Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận tất yếu, lâu dài và không khoan nhượng hiện nay

Con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta đi, không gì lay chuyển được. Công tác tư tưởng, lý luận tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử cầm nhịp thống nhất toàn dân tộc, “soi đường cho quốc dân đi” trên con đường ấy. ẢO TƯỞNG, BUÔNG LƠI HAY TỰ HUYỄN HOẶC MÌNH... NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI Khi một tư tưởng xuất hiện, tồn tại và phát triển, tự thân nó là một cuộc đấu tranh để tự khẳng định nó; và, tranh đấu với các tư tưởng khác, dù muốn hay không, dưới muôn ngàn hình thức, quy mô, tính chất và mức độ, là quy luật sinh tồn của tư tưởng, đó là lẽ tự nhiên của sự phát triển. Không có con đường nào khác. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã và đang như vậy. Phương diện tư tưởng, lý luận chính trị của chúng ta cũng như vậy, không nằm ngoài quy luật đó. Hiện nay, hơn bao giờ hết, sau hơn 32 năm đổi mới, trên đường tiến tới Đại hội XIII của Đảng, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận đang đối mặt với rất nhiều thử thách. Chúng ta hiểu rằng, có những ý kiến phản biện, đóng góp tâm huyết hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc hoạch định đường lối và tổ chức thực tiễn từ nhiều người, nhiều phía cả trong và ngoài nước, chúng ta trân trọng ghi nhận và tiếp thu. Nhưng, nếu đem ý kiến phản biện dù đầy thiện chí xây dựng đó tán phát khắp nơi, thậm chí loan tải trên mạng in-tơ-nét để cho người khác lợi dụng, công kích, chống phá,... thì lại đưa câu chuyện ấy sang một hướng khác, dù thấm đẫm sự mong đợi về nhiệt huyết hay thiện tâm nào đó. Mấy năm nay, với “hàng núi” sách báo chống Đảng, hàng trăm giọng điệu công kích, bôi nhọ, phủ nhận, với hàng nghìn thủ đoạn đủ loại, trên mọi phương diện, đang tràn ngập mạng in-tơ-nét: về nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, về Đảng và sự cầm quyền của Đảng, về thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về hệ thống chính trị và về đội ngũ cán bộ, đảng viên... Những luận điệu xuyên tạc công cuộc đổi mới, sự công kích Đảng, Nhà nước và đất nước ta từ nhiều phía, với nhiều thủ đoạn, ở nhiều mức độ và nhiều tính chất, cả bên trong lẫn bên ngoài, rất phức tạp. Theo đó, xuất hiện đủ loại thái độ và phương cách hành xử gây nên tình trạng trắng đen lẫn lộn, thật giả hỗn mang, rất khó nhận diện và rất nguy hiểm nhưng rất tinh vi. Có người, để ru ngủ và khiến không ít người lãng quên và mất cảnh giác, đã chỉ trích một cách ma mỵ rằng, chúng ta tưởng tượng ra cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận chính trị hiện nay và thổi phồng sự cấp bách cuộc đấu tranh này(!). Không! Chúng ta cũng không tự dựng lên những kẻ thù tư tưởng, lý luận chính trị, như ai đó nói, để huyễn hoặc sự quan trọng của chúng ta hay để khuếch trương lên sự phức tạp những công việc này. Chúng ta xây dựng sự thống nhất xã hội về tư tưởng chứ không phải “đồng phục tư tưởng”(!), kiến tạo nền lý luận trung thành và độc lập, sáng tạo của Việt Nam chứ không phải thứ “lý luận nhập khẩu”, “đầu Ngô mình Sở”(!), như những ai đó bôi nhọ và công kích. Chúng ta càng không mơ hồ, ảo tưởng, tự ru ngủ mình về “sự thống nhất trong đa dạng” một cách cực đoan nào đó, như họ cổ xúy, rồi rơi vào sự chiết trung theo kiểu “vỗ vai cùng chung sống giữa các tư tưởng, các trào lưu”(!) hay “đã nguội tắt dần cuộc đấu tranh ý thức hệ”(!) giữa các hệ tư tưởng, các thể chế, quốc gia, dân tộc, biểu hiện tập trung giữa các tư tưởng gia ở những chế độ khác nhau... Chúng ta cũng càng không buông tay, thúc thủ, an bài, hoặc bi quan, yếm thế nào đó, rồi rơi vào “vũng lầy” của sự hoang mang, vô định, như những ai đó mong đợi hiện nay. Chúng ta hiểu rằng, bản chất của những sự thật về những hình thái vận động và đấu tranh tư tưởng, lý luận đó đang trở thành phổ biến một cách hết sức phức tạp có thể bị lừa phỉnh hoặc bị che lấp bởi những trào lưu mới mà những kẻ thù tư tưởng của chúng ta chưa bao giờ buông bỏ sự chống phá thâm hiểm, thậm chí kháng cự quyết liệt. Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận chính trị của chúng ta hiện nay đang đối mặt, thậm chí bị chi phối, bị cản trở và phải đối diện với tối thiểu chính những điều đó. Đó là những trở lực chết người trên con đường kiến tạo nền tư tưởng thống nhất, lý luận kiên định, độc lập và sáng tạo bảo đảm dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, dưới ngọn cờ của Đảng. Lịch sử phát triển của cách mạng nước ta ngày càng cho thấy, càng ở những khúc quanh hay bước ngoặt của nó như hiện nay, điều đó càng hiện diện, càng muôn vẻ, phức tạp và khôn lường nhất. Và, hiện nay, cuộc đấu tranh này hiện diện trên vũ đài lịch sử nước ta nói chung, trên địa hạt tư tưởng, lý luận chính trị nói riêng, khiến chúng ta không thể thể lảng tránh, chối bỏ, hay thúc thủ, bàng quan, càng không dung thứ bất cứ một sự ngụy tạo nào... nếu muốn bảo vệ tiếp tục phát triển độc lập, sáng tạo nền tảng tư tưởng, lý luận chính trị của Đảng đủ sức dẫn dắt và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. Mơ hồ hay buông lỏng cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ thất bại. Bản chất của những kẻ chống phá chúng ta không bao giờ thay đổi. Và vì thế, cần thiết phải nói thêm rằng, hiện giờ, cuộc đấu tranh này càng nóng bỏng, mang ý nghĩa không khoan nhượng, thậm chí sinh tử hơn hết bao giờ. NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT TỬ CÓ Ý NGHĨA MẤT CÒN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY Nhìn toàn cục, hiện tại có thể hình dung 8 loại vấn đề cốt tử và chủ yếu mệnh hệ chung quanh vấn đề này, mà các phần tử chống phá tập trung mũi nhọn, bằng mọi thủ đoạn và hình thức đang ra sức công kích từ bên ngoài và gieo rắc mối hoài nghi, chia rẽ từ bên trong. Và, ở mức độ này hay tính chất khác, trong đội ngũ chúng ta có một số người “bị sập bẫy”, rồi phụ họa, thậm chí ủng hộ những biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn ấy. Thứ nhất, công phá nền tảng tư tưởng chính trị và thủ tiêu ý thức hệ. Với đủ giọng điệu nhiều cung bậc, họ phê phán, công kích trực diện vào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lê-nin... hòng làm phân tâm, gây hoài nghi trong những người hoạch định chiến lược, bôi nhọ và cuối cùng đánh sập nền tảng chính trị và cơ sở tư tưởng của đường lối chính trị của Đảng. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc và có sức công phá lớn, nhằm thẳng vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng và tác họa khôn lường, nhằm lật đổ Đảng từ những vấn đề căn bản, có ý nghĩa cốt tử. Chung quanh vấn này, nổi bật mấy loại chủ yếu: Tiếp tục công kích vào các loại vấn đề cơ bản thuộc hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, động lực phát triển xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phương pháp tư duy và phương pháp cách mạng,... Thủ đoạn mới là, họ chuyển từ sự bôi nhọ cái gọi là “du nhập ngoại lại” sang đánh tráo khái niệm, thay thế các khái niệm... nhằm cổ xúy cho cái gọi là “đảo lộn” tư duy, gây rối loạn về phương pháp luận. Thổi phồng những cái gọi là “chủ thuyết phát triển nhân loại mới”, đem đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin; đối lập Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin, thổi phồng một cách cực đoan tư tưởng Hồ Chí Minh,... cốt phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vô hình hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh, rốt cuộc nhằm phủ nhận, công phá và đánh sập nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng. Và, họ đánh lừa được không ít người. Có không ít loại ý kiến theo đuôi và phụ họa của những người non kém về chính trị, bạc nhược về tư tưởng. Thứ hai, bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chính trị và công phá thể chế chính trị. Đây là “tử huyệt” mà các luận điệu thù địch tập trung sức công phá, ở nhiều mức độ: nhẹ thì tung hỏa mù, đánh lạc hướng, gây nên tình trạng nghi ngờ, mất phương hướng hành động; nặng thì không từ mọi chiêu bài, thủ đoạn nhằm phủ nhận tính cách mạng, cơ sở khoa học và bôi nhọ thực tiễn lịch sử cách mạng nhằm xuyên tạc và phủ nhận đường lối chính trị của Đảng. Trong rất nhiều phương diện chung quanh vấn đề này, xin nhấn mạnh mấy loại luận điệu tập trung công kích trụ cột đường lối chính trị và thể chế chính trị Việt Nam: 1- Bài xích, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2- Cổ xúy đa nguyên chính trị, đòi “tam quyền phân lập”, vu khống chế độ toàn trị, dựng lên và thổi phồng “lỗi hệ thống”... nhằm xóa bỏ thể chế hiện tồn, 3- Tán dương và cái gọi là “khuyến nghị” thực thi phát triển “xã hội dân sự”; 4- Lợi dụng việc sửa đổi Hiến pháp và các luật nhằm làm sai lệch những vấn đề cơ bản nhất về chế độ sở hữu, về quyền con người, quyền dân tộc,... Chuyển hóa đường lối chính trị, thông qua việc chia rẽ, mua chuộc đội ngũ các nhà chính trị hoạch định đường lối, và là con đường ngắn nhất chuyển hóa chế độ. Lợi dụng “lợi ích nhóm” và các “nhóm lợi ích”, họ tán dương và dùng mọi giọng điệu để bôi nhọ, khoét sâu những vấn đề này nhằm phân hóa từ trong nội bộ Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phá nát chiến lược cán bộ, tạo sự gây hấn, phân hóa giữa các loại cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng ta. Thứ ba, tung hỏa mù về “đảng trị” và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Họ bài xích Đảng, với các mánh lới và giọng điệu vừa tinh vi, vừa trắng trợn: 1- Đảng tự cho mình đứng trên tất cả, nghị quyết của Đảng cao hơn và bất chấp Hiến pháp, chỉ cần Hiến pháp không cần Đảng; 2- Độc đảng tất yếu sẽ là chế độ toàn trị, cần phải đa đảng mới hy vọng có dân chủ, mới có chế độ dân chủ; 3- Cần lập các trường phái trong Đảng mới thực sự dân chủ, nếu Đảng muốn xây dựng nền dân chủ đích thực của đất nước; 4- Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước, xưa nay có Đảng đâu mà dân tộc vẫn tồn tại và phát triển; 5- Đa thành phần kinh tế nhất định sẽ dẫn tới đa đảng chính trị; 6- Cần “phi chính trị hóa” và tôn trọng tính độc lập của các lực lượng vũ trang, không cần sự lãnh đạo của Đảng; 7- Giai cấp công nhân đã hết vai trò, tới lượt và chỉ có trí thức mới là lực lượng dẫn dắt xã hội thay vì giai cấp công nhân, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 7- Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phi chính đáng, phi chính danh...v.v. và v.v.. Vô vàn các giọng điệu hằn học, bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc bất chấp mọi lý lẽ thông thường. Thứ tư, chia rẽ phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Sức mạnh của Đảng sẽ mất, nếu tách khỏi cơ sở xã hội - chính trị là nhân dân. Đó chính là pháp lý được ghi trong Hiến pháp, trong vị thế “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân” và đạo lý sống được thừa nhận trong xã hội, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” của Đảng. Chúng âm mưu đánh sập đạo lý của Đảng chúng ta với nhân dân, phủ nhận sự chính danh, chính pháp giữa Đảng với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các luận điệu đó, cốt chia rẽ, âm mưu kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ và đảng viên của Đảng, dưới mọi hình thức. Chúng cổ xúy cho bảo trợ và tham gia các tổ chức “xã hội dân sự” tự phát. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những biểu hiện riêng lẻ, những khuyết điểm để thổi phồng quy kết thành bản chất của một đảng cầm quyền và đã làm phân tâm không ít bộ phận dân cư. Thứ năm, khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân. Đây là các duyên cớ để các luận điệu thổi phồng sự thật, khoét sâu sự ngăn cách thù oán do chúng tưởng tượng và dựng lên, để mưu đồ đối lập Đảng với tôn giáo, kích động sự kỳ thị giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhằm chia rẽ nội bộ các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không theo đạo, giữa các tôn giáo với nhau, đào sâu hố ngăn cách giữa đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, kích động vấn đề nhân quyền, phá rối từ cơ sở, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các hình thức “cách mạng màu”. Các thủ đoạn thường thấy là, kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi hành lễ phi pháp luật, tụ tập đông giáo dân gây mất an ninh thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”; chia rẽ, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số biểu tình gây bạo loạn... dưới chiêu bài nhân quyền, tự do, dân chủ; móc nối với các tổ chức quốc tế, với các thế lực thù địch từ nước ngoài để làm rối tình hình trong nước. Họ kích động, hà hơi tiếp sức những người nhân danh “lòng yêu nước”, mưu toan khởi hấn, xuống đường biểu tình vô lối, để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”... mưu lợi cho mình và phe nhóm mình. Thứ sáu, thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là vấn đề xung yếu nhất. Ngụy tạo mâu thuẫn trong Bộ Chính trị, tưởng tượng sự chia rẽ Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Quốc hội và Chính phủ; thổi phồng sự khác biệt, cao hơn là mâu thuẫn giữa các thế hệ lãnh đạo, các cá nhân lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược... với âm mưu thúc đẩy tan rã nội bộ và tự tan rã thế chế. Họ ngụy tạo những trang điện tử giả danh cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước để tung tin giả, công kích nội bộ nhằm gây nghi kỵ lẫn nhau, tạo nên sự hỗn mang tư tưởng rất nguy hiểm. Âm mưu đó nham hiểm không kém thủ đoạn kích động tư tưởng “sứ quân”, “cát cứ”, gây chia rẽ vùng, miền, đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân, ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, “phi chính trị hóa” các lực lượng này, âm mưu cái gọi là thông qua “hạ bệ thần tượng” nhằm “bắn con chim đang bay”(!)... Thứ bảy, chung quanh vấn đề quan hệ quốc tế, võ đoán các nguy cơ cái gọi là “đu dây bên miệng hố”, kích động cái gọi là “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước khác, cốt phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta, cổ xúy cho chủ nghĩa ly khai, xâm hại nhân dân, phá vỡ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Đây là một đích ngắm của đủ loại mưu đồ, đủ giọng điệu, với các phương tiện hiện đại, có sức công phá lớn và hết sức nguy hiểm. Mục tiêu của chúng là thông qua “diễn biến hòa bình”, làm suy yếu Việt Nam từ bên ngoài, gây hằn thù trong các mối bang giao quốc tế của ta nhằm cô lập ta trong cộng đồng quốc tế. Kích động, chia rẽ các đối tác quốc tế với nhau, các đối tác quốc tế chiến lược với chúng ta... Nghĩa là, họ muốn thể chế của ta sụp đổ. Bằng nhiều “cây cầu” (truyền thông giả mạo, sách báo, núp sau các tổ chức quốc tế, các tổ chức tôn giáo...), với thủ đoạn “mưa dầm thấm sâu”, “tổ mối đục ruỗng chân đê”... chúng dựng hư chuyện, thổi phồng hiện tượng riêng lẻ quy kết vô lối thành bản chất của Đảng, của chế độ... hòng hạ thấp, đánh sập vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Họ hà hơi tiếp sức cho những tổ chức đối lập trú ngụ ở ngoài biên giới quốc gia, âm mưu di trú quốc nội, gây bạo loạn, lật đổ chế độ. Thứ tám, các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường, âm mưu gặm nhấm, công phá làm băng hoại dưới mọi hình thức, quy mô và mức độ tư tưởng, lý luận của chúng ta từ nền tảng. Đó là chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bá quyền với vô vàn hình thức... đang thâm nhập từ bên ngoài cấu kết với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc, dưới nhiều biến thể, tồn tích rất lâu từ bên trong với âm mưu làm băng hoại nền tảng tư tưởng của chúng ta bằng đủ quy mô, tính chất và mức độ; làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa; làm rã rời sự cố kết đồng thuận toàn dân tộc ta; đánh sập vị thế, năng lực và uy tín cầm quyền của Đảng ta và cô lập nước ta trên trường quốc tế. Những trào lưu tư tưởng, lý luận đó thâm nhập vào nước ta bằng các con đường giao lưu tư tưởng, thông qua hội nhập quốc tế, bằng thủ đoạn kinh tế, văn hóa... hết sức tinh vi, biến ảo; và chúng thường trú ngụ và phát tác từ các phần tử thoái hóa, biến chất, nằm ở tất cả các cấp của hệ thống chính trị, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến hòa bình” công phá từ bên ngoài thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ rất nguy hiểm. Tất cả nhằm thủ tiêu Đảng, cô lập đất nước ta và chuyển hóa thể chế chính trị một cách nhanh nhất, ngắn nhất và nguy hiểm nhất. CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ VÀ LÀM NHƯ THẾ NÀO Vấn đề tư tưởng phải được giải quyết bắt đầu từ tư tưởng, trước khi bằng con đường tổ chức, pháp luật. Nhưng, không thể chỉ giải quyết triệt để những vấn đề tư tưởng, lý luận bằng chính vấn đề tư tưởng, lý luận một cách thuần túy, thậm chí rất suông. Trước hết, chúng ta phải có một cương lĩnh về hành động một cách có tư tưởng. Cương lĩnh hành động hiện nay chính là, khi tình hình đã khác trước, cần nhận diện đúng, phân định trúng và có đối sách phù hợp và hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, không thể để tình trạng những người bàn về tư tưởng nhưng hành động phi tư tưởng, thậm chí trái tư tưởng, xỉ nhục tư tưởng. Kinh nghiệm đã và đang chỉ ra rằng, từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước chuyển ngắn, thậm chí rất ngắn, tới mức khôn lường, trở thành kẻ đối lập với nhân dân, với dân tộc, phản bội lại Đảng, phản bội thể chế. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, trong cuộc đấu tranh này, phải tự mình trở thành một nhà tư tưởng một cách ngang tầm và trong sạch. Tự mình phải làm công tác tư tưởng cho chính mình, và phải tự mình trong sạch; và trở nên đúng đắn, tự trọng và ngang tầm theo các quy định về nêu gương: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07-6-2012, của Ban Bí thư khóa XI, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Chúng ta có tối thiểu hơn 4 triệu “nhà tư tưởng” là đảng viên. Đó là hành động mang tính tư tưởng nhất. Chúng ta không ảo tưởng về điều đó, nếu đảng viên thực sự là đảng viên, lãnh đạo thực sự ngang tầm trọng trách lịch sử. Chỗ nào vắng cán bộ, đảng viên, chỗ đó trận địa tư tưởng bị bỏ trống. Vì thế, việc tổng rà soát, sàng lọc nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên là trọng sự rất cấp bách, không thể trì hoãn. Càng không thể giải quyết những lỗi lầm tư tưởng chính trị bằng thứ tư duy đã đẻ ra nó; những vấn đề bất thường của tư tưởng chính trị phải được giải quyết bằng những phương pháp bất thường, tức vấn đề tổ chức và cán bộ. Chấm dứt tình trạng: Người có tư tưởng thì không có quyền được quyết định, người được quyền quyết định lại không có tầm tư tưởng. Đó là cách làm tư tưởng cụ thể nhất, chứ không rơi vào đạo lý suông, tư tưởng chính trị suông. Chọn người xứng đáng và ngang tầm là nhân tố quyết định thành bại công việc này. Người đứng đầu các cấp trong bộ máy hệ thống chính trị phải là những người lĩnh nhiệm xứng đáng sứ mệnh công tác tư tưởng, lý luận của thế chế một cách gương mẫu và thật sự. Ai không làm tròn trọng trách đó thì nên từ chức hoặc không ngần ngại, buộc phải thay thế họ. Không thể để thảm họa: những ai nhúng chàm tư tưởng; đạo chích, đạo vị, đạo tâm... đi rao giảng về sự cao quý của tư tưởng, sự “soi đường cho quốc dân đi” của lý luận, sự trong sạch, liêm sỉ, liêm chính, nghĩa khí hay quốc sỉ của những người trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Đó là tình trạng “a dua tư tưởng, lý luận”, tầm thường hóa tư tưởng, lý luận, “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”. Nói cách khác, đó là kiểu làm tư tưởng, lý luận như “mang giấy bọc lửa”. Như thế, vô hình làm phương hại công tác tư tưởng, lý luận của chúng ta; vô hình tiếp tay cho sự lan rộng của sự suy thoái tư tưởng chính trị, tệ hủ bại trong hành động thực tiễn phi tư tưởng, lý luận,... Như thế là, phản tư tưởng nhất, là sự hạ thấp, thậm chí hủy hoại nền móng tư tưởng, lý luận chính trị. Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở các cấp, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, các địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác tự giác rèn luyện tầm nhìn chính trị chiến lược, trung thành với lý tưởng, khép mình vào kỷ luật, giữ trọn vẹn liêm sỉ, tự mình trong sạch; làm gương trước nhân dân, trước cấp dưới về hành động chính trị, về danh dự, về sự dũng cảm hành động theo lời nói, về trách nhiệm công việc, về phẩm hạnh chính trị và đạo đức... trong thực thi đường lối của Đảng, vì lợi ích tối cao của nhân dân, của dân tộc và của Đảng. Đồng thời, chủ động tổng kết thực tiễn, phát triển đường lối chính trị của Đảng, làm giàu kinh nghiệm tổ chức thực tiễn mang tính lý luận. Sống và làm việc trong nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa và tự chỉnh đốn mình. Hóa thân trong các phong trào hành động của nhân dân để dẫn dắt, qua đó để tổng kết kinh nghiệm, trau dồi khả năng và rèn dũa trình độ lý luận của chính mình nhằm phát triển phong trào. Lúc này, một bước tiến trong hành động có giá trị hơn một tá cương lĩnh, nói như C. Mác. Đó là con đường bảo vệ tư tưởng, phát triển lý luận của chúng ta một cách chủ động nhất, ngắn nhất và tự giác nhất. Tự chỉnh đốn mình đủ năng lực xử lý, nhất là đối thoại, tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng và cầu thị với tất cả những ai quan tâm về công tác tư tưởng, với các trào lưu tư tưởng, lý luận từ mọi phía. Đó là hiện thân sinh động và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng, lý luận chính trị, của công tác tư tưởng, lý luận, phát triển đường lối chính trị của Đảng dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế hiện nay. Và, hơn hết bao giờ, phải chủ động hành động kiên quyết, vì sự sống còn đó. Cương lĩnh hành động hiện nay là, tiếp tục kiến tạo một đội ngũ chiến lược gia tư tưởng, lý luận hay tối thiểu là các cán bộ tư tưởng, lý luận cấp chiến lược ngang tầm trọng trách của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế. Vẫn là tiếp tục công việc về tổ chức và cán bộ, nếu được tiến hành hiệu quả, thì chính là giải pháp phát triển tư tưởng, lý luận hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm lịch sử tư tưởng và đấu tranh tư tưởng, lý luận ngày càng xác thực rằng, lý do tồn tại của tổ chức đảng, và các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng nhiều mặt của tất cả các đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp. Nói một cách hình ảnh, đã đến lúc, về mặt tổ chức bộ máy, không thể để tồn tại những ông “Đông Quách”, những “con thò lò sáu mặt”, “ăn cây táo rào cây xoan nâu” trong đội ngũ, trước hết trong đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và nguyên cấp này, trước hết trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Nếu để duy tồn, vô hình trung, tối thiểu đã làm phương hại theo kiểu “quả bí thối từ ruột thối ra”, thậm chí chặt cụt động lực của các nhà tư tưởng, lý luận; mặt khác sẽ thủ tiêu và tự thủ tiêu cả hai: cán bộ và bộ máy làm công tác tư tưởng, lý luận. Và, thậm chí làm băng hoại ngay cả bộ máy làm công tác tổ chức và kiểm tra, thanh tra và bảo vệ pháp luật vì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trực tiếp đối với công tác tư tưởng, lý luận, khi trận địa tư tưởng, lý luận bị xâm hại và bị chi phối bởi những tệ nạn đó. Cần thiết rà soát, sàng lọc, để tái kiến tạo đội ngũ và hệ thống các bộ máy này, để tư tưởng, lý luận có khả năng dẫn dắt và bảo đảm phát triển công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đúng hướng. Đó là phương lược và nghệ thuật hiện thời. Cần toàn dụng đức trị và pháp trị trên phương diện này. Đội ngũ chúng ta phải tự mình trở nên mạnh mẽ, dũng cảm và kiên quyết ngang tầm yêu cầu của lịch sử! Đó chính là hiện thân và hành động tư tưởng, lý luận nhất. Đó là phương sách xây kết hợp phòng, chống chủ động và hiệu quả nhất trên địa hạt tư tưởng, lý luận! Cương lĩnh hành động lúc này là, tổng soát xét, tiếp tục đổi mới toàn diện và căn bản hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành và thể chế về công tác tư tưởng, lý luận chính trị. Tối thiểu có 3 loại công việc nổi bật: Về hoàn thiện cơ chế vận hành: Đâu là tư tưởng, đâu là lý luận, đâu là tư tưởng lý luận chính trị? Ai làm, làm với ai, làm như thế nào? Các binh chủng tư tưởng, lý luận hiện nay ra sao: về chức năng, nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành thế nào? Duy tồn tình trạng hiện nay liệu có còn tương thích không? Nếu không, thì sẽ làm gì? Phải chăng cấp bách cơ cấu lại chiến lược hệ thống đào tạo, truyền thông, tuyên giáo các cấp, các cơ quan nghiên cứu... theo hướng tập trung, thống nhất, rõ việc, gọn nhẹ, rõ trách nhiệm cá nhân phụ trách, trên cơ sở đổi mới chức năng, nhiệm vụ độc lập từng cơ quan bảo đảm sự thống nhất giữa công tác tổng kết thực tiễn với phát triển tư tưởng, lý luận? Trên cơ sở đó, định biên, tuyển chọn dân chủ hóa nhằm kiến tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận tương xứng theo hướng tinh hoa, chuyên nghiệp và văn hóa hóa. Sàng lọc nghiêm khắc và kiến tạo chặt chẽ theo hướng tinh lọc, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cá nhân... bảo đảm sự trong sạch, tương thích đội ngũ này. Về đổi mới thể chế hoàn bị: Đâu là thể chế cơ bản, đâu là mắt xích chủ yếu? Đâu là thể chế bất biến, cái thể chế khả biến là đâu? Đâu là sức mạnh tổng hợp giữa công tác giáo dục - cơ quan hành động trên địa hạt tư tưởng, lý luận với công tác tổ chức và pháp luật... Theo đó, cần phân định rõ không chỉ về định tính mà cần định lượng cụ thể lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, trước hết là cấu trúc lại hệ thống báo chí và đội ngũ những người làm báo, hợp thành binh chủng tư tưởng, lý luận chỉnh thể đổi mới và ngang tầm. Các thiết chế cần và đủ bảo đảm vận hành toàn bộ công tác này bao gồm những gì, chúng ra sao; những gì thuộc về chuyên ngành, những gì thuộc về liên ngành, tối thiểu là các lĩnh vực và phương tiện làm công việc tư tưởng, lý luận, tổ chức và pháp luật, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế trong “thế giới phẳng”, cố nhiên cả không “phẳng” hiện nay? Theo đó, tiếp tục chỉnh đốn lĩnh vực báo chí truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội. Sẽ là khiếm khuyết, thậm chí thất bại, nếu thiếu hoặc buông lỏng loại công việc này. Kinh nghiệm ban hành và thực thi Luật An ninh mạng của Ô-xtrây-li-a vào tháng 2-2019, sự ra đời của ngành công nghiệp an ninh mạng của Xin-ga-po vào tháng 3-2019, bảy lĩnh vực quản lý mạng xã hội của Anh vào tháng 4-2019 mới đây... đã cho chúng ta những kinh nghiệm tham chiếu đáng suy ngẫm trên lĩnh vực này. Vì, những người chống phá tư tưởng, những kẻ thù lý luận đã và đang sử dụng những phương tiện ấy như những “cây cầu tư tưởng” đi thẳng vào trái tim khối óc của chúng ta, gây tác họa rất nguy hiểm ở không ít nơi, đối với không ít người, lại tỏ ra rất nhiệm màu. Họ âm mưu tạo nên tình trạng “mù màu về tư tưởng”, “hỗn loạn về lý luận” để làm rối tình hình chính trị, hạ bệ cơ sở lý luận chính trị mác-xít, nhằm phá hoại đường lối chính trị của Đảng; qua đó bôi nhọ, làm phá sản chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta. Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ bảo đảm giữa tự do, dân chủ và pháp luật một cách minh bạch, công khai và nhân bản, trên bình diện tư tưởng, lý luận một cách chủ động và nghiêm khắc. Về trách nhiệm cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, cơ chế và thể chế và cơ quan có thẩm quyền quyết định: Đây là việc to lớn, đa diện của các cấp ủy, chính quyền các cấp.... Xin nói gọn: Cấp bách thực thi quyết sách của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng khóa XII về công tác này, một cách căn cơ, chiến lược, tổng hợp và khả thi, trong tầm nhìn tới năm 2030, trước mắt trên lộ trình tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đó là những công việc cần kíp thực thi hiện nay đối với Đảng, và của chính công tác tư tưởng, lý luận chính trị của Đảng. Không như thế không thể nói tới việc bảo vệ tư tưởng, lý luận, càng không thể nói tới việc phát triển độc lập hay sáng tạo đột phá về tư tưởng, lý luận, dù chỉ là một bước nhỏ! Con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta đi, không gì lay chuyển được. Công tác tư tưởng, lý luận tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử cầm nhịp thống nhất toàn dân tộc, “soi đường cho quốc dân đi” trên con đường ấy. Và, dù cho kẻ thù của chúng ta câu kết với những phần tử từ bên trong, điên cuồng công kích, phá hoại, Đảng ta đứng vững trên nền móng tư tưởng chính trị và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thâu hóa và góp phần phát triển tinh hoa tư tưởng, lý luận của nhân loại, với sự ủng hộ và bảo vệ của nhân dân, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ dưới ngọn cờ của Đảng, dân tộc ta nhất định vượt qua mọi trở lực, như 89 năm qua, tiếp tục tiến lên, nhịp bước cùng thời đại. Không gì cản nổi!./.

Sự tha hóa quyền lực và con dốc đặc quyền đặc lợi

Sự tha hóa quyền lực dẫn đến hiện tượng cán bộ từ đỉnh cao quyền lực dễ trượt dài trên con dốc chủ nghĩa cá nhân bởi những căn bệnh đặc quyền đặc lợi, vinh thân phì gia đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu non trẻ của nhà nước. Thế nhưng trong giai đoạn hiện nay, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, những căn bệnh ấy đã và đang xuất hiện trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên… Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã định vị những căn bệnh ấy trong các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị với biểu hiện thứ 9: “Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích”. Nó cũng nằm trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, trong đó có biểu hiện thứ 8: “Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”. Soi vào thực tiễn vừa qua, đáng buồn thay có rất nhiều câu chuyện vi phạm. Vụ việc hàng loạt thí sinh là con các cán bộ lãnh đạo ở Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình, Lạng Sơn sửa điểm thi để đỗ vào đại học gây bức xúc dư luận, mang bóng dáng một vụ tham nhũng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công bằng xã hội và tương lai đất nước. Rồi đây sự việc sẽ được điều tra, làm rõ nhưng chắc chắn không thể không có sự liên quan trách nhiệm của những cán bộ là cha mẹ của học sinh. Vụ án Trịnh Xuân Thanh được phát hiện từ lỗ hổng đặc quyền đặc lợi khi ông Thanh đi chiếc xe Lexus 570 biển xanh giả rồi lộ ra lỗ hổng chạy chức, chạy quyền để được quy hoạch, luân chuyển sai quy định mặc dù trước đó dính vào tham nhũng nghiêm trọng. Từ vụ việc này, hiệu ứng domino hé lộ hàng loạt sai phạm từ Bộ Công Thương với rất nhiều sai phạm trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp… Trong đó, ông Vũ Huy Hoàng đãtiếp nhận, bổ nhiệm và điều động con trai là ông Vũ Quang Hải tham gia Hội đồng quản trị và giữ chức Phó tổng giám đốc Tổng công ty Rượu-Bia-Nước giải khát Sài Gòn; vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, quy định của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, vi phạm Luật Phòng, chống tham nhũng. Một báo cáo của Thanh tra Chính phủ năm 2018 còn cho biết, có năm ông Vũ Huy Hoàng đi công tác nước ngoài 163 ngày, chiếm hơn nửa thời gian làm việc trong năm khiến dư luận càng đặt dấu hỏi về trách nhiệm công bộc của ông đối với công việc. Năm 1987, dư luận chấn động trước bài báo “Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” đăng trên Báo Quân đội nhân dân, phản ánh việc một vị cán bộ hàm tương đương bộ trưởng chiếm dụng diện tích nhà ở quá tiêu chuẩn. Thế nhưng về sau này, ngày càng nhiều những vụ việc cán bộ lãnh đạo giữ đặc quyền đặc lợi, thậm chí không chịu trả nhà công vụ, trả xe sau khi đã nghỉ hưu. Bức xúc nhất có lẽ phải kể đến hiện tượng lạm dụng đặc quyền đặc lợi để tham nhũng quyền lực, tham nhũng trong xin-cho các dự án đầu tư, biến cổ phần hóa thành “chia phần hóa”… Có rất nhiều trường hợp dựa vào "con ông cháu cha" hoặc các quan hệ để thăng tiến thần tốc, cướp đi cơ hội phát triển bình đẳng của bao nhiêu cán bộ, đảng viên chân chính. Những năm vừa qua, đã có nhiều vụ việc gây bức xúc dư luận, như: Vụ hotgirl Quỳnh Anh ở Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hóa; vụ bổ nhiệm ông Vũ Minh Hoàng, 26 tuổi, quê ở Bắc Ninh đảm nhiệm chức vụ phó vụ trưởng khi ông này không làm việc tại Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, không nhận lương và đang đi du học tự túc tại Nhật Bản; vụ Lê Phước Hoài Bảo, sinh năm 1985 (con trai ông Lê Phước Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam) nhận được nhiều ưu ái, thăng tiến thần tốc sai quy định, trở thành giám đốc sở trẻ nhất nước; gần đây, vụ con gái của Chủ tịch UBND tỉnh An Giang là Vương Mai Trinh (31 tuổi) được bổ nhiệm thần tốc đảm nhiệm chức vụ Phó chánh văn phòng Thành ủy Long Xuyên sai quy định nên Bộ Nội vụ đã yêu cầu hủy kết quả tuyển dụng… Bài học đắt giá từ lời cảnh báo của V.I.Lênin V.I.Lênin từng cảnh báo về 3 loại kẻ thù nguy hiểm đe dọa đến sự tồn vong của nước Nga Xô viết sau Cách mạng Tháng Mười là: Tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, nạn mù chữ và nạn hối lộ. Thế mà những điều đó lại xảy ra đúng như ông tiên liệu. Sau Cách mạng Tháng Mười, chiến tranh và nạn đói đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền Xô viết non trẻ. "Rồi sẽ có bánh mì và sẽ có tất cả"-câu nói của Vasili trong bộ phim "Lênin trong Tháng Mười" trở thành câu nói thịnh hành một thời ở Liên Xô. Bộ phim dựa trên câu chuyện có thật. Năm 1918, chính quyền Xô viết gặp phải cuộc khủng hoảng lương thực. Tại một cuộc họp của UBND, Churuva, Ủy viên nhân dân phụ trách vấn đề lương thực, bất ngờ bị ngất xỉu vì đói! Là quan chức cao nhất phụ trách lương thực, ông có thể điều động hàng chục triệu tấn lương thực, nhưng bản thân lại bị đói. Ngay sau đó, Lênin kiến nghị xây dựng nhà ăn điều dưỡng để bảo đảm cho những đồng chí như Churuva. Nhà ăn điều dưỡng do Lênin khởi xướng về sau dần mở rộng thành cửa hàng cấp đặc biệt, rồi biến tướng trở thành nơi dành cho cán bộ đặc biệt cao cấp, nơi ê hề rượu Pháp, Scotland, thuốc lá thơm Mỹ, chocolate Thụy Sĩ, cà phê Italy, giày da của Áo, len dạ Anh... Báo chí đã nói công khai rằng, đối với những nhân vật thuộc tầng lớp trên thì chủ nghĩa cộng sản đã được xây xong từ lâu! Chỉ riêng Moscow đã có hơn 100 cửa hàng như vậy. Đó là nơi dành cho tầng lớp đặc quyền. Dưới thời Tổng Bí thư Brezhnev, con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, được thăng tiến thần tốc. Có chức ắt có quyền, có đặc quyền nên nạn mua quan bán chức ngày càng nở rộ. Nạn đặc quyền đặc lợi đã làm tổn hại nghiêm trọng thanh danh của chủ nghĩa xã hội (CNXH), tạo ra hố ngăn cách lớn trong xã hội. Người dân bình thường tự gọi mình là “chúng ta”, còn gọi những lãnh đạo cấp cao là “bọn họ”. Dưới thời Gorbachev, tầng lớp đặc quyền không chỉ tìm mọi cách nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ cá nhân, mà còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền cho con cháu đời sau. Họ nhận ra để hợp pháp hóa các đặc quyền thì chỉ có chế độ chủ nghĩa tư bản (CNTB) mới thích hợp nhất để hợp pháp hóa những lợi ích hiện có của họ. Thế là họ không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy xóa bỏ CNXH, đi theo con đường của CNTB. Họ lợi dụng sự hỗn loạn về thương mại hóa, thị trường hóa, kinh tế tự do hóa do Gorbachev tiến hành để làm một cuộc lật bài kinh tế, trực tiếp chiếm đoạt tài sản nhà nước thành tài sản riêng. Một bộ phận đó sau này trở thành những ông trùm tài chính mới. Một bộ phận khác không chỉ vơ vét mà còn tiếp tục nắm giữ những cương vị cao, kiểm soát quyền lực của nhà nước với 75% số quan chức bên cạnh tân tổng thống; 57,1% lãnh tụ những chính đảng mới và 73,4 % trong số những quan chức của chính phủ mới. Không để bệnh đặc quyền đặc lợi băng hoại niềm tin Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Đặc quyền đặc lợi là quyền lợi đặc biệt chỉ dành riêng cho một người hay một nhóm, một tầng lớp nào đó được hưởng mà những người bình thường khác không thể có được”. Đặc quyền đặc lợi khoét sâu thêm khoảng cách “quan-dân”, hình thành các đẳng cấp xã hội, làm sâu thêm những bất công, làm giảm động lực phấn đấu của cán bộ, công chức, gia tăng tình trạng xin-cho, chạy chức, chạy quyền, nạn hối lộ, đút lót và nghiêm trọng nhất là suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; thậm chí khiến dân khinh, dân ghét lãnh đạo. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhìn ra và cảnh báo những căn bệnh nguy hiểm từ sự tha hóa quyền lực nói trên. Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng đăng trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra các thói xấu cần phải lên án, như: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người chỉ rõ: “Ǎn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô, các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”. Rồi hiện tượng con quan thì lại làm quan, "cài cắm" người nhà vào các vị trí lãnh đạo, ưu tiên tuyển dụng người thân, ghen ghét, đố kỵ người tài là một vấn nạn trong không ít cơ quan hành chính thời bấy giờ: “Kéo bè kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”, “bênh vực lớp này, chống lại lớp khác”. Từ Đại hội VI khởi xướng sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã nhìn nhận rõ nguy cơ của bệnh đặc quyền đặc lợi và xác định: Trong tư tưởng cũng như hành động, phải triệt để chống tham nhũng, chống đặc quyền đặc lợi. Đại hội IX của Đảng chỉ ra: Cải cách cơ bản chế độ tiền lương, nâng cao đời sống người hưởng lương, chống đặc quyền đặc lợi. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức… Phát biểu tại một hội nghị về công tác dân vận gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhắc lại những bài học kinh nghiệm từ lịch sử dân tộc: “Sở dĩ triều Hậu Trần suy vong là do các vua quan Hậu Trần không thực hiện đúng chính sách "thân dân", "làm kế sâu rễ bền gốc"; họ chỉ lo cuộc sống xa hoa, quyền lợi ích kỷ của mình, bỏ "mặc dân khốn khổ", "muôn dân oán giận mà không biết, lòng người oán trách mà chẳng kinh". Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng thẳng thắn chỉ rõ, hiện nay: Một số hiện tượng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng và trong các cơ quan nhà nước không được đấu tranh kiên quyết và xử lý nghiêm minh. Do đó làm tổn thương thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng… Một số người còn lợi dụng chức quyền để đục khoét, vơ vét của cải của Nhà nước, của tập thể, trở thành những con sâu mọt tệ hại của xã hội. Có lẽ đây là điều mất mát lớn nhất trong tình cảm của nhân dân, là điều người dân cảm thấy xót xa, buồn phiền nhất... Thực tế đó cho chúng ta thấy, kiên quyết đấu tranh với những thói hư tật xấu ấy phải trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, phải trở thành một trong những việc cần làm ngay với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị hiện nay. Ngoài việc phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật những hành vi sai phạm thì trong Đảng, phải duy trì nghiêm các quy định về nêu gương, thực hiện những điều cấm đảng viên không được làm. Phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật và hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, không để tồn tại tham nhũng quyền lực, lợi ích nhóm và nạn đặc quyền đặc lợi… làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đưa họ trượt dài trên con dốc tha hóa.

Không được diễn giải lịch sử một cách tùy tiện

Thời gian gần đây, trên một số diễn đàn, tình trạng diễn giải, suy đoán lịch sử một cách tùy tiện, vô căn cứ đang diễn ra với mức độ ngày càng tăng, gây bức xúc trong dư luận, tạo nhiều nguy cơ với hệ lụy khó lường. Đây là hiện tượng tiêu cực cần phải kịp thời ngăn chặn để bảo đảm niềm tin trong xã hội, lấy lại sự lành mạnh cho môi trường nghiên cứu học thuật và niềm tin của cộng đồng. Khi được độc giả hỏi về nguồn tư liệu, ông P.T.H viện dẫn bài viết “Hùng Vương là ai và lịch sử các Vua Hùng” của tác giả BTV/Sức Khỏe Cộng Đồng đăng trên tintucvietnam.vn có nội dung hầu như giống hoàn toàn. Đáng nói là ở bài viết “Hùng Vương là ai và lịch sử các Vua Hùng”, tác giả cho biết dẫn lại tư liệu từ cuốn sách Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần (NXB Giáo dục, H.1995) nhưng tìm đọc sẽ thấy, trong cuốn sách của mình, Nguyễn Khắc Thuần chỉ viết ngắn gọn: “1 - Hùng Dương (tức Lộc Tục). 2 - Hùng Hiền (tức Sùng Lãm). 3 - Hùng Lân. 4 - Hùng Việp. 5 - Hùng Hy. 6 - Hùng Huy. 7 - Hùng Chiêu. 8 - Hùng Vỹ. 9 - Hùng Định. 10 - Hùng Hy (3). 11 - Hùng Trinh. 12 - Hùng Võ. 13 - Hùng Việt. 14 - Hùng Anh. 15 - Hùng Triều. 16 - Hùng Tạo. 17 - Hùng Nghị. 18 - Hùng Duệ. 18 đời nối nhau trị vì 2622 năm (từ năm 2879 trước Công nguyên đến năm 258 trước Công nguyên). Đó là những con số rất khó thuyết phục người đọc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, với người Việt, số 9 là số thiêng, các bội số của số 9 (như 18, 36, 72, 99…) cũng là những số thiêng tương tự. Cho nên, con số 18 đời Hùng Vương mà Hùng triều ngọc phả nói tới cũng chỉ là con số ước lệ, biểu tượng của một ý niệm thiêng liêng nào đó. Cũng trong cuốn sách, Nguyễn Khắc Thuần viết: “Tóm lại, nước Văn Lang là một thực thể có thật của lịch sử nước ta, nhưng Văn Lang chỉ tồn tại trước sau trong khoảng ba trăm năm và con số 18 đời Hùng Vương cho đến nay vẫn là con số của huyền sử”. Như vậy, dù tác giả trên trang tintucvietnam.vn có bảo lưu rằng: “Con số 18 chỉ mang tính tượng trưng” thì vẫn có thể thấy hai tác giả P.T.H và BTV/Sức Khỏe Cộng Đồng đã “sáng tác” cho các vua Hùng tên húy, thứ tự chi theo bát quái, chua thêm năm can chi vào “năm sinh”, năm đầu và năm cuối “thời gian ở ngôi”. Thoạt nhìn có vẻ chính xác, tuy nhiên hai bài viết đều sai vì những chi tiết về các vua Hùng được nêu ra không hề có căn cứ kiểm chứng. Chưa kể, nếu đối chiếu lịch can chi với năm dương lịch sẽ thấy năm can chi được tính tương đương với năm dương lịch. Thực tế là cho đến tận bây giờ, chúng ta vẫn chưa tìm thấy tư liệu chữ viết thời Hùng Vương. Không biết hai tác giả nêu trên đã căn cứ vào đâu để khai thác những chi tiết rất cụ thể về năm sinh năm mất, năm ở ngôi, tên húy, tên hiệu, số đời truyền làm vua... của các vua Hùng độ xác tín ra sao? Hiện tượng “cụ thể hóa”, thậm chí dung tục hóa những điều chép trong sử sách hay các thông tin lưu truyền trong huyền thoại gần đây cũng có chiều hướng xuất hiện ngày một gia tăng trên nhiều diễn đàn, báo chí, nhất là vào những dịp kỷ niệm, tưởng niệm các sự kiện, nhân vật lịch sử. Ngày 4-4 vừa qua, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, người gắn liền với con đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã ra đi. Đồng đội và nhân dân tiếc thương ông, tưởng nhớ về ông với những kỷ niệm sâu sắc. Thế nhưng, nhân sự kiện này, blogger (người viết blog) D.P có số người theo dõi khá đông (từng được tung hô như một “hiện tượng viết sử trẻ” hay như là một người đã chuyển tải lịch sử đến giới trẻ bằng một góc nhìn mới mẻ và khác biệt (!) đã tranh thủ “múa bút” bất kể lô-gich, đúng - sai. Như người này tưởng tượng ra việc tướng Đồng Sỹ Nguyên “chỉ huy một đoàn quân với bom lượn ở trên đầu, xây nên một con đường mà Mỹ nhận định là không thể xây được, và tạo nên một con đường cứ bị san phẳng hôm qua thì vài ngày sau bỗng trở lại”. Cũng trong bài viết đó, người này còn đưa ra những nhận định ngô nghê và hồ đồ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bên mình hai cánh tay trái và phải. Cánh tay phải của ông là tướng Hoàng Văn Thái, người đã ở cạnh ông và cùng ông lập nên các chiến lược quân sự lớn. Còn cánh tay trái của ông là tướng Lê Trọng Tấn, người sẽ ở trận tiền, thực hiện các chiến lược mà tướng Giáp đề ra”. Chưa kể trong bài viết còn có một số câu văn bị nhiều độc giả đánh giá là thiếu sự tôn trọng đúng mức với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí, đồng đội của ông. Lối “kể chuyện” sử như không hề đọc sử của người này còn có thể làm người chưa biết về Đại tướng Lê Trọng Tấn sẽ tiếp nhận thông tin không chính xác về ông, như D.P cho rằng ông là người “đã bắt”, “áp giải” các tướng De Castri (Đờ Cát-xtơ-ri) và Dương Văn Minh. Đọc bài viết nhiều người yêu thích, am hiểu lịch sử thực sự phẫn nộ vì cách viết bịa tạc, đầy xúc phạm như vậy. Việc “cụ thể hóa” tới mức dung tục các huyền sử không phải là cách tôn vinh tiền nhân mà trái lại, là hạ thấp giá trị của niềm tin trong xã hội, thậm chí là cả tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc. Vì thế, người viết cần luôn ý thức không thể viết một cách tùy hứng và tùy tiện về lịch sử, bởi sẽ gây hệ lụy khôn lường. Thế nhưng, hiện tượng đi ngược với yêu cầu này đang ngày càng nhiều, thậm chí ngang nhiên xuất hiện ở ngay cả những diễn đàn, những hội thảo khoa học. Như tại hội thảo khoa học quốc gia “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hóa dân tộc” (12-2018) một tác giả đã hồn nhiên trình bày quan điểm tối nghĩa khiến người nghe không thể hiểu nổi: “Thì ra sự chịu đựng bình đẳng cả địch và ta, cả chính nghĩa và phi nghĩa, cả thấp hèn và cao thượng”; “Đại tướng Võ Nguyên Giáp chịu đựng cả sự chịu đựng của dân tộc”, “chỉ có nhân loại là không chịu đựng vì đã thấy được một con người có mức độ” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn hóa dân tộc” - Hà Nội, 12-2018). Blogger D.P cũng xuất hiện tại hội thảo này, để đưa ra khái niệm “văn hóa quân sự “bóc múi bưởi”...”, rồi nhận định “có một trận Điện Biên Phủ năm 1975” khiến các chuyên gia nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật quân sự lắc đầu ngao ngán. Những thí dụ đã nêu chỉ là vài minh họa cho một xu hướng đáng báo động về tình trạng diễn đạt, xuyên tạc lịch sử sai lệch và tùy tiện đang diễn ra ở nhiều nơi. Điều đáng lo ngại là ở đây không chỉ còn là những ý kiến cá nhân trong một cộng đồng hẹp, mà những quan điểm lệch lạc như vậy đang được trình bày trên một số trang báo chính thống, tại một số hội thảo khoa học, được phát tán trên mạng xã hội với độ lan truyền nhanh chóng. Có thể thấy, nếu không kịp thời có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả, những “tri thức” méo mó về lịch sử như vậy sẽ có nguy cơ “đầu độc” công chúng, nhất là giới trẻ. Lịch sử là câu chuyện của quá khứ, đòi hỏi việc xem xét, đánh giá chuẩn xác. Những người làm công tác nghiên cứu hoặc viết về lịch sử vì vậy cần phải được trang bị kiến thức đầy đủ cùng khả năng diễn đạt chính xác, khoa học. Bất cứ luận điểm nào về một vấn đề, một sự kiện, một nhân vật lịch sử… đều cần chứng minh bằng sử liệu. Chỉ với sự tuân thủ các nguyên tắc đó, nội dung viết về lịch sử mới thuyết phục được người đọc, mang lại tri thức lịch sử lành mạnh và hữu ích cho công chúng. Tất nhiên, theo dòng thời gian, lịch sử có thể được điều chỉnh hoặc bổ sung thông tin nếu có thêm tư liệu mới dẫn đến nhận thức mới. Song dẫu vậy, không thể chấp nhận và đồng tình với cách “viết lại” lịch sử tùy tiện thiếu phương pháp nghiên cứu, phản khoa học và sự thật lịch sử như trên. Chưa kể cách thức làm việc cẩu thả, vô trách nhiệm cùng động cơ không trong sáng của một số cá nhân trong việc lợi dụng lịch sử để đánh bóng tên tuổi và để “câu like” đã dẫn đến tình trạng nhiễu loạn, dung tục hóa lịch sử gây hoang mang, mất lòng tin ở nhiều người. Để những hiện tượng này xuất hiện trên các diễn đàn chính thống, trước hết có phần trách nhiệm của những “người gác cổng” là biên tập, chuyên gia thẩm định ở các cơ quan báo chí, hội nghị, hội thảo. Người đọc duyệt, xử lý tin, bài cần phải không ngừng nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, tỉnh táo trước quan điểm, ý kiến “khác lạ”, chủ động sàng lọc ngay từ đầu vào các thông tin thiếu cơ sở, chưa được kiểm chứng, thậm chí bắt nguồn từ động cơ xấu. Trước vấn đề liên quan đến lịch sử còn nhiều tranh cãi, người có trách nhiệm cần kiểm tra nguồn tư liệu được dẫn ra, xem xét kỹ các quan điểm đánh giá,… để bảo đảm tính chân thực của các chi tiết, tính chính xác, khoa học của các nhận định. Nếu còn vấn đề chưa sáng tỏ có thể tham khảo ý kiến thẩm định của các chuyên gia. Đối với các trang mạng xã hội, sự tự do trên mạng có thể dẫn đến sự tùy tiện, dễ dãi trong việc phát ngôn, nêu quan điểm, nhưng hiện nay chúng ta đã có khung pháp luật để xử lý nghiêm cá nhân, tổ chức đưa thông tin sai trái, trong đó bao gồm cả hành vi xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ nhân vật lịch sử. Chúng ta tôn trọng quyền bày tỏ ý kiến chính đáng của mỗi cá nhân nhưng cần phải coi việc đưa các thông tin xuyên tạc lịch sử, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoài nghi và muốn xét lại lịch sử là một xu hướng tiêu cực, không bao giờ được cộng đồng nghề nghiệp và công chúng chấp nhận. Để đề phòng, ngăn chặn thông tin sai lạc và đánh giá tiêu cực, xuyên tạc về lịch sử, đã đến lúc cần có sự phối hợp vào cuộc của các cấp, các ngành liên quan trong công tác tuyên truyền, như: tích cực truyền bá thông tin chính xác, không ngừng nâng cao hiểu biết của công chúng về truyền thống dân tộc, về sự kiện, nhân vật lịch sử để mỗi người tự nâng cao “sức đề kháng”, tham gia bảo vệ sự thật lịch sử, bài trừ những xu hướng, quan điểm sai trái. Đó là cách thức quan trọng giúp bảo vệ sự lành mạnh của môi trường thông tin cũng như sự chính xác của lịch sử.

Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với quan điểm sai trái, thù địch

Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng. 1. Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối tượng khác nhau. Những quan điểm này của các thế lực thù địch, các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh: từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức của chúng ta… Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là một khó khăn, một thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả. 2. Muốn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự sắc bén. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục. Nhìn nhận thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của chúng ta hiện còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục còn nhiều hạn chế. Nhiều bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế độ mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch. Ở không ít bài, việc luận giải tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch còn có biểu hiện “gượng ép”, phê phán, phản bác lấy được, theo kiểu “hàng tôm hàng cá”. Một số công trình khoa học, tác phẩm, bài viết đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh; đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và cả lệch lạc, chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa mà không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả. 3. Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì mà là một quá trình: xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác gắn chặt với quá trình đấu tranh, gắn với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác cũng đồng thời phải là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả. "Cần đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc chủ trương đường lối, quan điểm của Đảng ta" - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng "Cần đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc chủ trương đường lối, quan điểm của Đảng ta" - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính. Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(1). Đồng thời, cần phải thực hiện hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện; trong đó, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm sau: Trước hết, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Yêu cầu cơ bản là phải nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đấu tranh, phản bác. Trong đó, cần làm rõ những giá trị bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thời gian qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác lý luận, việc tổ chức, triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong thời kỳ đổi mới đã có những bước phát triển, “góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước”(2). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng cũng đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém, bất cập của công tác lý luận nói chung; trong đó, có công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều bất hợp lý. Phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị còn lạc hậu”(3). Biểu hiện cụ thể là chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng; chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là một số vấn đề về đảng cầm quyền, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Nhìn chung, lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn. Những hạn chế đó đã được lý giải là do công cuộc đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức tạp, rất “hóc búa” về lý luận và thực tiễn, không có sẵn trong hệ thống kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chúng ta có nhiều thuận lợi song phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức… Song, có lẽ là do chúng ta chưa thực sự coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; ở nhiều nơi, công tác nghiên cứu lý luận còn hình thức, hời hợt, sao chép, thiếu tính chiến lược; tổng kết thực tiễn qua loa, chiếu lệ. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ thực tiễn của đời sống xã hội phong phú, sinh động, không ngừng biến động và để phát triển lý luận. Đồng thời, cần quan tâm nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm khách quan biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ. Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong sự vận động của thế giới đương đại với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Nhiều vấn đề thực tiễn bức thiết đòi hỏi phải được làm sáng tỏ; nhiều vấn đề lý luận cần được bổ sung, phát triển và hoàn thiện đặt ra yêu cầu phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi các chủ thể nghiên cứu vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng, lập trường của giai cấp công nhân vừa phải thực hiện việc nghiên cứu với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và điểm đến của nghiên cứu lý luận; nghiên cứu lý luận, vận dụng và phát triển lý luận phải dựa chắc trên cơ sở hiện thực. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, cực đoan, phiến diện, bảo thủ, trì trệ, hời hợt, đại khái trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Thứ hai, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao là cốt “vật chất” và là yêu cầu cơ bản trong xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Nhìn chung, hiện nay chúng ta đã có được đội ngũ cán bộ lý luận có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, được đào tạo về chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp. Tuy nhiên, có một thực tế là: đội ngũ cán bộ lý luận còn nhiều hạn chế, bất cập, hẫng hụt, số cán bộ trẻ chưa thay thế được cán bộ nhiều tuổi; số cán bộ có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo sư tăng lên, nhưng chất lượng khoa học chưa tăng nhiều, trình độ lý luận chưa thể nói là đã cao. Không ít cán bộ lý luận có học hàm, học vị, nhưng chưa tương xứng với học hàm, học vị đó, rất khó khăn khi viết một bài đấu tranh lý luận. Trong khi đó, sự hiểu biết về lý luận của nhiều cán bộ, đảng viên, của không ít cán bộ nghiên cứu lý luận còn hạn chế; nhiều ấn phẩm, công trình của các nhà nghiên cứu khoa học, của giới lý luận không rõ cái mới, thiếu những điểm nhấn thể hiện tính sáng tạo, còn nặng về “tổ hợp” những vấn đề lý luận đã được nói nhiều, thiếu thực tiễn nên sức thuyết phục và giá trị chưa cao. Việc bố trí đội ngũ cán bộ lý luận còn nhiều bất cập, số giảng viên lý luận chính trị có học hàm, học vị tập trung chủ yếu ở các học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ở một số trường, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị mỏng và hạn chế về trình độ lý luận; việc bổ sung lực lượng rất khó khăn. Thực tế cho thấy, chỉ khi có được đội ngũ cán bộ lý luận vững mạnh cả về phẩm chất chính trị, cả về trình độ lý luận, thực sự xứng tầm thì công tác nghiên cứu lý luận và đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch mới có sự “đột phá” mạnh mẽ. Vấn đề cấp thiết là phải chú trọng xây dựng, bồi dưỡng những cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao; nâng cao tinh thần trách nhiệm và tạo điều kiện để đội ngũ này tự học, tự bồi dưỡng lý luận, gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn, để có thể tạo ra được đội ngũ cán bộ lý luận xứng tầm. Đảng ta xác định: “Đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành”(4). Theo đó, mỗi cơ quan khoa học, cơ sở nghiên cứu cần chủ động hơn trong việc xây dựng, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu lý luận; khắc phục tình trạng thụ động, ngồi chờ theo kiểu “ăn sẵn”, thiếu sự đầu tư thỏa đáng. Bồi dưỡng toàn diện, đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho cán bộ lý luận trình độ, khả năng nắm chắc “ta” và “địch”; phải nắm chắc các quan điểm sai trái, thù địch - đối tượng đấu tranh trực tiếp. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, mỗi bài viết cần có nội dung đấu tranh cụ thể, dùng đủ lý luận, luận cứ và đúng bút pháp đấu tranh để “đánh đúng” và “đánh trúng” vấn đề; để phản bác, phê phán một cách có hiệu quả, làm suy giảm và mất hiệu lực, làm giảm ảnh hưởng và tác động xấu của quan điểm sai trái, thù địch. Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn. Tăng cường đưa các nhà khoa học, lý luận ra nước ngoài học tập, bồi dưỡng, tham gia các hội thảo quốc tế, trao đổi chuyên gia, học thuật, tiếp cận thông tin, hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học nước ngoài; trong đó, cần chuẩn bị tốt về nhận thức chính trị, chuyên môn, phong cách, ngoại ngữ cho cán bộ lý luận trong hợp tác quốc tế về lý luận. Thứ ba, xây dựng các cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh. Xây dựng cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh có nhiều việc phải làm, song quan trọng là phải giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa cơ quan nghiên cứu lý luận với đội ngũ cán bộ lý luận. Có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh mới có cán bộ lý luận mạnh; cán bộ lý luận mạnh lại là “cốt vật chất” bảo đảm cho cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh. Không thể có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh, nếu không có được đội ngũ cán bộ lý luận mạnh; đội ngũ cán bộ lý luận mạnh chỉ có thể phát huy tốt sức mạnh và trình độ lý luận của mình trong một môi trường làm việc thuận lợi của cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh. Trong tình hình hiện nay, cần kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; nghiên cứu rà soát, sắp xếp các cơ quan khoa học (các học viện, viện nghiên cứu, trường đại học...) theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đảm bảo phù hợp, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chú ý đặc thù khoa học của từng cơ quan. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động lý luận, thực hiện tốt dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học chính trị, trong công tác lý luận; tiếp tục “đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng”(5). Xây dựng cơ chế gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, giữa công tác nghiên cứu lý luận và công tác đào tạo, giảng dạy lý luận, giữa cán bộ lý luận và cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; phối hợp giữa các cơ quan lý luận với nhau; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn.

Các thuyết âm mưu về Covid-19 vẫn tràn lan trên YouTube

 


Một nghiên cứu cho thấy nhiều video trên YouTube vẫn chứa các thông tin sai lệch liên quan đến đại dịch Covid-19. Nghiên cứu đã đánh giá các video hiển thị trên trang chủ YouTube sau khi nhập từ khóa “Coronavirus” và “Covid-19” vào thanh công cụ tìm kiếm. Trong số 69 video được phân tích trong nghiên cứu, khoảng một phần tư (27,5%) có chứa thông tin sai lệch về Covid-19, những video này đã có tổng cộng hơn 62 triệu lượt xem.

Các video sẽ bị cho là “không có căn cứ” nếu chúng chứa một hoặc nhiều tuyên bố sai lệch về sự lây lan, các triệu chứng, biện pháp phòng ngừa và phương pháp điều trị Covid-19. Một số thông tin sai lệch được truyền bá trên cáo video này bao gồm thuyết âm mưu cho rằng Covid-19 chỉ khiến suy giảm hệ miễn dịch, ảnh hưởng chủ yếu đến bệnh nhân ung thư, người già hay các công ty dược phẩm đã có cách chữa trị nhưng họ sẽ không bán nó để họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn từ đại dịch. Nghiên cứu cũng cho thấy các video liên quan đến Covid-19 do các tổ chức uy tín và chính phủ với nhiều thông tin hữu ích nhưng lại có rất ít lượt xem.

“Mặc dù YouTube là một công cụ giáo dục mạnh mẽ mà các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể tận dụng để phổ biến thông tin và tác động đến hành vi của mọi người nhưng nếu sử dụng không đúng cách, nó có thể gây ra tác dụng ngược”. YouTube đã thông báo nền tảng này đã tăng cường các nỗ lực kiểm tra thông tin, chủ yếu nhắm tới các thông tin sai lệch về Covid-19.

Bất chấp những nỗ lực ngăn chặn tin giả về Covid-19, nhiều video thuyết âm mưu mới về Covid-19 vẫn làm mưa làm gió trên cả Facebook và YouTube, đạt nhiều triệu lượt xem, bình luận và chia sẻ; gây tác động xấu đến đời sống xã hội. Người dùng mạng xã hội, Facebooker và YouTube cần hết sức cảnh giác.

Nhiều tài khoản bị Facebook xóa đo đăng bài có thông tin sai lệch

 


Các thông tin sai lệch và thuyết âm mưu về vaccine COVID đã tăng nhanh trên các nền tảng mạng xã hội trong suốt đại dịch. Facebook từ lâu vẫn bị các nhà làm luật và chuyên gia nghiên cứu chỉ trích vì không ngăn chặn hiệu quả việc lan truyền các thông tin sai lệch về vaccine ngừa COVID-19 trên nền tảng của mình. Hiện mạng xã hội lớn nhất hành tinh này đang có hơn 35.000 nhân viên phụ trách xử lý các thông tin sai lệch được lan truyền trên nền tảng này.

Trong nỗ lực ngăn chặn các thông tin sai lệnh liên quan dịch COVID-19, Facebook cho biết đã bắt đầu dán nhãn các bài đăng tải về vaccine ngừa căn bệnh nguy hiểm này. Trong nhãn dán cho các bài đăng tải sẽ bao gồm những "thông tin đáng tin cậy" từ Tổ chức Y tế Thế giới về vaccine. Cũng theo Facebook, công ty này đã xóa bỏ hơn 12 triệu bài đăng có nội dung về dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 và vaccine ngừa căn bệnh này mà bị giới chuyên gia dán nhãn là thông tin sai lệch.

Hiện trên Facebook và Instagram vẫn có rất nhiều tài khoản và nhóm đăng tải những thông tin sai sự thật về việc tiêm vaccine ngừa COVID-19 và những thông tin này có thể dễ dàng được tìm thấy thông qua việc tìm kiếm bằng từ khóa. Việc đăng tải thông tin cũng như truy cập mạng xã hội tiếp cận thông tin nếu không tỉnh táo, bản lĩnh ai cũng có nguy cơ trở thành chủ thể của tài khoản bị xóa.

Sự phi lý của một số thuyết âm mưu về covid-19

 


Dịch COVID-19 hoành hành trên thế giới kéo theo vô số thuyết âm mưu nghe thì nguy hiểm nhưng chẳng hề có căn cứ, trong đó có một số thuyết âm mưu cực kỳ phổ biến.

Năm 2020, thời điểm đại dịch COVID-19 lan ra toàn thế giới cũng là lúc các thuyết âm mưu “nguy hiểm” về nguyên nhân gây bệnh xuất hiện. Đáng buồn là cùng với số ca bệnh tăng, ngày càng có nhiều quan niệm và phỏng đoán sai lầm, thậm chí có phần lố bịch. Loại kiến thức giả mạo này lan truyền trên mạng xã hội gây ảnh hưởng xấu đến công tác phòng chống dịch ở nhiều nơi.  

Thuyết âm mưu cho rằng "COVID-19 lây lan từ sóng 5G". Không hề có một cách giải thích hợp lý nào cho giả thuyết bệnh viêm phổi và các bệnh liên quan đến COVID-19 là do tín hiệu từ cột sóng 5G gây ra. Theo thuyết này thì đáng lẽ dịch bệnh sẽ không lan đến những khu vực chưa có điều kiện tiếp cận mạng 5G, và thực tế cho thấy điều này sai hoàn toàn.

Thuyết âm mưu cho rằng "Khẩu trang làm giảm oxy và gây hại". Việc đeo khẩu trang rất ít ảnh hưởng đến nồng độ oxy hoặc carbon dioxide trong hoạt động hô hấp của người. Từ trước tới nay, các bác sĩ phẫu thuật vẫn đeo khẩu trang trong suốt quá trình làm việc kéo dài mà không gặp ảnh hưởng nào đáng kể. Khẩu trang là thiết bị bảo hộ tiêu chuẩn trong đơn vị chăm sóc tích cực (ICU) của tất cả các bệnh viện. Tổ chức về Bệnh hen suyễn và Viêm phổi ở Anh, Tổ chức Phổi Anh quốc khuyến cáo tất cả mọi người sử dụng khẩu trang hàng ngày để phòng dịch. Đây là biện pháp dễ dàng để ngăn COVID-19 lây lan. Tổ chức Y tế Thế giới chỉ khuyên mọi người không nên đeo khẩu trang trong lúc tập thể dục vì người dùng có thể khó thở nếu vận động ở cường độ cao.

Thuyết âm mưu cho rằng “COVID-19 không nghiêm trọng hơn bệnh cúm". Cúm cũng có thể trở thành căn bệnh nguy hiểm. Trong một số năm, dịch cúm bùng phát nghiêm trọng khiến hàng nghìn người chết ở Anh. Nhưng quy mô và độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 ở mức độ hoàn toàn khác. Trong năm 2020, số người chết vì dịch bệnh ở Anh đạt kỷ lục kể từ sau Chiến tranh thế giới II. Ngoài ra, COVID-19 có triệu chứng khác với bệnh cúm, người mắc phải có nguy cơ chuyển biến hoặc tử vong cao hơn hẳn.

Thuyết âm mưu cho rằng "Chỉ người già mới phải sợ COVID-19". Nguy cơ chuyển biến nghiêm trọng ở người mắc COVID-19 tăng lên theo tuổi tác và các yếu tố thể chất, bệnh nền khác như béo phì. Tuy nhiên, không thiếu trường hợp người trẻ tuổi phải nhập viện và phụ thuộc máy thở. Cho dù không mắc bệnh nặng đến mức phải vào viện, người nhiễm virus SARS-CoV-2 vẫn phải trải qua nhiều triệu chứng rất khó chịu như kiệt sức, khó thở, mất vị giác... Đặc biệt, ngày càng nhiều người mắc COVID-19 đã điều trị khỏi gặp phải các triệu chứng suy nhược tiếp diễn và di chứng lâu dài. Vì vậy, với người mắc bệnh nhẹ, COVID-19 vẫn có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Thuyết âm mưu cho rằng "Nếu không bị ho, chắc chắn tôi không nhiễm SARS-CoV-2". Theo Dịch vụ Y tế quốc Gia của Anh (NHS), ba triệu chứng chính của COVID-19 là sốt cao, ho liên tục và thay đổi vị giác, khứu giác. Nhưng rất nhiều trường hợp mắc bệnh không có hoặc có rất ít triệu chứng. Vì vậy, người dân nên thận trọng và đi kiểm tra nếu có bất kỳ triệu chứng nào trong số đó.

Thuyết âm mưu cho rằng "Ăn tỏi và uống vitamin có thể ngăn ngừa COVID-19". Không hề có bằng chứng hay nghiên cứu nào cho thấy việc ăn tỏi, thảo mộc, gia vị cũng như vitamin và vi chất dinh dưỡng có thể làm giảm nguy cơ mắc COVID-19. Những loại thực phẩm bổ sung này cũng không giúp bệnh nhân thoát khỏi việc nhập viện điều trị. Ngoài ra, có một số mẹo truyền miệng khác như tắm nước nóng có thể ngăn ngừa COVID-19. Trước đây, cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump từng đề xuất sử dụng methanol, ethanol hoặc chất tẩy trắng để điều trị bệnh.

Thuyết âm mưu cho rằng "Vaccine được làm gấp rút và chưa được kiểm tra đúng cách". Dù quá trình phát triển và sản xuất vaccine đã được đẩy nhanh để kịp thời khắc phục đại dịch toàn cầu, các loại vaccine được cấp phép vẫn đạt tiêu chuẩn phê duyệt của các cơ quan quản lý. Cũng cần lưu ý rằng việc đẩy nhanh tốc độ phát triển vaccine không có nghĩa là các nhà sản xuất đã lược bớt các công đoạn thử nghiệm an toàn. Vaccine COVID-19 cũng không liên quan đến nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ hoặc vô sinh. Các loại vaccine COVID-19 đều được thử nghiệm trên số lượng tình nguyện viên lớn trước khi được phân bố rộng rãi. Năm ngoái, nhiều người tin rằng tham gia thử nghiệm là cách dễ dàng nhất để nhanh chóng được tiêm chủng.

Thuyết âm mưu cho rằng "Những mũi tiêm chứa vi mạch siêu nhỏ". Một trong các thuyết âm mưu vô lý khác là các mũi tiêm vaccine chứa vi mạch điện tử siêu nhỏ, các vi mạch này sẽ biến đổi gene của con người. Bất cứ ai đưa thú cưng đi tiêm đều biết rằng không có cách nào để đưa vi mạch qua những chiếc kim hẹp được sử dụng để tiêm phòng, cho dù là loại vi mạch kích thước siêu nhỏ đi chăng nữa. Dù những phỏng đoán tương tự phổ biến trên mạng xã hội, việc tiêm chủng cũng không thể làm thay đổi DNA của bất kỳ ai.

Thuyết âm mưu cho rằng "Đại dịch là một âm mưu lớn". Đây là phỏng đoán yêu thích của những người đam mê thuyết âm mưu. Giả sử đó là sự thật, âm mưu khủng khiếp này sẽ liên quan đến hàng triệu bác sĩ, nhà khoa học và chính trị gia trên toàn thế giới. Liệu những nhân viên ICU có vui lòng trải qua nhiều tháng dài căng thẳng, đau buồn và chấp nhận ảnh hưởng đến gia đình chỉ để phục vụ một căn bệnh do con người tự tạo ra hay không?

COVID-19 là đại dịch có quy mô toàn cầu, hậu quả của dịch bệnh đã khiến nhiều nền kinh tế suy sụp, dẫn đến thiệt hại khổng lồ. Trong khi cả thế giới đang nỗ lực khắc phục COVID-19 thì những phỏng đoán vô căn cứ, không tôn trọng công sức của hàng triệu nhân viên tuyến đầu chống dịch ở nhiều nước cần phải bị loại bỏ ngay lập tức.

Bản chất “thuyết âm mưu”

 


Cụm từ “thuyết âm mưu” đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, vậy, thuyết âm mưu là gì và bản chất của nó như thế nào? Thuyết âm mưu có phải là học thuyết hay là lý thuyết không?

Căn cứ vào những nội dung hàm chứa của học thuyết cần có, “thuyết âm mưu” không phải là học thuyết. Học thuyết phải là những vấn đề được trình bày có hệ thống về một lĩnh vực nào đó như khoa học, chính trị, đạo đức, kinh doanh... Căn cứ vào hệ thống đó mà người đọc, người xem có thể tìm hiểu và nắm được những vấn đề cần có trong chỉ đạo cũng như trong hoạt động.

Xét về lý thuyết, “thuyết âm mưu” cũng không phải là loại chiêm nghiệm có tính hợp lý về cái gì đó, điều gì đó trừu tượng hoặc được khái quát hóa kết quả có được từ những quan sát, ghi nhận diễn ra của sự việc, hiện tượng. Đã nói đến lý thuyết, người ta nghĩ ngay đến quá trình suy nghĩ, chiêm nghiệm có tính chất lý trí được gắn liền với quá trình nghiên cứu, quan sát.

Vậy, thuyết âm mưu là gì? Hiểu một cách ngắn gọn nhất, thuyết âm mưu là cách lý giải những vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo ý kiến chủ quan được gán với một đối tượng nào đó cùng những âm mưu của các thế lực ngầm, giấu mặt đứng đằng sau. Nói đến thuyết âm mưu là nói đến giả thuyết, giải thích theo cách suy diễn cho một đối tượng, một nhóm đối tượng, một tổ chức nào đó gây nên đứng đằng sau một sự việc hay hiện tượng có ảnh hưởng lớn đến chính trị, kinh tế, xã hội. Vì thuyết âm mưu cốt lõi của nó là đưa ra các giả thuyết theo ý chủ quan và hướng suy diễn nên nó còn có cách gọi khác là thuyết ngờ vực.

Thuyết âm mưu luôn gắn liền với giả thuyết theo lối gán tội, suy diễn nên rất dễ làm cho người nghe, người xem thấy hấp dẫn, ly kỳ, dễ liên tưởng đến cái “na ná” nào đó. Cũng chính vì là giả thuyết nên người đọc, người xem có quyền đưa ra các giả thuyết để lý giải theo ý kiến chủ quan của mình. Và đã là giả thuyết, có cái đúng, chưa đúng và không đúng. Chính vì thế, thuyết âm mưu không bao giờ có kết quả “có” hoặc “không”, hoặc “đúng” hay “sai”. Đây chính là yếu tố gây sự chú ý, tò mò, kích thích khả năng suy diễn của mỗi cá nhân. Nó rất dễ đưa người đọc, người xem, người nghe cũng tự cho mình cái quyền tham gia vào các sự việc, hiện tượng bằng các giả thuyết từ trí tưởng tượng của bản thân.

Trước các sự kiện, hoạt động chính trị - xã hội trọng đại của đất nước, như Đại hội Đảng, bầu cử hội đồng nhân dân các cấp và bầu cử Quốc hội, cuộc đấu tranh phòng chóng đại dịch covid, đấu tranh chống tham nhũng… chính là cơ hội để thuyết âm mưu có “đất diễn”. Các thế lực ngầm, các đối tượng giấu mặt vẫn bằng cách đưa ra các giả thuyết hướng người nghe, người xem đến trách nhiệm, công tác quản lý, công tác cán bộ rồi từ đó cho rằng, đội ngũ cán bộ đều có thể là những người như thế; thậm chí còn đưa ra những giả thuyết về nhân sự cán bộ, về năng lực, trình độ của từng người. Người đọc, nghe, xem nếu không tỉnh táo, bản lĩnh rất dễ dàng “mắc” vào cách suy diễn rồi cũng từ đó đưa ra các giải thuyết theo ý kiến chủ quan, phiến diện…

Thuyết âm mưu là có thật và thực sự đang làm cho người xem, người nghe, người đọc rơi vào “mớ bòng bong” của những giả thuyết từ óc suy diễn của những đối tượng giấu mặt theo hướng có lợi cho chúng. Khi đã “sa” vào thuyết âm mưu rất khó có thể thoát ra được và đó chính là “tự đánh mất” bản mình. Nhận diện và hiểu được bản chất cốt lõi của thuyết âm mưu cũng là cách “tự vệ” tốt nhất đối với cuộc sống xã hội hiện nay. Đó cũng là cách tự xây dựng cho mình là người đọc thông thái trong cả một “rừng” thông tin trên cộng đồng mạng và đời sống xã hội hiện đại.

 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Thông thường trước và sau khi Đảng, Nhà nước ta tiến hành các sự kiện trọng đại của đất nước thì các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, việc lợi dụng vấn đề Biển Đông trong thời gian gần đây để tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam là thủ đoạn rất nguy hiểm và thâm độc. Chúng lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, tác động mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng. Trong những ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang phấn khởi chào mừng sự thành công của Đại hội lần thứ XIII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026; được dư luận tiến bộ trong nước và quốc tế khen ngợi thì trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Đây là luận điệu của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đang ra sức lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trên một vài trang mạng xã hội xuất hiện các diễn đàn tập hợp nhiều phần tử bất mãn, cho rằng: “Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo... ”. Chúng quy chụp lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta “phản ứng chậm” hoặc “né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Mưu đồ của những luận điệu này là khiến nhân dân mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở nước ta; từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá.

Để kiên quyết đấu tranh và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề biển Đông chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc đó là: Đường lối, chủ trương chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước; Đảng và Nhà nước ta nhất quán với chính sách “3 không” trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông; Quân đội nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Trước những hành động vi phạm chủ quyền biển, đảo của một số quốc gia đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn rêu rao rằng: “Khi đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông, tại các vùng tranh chấp, Quân đội Việt Nam không dám nổ súng, không dám đấu tranh, để mặc Trung Quốc muốn làm gì thì làm…”. Đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, cố tình kích động gây căng thẳng tình hình với mục đích đẩy chúng ta vào cuộc đối đầu quân sự có thể dẫn đến hậu quả khó lường.

Thực tiễn cho thấy, trong suốt thời gian Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển, các lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển của Quân đội Việt Nam đã phối hợp với kiểm ngư và ngư dân, luôn luôn có mặt 24/24h, thực hiện các hoạt động kiên quyết, kiên trì đấu tranh nhằm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Với tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi công dân Việt Nam, hãy đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, đấu tranh, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

                                                                                                                 Thành Nguyễn

Từ “cách mạng cây”, “cách mạng cá” đến “cách mạng màu”

Hãy bảo vệ màu xanh đất Việt, hãy chung tay bảo vệ môi trường (BVMT), hãy bảo vệ động vật hoang dã, đấu tranh vì thành phố văn minh, hãy loại bỏ các dự án “ăn cả vào tương lai”… Những năm gần đây, có rất nhiều phong trào kêu gọi người dân bằng những mỹ từ đẹp đẽ. Từ đó, nhiều người dân bị cuốn theo, tham gia tụ tập, ghi chữ ký, tâm thư, tuần hành những tưởng đòi quyền lợi cho mình. Nhiều sự việc phải qua một thời gian dài mới lộ ra, đó chỉ là những chiêu trò mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thông qua các tổ chức xã hội dân sự một cách rất tinh vi. Từ “cách mạng cây”, “cách mạng voọc” Chuyến thăm, làm việc tại Na Uy của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gần đây mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, trong đó có việc ký kết hợp tác kinh tế. Trong bối cảnh giá điện tăng khiến người dân lo lắng thì thông tin sắp tới Tập đoàn Scatec Solar của Na Uy sẽ đầu tư 500 triệu USD vào điện mặt trời tại Việt Nam; đồng thời xây dựng phòng thí nghiệm giúp Việt Nam nghiên cứu, chuyển giao và tiến đến xuất khẩu công nghệ năng lượng tái tạo được dư luận rất hoan nghênh. Từ “cách mạng cây”, “cách mạng cá” đến “cách mạng màu” Internet là một trong những phương tiện các thế lực phản động sử dụng để truyền bá quan điểm sai trái, thù địch. Tranh minh họa: tuyengiao.vn Vậy mà một số trang mạng vẫn cố tình bóp méo, xuyên tạc rằng, các dự án điện mặt trời sẽ tàn phá cảnh quan, môi trường ven biển như ở Bình Định, một dự án điện mặt trời lớn đã phải hủy bỏ vì lý do gây ô nhiễm môi trường. Song theo các chuyên gia, điện mặt trời hoàn toàn không gây ô nhiễm. Cơ quan chức năng ở Bình Định cho biết, từng có âm mưu thủ đoạn bịa đặt thông tin để kích động người dân phản đối, tạo điểm nóng ở địa phương. Vài năm gần đây, trên không gian mạng liên tục xuất hiện nhiều trang web, trang mạng xã hội với danh nghĩa BVMT, bảo vệ động vật hoang dã, vì hệ sinh thái và phát triển bền vững… nhưng luôn gắn với việc phản đối một vài dự án kinh tế-xã hội (KT-XH) nào đó ở các địa phương. Cứ ở đâu có các dự án du lịch, du lịch sinh thái gắn với danh lam thắng cảnh thì ở đó lại xuất hiện một số trang mạng “chuyên đề” phản đối. Từ chuyện làm cáp treo ở chùa Hương, ở Fansipan đến chuyện bảo vệ Sơn Trà, Tam Đảo hay hang Sơn Đoòng… Họ đưa ra những lời "có cánh" kêu gọi người dân chung tay, tham gia ký các văn bản được gọi là "kiến nghị" gửi lên Chính phủ, thậm chí gửi ra các tổ chức quốc tế. Không ít người nhẹ dạ cả tin làm theo mà không biết rằng, đứng sau các hoạt động ấy núp dưới danh nghĩa "tổ chức xã hội dân sự", các "nhà dân chủ" trở thành những chuyên gia kích động chống phá đất nước. Như ở Đà Nẵng, Vĩnh Phúc gần đây xuất hiện các trang facebook và blog kêu gọi người dân BVMT sinh thái, phản đối một số dự án KT-XH. Các trang này hoạt động như những tờ báo điện tử với nhiều bài viết của một số cây bút chuyên nghiệp, những hot facebooker nhưng nhiều hơn cả vẫn là các “nhà dân chủ”, những người tự xưng là nhân sĩ, trí thức có tiếng nói đối lập với chính quyền. Đặc biệt, các trang này xuất hiện công khai tư cách của nhóm Green Trees-một nhóm tự xưng là tổ chức xã hội dân sự có hơn 10.000 thành viên, do các đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước, như: Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hữu Long giật dây. Những đối tượng này từng đứng sau kích động tụ tập, biểu tình phản đối dự án thay thế cây xanh ở Hà Nội, sau đó kích động biểu tình nhân sự cố môi trường biển miền Trung. Đối tượng Phạm Đoan Trang đã công khai gọi là “cách mạng cá”. Gần đây, từ khi đối tượng Nguyễn Anh Tuấn được đào tạo ở nước ngoài về nước định cư tại Đà Nẵng, chúng áp dụng nhiều chiêu trò kích động, lợi dụng vấn đề môi trường sinh thái để lôi kéo người dân giống như đã làm ở Hà Nội. Chúng không giấu giếm ý đồ sau “cách mạng cây”, “cách mạng cá” sẽ có thể là “cách mạng voọc” ở Đà Nẵng khi thổi phồng vấn đề môi trường sinh thái. Ở địa phương này, dưới sự kích động của chúng, từng xảy ra các phong trào ký đơn tập thể, tụ tập vì môi trường... Đến lợi dụng vấn đề dân sinh, đất đai Cách đây ít lâu, việc chính quyền TP Hồ Chí Minh giải phóng mặt bằng khu đất thuộc vườn rau Lộc Hưng (quận Tân Bình) để xây dựng trường học, công trình phúc lợi, đã xuất hiện tình trạng các cá nhân vi phạm cản trở, chống đối người thi hành công vụ, căng băng rôn, biểu ngữ gây mất trật tự. Ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng sự việc hòng biến vụ giải phóng mặt bằng này thành điểm nóng về “tranh chấp đất đai”, khoét sâu mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, biến Lộc Hưng thành điểm nóng kiểu Đồng Tâm, Tiên Lãng. Các báo đài hải ngoại, như: RFA, VOA… tung nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc “chính quyền cướp đất của dân”, “công an đánh dân”, “dân oan ca thán, chính quyền bất chấp”… Các tài khoản facebook có tên Lê Công Định, Lê Nguyễn Hương Trà, Trịnh Sơn, Nguyễn Tín, Bạch Cúc… đăng tải nhiều bài viết quy chụp chính quyền địa phương “đàn áp giáo hội”, “đập phá nhà dân”... Chúng rêu rao, sắp có “ngòi nổ Tiên Lãng giữa Sài Gòn”, kêu gọi người dân xuống đường hướng dẫn dùng hung khí chống đối… Nhưng nhờ sự cảnh giác của người dân và sự vào cuộc kiên quyết của chính quyền, âm mưu đó đã bị thất bại. Ở Hà Nội, gần đây, nhân sự việc các hộ dân thôn Bắc Lãm (phường Phú Lương, quận Hà Đông) tự ý thi công, san đường trên đất giao thông nội đồng nằm trong quy hoạch dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và gây sức ép với chính quyền một cách phi lý, nhiều đối tượng xấu đã kích động, lái vấn đề để khoét sâu mâu thuẫn, làm nóng tình hình. Chúng gây sức ép, kêu gọi và không cho các gia đình cho trẻ đến trường, ép buộc các em tham gia những hoạt động gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương, cản trở việc dạy và học của học sinh và giáo viên. Lừa phỉnh, lôi kéo giới trẻ Voice-một tổ chức được cho là ngoại vi của tổ chức khủng bố Việt Tân ở nước ngoài nhiều năm qua đã tìm mọi cách kích động, lôi kéo, mở các lớp đào tạo hàng trăm thanh niên thành những “nhà hoạt động dân chủ” rồi đưa về Việt Nam hoạt động chống phá bằng hình thức kích động, biến các sự việc KT-XH thành những vấn đề chính trị gây bức xúc dư luận. Trong đó, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hiện nay là các địa phương xuất hiện nhiều hiện tượng phức tạp từ một số đối tượng do Voice đào tạo trở về hoạt động. Những “học viên” do chúng đào tạo sau khi trở về đều không còn là những công dân lương thiện đóng góp công sức, trí tuệ để dựng xây đất nước mà bị huyễn hoặc trở thành những “nhà dân chủ”, “nhà hoạt động xã hội”, biết “tổ chức các chiến dịch xã hội”, “gây quỹ”, “viết dự án”, mà bản chất là hướng tới mạo danh vì dân chủ, nhân quyền, vì môi trường sống… để chống phá đất nước. Mấy năm gần đây, Nguyễn Anh Tuấn-đối tượng được chúng đưa đi đào tạo ở nước ngoài trở về Việt Nam, được coi là hạt giống cho nhiều hoạt động chống phá. Sinh sống tại Đà Nẵng nhưng đối tượng này thường xuyên có mặt hoặc tán phát thông tin kích động các sự việc ở Hà Tĩnh, Bình Thuận, Hà Nội, Vĩnh Phúc, TP Hồ Chí Minh... Với thủ đoạn là bám sát vào phản ứng hay bức xúc từ xã hội để chúng “thổi” lên thành một phong trào chính trị chống lại chính quyền nhằm nuôi dưỡng “ý thức phản kháng” của người dân, tuyển lựa và mở rộng lực lượng xã hội tham gia. Từ các chiêu trò này, sâu xa hơn chúng âm mưu tập dượt, đi tới đấu tranh bất bạo động rồi xa hơn là bạo loạn, lật đổ theo mô hình "cách mạng màu", "mùa xuân Ả-rập"… Cảnh giác với âm mưu “cách mạng màu” Đối tượng Phạm Đoan Trang trong một tài liệu phản động để tập huấn cho các “nhà lãnh đạo trẻ” của chúng mà cơ quan chức năng thu được đã công khai nêu những cách thức hoạt động trên dựa theo mô hình cách mạng sắc màu để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Cái gọi là tổ chức Green Trees do đối tượng này từng cầm đầu đã áp dụng những “chiến lược đấu tranh bất bạo động” trong cuốn “Từ độc tài đến dân chủ” của Gene Sharp. Theo đó, chúng mượn những hoạt động dân sự ôn hòa và hợp pháp, như: BVMT, thiện nguyện hay biểu diễn nhạc... để lôi kéo đám đông. Mỗi lần chính quyền xử lý các hoạt động như vậy, chúng sẽ khiến dân chúng và quốc tế có thiện cảm với phong trào đối lập, vì nghĩ rằng các nhà đối lập vô tội và bị xử oan. Còn nếu chính quyền không xử lý thì các nhóm đối lập sẽ có đủ thời gian để xây dựng lực lượng và uy tín thông qua những hoạt động dân sự tưởng chừng vô hại đó. Khi đã có lực lượng, mối quan hệ và lôi kéo được cảm tình của đám đông, các nhóm đối lập sẽ phát động cách mạng đường phố để lật đổ chính quyền. Chiến lược này đã được sử dụng lặp đi lặp lại trong cuộc "cách mạng màu", "mùa xuân Ả-rập" như đã diễn ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Chúng luôn núp dưới cái bóng vì tương lai, vì sự phát triển của dân tộc nhưng thực tế những hoạt động đó chỉ nhằm mục tiêu phá hoại, chọc gậy, ném đất đá vào bánh xe phát triển của đất nước. Đôi khi, một hạt cát có thể làm hỏng một cỗ máy, một trào lưu núp bóng dân sinh có thể tạo ra những đám cháy nguy hiểm, đe dọa an ninh chính trị của đất nước. Vì thế, đã đến lúc các cơ quan chức năng phải vào cuộc, xử lý nghiêm minh, ngăn chặn không để hình thành cái gọi là “cách mạng cây”, “cách mạng cá”, “cách mạng voọc”. Phải sớm xử lý các trang mạng xã hội chuyên kích động, tập hợp lực lượng và tổ chức các cuộc tụ tập, biểu tình như đã xảy ra ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Bình Thuận… Bài học từ các vụ tụ tập, biểu tình phản đối thay thế cây xanh ở Hà Nội cho thấy, có nguyên cớ ban đầu từ một số trang facebook kêu gọi, kích động người dân. Vì thế, cần sớm tìm ra những đối tượng cầm đầu, điều hành những fanpage, phối hợp với các cơ quan quản lý mạng xã hội để xử lý. Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã làm tốt công tác quản lý, phối hợp với Facebook bóc gỡ nhiều trang mạng có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước. Đối với chính quyền các địa phương, phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo, quản lý; khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập, khuyết điểm trong quản lý KT-XH, giải quyết thỏa đáng những vướng mắc, mâu thuẫn ở cơ sở, không để kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng, bóp méo, chống phá. Đối với người dân, cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước những lời kêu gọi đấu tranh vì môi trường, vì dân sinh, dân chủ. Đấu tranh vì quyền lợi chính đáng là cần thiết nhưng trước hết phải đúng pháp luật và phải dựa vào pháp luật, dựa vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, không nên chủ quan, thiếu suy nghĩ để vô hình trung tiếp tay cho các thế lực phản động phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO GẮN VỚI QUỐC PHÒNG – AN NINH LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH HIỆN NAY ĐỐI VỚI CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC Ở NƯỚC TA

 


Đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với QP-AN là một chủ trương, nhiệm vụ, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta nằm trong tổng thể đường lối, quan điểm, chính sách, luật pháp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm đưa nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng thời, đường lối, quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước thể hiện rõ tính nhân văn, nhân đạo cao cả, tôn trọng quyền tự do chính đáng của con người, vì sự tiến bộ của con người và xã hội.

Đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với QP-AN ở nước ta hiện nay thể hiện tầm tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước trong tập hợp lực lượng nhằm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cơ bản để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong tình hình mới. Tuy nhiên đây là một vấn đề phức tạp, bởi nó gắn liền với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết thấu đáo nhiều vấn đề liên quan như vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền và cả về lý luận và thực tiễn.

Để thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với QP-AN, đòi hỏi sự nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó đặc biệt là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ này cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chủ trương, giải pháp, tổ chức thực hiện hiệu quả, biến đường lối, quan điểm, chính sách tôn giáo gắn với QP-AN thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ở thời kỳ cách mạng mới.