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.
Gác lại những niềm riêng
Cuối năm 1913, việc đốt lò vất vả khiến Nguyễn Tất Thành ốm nặng, bị cảm, phải xin nghỉ việc. Bình phục, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Drayton Court rồi sang làm phụ bếp ở khách sạn Carlton, một khách sạn sang nổi tiếng ở London, dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Escophier.
Hằng ngày, anh để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp. Vua đầu bếp hỏi tại sao không vứt đi như những người khác, anh trả lời: "Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy". Ông ta tỏ ra cảm phục và nói: "Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền".
Từ đó, Nguyễn Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn. Mọi người cho biết lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế!
Nhà văn, nhà sử học, Giám đốc Trung tâm lưu trữ, Thư viện Marx, Vương quốc Anh John Callow cho rằng, chính trong thời gian ở London, Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của Marx và Engels, được in rất rẻ tại Nhà in Thế kỷ Hai mươi thuộc Đảng Dân chủ Xã hội Anh. Bốn năm ở London đã góp phần rất nhiều trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành đã từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp, tiếp tục hành trình tìm đường cứu nước của mình.
Hành trình 6 năm đầu tìm hình của nước ở tuổi 20, Người đã phải trải qua đủ mọi đắng cay, một mình dặm trường nơi đất khách quê người, phải gác lại những tình cảm riêng tư như nhà sử học người Mỹ ghi lại: “…một số sĩ quan Anh-Mỹ trong đội quân của đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả tập hồi ký “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Chúng tôi có hỏi - không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình? Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

 LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


NGÀY 31 THÁNG 5
Ngày 31 tháng 5 năm 1956
“Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ của cách mạng, của dân tộc”.
Câu nói trên trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 05 tháng 6 năm 1956, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 354 đại biểu là chiến sĩ thi đua và đại diện cho các đơn vị tiên tiến thuộc ngành thương nghiệp cả nước.
Lời của Bác, khẳng định lợi ích của dân tộc phải được đặt lên trước lợi ích của cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh, nước độc lập thì ai cũng được tự do; nếu mất nước thì ai cũng làm nô lệ. Cách mạng giải phóng dân tộc giành được thắng lợi, không chỉ dân tộc được giải phóng mà các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cũng được giải phóng. Quan điểm đó đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Quan điểm trên của Người, tiếp tục được Đảng ta vận dụng vào đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam; toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát và phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân, đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, thì việc nắm vững những quan điểm của Người về đặt lợi ích chung của dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân có giá trị thực tiễn sâu sắc; là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.
Quân đội ta là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác về việc phải biết đặt lợi ích của đất nước lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã lựa chọn; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến bình" của các thế lực thù địch; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

 SỰ LỰA CHỌN TẤT YẾU


Theo các tài liệu chính thức ở Việt Nam, ngày 5-6-1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành -đang làm phụ bếp với tên gọi là Văn Ba -đã theo tàu Amiral Latouche Tréville rời bến cảng Sài Gòn đi Marseille (Pháp) mở đầu cuộc hành trình  tìm con đường cứu nước của một người thanh niên yêu nước sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một sự kiện lịch sử và cũng là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận.                         

Song vẫn có quan điểm cho rằng, Nguyễn Tất Thành khi đó ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà là để mưu sinh và họ đã đưa ra nhiều bằng chứng cho quan điểm này mà bằng chứng chủ yếu là bức thư ngày 15.-9-1911 của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Họ lập luận rằng Nguyễn Tất Thành xin vào học ở Trường này để sau này ra làm quan như một số học sinh của Trường này sau khi tốt nghiệp .Họ dựa vào một số đoạn trong bức thư  như đoạn sau đây (trong bản được  dịch ra tiếng Việt): “Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân vào học nội trú Trường Thuộc địa…Tôi mong muốn trở nên hữu ích cho nước Pháp “.Một bức thư gửi Tổng thống Pháp với lời lẽ như trên thì việc suy luận rằng Nguyễn Tất Thành xin vào học Trường Thuộc địa để sau này làm việc cho chính quyền Pháp là điều dễ hiểu.Hơn nữa, Trường  Thuộc địa do Chính phủ Pháp  thành lập năm 1885 ,ngoài số học sinh người Pháp,mỗi năm còn có 20 học sinh được Toàn quyền Đông Dương chọn cử đi học lấy từ học sinh của 3 nước trong Đông Dương khiến cho suy luận nói trên có tính hợp lý nhất định.           

Thế nhưng  suy luận nói trên không phải là duy nhất . Từ bức thư nói trên người ta còn có suy luận khác với những bằng chứng được nhiều công trình nghiên cứu nêu ra để khẳng định Nguyễn Tất Thành ra đi từ Cảng Sài Gòn ngày 5-6 -1911 là để tìm đường cứu nước.

1- Ngay từ khi là một học sinh, Nguyễn Tất Thành đã tận mắt chứng kiến cuộc sống cực khổ của người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp cũng như những hành động tàn bạo của thực dân Pháp đối với những người yêu nước đấu tranh chống lại chúng. Tại quê hương mình,Nguyễn Tất Thành được biết nhiều sĩ phu yêu nước đã lập các đội quân khởi nghĩa chống Pháp như cụ Hoàng Xuân Hành lập căn cứ chồng Pháp ở Thanh Chương bị giặc bắt và tra tấn đến chết, cụ Hoàng Phan Thái chiêu tập nghĩa binh chống Pháp ở Nghi Lộc bị giặc bắt và chém đầu…. Còn ở Huế,tháng 4-1908 một  cuộc biểu tình ôn hoà của nông dân mà Nguyễn Tất Thành có tham gia  đòi giảm sưu, giảm thuế cũng bị đàn áp dã man- một số người bị chém đầu tại chỗ, nhiều người bị cầm tù  và bị đày biệt xứ . Sau vụ này, Vua Thành Thái bị phế truất và bị đày ở đảo Reunion (Pháp). Tình cảnh đó đã  thúc đẩy Nguyễn Tất Thành phải  tìm con đường mới để cứu dân ,cứu nước.                   

2-Nguyễn Tất Thành khi lớn lên đã được sự giáo dục của các thầy giáo có tinh thần yêu nước . Khi ở làng Kim Liên, Nguyễn Tất Thành học chữ Hán ở nhà thầy giáo Vương Thúc Quý -người đỗ cử nhân  nhưng không ra làm quan. Tại đây thầy Qúy đã dạy Nguyễn Tất Thành tư tưởng yêu nước , thương dân và chí làm trai phải giúp ích cho đời.. Khi học ở Trường Tiểu học Vinh, Nguyễn Tất Thành hằng ngày đều nhìn thấy các từ “Liberté  -Egalité –  fraternité ” gắn trên các bảng đen của Trường khiến anh muốn “tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Khi học ở Trường Quốc học Huế – một trường đặc biệt lúc bấy giờ với quy định tuyển chọn học sinh nghiêm ngặt- Nguyễn Tất Thành đã được nhiều thầy giáo của trường giáo dục tinh thần yêu nước,không quên trách nhiệm đối với đất nước. Cũng tại Trường này,Nguyễn Tất Thành được làm quen với loại sách Tân thư chứa đựng tư tưởng cải cách của Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cùng với một số sách báo tiến bộ của phương Tây do các thầy giáo yêu nước cung cấp. Nhờ đó, lòng yêu nước vốn có của Nguyễn Tất Thành đã được khơi dậy, nuôi dưỡng và thôi thúc chí hướng ra nước ngoài tìm đường cứu nước.       

3- Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp đô hộ với chính sách cai trị hết sức tàn bạo đã được  phản ánh trong cuốn sách của Nguyễn Ái Quốc “Lên án chủ nghĩa thực dân Pháp”. Cũng trong thời gian này các phong trào yêu nước tiếp tục lan rộng. Kế tiếp phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ 19 do Vua Hàm Nghi đứng đầu với gần 20 cuộc khởi nghĩa từ Tây Bắc đến Khánh Hoà, sang đầu thế kỷ 20, phong trào chống thực dân Pháp đã bước sang giai đoạn mới với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, được tập hợp trong nhiều tổ chức với những nhà lãnh đạo có uy tín như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xưởng, phong trào “Khai dân trí,chấn dân khí, hậu dân sinh” do Phan Chu Trinh đứng đầu, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy…. Mặc dù các phong trào,các cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại nhưng đã tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng của Nguyễn Tất Thành và đã đặt ra câu hỏi lớn trước Nguyễn Tất Thành: Con đường nào để cứu nước?”. Sau này trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” có ghi lại: “Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trình, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của mỗi người nào. Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi”.                                       

Có thể nói, với những điều tận mắt chứng kiến khi còn là một học sinh, với những kiến thức và tư tưởng được sớm tiếp nhận tại các trưởng đã học, lại sống  trong bối cảnh của đất nước đầu thế kỷ thứ 20 đã đưa Nguyễn Tất Thành đến một sự lựa chọn lịch sử là “muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Đó cũng là một sự lựa chọn tất yếu./.

 Hỏa tốc yêu cầu dừng nhập cảnh hành khách tại sân bay Nội Bài


Cục Hàng không Việt Nam vừa có công văn yêu cầu sân bay Nội Bài và các hãng hàng không được yêu cầu tạm dừng nhập cảnh hành khách từ 1/6 để phục vụ công tác phòng, chống dịch.

Đại diện Cục Hàng không Việt Nam cho biết, việc tạm dừng nhập cảnh hành khách trên các chuyến bay quốc tế vào Việt Nam tại sân bay Nội Bài sẽ kéo dài đến hết 7/6. Các chuyến bay ra nước ngoài từ sân bay này vẫn diễn ra bình thường.

Lâu nay các chuyên gia, lao động nước ngoài, người Việt Nam về nước được nhập cảnh tại các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Vân Đồn, sau đó cách ly tập trung tại cơ sở quân đội hoặc các khách sạn, doanh nghiệp...

Cục Hàng không Việt Nam cũng kéo dài thời gian dừng đón các chuyến bay từ nước ngoài vào Việt Nam qua sân bay Tân Sơn Nhất đến hết ngày 14/6.

Trước đó, chiều tối ngày 27/5, Cục Hàng không Việt Nam đã có văn bản hỏa tốc gửi các hãng hàng không, Cảng vụ hàng không miền Nam, UBND TP Hồ Chí Minh, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an về việc tạm dừng nhập cảnh toàn bộ hành khách tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.

Theo đó, nhằm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch COVID-19, của Bộ GTVT và đề nghị của UBND TP Hồ Chí Minh, Cục Hàng không Việt Nam thông báo tạm dừng nhập cảnh toàn bộ các đối tượng hành khách tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất từ ngày 27/5 đến hết ngày 4/6/2021 (theo giờ Việt Nam).

Theo Bộ Y tế đến trưa 31/5, cả nước ghi nhận thêm 68 ca dương tính SARS-CoV-2, gồm tại Bắc Giang 48, Hà Nội 12, Bắc Ninh 4...

Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 4.164, ghi nhận ở 34 tỉnh , thành phố.

 GẦN 30.000 CÁN BỘ Y TẾ, SINH VIÊN Y DƯỢC ĐÃ CÓ MẶT, SẴN SÀNG ĐẾN CHỐNG DỊCH COVID- 19 TẠI BẮC GIANG, BẮC NINH


Theo thông tin của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế tính đến chiều ngày 31/5/2021, tổng số cán bộ, giảng viên, sinh viên lên đường tham gia hỗ trợ phòng chống dịch COVID-19 tại Bắc Ninh và Bắc Giang là 2.743 người gồm lực lượng y bác sĩ, kỹ thuật viên, điều dưỡng… đến từ nhiều bệnh viện, viện và y tế các tỉnh, thành phố; sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng y dược và lực lượng y tế quân y, công an.
Trong đó, đợt 1 từ trước ngày 24/5 là 1.976 người; đợt 2 từ ngày 27-30/5 là 367 người; đợt 3 – ngày 31/5 là 400 người là cán bộ, chuyên gia, học viên, sinh viên của Trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược Thái Bình và Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội sẽ hỗ trợ tỉnh Bắc Ninh: 50 người (Trường Đại học Y Hà Nội); Hỗ trợ tỉnh Bắc Giang: 350 người (gồm Trường Đại học Y Dược Thái Bình là 70 người; Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội là 280 người).
Cùng đó, tổng số cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên ngành y dược đăng ký sẵn sàng tiếp tục lên đường tham gia hỗ trợ phòng chống dịch COVID-19 tại Bắc Giang, Bắc Ninh là 1.355 người.
Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo cũng cho biết thêm, sau lời kêu gọi của GS.TS Nguyễn Thanh Long- Bộ trưởng Bộ Y tế, đến nay, đã có 24.413 cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên của 38 trường Đại học, Cao đẳng ngành y dược đăng ký tình nguyện tham gia phòng chống dich COVID-19 tại điểm nóng Bắc Ninh, Bắc Giang.
Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long đây là đợt huy động tổng lực nhân lực y dược đông nhất, lớn nhất trong cả nước nhằm hỗ trợ ngành y tế Bắc Ninh, Bắc Giang chống dịch.
Cùng đó, các chuyên gia đầu ngành về điều trị trong cả nước của Tiểu ban điều trị- Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch COVID-19 và Hội đồng chuyên môn đã thường xuyên, liên tục hội chẩn trực tuyến các ca bệnh nặng, dồn tâm sức để bàn thảo, đưa ra phương án điều trị phù hợp nhất cho người bệnh.
Liên quan đến công tác điều động nhân lực hỗ trợ hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trong công tác tiêm chủng vắc xin COVID-19, sáng nay- 31/5, Bệnh viện Bạch Mai và Trường Cao đẳng y tế Bạch Mai tiếp tục tập huấn online về công tác tiêm chủng vắc xin cho 1000 sinh viên năm cuối tình nguyện đến Bắc Giang và Bắc Ninh./.
nguồn

 PHÁ "ĐỘC QUYỀN VACCINE" VÀ THÔNG ĐIỆP CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ 


Thông tin về đại dịch Covid-19 tràn ngập trên truyền thông, nhưng điều mà giới quan sát đặc biệt quan tâm là 2 thông điệp và cách điều hành của Chính phủ đã giúp người dân yên tâm hơn, dù các con số lây nhiễm chưa giảm.

Đầu tiên đó là thông điệp truyền thông, nếu như ban đầu Việt Nam nhấn mạnh đến giải pháp 5K, thì trước xu thế chung của thế giới, Chính phủ đã phát đi thông điệp “5K+vaccine” và giờ đây là “5K+vaccine+ công nghệ”. Ngay và luôn, các cơ quan phòng, chống dịch sẽ triển khai vòng đeo tay giám sát cách ly tại nhà, bắt đầu triển khai từ 01/6/2021 và trước mắt sẽ thực hiện cho công nhân của các khu công nghiệp, khu chế xuất. Vòng đeo tay giám sát cách ly không phải thiết bị công nghệ mới, thế giới đã áp dụng. Nó giúp cho chúng ta đang “tìm” và “bắt” bệnh nhân chủ động, tức là phát hiện người bệnh trong cộng đồng, những nơi đông đúc như sân bay, bến tàu, trường học, bệnh viện…

 Khác hẳn chiến thuật lâu nay hễ thấy F0 bùng phát địa phương nào, đơn vị nào thì chúng ta mới bị động quây tìm ở đó. Bản khai y tế điện tử lâu nay cũng chỉ có mỗi tác dụng là nếu có xuất hiện bệnh nhân thì sẽ vây “bắt” những người đi cùng chuyến bay, làm cùng phân xưởng hay gia đình, họ hàng. Việc áp dụng các ứng dụng công nghệ tiên tiến trong phòng, chống dịch Covid-19 sẽ giúp Ban chỉ đạo các địa phương “3 hơn”: Phát hiện người nhiễm bệnh sớm hơn, truy vết nhanh hơn và triệt để hơn (phát hiện cả người nhiễm bệnh không có triệu chứng và tự khỏi nên không bị phát hiện, nhưng vẫn có thể lây cho người khác). Khi Việt Nam đưa ứng dụng công nghệ vào phòng, chống Covid-19, thì chiến lược “lửa to khoanh to, lửa nhỏ khoanh nhỏ” sẽ được thực thi một cách chính xác nhất, hạn chế thiệt hại của xã hội. Khi đó ai bị nhiễm thì điều trị, ai tiếp xúc gần thì cách ly, những người còn lại xung quanh vẫn có thể đi lại, làm việc và sinh hoạt bình thường.

 Trở lại thông điệp thứ hai là vaccine tiêm phòng, Chính phủ đã có những thay đổi quan trọng về chiến lược này trong bối cảnh nguồn vaccine còn thiếu, cả thế giới đều lo vaccine. Khi mà cả thế giới đều đổ xô đi mua, mà năng lực sản xuất thì có hạn, nếu vẫn làm theo cách cũ, người dân chúng ta sẽ không có đủ vaccine để tiêm phòng. Hiện trên thế giới đã có hơn 1,8 tỷ liều vaccine ngừa virus corona đã được tiêm ở ít nhất 190 quốc gia trên toàn cầu. Tại Anh và Israel, những quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng cao cho thấy, vaccine sẽ làm giảm tỷ lệ nhập viện và tử vong cũng như lây truyền trong cộng đồng. Hầu hết các chính phủ đều bắt đầu tiêm cho những người trên 60 tuổi, nhân viên y tế và những người dễ bị tổn thương. Nếu như đã coi “chống dịch như chống giặc” thì cần phải nhanh và luôn học tập tinh thần của Hồ Chủ tịch ” Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc”. Thế độc quyền nhập vaccine  lâu nay dành riêng cho Bộ Y tế và một đơn vị duy nhất được nhập khẩu (Công ty Cổ phần Vaccine Việt Nam). Đó là sự trói buộc khả năng phòng chống dịch Covid-19 của đất nước. Vòng dây trói đó phải được cởi bỏ để cho mọi nguồn có khả năng được nhập vaccine.

🔻🔻🔻 Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về giải pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 tuần qua, Thủ tướng đã quyết định một điểm rất quan trọng: “Phải dùng mọi biện pháp như Chính phủ, ngoại giao, doanh nghiệp, người dân, các biện pháp khác… để tiếp cận mua vaccine và phải đẩy nhanh nghiên cứu sản xuất vaccine trong nước”. “Ai làm tốt hơn thì để cho làm” – một thông điệp của Thủ tướng đang được các doanh nhân và người dân ủng hộ, nhất là trong tình thế “nước sôi, lửa bỏng” như hiện nay. Thực tế cho thấy ngoại giao doanh nghiệp là một kênh rất hiệu quả, các doanh nhân có nhiều mối quan hệ và khả năng xoay xở tình thế không thua kém các nhà ngoại giao chuyên nghiệp.

✅✅✅ Nếu không xếp hàng mua được trực tiếp, họ sẽ biết cách để mua gián tiếp, vay, mượn… Lúc này, Bộ Y tế chỉ cần công bố danh mục các loại vaccine được dùng, tiêu chuẩn bảo quản và tham gia/hướng dẫn cho doanh nghiệp tiêm vaccine. Lịch sử 4.000 năm của dân tộc ta cho thấy, thời đại nào thì trong hoạn nạn “dân cứu dân” bao giờ cũng nhanh nhất, hiệu quả nhất. Các doanh nghiệp FDI bằng lợi thế của mình sẽ biết cách tự tìm kiếm vaccine để bảo vệ công nhân của mình, nhằm không đứt chuỗi kinh doanh toàn cầu. Các doanh nghiệp lớn FDI như Honda, Toyota, Samsung, Unilever, Canon… đang có những lợi thế nhất định. Trong khi đó, các triệu phú, tỷ phú tiền đô người Việt đều cho thấy, nếu được Chính phủ cho phép họ đều có mối quan hệ để có khả năng đưa vaccine về nước sớm nhất. Khả năng kết nối với Nga (quốc gia đã sản xuất được vaccine) của các doanh nhân thuộc top 500 Việt Nam được đánh giá rất tiềm năng. Lâu nay, chúng ta cứ lấy lý do các nhà sản xuất vaccine chỉ đàm phán với chính phủ nên các doanh nghiệp Việt Nam bị gạt ra khỏi đại sự. Song, điều kỳ lạ là một doanh nghiệp – Công ty Cổ phần Vaccine  Việt Nam – lại được quyền nhập khẩu và cung ứng song song với Nhà nước, điều này được cho là không thuyết phục các doanh nghiệp khác. Nói cách khác, tính mạng của người dân, vận mệnh của quốc gia không thể được đặt cược vào tay một hay vài doanh nghiệp bởi bất cứ lý do nào. Không chỉ doanh nhân mà giờ đây tỷ lệ tiêm vaccine cũng chính là thước đo về năng lực của lãnh đạo các địa phương, nếu không muốn bị giãn cách xã hội. Không ít địa phương đã kiến nghị Chính phủ và Bộ Y tế hỗ trợ tìm nguồn cung ứng vaccine, không ngồi chờ Thủ tướng và Bộ Y tế. Dường như một điều đã được khẳng định trong chiến lược “5K+vaccine+công nghệ”, nếu làm tốt tất cả các công việc nhưng nếu không tiêm chủng vẫn không thể quay trở lại cuộc sống bình thường.

 Đây là lúc người dân chứng kiến cuộc đua về khả năng miễn dịch cộng đồng của các thành phố lớn, các đầu tàu kinh tế của cả nước. Là cơ hội để lãnh đạo các địa phương thể hiện năng lực, bản lĩnh và sự cống hiến của mình trước các cử tri vừa bỏ phiếu cho mình một cách thiết thực nhất. Là thước đo để Đảng, Nhà nước đánh giá khả năng chèo chống, chỉ đạo, lãnh đạo của cán bộ, bổ sung vào nguồn cán bộ trước mắt cũng như lâu dài. Việc tung 20.000 bác sĩ trong cả nước về các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh để “thay ca” của Ban chỉ đạo phòng, chống Covid-19 quốc gia cho thấy Chính phủ đã nghĩ đến một “cuộc chiến” dài hơi. Cũng như khi ra trận, không thể thần tốc, đánh nhanh, thắng nhanh thì vị tư lệnh chiến trường cần phải tính đến dưỡng sức quân bằng chiến thuật “xa luân chiến”. Người dân cũng phải nhìn vào các quyết sách của Chính phủ để tính toán cho việc của cá nhân, gia đình mình. Người đứng đầu các tổ chức, đơn vị cũng cần nhìn vào các thông điệp, cách điều hành của Chính phủ để đưa ra các chương trình hành động cho phù hợp với tình hình mới./

 Tình cảm của Bác Hồ với các cháu thiếu nhi

Trong muôn vàn tình thương yêu của Bác Hồ dành cho “mọi kiếp người”, có một tình yêu bao la, đặc biệt dành cho thiếu niên, nhi đồng. Người từng nói: “Tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả trẻ em Việt Nam đều là con của tôi”. Hình ảnh Bác bón cơm cho các em nhỏ, hình ảnh Người gần gũi bên các cháu vui Tết Trung thu giản dị mà đầm ấm yêu thương. Tình cảm, sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của Người qua những bức thư, lời dạy, bài viết gửi đến thiếu niên, nhi đồng cả nước nhân dịp Tết Thiếu nhi, Ngày khai trường, Tết trung thu,… mãi mãi khắc sâu, trở thành tài sản vô giá đối với các thế hệ măng non Việt Nam.

Những vần thơ của Bác Hồ dành cho thiếu nhi chứa đựng tình thương yêu sâu sắc và thắm thiết. Người luôn nhắc đến trẻ em với một tình cảm trìu mến, nâng niu:

“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan
Chẳng may vận nước gian nan
Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng”...

 Hết lòng thương yêu và ân cần dạy bảo thiếu nhi, Bác Hồ rất tin tưởng xác định trách nhiệm trọng đại của thiếu nhi đối với tương lai đất nước. Trong thư gửi học sinh vào tháng 9 năm 1945, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Cụ thể hơn, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội thiếu niên Tiền Phong (tháng 5 năm 1961), Bác gửi đến thiếu nhi cả nước 5 lời dạy thiêng liêng:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

LÀM SẠCH "RÁC" TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 


      QĐND - “Chủ động rà soát, kiên quyết xử lý các kênh livestream và nhóm chat có nội dung phản cảm, phạm pháp”. Đó là một trong những nội dung được nhấn mạnh trong công văn của Bộ Thông tin và Truyền thông gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường công tác quản lý, xử lý thông tin vi phạm trên mạng xã hội.

          Việc cơ quan quản lý nhà nước ra văn bản chấn chỉnh tình trạng “rác” mạng xã hội là rất cần thiết, vì thời gian qua, nhiều đối tượng lợi dụng các tính năng của mạng xã hội như livestream, chia sẻ hình ảnh, video clip, lập group chat để đăng tải những nội dung phản cảm, vi phạm pháp luật. Trong số đó có nhiều nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tổ chức, sử dụng từ ngữ thiếu văn hóa, phản cảm, tung tin giả, quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép... tác động tiêu cực đến dư luận và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

      Những cái tên từng làm “nóng” dư luận như kênh Hưng blog, Hưng troll, kênh Thơ Nguyễn... và mới đây là kênh YouTube Hoàng Anh-Timmy chứa đựng nhiều nội dung phản cảm, đã bị cơ quan quản lý xử phạt nghiêm khắc. Cũng thời gian gần đây, không ít nghệ sĩ nổi tiếng lợi dụng mạng xã hội để quảng cáo thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh sai sự thật, cổ xúy lối sống lệch lạc... khiến dư luận xã hội rất phiền lòng. Đáng nói hơn, một số thanh niên, thiếu niên thiếu kiến thức văn hóa, lười lao động đua nhau làm “sáng tạo nội dung số” mà thực chất là quay những video clip nhảm nhí, dung tục để "câu like", "câu view" nhằm kiếm tiền một cách rẻ mạt.

       Câu chuyện “rác” văn hóa trôi nổi tràn lan trên mạng đã được công luận nhiều lần cảnh báo vì nó làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội và các cơ quan chức năng cũng đã ra tay chấn chỉnh, xử lý sai phạm. Tuy nhiên, thực trạng này khó có thể ngăn chặn dứt điểm, một mặt vì tính chất không gian mạng xuyên biên giới nên không dễ quản lý hiệu quả một sớm một chiều; mặt khác, vì bản thân nhiều cư dân mạng vô tình “hà hơi, tiếp sức” cho không ít nội dung thiếu lành mạnh trên mạng xã hội.

       Cách đây ít ngày, dư luận không khỏi ngạc nhiên khi một nữ doanh nhân livestream suốt gần 3 tiếng đồng hồ với nội dung chủ yếu là đấu tố, “bóc phốt” những mặt trái, góc khuất của một số người nổi tiếng trong giới showbiz, nhưng đã thu hút tới 450.000 người xem trực tiếp trên nền tảng Facebook và YouTube.

        Trong khi rất nhiều chuyện tốt, chuyện hay, chuyện đẹp trên mạng xã hội không mấy người quan tâm để ý thì có tới gần nửa triệu lượt người theo dõi một câu chuyện thị phi trong giới giải trí, phần nào cho thấy một bộ phận người đang “đốt thời gian” quá nhiều cho những chuyện không đâu. Nói điều này là có cơ sở, bởi theo thống kê, năm 2020 có 64% dân số nước ta sử dụng điện thoại thông minh được trang bị kết nối 3G, 4G, trong đó, người dùng đã dành 25% thời gian sử dụng smartphone để lướt Facebook và 12% thời gian để xem YouTube. Như vậy, tính trung bình có khoảng 24 triệu người dành 37% thời gian trong ngày (tức mỗi ngày khoảng hơn 8 tiếng đồng hồ) để lang thang và sống cùng mạng xã hội.

        Không ai ngăn cản, cấm đoán sở thích, thị hiếu của người dùng mạng xã hội. Nhưng cư dân mạng cũng không nên thờ ơ, bàng quan với vấn nạn “rác” văn hóa trên mạng đang hằng giờ, hằng ngày tiêm nhiễm độc hại vào tâm hồn, khối óc mình mà nếu mỗi người không đủ tri thức để loại bỏ. Nếu người dùng mạng xã hội đứng ngoài cuộc chiến chống “rác” văn hóa trên không gian mạng thì dù cơ quan chức năng có mạnh tay, quyết liệt đến mấy cũng rất khó đạt hiệu quả căn cơ, bền vững trong cuộc chiến này. Do đó, chung tay làm sạch “rác” văn hóa trên mạng xã hội là trách nhiệm không của riêng ai!

 

Nội dung, phương thức lãnh đạo đấu tranh tư tưởng của cấp ủy và lực lượng tuyên giáo các cấp hiện nay

Trên cơ sở khảo sát thực tiễn đấu tranh tư tưởng ở tổ chức đảng một số địa phương, cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang, bước đầu, bài viết giới thiệu khái quát một số nội dung, phương thức chủ yếu trong lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng theo Nghị quyết 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết 35 nhấn mạnh: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Thời gian qua, hệ thống cấp ủy, lực lượng tuyên giáo các cấp đã tích cực quán triệt, triển khai đưa Nghị quyết 35 vào cuộc sống; đặc biệt là tích cực lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng. Đánh giá bước đầu cho thấy, Nghị quyết 35 đáp ứng đúng và trúng yêu cầu của thực tiễn, đang từng bước được cấp ủy các cấp thực hiện, trở thành hiện thực sinh động trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, cũng có hiện tượng một số cấp ủy, ban tuyên giáo các cấp lúng túng trong xác định nội dung và phương thức lãnh đạo thực hiện Nghị quyết 35, nhất là lúng túng về nội dung và phương thức lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng cho sát với tình hình, điều kiện của cơ quan, đơn vị, địa phương mình. VỀ NỘI DUNG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG HIỆN NAY Thứ nhất, lãnh đạo đấu tranh phản bác các luận điệu phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin. Về lý luận, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức phủ định tính khoa học, cách mạng, nhân văn và các giá trị cốt lõi phù hợp với thời đại của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như: về hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... Về thực tiễn, lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, chúng rêu rao lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng, rêu rao chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của nhân loại, sẽ tồn tại vĩnh hằng. Thứ hai, lãnh đạo phản bác các luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh. Các luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh theo hai hướng. Một mặt, các thế lực thù địch phủ nhận nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng đây chỉ là “mớ lý thuyết hỗn độn nhằm đề cao, sùng bái cá nhân”, là “một di hại to lớn của lịch sử”, “Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”... Mặt khác, chúng lại ra sức tuyên truyền, đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa Chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thứ ba, lãnh đạo phản bác, vạch trần các luận điệu chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, các thế lực thù địch tập trung tấn công vào những vấn đề như: lựa chọn mục tiêu, mô hình phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hệ thống chính trị, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, lãnh thổ, đối ngoại... Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động cũng đang tập trung chống phá hệ thống pháp luật, đòi tách hệ thống pháp luật của Việt Nam “độc lập” khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thứ tư, lãnh đạo phản bác các luận điệu phủ nhận thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các phương tiện truyền thông của các thế lực thù địch chỉ tập trung đưa thông tin về những mặt tiêu cực, khoét sâu những hạn chế, sai lầm, khuyết điểm của hệ thống chính trị; phóng đại những sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội, xung quanh vấn đề đất đai, môi trường, phân hóa giàu nghèo, phóng đại một số biểu hiện suy thoái của cá nhân cán bộ, đảng viên, một số việc làm vô cảm, mất lòng dân của cơ quan Nhà nước, thổi phồng những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước... Chúng hạ thấp những thành tựu phát triển của đất nước, như: phủ nhận kết quả đạt được của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phủ nhận sự thay đổi tích cực trên tất cả các mặt của đất nước và đời sống xã hội của nhân dân, phủ nhận vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Chúng xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phủ nhận những cố gắng, nỗ lực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thứ năm, lãnh đạo đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử, phản bác các luận điệu “viết lại lịch sử”, hạ bệ thần tượng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Đặc biệt, chúng ra sức nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Các Mác, Lênin, các lãnh tụ của Đảng, Anh hùng cách mạng, những người đã trở thành những tấm gương sáng trong lòng dân tộc Việt Nam. Thời gian qua, công tác nghiên cứu lý luận của Đảng đã thu được rất nhiều thành tựu. Ban chỉ đạo Trung ương 94, Ban chỉ đạo Trung ương 213, Ban chỉ đạo 609 (nay hợp nhất thành Ban chỉ đạo 35). Hội đồng Lý luận Trung ương... đã chỉ đạo xuất bản nhiều ấn phẩm quan trọng cung cấp hệ thống luận cứ giúp cấp ủy, ban tuyên giáo các cấp sử dụng trong lãnh đạo, tổ chức đấu tranh tư tưởng. Những ấn phẩm như: “Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu biện “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng”; “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước”... do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự Thật xuất bản rất nên là sách “gối đầu giường” cho cấp ủy viên và lực lượng nòng cốt đấu tranh tư tưởng của các cấp ủy.

VỀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG

Một là, cấp ủy các cấp xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng. Bên cạnh phương thức lãnh đạo bằng nghị quyết, hầu hết cấp ủy các cấp hiện nay lãnh đạo bằng việc ra các kế hoạch, chỉ thị thực hiện Nghị quyết 35, trong đó có đề cập nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng. Theo chúng tôi, sẽ hiệu quả hơn nếu Ban chỉ đạo 35 của các cấp ủy xây dựng được kế hoạch đấu tranh tư tưởng. Hai là, cấp ủy lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua tổ chức đảng và đảng viên. Tổ chức đảng và đảng viên là những người tiên phong đưa Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị vào cuộc sống, vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng. Trước hết, tổ chức đảng và đảng viên là người quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, xây dựng thành nghị quyết, kế hoạch thực hiện của cấp mình. Tổ chức đảng và đảng viên cũng là những người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục quần chúng, xây dựng nhận thức đúng đắn cho mình và cho quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng. Tổ chức đảng và đảng viên cũng là những người trực tiếp, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, phê phán những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc; chấn chỉnh những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là cơ sở để những cán bộ, đảng viên được phân công làm nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách đấu tranh tư tưởng, củng cố trận địa tư tưởng, phát huy tài năng và trí tuệ của mình vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng hằng ngày, hoàn thành các mục tiêu đấu tranh tư tưởng mà Nghị quyết 35 đề ra. Mỗi tổ chức đảng cần xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh để tiến hành đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa phương thức lãnh đạo, vừa là một nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết 35. Ba là, cấp ủy lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua phát huy vai trò chính quyền nhân dân. Cấp ủy lãnh đạo chính quyền cùng cấp cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về đấu tranh tư tưởng, đặc biệt là mục tiêu, quan điểm, nhiệm và giải pháp theo Nghị quyết 35 vào hoạt động quản lý Nhà nước, vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, chính quyền các địa phương cần coi trọng tuyên truyền, giáo dục nhân dân nhận rõ về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế; bao gồm những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận những quan điểm kinh tế của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta; làm chệch hướng XHCN nền kinh tế nước ta, phá hoại nền kinh tế. Đồng thời, phải đẩy mạnh tuyên truyền về tác hại của sự chống phá đó đối với nền kinh tế nói chung, kích hoạt quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ ta nói riêng. Bốn là, cấp ủy lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội. Phương thức này huy động sức mạnh tổng hợp vào công tác đấu tranh tư tưởng. Cấp ủy đảng trong các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn... đều có lực lượng tuyên giáo làm nòng cốt, cần xây dựng chương trình, kế hoạch đấu tranh tư tưởng trong tổ chức mình, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và lợi ích chính trị của đoàn viên, hội viên. Năm là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết công tác đấu tranh tư tưởng. Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết là một khâu rất quan trọng trong quy trình lãnh đạo của tổ chức đảng. Kiểm tra, giám sát là khâu không thể thiếu nhằm bảo đảm nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp ủy đảng về đấu tranh tư tưởng được thực thi trên thực tế. Sơ kết, tổng kết để nhìn ra ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân và cách khắc phục. Sơ kết, tổng kết còn giúp cấp ủy phát hiện điển hình tiên tiến, những mô hình hay, cách làm tốt để tiến hành công tác thi đua, khen thưởng; kịp thời làm công tác cổ vũ, động viên; làm lan tỏa những tập thể, cá nhân có thành tích tốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng. Việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm đấu tranh tư tưởng phải được duy trì thành nền nếp, thường xuyên, có hiệu quả thiết thực, định kỳ hằng năm, nửa năm hoặc qua các đợt đấu tranh cao điểm, qua từng nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng cụ thể. Từ những mô hình hay, những điển hình tốt, những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế là cơ sở để cấp ủy xây dựng nghị quyết, chỉ thị về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thu được thắng lợi lớn hơn. Chỉ đạo công tác đấu tranh tư tưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Những luận điệu của các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị nói trên tuy không có gì mới, nhưng nó được tung ra, truyền bá vào lúc này là hết sức độc hại, nguy hiểm, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong nội bộ ta, tác động hòng làm đội ngũ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(1). Trong bối cảnh đó, nếu cấp ủy các cấp không coi trọng lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ra sức góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam thì không thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó, nắm chắc nội dung, phương thức lãnh đạo đấu tranh tư tưởng trở thành một nhiệm vụ then chốt của cấp ủy đảng các cấp hiện nay./.

Thực hiện khát vọng "Bắc Nam sum họp một nhà" theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa tròn 50 năm, song khát vọng và nỗ lực hoạt động của Người trong hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước vẫn trường tồn. 50 năm sau, sức mạnh toàn dân đoàn kết - kết tinh bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và sức mạnh nội sinh dân tộc Việt dưới sự lãnh đạo của Đảng ta để thực hiện thắng lợi hoài bão của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc trên hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng cháy bỏng của mọi người dân Việt Nam yêu nước; là mục tiêu phấn đấu, thể hiện rõ trong mọi thời điểm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Vì vậy mà, trong những thời điểm khác nhau, phát biểu ở các diễn đàn khác nhau, nhưng hoài bão của Người về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất đều thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt, đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[1](12/1920); “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” (9/1945); “Kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”(1946), “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (7/1966); “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào/Bắc Nam sum họp/Xuân nào vui hơn” (Thơ mừng xuân 1969); “Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” (Di chúc, 1969),v.v.. Trong hành trình hoạt động cách mạng và đấu tranh để đạt được hoài bão đó, Người đã không chỉ đến với chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về Việt Nam - vào trong phong trào công nhân và phong trào đấu tranh yêu nước; chuẩn bị về mọi mặt và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên; tập hợp, cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các hình thức hội phù hợp yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc… Ngay sau khi ra đời ngày 3/2/1930, trong Cương chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam là trải qua hai giai đoạn: trước hết là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tập hợp quần chúng, đã lãnh đạo và đưa quần chúng ra đấu tranh với tinh thần và ý chí “toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời, khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và dân tộc. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2] trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Tuy nhiên, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và trước nguy cơ mất nước một lần nữa; trân trọng giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do và không cam tâm làm nô lệ, với tinh thần và ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, hưởng ứng lời hịch cứu nước của Người: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”, toàn thể nhân dân Việt Nam đã quyết tâm “thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[3]. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn, thử thách ấy, không chỉ đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, Người và Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước kiên trì kháng chiến và kiến quốc; từng bước giành thắng lợi và và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng một "Điện Biên Phủ chấn động địa cầu". Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo tinh thần của Hiệp định, cuộc tổng tuyển cử tự do, thống nhất hai miền Nam - Bắc sẽ được thực hiện vào năm 1956. Tuy nhiên, thực hiện học thuyết Trurman; lo ngại sự sụp đổ dây chuyền của khu vực Đông Nam Á bởi cộng sản, Mỹ đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, can thiệp vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Vậy là, khát vọng về một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất - non sông liền một dải của Người và toàn thể nhân dân ta chưa thể trở thành hiện thực. Tiếp tục thực hiện khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước, để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, so sánh thế và lực giữa ta và địch, nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Trong khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã liên tục thay đổi các chiến lược chiến tranh ở miền Nam, âm mưu và tìm mọi cách chia rẽ hai miền Nam - Bắc; ngày càng mở rộng quy mô cuộc chiến tranh, tăng cường xây dựng chế độ ngụy quyền Sài Gòn, xây dựng quân đội ngụy và tăng cường đội quân của các nước chư hầu vào tham chiến; tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm hủy diệt cơ sở vật chất và tinh thần của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã một mặt nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ; đồng thời, tăng cường đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại. Mặt khác, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm xây dựng, bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện cho miền Nam đánh Mỹ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam, để miền Nam ruột thịt, với vị trí là tiền tuyến lớn, trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn nhận được sự chi viện không ngừng nghỉ sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc. Sau phong trào Đồng Khởi 1959-1960, cách mạng miền Nam ngày càng phát triển... Quân dân ta đã lần lượt đánh bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đơn phương” và “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong bối cảnh đó, tháng 3/1965, Tổng thống Mỹ Johnson đã quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Tình hình cách mạng miền Nam diễn biến hết sức phức tạp, chiến tranh lan rộng ra cả nước, vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách thức nghiêm trọng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ngày càng quyết liệt. Để khẳng định niềm tin và quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngày 17/7/1966, trong Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa (…), song nhân dân việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[4], nêu cao tinh thần và thúc giục quân dân cả nước quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trên toàn miền Nam, quân dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng sau gần hai năm trực tiếp đương đầu với quân Mỹ, quân đồng minh và quân đội Việt Nam cộng hòa. Tuy gặp nhiều tổn thất, song đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Chúng tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc… Trong những năm tháng đó, thực tiễn cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng ở miền Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự chi viện về mọi mặt của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam đã chứng minh rằng, càng mở rộng chiến tranh, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngày càng lún sâu vào “đường hầm không lối thoát”. Bởi rằng, dù đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và phá hoại, hủy diệt miền Bắc xã hội chủ nghĩa, song chúng cũng “không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng” với với sự đồng tâm, đồng chí, đồng lòng của một dân tộc quyết tâm thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Không áp lực nào ngăn cản được sự thật, ngăn cản được tinh thần và ý chí của nhân dân hai miền Nam- Bắc đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Tinh thần, quyết tâm của quân dân cả nước về nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được thể hiện rõ trong từng quyết sách của Trung ương Đảng, trong nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt trong bản Di chúc lịch sử Người để lại trước khi đi xa. Trong Di chúc của Hồ Chí Minh, khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và niềm tin tất thắng về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta được Người nhắc đến nhiều lần, cháy bỏng hơn bao giờ hết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”; “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải rút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”; “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”; “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”[5]… Bản Di chúc vốn không dài; nội dung Người viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng không nhiều, song chữ “nhất định” được lặp lại trong từng câu, thể hiện khát vọng cháy bỏng và niềm tin tưởng tuyệt đối của Người vào thắng lợi của nhân dân ta vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất.

GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC THEO DI HUẤN CỦA NGƯỜI

Khát vọng và niềm tin của Người đã trở thành lời thề thiêng liêng của cả dân tộc khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa. Trước anh linh của Người, quyết tâm thực hiện hoài bão của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thề: “Gương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người”[6]. Trong những năm sau đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta từng bước giành được thắng lợi quan trọng trên các chiến trường. Giữa tháng 6/1972, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Ních xơn thất bại nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ bị phá sản. Trong bối cảnh đó, Mỹ đưa B.52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng nhằm "phá hủy khả năng của Bắc Việt Nam ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam". Tuy nhiên, chiến thắng của trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân Hà Nội đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. “Mỹ đã cút”, nhưng để thực hiện trọn vẹn lời hứa “đánh cho ngụy nhào”, đồng bào và chiến sĩ cả nước đã không ngừng tiến lên, kiên trì thực hiện hoài bão của Người. Vẫn có Người bên cạnh soi đường, dẫn lối; có nguồn sức mạnh nội lực của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc cổ vũ, động viên, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm của nhân dân ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975 đã giành thắng lợi hoàn toàn, cả nước đã thống nhất, non sông liền một dải, làm thỏa lòng mong ước của Người. Tâm nguyện của Người trong Di chúc và khát vọng của toàn dân tộc về một nước Việt Nam thống nhất đã trở thành hiện thực. 50 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa và 50 năm thực hiện Di chúc của Người (1969-2019), toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đoàn kết một lòng, phát huy những bài học kinh nghiệm trong chiến tranh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục thực hiện hoài bão của Người trong Di chúc: “Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta không chỉ đề ra, đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán giữa đường lối chiến lược và chủ trương, chính sách cụ thể; giữa chỉ đạo chiến lược và hình thức, bước đi cụ thể trong mỗi kỳ Đại hội về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ mà còn tiếp tục bồi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do, thống nhất đất nước của mỗi người dân Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Tổ quốc để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,v.v.. của Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là không thể phủ nhận và ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hóa, tình hình quốc tế và trong nước ngày càng có những diễn biến phức tạp, với nhiều vận hội, thời cơ đi liền khó khăn, thách thức. Các thế lực phản động, thù địch không ngừng thực hiện âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều thủ đoạn mới ngày càng tinh vi và xảo quyệt, quyết liệt và thâm độc. Trong khi đó, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ,v.v.. Tinh hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới càng phải đòi hỏi mỗi người phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, thực hiện lời căn dặn của Người về độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và phát huy sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết để dựng xây và bảo vệ non sông, gấm vóc Việt Nam liền một dải. Càng gian nan, thử thách, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt được tạo ra bởi khối đại đoàn kết toàn dân tộc; được nuôi dưỡng bởi ngọn nguồn văn hóa Việt Nam, bởi lịch sử anh hùng, bất khuất qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước; được tiếp nối, phát huy cao độ và thăng hoa trong thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc sẽ lại càng được nhân lên, kết dính bởi nhân dân - bởi thế trận lòng dân vững chắc. Nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đó được trao truyền bởi bao thế hệ người Việt Nam yêu nước luôn tràn đầy khát vọng và niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; được bổ sung, phát triển không ngừng dưới sự lãnh đạo của Đảng; được chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, dẫn lối sẽ tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và ngày một phát triển phồn vinh “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, lời thề năm xưa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đem hết sức mình, tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào”[7] và nguyện "suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của HỒ CHỦ TỊCH. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của HỒ CHỦ TỊCH tới đích cuối cùng"[8] sẽ trở thành mệnh lệnh trái tim, khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trên tinh thần đó, mỗi cấp ủy Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phòng, chống và ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để luôn xứng đáng với vai trò “là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” như Người mong muốn. Mỗi cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải tự giác thực hiện Quy định 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW ngày của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định 08 về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương",v.v.. nhất là Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, góp phần vào thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng về “lấy dân làm gốc” và “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”; triển khai thực hiện Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị quy định “Về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”, Quy định 124-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”,v.v.. Trong đó, Mặt trận phải thực sự thể hiện rõ vai trò tập hợp, mở rộng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, tổ chức hoạt động; nâng cao hiệu quả việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở tiếp tục phát huy dân chủ, sức sáng tạo, ý thức tự lực, tự cường, tự hào, tự tôn dân tộc và đồng thuận xã hội. Tăng cường khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và nêu cao vai trò của các cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,v.v.. để mỗi người dân có thể phát huy khả năng sáng tạo của mình, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày một phồn vinh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc như Hồ Chí Minh mong muốn./.

Cuộc tình chứng khoán

Như ngồi trên tàu lượn siêu tốc, tôi từng hưng phấn, đau tim, choáng váng khi tham gia chứng khoán Việt Nam. Tôi đến với VN-Index sau khi được một bạn nước ngoài giới thiệu đầu năm 2018. Dù không làm trong lĩnh vực tài chính, kênh đầu tư này khiến tôi thích thú. Tôi học một khóa trực tuyến về chiến lược đầu tư rồi đăng ký mở tài khoản tại công ty chứng khoán.Tôi bắt đầu giao dịch đúng thời điểm VN-Index lên đỉnh lịch sử vào tháng 4/2018 rồi thình lình lao dốc không phanh. Trải qua cú sốc chỉ số từ 1.204 xuống 892, tài khoản của tôi, gồm số tiền tiết kiệm trong nhiều năm, bị cháy rụi. Tôi hoang mang nhưng quyết cắn răng chịu đựng, không bán. Phía sau mỗi cổ phiếu là một doanh nghiệp. Tôi đầu tư vào giá trị của nó, còn giá cổ phiếu lên hay xuống là chuyện bình thường, sớm muộn nó phải hồi phục. Thị trường lại sập ''trắng bên mua'' khi đại dịch Covid-19 bùng phát vào năm 2020. Tài khoản của tôi lại chìm vào thua lỗ, nhưng tôi chỉ đứng ngoài và giữ bình tĩnh bằng niềm tin. Nhiều người đã vội bán cắt lỗ, mất tiền tỷ. Ngược lại, một số người tận dụng cơ hội nhảy vào chứng khoán, mua giá thấp, sau đó lãi đậm. Thị trường hồi phục ngoạn mục như bạn thấy, và tài khoản của tôi cũng tăng đáng kể, bù đắp đầy đủ cho hai năm vốn âm. Giai đoạn 2020-2021 là chiến thắng rực rỡ của các nhà đầu tư Việt Nam khi VN-Index lọt vào top chỉ số tăng mạnh nhất châu Á. Thời điểm này cũng chứng kiến sự trỗi dậy của nhà đầu tư cá nhân F0 - một sức mạnh mới. ''Khối ngoại càng xả, F0 ta càng cân'', tôi nghe nhiều người nói, giọng đầy tự hào. Bởi bất chấp khối ngoại bán ròng liên tục, VN-Index vẫn băng băng tiến về phía trước. Giờ nó đã khỏe mạnh, đã trưởng thành, không còn phụ thuộc vào dòng tiền bên ngoài. Thú vị thay, cú sốc Covid-19 đã làm cho chứng khoán tỏa sáng và thu hút thêm dòng tiền, sự chú ý của công chúng. Đại dịch căng, giãn cách diện rộng, kiếm tiền khó hơn, ít kênh đầu tư nên tiền càng chảy vào chứng khoán. Nhiều người không đi làm, quay sang chứng khoán để "bù đắp thu nhập", ngày nào cũng dán mắt vào bảng điện. Số tài khoản mới phá kỷ lục khiến hệ thống giao dịch cũng lao đao vì quá tải. HoSE hôm qua đã phải ngừng giao dịch. Nhiều người đang nghĩ rằng, "đánh chứng", chơi Bitcoin, forex có vẻ dễ hơn đi làm thuê, ngồi văn phòng và làm đến kiệt sức. Cơn sốt chứng khoán lan truyền, nhóm tư vấn, diễn đàn mọc như nấm, truyền tai nhau cổ phiếu nào sắp có ''game'' hay ''phím hàng''. Nghe hàng xóm khoe lãi, nhiều người càng sốt ruột, càng muốn ăn ngay. Họ mua bán theo cảm tính hay tin đồn, hùa theo ''chuyên gia'' nọ kia trên các diễn đàn, không đa dạng hóa danh mục. Họ lướt sóng, "đánh chứng" như đánh bạc hay chơi xổ số. Non kinh nghiệm, thiếu kiến thức, không tìm hiểu về thị trường nhưng vẫn tự tin rót vốn. Nhưng nuôi ảo vọng như vậy chẳng khác gì phó mặc tiền cho may rủi. Không ăn may thì "đu đỉnh", vứt dép chạy khi thị trường sập, kêu oan bị ''kẹp hàng'' và ''củi lửa'', bị đội lái ''lùa gà'' và ''úp bô''. Bên cạnh một tư duy nguy hiểm, họ còn giúp tôi nhận ra: tiếng Việt vô cùng giàu hình ảnh. Khi nói về rủi ro của đầu tư chứng khoán, lại có người hay đưa ra thống kê rằng 90% nhà đầu tư đều thua lỗ. Tôi xin làm rõ, con số này chỉ đúng trong trường hợp các nhà mua - bán trong ngày và không bao gồm các quỹ, nhà đầu tư dài hạn. Cũng theo thống kê của một công ty chứng khoán, 40% nhà đầu tư từ bỏ chứng khoán trong tháng đầu và 80% từ bỏ trong hai năm đầu. Điều này chứng minh rằng nhiều F0 nhảy vào thị trường với ham muốn giàu nhanh. Người Việt vẫn tin rằng ''phi thương bất phú'' - muốn làm giàu phải kinh doanh. Nhưng để khởi nghiệp thành công, bạn phải đáp ứng rất nhiều yếu tố: có vốn, đam mê, lòng kiên trì, vô vàn kiến thức, kỹ năng nền tảng và chuyên môn, có đội ngũ và quan hệ xã hội. Và thật nhiều may mắn. Thế nhưng, thống kê cho thấy khả năng thất bại khi khởi nghiệp lên tới khoảng 70%-80%. Mọi việc đầu tư đều chứa đựng rủi ro, chứng khoán không phải ngoại lệ. Đó là lý do tôi cho rằng, chứng khoán là kênh đầu tư phù hợp với người kiên trì, sẵn sàng học hỏi và biết quan sát. Nó có lẽ là con đường đầy chông gai và nhiều bài học xương máu, nhưng với tôi, nó cũng là đam mê, một cách tuyệt vời để thử sức bản thân. Bên cạnh đó, chứng khoán giúp tôi tìm hiểu sâu hơn về kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam. Đó là nhóm kiến thức nền tảng ai cũng nên có. Khi nghe tôi kể về chứng khoán, nhiều bạn bè phản ứng theo định kiến phổ biến. Họ cảnh báo tôi không nên liều ''dính'' vào chứng khoán vì là ''trò chơi bẩn của tay to, đội lái'', nó dựa trên ''số liệu ảo'', khả năng tôi sẽ làm mồi cho "cá mập" và mất sạch tiền rất lớn. Tôi hy vọng rằng cách nghĩ này sẽ thay đổi. Chính phủ sẽ tìm cách cải thiện năng lực của thị trường chứng khoán, sự tín nhiệm của người dân vào chứng khoán và bảo vệ quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ, làm cho thị trường thêm minh bạch, lành mạnh. Chúng đều là những việc cần làm ngay. Tại Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, một nửa số hộ dân đầu tư vào chứng khoán. Tại Việt Nam, mới có hơn 2% dân số tham gia thị trường chứng khoán. Đó là lý do tôi cho rằng, kênh đầu tư chứng khoán sẽ là xu hướng chủ chốt trong tương lai. "Cuộc tình" của tôi với chứng khoán cho tới hôm nay vẫn ổn. Chúng ta nên gạt định kiến rằng chứng khoán chỉ dành cho người giàu, nhà đầu cơ hay kẻ trong cuộc. VN-Index có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp và cả nước.

Minh chứng sống động phản bác luận điệu sai trái

 


Theo đánh giá của các chuyên gia, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, tỷ lệ cử tri đi bầu như trên là một thành công lớn của cuộc bầu cử. Trong số những người không đi bầu, chủ yếu do các yếu tố khách quan như đau ốm hay các lý do đột xuất, vắng mặt tại thời điểm bầu cử. Con số trên một lần nữa minh chứng cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã diễn ra thành công tốt đẹp, người dân tự giác, tích cực thực hiện quyền, trách nhiệm công dân cao cả của mình. 

Đây là kỳ bầu cử ấn tượng không chỉ bởi quy mô lớn nhất với gần 69 triệu lá phiếu của cử tri trên cả nước để bầu ra 500 đại biểu Quốc hội khóa XV, gần 4.000 đại biểu HĐND cấp tỉnh, hơn 2 vạn đại biểu HĐND cấp huyện và hơn 24 vạn đại biểu HĐND cấp xã, mà còn bởi cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnhdiễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19.

Trong sự kiện chính trị đặc biệt này, cử tri trên cả nước, từ những cụ già, già làng, trưởng bản, những người có uy tín, những vị chức sắc, chức việc trong các tôn giáo cho đến các lực lượng đang trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 hay cả những người đang thuộc diện cách ly, những khu dân cư đang bị phong tỏa và những người bị tạm giữ, tạm giam đều hào hứng tham gia vào ngày hội chung của đất nước, được tự bản thân mình thực hiện quyền, trách nhiệm công dân.

An ninh, trật tự trong suốt quá trình chuẩn bị và diễn ra bầu cử được đảm bảo an toàn. Sự thành công đó được dư luận quốc tế đánh giá cao, nhiều tờ báo có uy tín của các nước đã đăng tải thông tin, hình ảnh về thành công cuộc bầu cử của Việt Nam.

Với kết quả bỏ phiếu như vậy rõ ràng hoàn toàn trái ngược với luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, khi trong suốt thời gian qua, họ rốt ráo thực hiện “chiến tranh tâm lý”, phát tán vô số các luận điệu xuyên tạc nhằm tạo dựng một viễn cảnh xấu trong ngày bầu cử. Âm mưu của các đối tượng là bằng nhiều cách để kêu gọi càng nhiều người dân không đi bầu cử càng tốt, lấy cớ lên án Việt Nam, kể cả việc kích động biểu tình, gây rối phá hoại bầu cử.

Trên nhiều trang mạng xã hội, các đối tượng còn rêu rao những thông tin tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Họ lan truyền những bài viết “xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Hay như thông tin về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, nhất là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng cũng trở thành chủ đề để các đối tượng xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề...

Trong ngày bầu cử, đi ngược lại với ngày hội của toàn dân tộc, một số người tự phong “đấu tranh dân chủ đã tự tước bỏ quyền và nghĩa vụ công dân của mình khi không tham gia bầu cử, thậm chí họ còn tuyên truyền, kích động, lên án những người tham gia bầu cử với những lời lẽ xúc phạm. Có trường hợp như linh mục X.C, là linh mục quản xứ tại một tỉnh miền Trung nhưng lại rêu rao không đi bầu cử và còn đăng tải trên facebook cá nhân lời lẽ mỉa mai những người đi bầu cử từ sớm.

Sau khi đăng tải, linh mục X.C bị dư luận phản ứng gay gắt, nhất là từ các chức sắc tôn giáo tại địa bàn nên linh mục X.C đã phải gỡ dòng trạng thái trên. Trong khi đó, trong ngày bầu cử, hòa chung với không khí phấn chấn của cử tri cả nước, các chức sắc, giáo dân trên địa bàn đã cùng thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân, tham gia bầu cử tích cực để lựa chọn những người xứng đáng vào cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và địa phương.

Bên cạnh đó, một số cơ quan truyền thông hải ngoại đưa các bài viết, hình ảnh lắp ghép, cắt xén để làm sai lệch tình hình bầu cử ở Việt Nam.Điển hình như trang mạng của tổ chức khủng bố Việt Tân sau khi thay ảnh đại diện với khẩu hiệu “không biết, không bầu” đã đăng tải bài viết “Phơi bày bản chất phi dân chủ trong cuộc bầu cử Quốc hội hiện nay”.

Trang mạng BBC Tiếng Việt nói rằng “Nghịch lý bầu cử ở Việt Nam: Cử tri đi bầu chỉ để cho xong”, xuyên tạc rằng người dân Việt Nam thờ ơ với bầu cử… Nội dung của những bài viết trên vẫn không có gì khác ngoài những luận điệu tuyên truyền sai lệch về quá trình diễn ra cuộc bầu cử, đả kích, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chính quyền địa phương.

Hành động của một số cá nhân tự tước đi quyền, trách nhiệm công dân không đi bầu cử hay hành động xuyên tạc, bóp méo về cuộc bầu cử nói trên là những hành động lạc lõng, đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc khi không hòa chung với ngày hội của toàn dân.

Những luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội như một thứ virut độc hại được các đối tượng phát tán nhằm đầu độc tư tưởng, nhận thức của nhân dân. Thế nhưng, sức đề kháng của mỗi người dân Việt Nam ngày càng tốt khi nhận thức, hiểu biết chính trị từng bước được nâng cao, trở thành “tấm khiên” vững chắc để ngăn chặn virut độc hại. Do đó, những luận điệu xuyên tạc như vậy chỉ đánh lừa một bộ phận rất nhỏ người nhẹ dạ cả tin hoặc với đối tượng hám lợi, vì động cơ xấu để cổ súy, hùa theo. Bằng chứng của sức đề kháng đó được thể hiện rõ nét trong ngày bầu cử, không chỉ dừng lại ở số liệu thống kê từ Hội đồng Bầu cử Quốc gia về kết quả bầu cử trên cả nước mà còn là không khí, sự thể hiện tình cảm, niềm tin của người dân.

Mạng xã hội chia sẻ những hình ảnh đẹp về ngày bầu cử, những câu chuyện xúc động.Từ hình ảnh về cụ bà Nguyễn Thị Năm, cử tri lớn tuổi nhất - 102 tuổi được con cháu đưa đi bỏ phiếu, cho đến hình ảnh về các thế hệ trẻ lần đầu đi bầu cử với niềm vui, sự hãnh diện khi cầm lá phiếu và thực hiện quyền công dân cao cả. Có những người dậy từ rất sớm để chuẩn bị trang phục đẹp nhất, ấn tượng nhất để tô hồng cho ngày hội toàn dân. Mỗi người dân đều ý thức được rằng, mỗi lá phiếu của cử tri đều mang sứ mệnh cao cả, góp phần dựng xây đất nước.

Thêm một lần nữa, thành công của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 thể hiện niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Bầu cử thể hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, thành công của cuộc bầu cử trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tiếp tục khẳng định được vị thế, vai trò của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và trên trường quốc tế.